Mì trường thọ – món ăn đem lại may mắn và thịnh vượng

Ẩm thực Trung Hoa đa dạng, phong phú như một quyển tiểu thuyết dài tập, không bao giờ kể hết được. Những món ăn ở đây đều có ý nghĩa của nó. Mì trường thọ là một trong những món như vậy.

Tương truyền rằng cách đây từ 300 năm trước, trong triều đại nhà Đường, tại làng Nam Sơn thuộc tỉnh Chiết Giang, sau nhiều biến loạn thì thực phẩm trở nên rất khan hiếm. Lúc này vợ của Hoàng đế Đường Minh Hoàng phải dùng một chiếc khăn tay thêu của mình để đổi lấy một bát mì để tặng cho chồng vào đúng ngày sinh nhật. Từ đó về sau, món ăn thấm đượm tình nghĩa phu thê đó được gọi là “mì trường thọ”.

Mì trường thọ được xem là biểu tượng cho sự mạnh khoẻ, tuổi thọ cao. Thế nên vào mỗi dịp mừng tuổi mới một ai đó, người ta thường nấu món mì trường thọ để ăn thay vì bánh sinh nhật. Người Trung Quốc quan niệm rằng khi ăn một bát mì trường thọ thì người đó sẽ gặp nhiều may mắn, luôn khỏe mạnh và sẽ sống lâu trăm tuổi. Ngoài ra, không chỉ mang ý nghĩa về tuổi tác, mì trường thọ còn được cho là đem lại may mắn và thịnh vượng, thế nên nó còn xuất hiện trong những dịp đầu năm mới nữa.

Chính bởi ý nghĩa đặc biệt này, người chế biến không được cắt sợi mì, vì làm vậy đồng nghĩa với việc tuổi thọ bị rút ngắn, mang theo xui rủi cho người ăn. Khi ăn mì trường thọ, phải ăn một hơi hết cả sợi mì và trước khi đưa mì vào miệng, không được cắn đứt sợi mì. Nét độc đáo trong văn hoá này ngày nay vẫn được người Trung Hoa duy trì và mang ý nghĩa đặc biệt trong đời sống tinh thần của họ.

Trước đây, những sợi mì dai và dài được người dân nơi đây chế biến với quy trình thận trọng, tỉ mỉ. Chúng được làm bằng một loại bột đặc biệt, sau khi cán mỏng sẽ được cắt thành từng sợi nhỏ, đan chéo và phơi dưới nắng vài giờ đồng hồ. Ngày nay, bất cứ loại mì nào cũng có thể được sử dụng làm nên món ăn thơm ngon này, nhưng phổ biến nhất có thể kể đến là mì Yi Mein (một loại mì trứng Quảng Đông có màu vàng hấp dẫn và vị dai, xốp đặc trưng nhờ dùng nước soda trong quá trình chế biến). Để làm loại mì đặc biệt này, đầu bếp cần có kỹ thuật cao. Khâu nhồi bột cũng được chú trọng kỹ lưỡng để đảm bảo đủ độ dai, khiến sợi mì có thể kéo dài. Sợi mì trường thọ sẽ có độ dài khoảng 3m chứ không ngắn như mì bình thường. Từ xưa cho đến nay, người dân nước này đã có quan niệm sợi mì kéo càng dài được xem là biểu tượng cho sự mạnh khoẻ, tuổi thọ ngày càng cao.

Sợi mì thường được xào với các loại rau củ, hải sản, hoặc nấu trong nước dùng được hầm từ gà. Nếu xào, các nguyên liệu phụ cần được để ráo nước và xào riêng, cho thêm dầu ăn để sợi mì không dính vào nhau. Một số nguyên liệu có thể ăn kèm cùng món này là thịt vịt quay, thịt xá xíu hoặc tôm sú, hoặc cũng có thể ăn riêng một mình. Khi ăn, người Trung Quốc cũng thường thêm một quả trứng gà vào vì trứng gà có hình tròn, là biểu tượng của sự viên mãn, đồng thời cũng tượng trưng cho sinh mạng.

Mì trường thọ có thời gian hình thành và tồn tại lâu dài, lại được giữ nguyên công thức chế biến đặc biệt, được lưu truyền từ đời này sang đời khác nên là món ăn có vị trí, vai trò quan trọng trong nền ẩm thực Trung Hoa. Nếu có dịp du lịch đất nước này, du khách đừng bỏ lỡ cơ hội thưởng thức một tô mì trường thọ thơm ngon, bổ dưỡng nhé!

Nét tinh tuý trong nghệ thuật cắt giấy của Trung Hoa

Nói đến Trung Quốc – một đất nước với nền văn hóa đặc trưng thì không thể không nhắc đến một loại hình nghệ thuật hết sức đặc biệt: nghệ thuật cắt giấy. Đây là loại hình nghệ thuật dùng dao hoặc kéo để khắc hoa văn hình ảnh trên giấy. Giấy được cắt ra dùng để trang trí nhà, hoặc dùng trong các dịp lễ tết, thọ, hỉ khi phối hợp với các văn hóa dân gian.

Nghệ thuật cắt giấy ở Trung Quốc gần như song hành với lịch sử phát minh ra giấy thời nhà Hán. Các phát hiện khảo cổ cho thấy nghệ thuật truyền thống này bắt đầu từ thế kỷ thứ 6, thậm chí còn có thể sớm hơn, và rất thịnh hành ở đất nước gấu trúc từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ thứ 13. Đến thế kỷ thứ 14, nó bắt đầu được phổ biến ra thế giới…

Từ thời Tây Hán trước công nguyên, nghệ thuật cắt giấy với hình thức sơ khai là cắt hoa trên da động vật hoặc mảnh đồng. Nghệ thuật cắt giấy có nguồn gốc từ các nghi lễ cúng của người Trung Hoa với tổ tiên với ước mong bất tử. Từ đây phong tục cắt giấy theo các mẫu thiết kế được hình thành.

Thời nhà Đường, nghệ thuật cắt giấy đã được nhà thơ Đỗ Phủ nhắc đến trong thơ: “Nước nóng cho rửa ráy / Tiểu chỉ để chiêu hồn”. Theo tục lệ địa phương thời đó, nếu viết chữ lên giấy và dán lên tường có thể trừ tà cho các vị khách. Vì vậy, ngày nay việc dùng giấy để trang trí cờ hiệu cũng khá phổ biến.

Vào khoảng thế kỷ V, tại ba ngôi mộ ở Thổ Lỗ Phồn khu tự trị Tân Cương cũng tìm ra dấu vết về nghệ thuật cắt giấy như hình mẫu “ngôi nhà và bó hoa”. Đến thế kỷ VI – IX, tranh giấy cũng được trang trí trên các đồ trang sức, nón, trống đồng… Ví dụ như các mẫu vẽ được dùng để trang trí nón được tìm thấy ở thành phố Tây An, những lá vàng và bạc được khắc sau gương đồng tìm thấy ở quận Giang Châu (Quảng Tây).

Trước thể kỷ XIII, con người đã sử dụng các mẫu vẽ để trang trí trên các đồ gốm. Ngoài ra, vải in màu chàm được tìm thấy ở tỉnh Sơn Tây cũng là nhờ việc đổ bột nhão vào các mẫu vẽ, sau đó đặt vải vào mà thành các mẫu vẽ độc đáo.

Từ thế kỷ XIX đến thế kỷ XVII, nghệ thuật cắt giấy đã được sử dụng khá rộng rãi để trang trí dèn lồng và quạt xếp. Đến thế kỷ XX, hình giấy cắt lúc này đã được dùng trong hoàng tộc do độ độc đáo đã được nâng lên rất nhiều. Cung điện thời nhà Thanh được dán các hình vẽ rồng phượng. Và thay vì thêu các hình vẽ người ta đã cắt giấy và dán chúng lên áo hoàng bào.

Như vậy, có thể thấy rằng, nghệ thuật cắt giấy rất được coi trọng. Thậm chí, giới nữ trong Hoàng triều được đánh giá bằng khả năng cắt giấy và đây cũng từng là một trong những yếu tố để chọn dâu của người Trung Quốc.

Đa phần các nghệ sĩ cắt giấy là nữ giới, chủ đề của họ thường bao gồm mọi thứ từ bình dị đến phức tạp trong cuộc sống hàng ngày. Chính sự hiểu biết cuộc sống thường nhật đó khiến phụ nữ thấu hiểu và cảm nhận sâu sắc tinh thần thực sự của nghệ thuật này. Tuy nhiên, ngày nay những người thợ cắt giấy chuyên nghiệp lại là đàn ông. Họ có thu nhập ổn định và cùng làm việc trong các xưởng thủ công.

Công cụ chính để tạo ra các tác phẩm cắt giấy không phải gì khác ngoài những chiếc kéo. Một khi được sở hữu bởi các nghệ nhân, chúng sẽ trở thành một vật dụng siêu phàm và những tác phẩm công phu dần hiện ra từ những nhát kéo đầy tính nghệ thuật. Một trong những dụng cụ khác không thể thiếu là những chiếc dao với các kích cỡ khác nhau, rất cần thiết để tăng cường độ sắc nét hoặc tạo ra những nét thanh nhấn tinh tế cho các tác phẩm cầu kỳ. Tranh giấy được cắt hoàn toàn bằng thủ công đòi hỏi sự cần mẫn, tỷ mỉ và tập trung của người thực hiện. Chúng ta có thể dễ dàng cắt tranh giấy nhưng rất khó để có thể đạt được trình độ kiệt tác. Bởi ngoài khả năng tưởng tượng phong phú, cũng cần phải biết cách làm chủ chiếc kéo, con dao, đưa những nhát cắt ngọt với những lực phù hợp để tạo được những đường cong mềm mại, không bị xiên xẹo, bờm xờm cho tác phẩm.

Có hai kiểu cắt giấy là dùng kéo và dùng dao. Với kiểu dùng kéo, người ta có thể cắt chồng một lúc nhiều mảnh giấy cho nhanh, thậm chí lên tới 8 tờ. Để tác phẩm được đẹp, ngoài sự khéo léo đương nhiên của người thực hiện, bí quyết ở đây còn là mũi kéo phải thật sắc. Kiểu cắt thứ hai là bằng dao. Người ta sẽ đặt một vài lớp giấy trên một bề mặt phẳng mềm, sau đó người nghệ sĩ sẽ dùng dao nhọn, sắc rạch theo chiều thẳng đứng tạo nên những đường nét cho tác phẩm. Cắt bằng dao có một lợi thế là người sáng tạo có thể thực hiện hoàn hảo những chi tiết nhỏ, mảnh mà dùng kéo khó có thể làm được. Ngoài ra, màu giấy cũng rất được chú trọng, thực tế, các tác phẩm có thể được thực hiện ở bất cứ màu sắc nào nhưng màu đỏ luôn là ưu tiên hàng đầu.

Đề tài cho nghệ thuật cắt giấy thì có muôn hình vạn trạng, từ động vật chim muông đến phong cảnh, con người và cả những nhân vật dân gian, nhân vật trong các tác phẩm văn học cổ, những hình tượng như 12 con giáp, cũng không thể thiếu những câu chúc như “An khang thịnh vượng”, “mọi điều tốt lành” và lồng vào đó là những hình cắt về những vật xung quanh như hàng cây, cánh đồng… những vật bình dị xung quang cuộc sống. Nói chung, bất cứ đề tài nào con người cũng có thể mô phỏng và hiện thực hóa trên những mảnh giấy màu theo những cung bậc sáng tạo riêng của từng người.

Không nghi ngờ rằng những mẫu giấy màu được cắt một cách công phu, cầu kì có khả năng tạo ra bầu không khí vui vẻ, một không gian truyền thống ấm cúng. Có lẽ chính vì vậy, các tác phẩm cắt giấy thường được dán ở đám cưới hay các lễ hội, tết nhất ở Trung Quốc cùng với những khao khát được mang lại may mắn, hạnh phúc bền lâu. Ngày nay, nghệ thuật cắt giấy chủ yếu là để trang trí, chúng được dán trên tường, cửa sổ, cột nhà, gương, đèn lồng ở nhà hay làm quà. Ngoài ra, các mẫu cắt giấy còn được sử dụng như làm mẫu thêu và tác phẩm sơn mài.

Ra đời từ thủa xa xưa, nhưng sự sáng tạo của nghệ thuật cắt giấy vẫn còn trường tồn với thời gian. Và Trung Quốc rất có ý thức bảo tồn nghệ thuật này qua rất nhiều hiệp hội tranh giấy cắt mang tính toàn quốc, các cuộc triển lãm, cuộc thi cắt giấy…

Nghệ thuật cắt giấy tinh túy đã góp phần tạo nên một nền văn hóa Trung Hoa đặc sắc, và đây cũng là một trong những lý do thu hút lượng lớn khách du lịch quốc tế tìm đến khám phá hàng năm. Nếu du khách cũng yêu thích nền văn hóa truyền thống của vùng đất rộng lớn này thì hãy tham gia ngay tour Trung Quốc nhé!

Thư pháp – môn nghệ thuật tinh tuý của đất nước Trung Hoa

Trung Quốc có nền văn hóa tồn tại qua hàng ngàn năm, thấm nhuần trong dòng máu của những người dân nơi đây. Một số nét văn hóa đã trở thành truyền thống và thói quen của người Trung Hoa trong đời sống, học tập và làm việc của họ. Một trong số đó là nghệ thuật thư pháp.

Thư pháp, nếu hiểu một cách nôm na theo cách chiết tự thì: “Thư” là viết, ghi chép lại; “Pháp” là hình pháp, mẫu mực, cách thức, phép tắc. Như vậy, “Thư pháp” là mẫu mực của chữ viết, hay hiểu cách khác là nó đã được nâng tầm lên thành một môn nghệ thuật riêng biệt. 

Thư pháp Trung Hoa được hình thành từ rất sớm: vào khoảng thế kỷ thứ II – IV. Từ đó, nó trở thành một môn nghệ thuật tao nhã của các tao nhân và người có học.

Nghệ thuật thư pháp giúp người ta rèn luyện óc thẩm mỹ cũng như nâng cao tính kiên nhẫn của mỗi người theo học. Đối với người Trung Quốc, thư pháp không phải ai cũng học tập và lĩnh hội được hết cái hay của nó mà phải trải qua khổ luyện, tu tâm dưỡng tính, nuôi dưỡng tình cảm. Người Trung Quốc có câu: “Thư pháp khả dĩ tu tâm dưỡng tính, đào dã tâm tình” (Thư pháp có thể khiến người ta tu tâm dưỡng tính, rèn luyện tình cảm). Người chơi và viết thư pháp cũng lắm công phu: Phải biết cách đặt thân đúng, đặt bút đúng theo các quy tắc riêng, mắt nhìn thẳng, dụng bút phải chuẩn, thời gian luyện tập dài, không được nóng vội.

Thư pháp gắn với “Văn phòng tứ bảo” gồm có: giấy, mực, nghiên, bút, mỗi thứ phải tuân theo quy cách, phải đúng loại thì chữ mới đẹp được. Giấy phải là loại giấy “xuyến chỉ” đắt tiền, mực thì dùng loại mực thỏi hoặc mực trấp pha theo tỉ lệ và phải điều tiết khi viết, nghiên mực phải có độ nghiêng nhỏ để tránh bị đọng mực. Bút lại càng phức tạp hơn, bút chuyên dụng để viết thư pháp gồm các loại tiểu, trung, đại, phải có mao quản (ngòi bằng lông để có thể thấm mực dễ dàng), phải có đủ các bộ phận: Đào tuyến (sợi dây để treo bút), bút quản (quản bút bằng trúc), bút hào (búp lông giống búp sen), bút căn (phần lông gắn với quản bút). Vậy mới thấy, thú chơi thư pháp công phu và tỉ mỉ như thế nào.

Chữ viết thể hiện trong thư pháp thường là chữ Hán hoặc chữ Nôm theo các phong cách khác nhau. Mỗi phong cách lại có những đặc trưng riêng về cách thể hiện. Ngày nay trên Thế giới có 5 phong cách viết thư pháp là Khải, Triện, Lệ, Hành và Thảo. Khải thư là kiểu chữ được sử dụng phổ biến và thông dụng nhất ngày nay. Nó được dùng trong lĩnh vực quảng cáo, in ấn. Đặc biệt là loại chữ dành cho những người mới bắt đầu học chữ Hán. Khải thư có bố cục ngay ngắn theo dạng hình vuông, được viết chậm rãi và cẩn thận. Khác với các loại chữ khác, khi viết thì ngòi bút được nhấc lên khỏi mặt giấy. Triện Thư là loại chữ thư pháp có lịch sử lâu đời và được lưu hành rộng rãi. Triện thư gồm 2 kiểu chữ là Đại Triện và Tiểu Triện. Đây là loại chữ thư pháp kiểu cổ, các nét thanh, bố cục đơn giản. Lệ thư là bước phát triển cao hơn của Triện thư. Hầu hết nét bút của Lệ thư là những nét vuông thể hiện sự mạnh mẽ, đơn giản về đường nét. Hành thư là loại chữ thư pháp gần giống với chữ viết tay thông thường. Khác với các kiểu chữ khác, chữ Hành thư khi viết thì ngòi bút ít nhấc lên khỏi mặt giấy. Chính vì thế các nét chữ trong cùng một chữ được viết nối liên tục nhau. Hành thư có đường nét phóng khoáng, dễ đọc, bố cục chữ tròn trịa, ít góc cạnh. Thảo thư là kiểu chữ mang tính nghệ thuật cao, thiên về cảm hứng của người viết. Các nét chữ được biến tấu đầy thi vị, thanh thoát, tốc độ viết nhanh chóng. Các nét chữ thể hiện sự liên kết, uyển chuyển tạo nên sự liên hoàn cho các bộ chữ. Khi viết, ngòi bút được hạn chế nhấc lên khỏi mặt giấy. Thảo thư được viết để thể hiện đại ý của văn tự, chính vì thế mà không phải ai cũng có thể thưởng thức được loại thư pháp này.

Một tác phẩm thư pháp là thể hiện giữa thư thể và thư gia. Nội dung và hình thức của thư pháp phải hòa hợp để xác định bố cục và thư thể trong tác phẩm. Người viết thư pháp phải trải qua thời gian tìm hiểu và khổ luyện lâu dài mới có thể vẽ nên những nét tựa “rồng bay phượng múa”. 

Khi thưởng thức một tác phẩm thư pháp, người ta thường đánh giá nó qua bút pháp và sự sáng tạo của tác giả, thể hiện qua từng nét bút nhanh – chậm, độ đậm – nhạt của mực hay sự tương phản giữa giấy và mực.

Thư pháp của người Trung Hoa được xem như một loại hình nghệ thuật, thậm chí là một môn học với đầy đủ cơ sở lý luận mà người ta gọi là “Thư học”. Thư pháp đòi hỏi có sự khổ luyện cao, người viết nếu thiếu kiên nhẫn sẽ khó học thành, như câu nói: “Học thư vô nhật bất lâm trì” (Học thư pháp không có ngày nào mà không vào ao). Thuật ngữ “lâm trì” chỉ sự khổ luyện thư pháp xuất phát từ giai thoại của thư pháp gia Trương Chi mỗi ngày luyện tập viết chữ xong lại rửa bút ở ao khiến nước đen như mực (Lâm trì học thư, trì thủy tận mặc). Về sau này, “lâm trì” được dùng để chỉ sự luyện tập thư pháp. Ngược dòng lịch sử Trung Hoa, thời đại nào cũng có những nhà thư pháp lẫy lừng với phong cách rất riêng. Thời Hán với Trương Chi say mê thư pháp, không có giấy phải viết lên vải lụa cho đến khi không còn chỗ viết thì đem nhuộm để cắt may thành quần áo mặc. Sau này, thư pháp gia nổi tiếng Vương Hi Chi (nhà Tấn) noi gương Trương Chi mà bỏ đến 15 năm rèn luyện chữ nghĩa để trở thành “Thư thánh” (một trong Thập Thánh được dân gian Trung Quốc ca ngợi và truyền tụng). Thế mới thấy, nghệ thuật con chữ có sức hút thật mãnh liệt với người đời xưa.

Nghệ thuật viết chữ đẹp của người phương Bắc phải kể đến Vương Hi Chi và dòng dõi nhà ông. Vương Hi Chi ngày trước bắt đầu luyện chữ thư pháp bằng cách viết chữ “Vĩnh” (chữ hội tụ đầy đủ tám nét cơ bản trong cách viết chữ Hán), tạo nên “Vĩnh tự bát pháp” – bài học cơ bản cho người tập viết thư pháp. Không chỉ có Vương Hi Chi mà con cháu ông cũng say mê nghiên cứu thư pháp. Con trai ông Vương Hiến Chi cũng yêu thích viết chữ không kém gì cha nên ngay từ thuở nhỏ đã gánh nước đổ đầy 18 chum nước để mài mực. Hai cha con Vương Hi Chi và Vương Hiến Chi nổi tiếng với lối viết chữ Thảo, được người đời xưng tụng là “Thảo Thánh Nhị Vương” (Hai vị vua của lối viết chữ thảo), chữ thảo của hai ông mềm mại, uyển chuyển, trở thành khuôn mẫu của cách viết chữ thảo cho hậu thế luyện theo. Dòng dõi nhà Vương Hi Chi còn phải kể đến nhà sư Thích Trí Vĩnh (Vĩnh Thiền Sư), tương truyền là cháu bảy đời của Vương Hi Chi, sống đời nhà Tấn, là người khổ luyện thư pháp nhiều đến nỗi thoái bút (bút bị cùn do viết chữ) chất cao thành gò. Vĩnh Thiền Sư tu luyện ở chùa Vĩnh Hân, yêu thích thư pháp đến nỗi 40 năm luyện chữ trên lầu chùa mà không xuống đất (Đăng lâu bất hạ tứ thập niên, Thiền Sư cũng là người kế tục và nghiên cứu, phát triển “Vĩnh tự bát pháp” (Tám nét tạo thành chữ “Vĩnh”) đã được khởi xướng từ thời ông tổ bảy đời Vương Hi Chi. Giai thoại về Vĩnh Thiền Sư kể lại rằng: Khi nhà sư đã luyện chữ đạt đến mức độ điêu luyện, người người biết đến ông, ham thích và mong muốn sở hữu chữ ông đã chen lấn nhau xin chữ dẫm nát ngạch cửa đến nỗi phải lấy sắt bao lại, gọi là “Thiết môn hạn”. Nhà Đường có nhà sư Hoài Tố nhà nghèo không có tiền mua giấy, phải tập viết trên lá chuối mà được xưng tụng là “Thảo thánh”. Dần dần, người yêu thích thư pháp không chỉ là bậc vua chúa, kẻ sĩ mà còn có cả thứ dân cũng rất thích mà ngày nay còn lưu truyền nhiều câu chuyện thú vị: Đường Thái Tông rảnh rỗi lại luyện “Trừu không luyện tự” (lấy ngón tay mà viết chữ vào không khí), nửa đêm đốt đuốc luyện Lan Đình tự (chữ của Vương Hi Chi trong “Lan Đình tập tự”) thật đáng khâm phục. Lương Vũ Đế vì quá ham thích nét chữ Thư Thánh đã truyền lệnh thu thập bút tích và ra lệnh trong cung phải lấy chữ viết của Vương Hi Chi làm chuẩn, nhà vua còn sai Chu Hưng Tự soạn “Thiên tự văn” bằng bốn cách viết thư pháp của Vương Hi Chi, dùng nó làm phương tiện dạy chữ Hán và viết thư pháp trong cung còn lưu truyền tới ngày nay.

Thư pháp đồng hành với sự phát triển và ổn định của chữ Hán, có lịch sử trải dài và thời đại nào cũng có những thư gia tiêu biểu với dấu ấn cá nhân không pha trộn. Đời nhà Tần không thể không kể đến “đệ nhất thư pháp gia” – Tể tướng Lý Tư, Triệu Cao hay Mẫu Kính. Nhà Hán cũng góp mặt những thư gia như Sử Du, Trương Chi, Tào Hỷ, Sái Ung, Lương Hộc, Lưu Đức Thăng… Đời Tam Quốc và Tây Tấn có Hàm Đan Thuần, Vỹ Đản, cha con Vệ Ký – Vệ Cẩn, Lục Cơ… Đời Đông Tấn có gia đình Vương Hi Chi – Vương Hiến Chi – Vương Tuần – Vương Dân. Thư pháp đời Nam Bắc triều có Bạc Thiệu Chi, Vương Tăng Kiều, Đào Hoằng Cảnh, Vương Bao… Xuôi đến thời thịnh vượng nhất của thư pháp chữ Hán là đời Tùy – Đường cũng sản sinh nhiều cái tên như: Trí Vĩnh, Đinh Đạo Hộ, Âu Dương Tuân, Ngu Thế Nam, Lục Giản Chi, Vũ Tắc Thiên, Lý Ung, Trương Húc, Hàn Trạch Mộc, Hạ Tri Chương, Nhan Chân Khanh, Liễu Công Quyền, Đỗ Mục, Cao Nhàn… Đời Ngũ Đại với Dương Ngưng Thúc, Từ Huyễn… Đời Tống có Lý Kiến Trung, Vương An Thạch, Tô-Hoàng-Mễ-Sái (Tô Thức, Hoàng Đình Kiên, Mễ Phế, Sái Tương), Nhạc Phi, Lục Du, Vương Đình Quân… Đời nhà Nguyên có Triệu Mạnh Phủ, Tiêu Vu Khu, Nghê Tán,… Đời Minh – Thanh với những cái tên tiêu biểu như: Cha con Tống Liêm – Tống Thoại, Trần Hiến Chương, Thẩm Chu, Hình Đồng, Trương Thụy Đồ, Phó Sơn, Vương Đạc, Kim Nông, Bao Thế Thần, Hà Thiệu Cơ, Trần Diệc Hi, Tề Bạch Thạch, Trịnh Bản Kiều… Ngay cả đến thời hiện đại, số lượng thư gia cũng hết sức nhiều, có thể kể đến vài cái tên như: Trịnh Văn Trác, Tăng Hi, Hoàng Tân Hồng, Hồ Tiểu Thạch, Lỗ Tấn, Quách Mạt Nhược, Vu Hữu Nhiệm, Mã Nhất Phù,…

Trên đây chỉ là vài cái tên tiêu biểu nhất của nghệ thuật thư pháp chữ Hán qua các triều đại. Kỳ thực, số lượng các nhà thư pháp Trung Hoa còn rất nhiều và ngày càng có nhiều người tiếp nối bộ môn nghệ thuật này. Điểm qua một số cái tên như vậy cũng đủ để thấy sức hấp dẫn lòng ham thích nghiên cứu, luyện tập của người Trung Quốc lớn thế nào. Thư pháp tinh tế không chỉ ở chỗ phải trải qua khổ luyện mới có nét chữ đẹp, có hồn, mà nghệ thuật “cho chữ” cũng là một nét văn hóa. Chữ được viết ra là kết tinh của những năm tháng khổ luyện không ngừng của người viết, nó còn thể hiện cảm xúc, tình cảm và suy nghĩ của người tạo chữ. Chính vì thế, việc cho chữ cho ai cũng là điều mà các thư gia hết sức coi trọng, không phải ai cũng được tặng chữ. Văn hóa Trung Quốc nặng lễ nghĩa, coi trọng sách vở, chữ nghĩa, người có học luôn được trọng vọng, làm quan cũng lấy chữ nghĩa làm đầu, lời nói của người nhiều chữ rất có trọng lượng… tâm lý ấy không chỉ tồn tại trong xã hội mà ngay trong cả phạm vi gia đình truyền thống người Hoa, kẻ thất học không bao giờ được xem trọng, khó có thể thay đổi địa vị của mình. Mặt khác, viết thư pháp lại được xem là nghệ thuật của chữ nghĩa, do đó người viết cũng không thể tặng chữ mình cho đối tượng mình không xem trọng. Rất khó để có thể ép một thư gia viết chữ khi tâm họ không mong muốn, vì khi đó nét chữ sẽ không đẹp vì tấm lòng không thỏa mãn. Truyền thống từ ngày xưa để lại, các nhà thư pháp chỉ tặng chữ chứ không đem ra bán như bây giờ, họ cũng chỉ tặng anh em, bạn bè thân hữu mà họ quý mến, tuyệt đối không cho chữ tùy tiện. Người được tặng chữ phải là người có học, biết quý trọng và nâng niu chữ mình được tặng. Người Trung Quốc thường treo chữ thư pháp ở giữa gian phòng khách, hay bên cột nhà chính, hay trước cửa, cổng nhà, đình, thể hiện sự trang trọng, đề cao chữ được tặng, xem chữ là một vật quý giá trong nhà, ở những vị trí đặc biệt quan trọng trong không gian sống.

Trên đây là một vài nét về nghệ thuật thư pháp của Trung Hoa. Nếu du khách là người yêu thích môn nghệ thuật  tinh túy này thì hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc để có cơ hội khám phá nhé! Chúc các du khách có một chuyến đi vui vẻ và thú vị!

Chuyện về gia tộc Nữu Hỗ Lộc thị có nhiều Hoàng hậu, Phi tần nhất Thanh triều

Dù không phải gia tộc có nhiều quyền lực trên chính trường, nhưng trong nhiều đời Hoàng đế Thanh triều, gia tộc Nữu Hỗ Lộc thị được xem là xuất sinh nhiều Hoàng hậu, phi tần của nhà Thanh. Trong đó, cái tên nổi bật xuất thân từ gia tộc này phải kể đến là Từ Hi Thái hậu.

Trong lịch sử Thanh triều, nhiều Hoàng đế khi đã nắm giữ ngai vàng vẫn phải đối mặt với nhiều thế lực chống đối, luôn tìm cách lật đổ. Bởi vậy, việc có được một gia tộc nhà vợ hùng mạnh, Hoàng đế sẽ có thể củng cố quyền lực, ngồi vững vàng trên ngôi vị cửu ngũ chí tôn. Như vậy, để lựa chọn một phi tần đưa lên ngôi vị “mẫu nghi thiên hạ”, Hoàng đế phải nhìn vào gia thế của nhà vợ. Từ đó có thể rút ra rằng, phi tần nào có gia tộc hùng mạnh chống lưng thì ắt sẽ được ưu tiên phần nào trên con đường tranh sủng. Đối với những gia đình nhà vợ này, Hoàng đế năm phần nể trọng, năm phần lo sợ.

Cũng bởi được Hoàng đế sủng ái, gia tộc hiển hách, nắm trong tay nhiều quyền lực mà không ít người khi lên được ngôi vị đứng đầu hậu cung liền kéo bè kết phái, chèn ép người khác. Điều này khiến cho hậu cung dậy sóng, tạo nên nhiều áp lực cho Hoàng đế. Không dừng lại ở đó, khi thấy người nhà trở thành Hoàng hậu, nhiều mẫu tộc làm tới, lấn lướt làm lũng đoạn chính trường, gây hại cho quốc gia.

Bởi vậy, đến giai đoạn nhà Thanh, dù hôn nhân vẫn mang tính chính trị, ràng buộc, giúp đỡ lẫn nhau này vẫn tồn tại, song, bởi nhận thấy mặt hại của các mẫu tộc hùng mạnh mà rất nhiều đời Hoàng đế Mãn Thanh đều có xu hướng kết nạp nhiều phi tần chỉ thuần với mục đích duy trì nòi giống. Điều này giúp cho Hoàng gia vẫn có được con đàn cháu đống mà không phải vì quyền lực mà nể mặt bất cứ ai. Theo đó, họ sẽ chọn những nữ nhân có xuất thân trong sạch, nhưng mẫu tộc lại không có quá nhiều quyền lực trên chính trường.

Các Hoàng đế triều Thanh nếu ân sủng một phi tần nào đó còn có thể nâng tước vị cho họ trở thành Hoàng hậu. Ưu điểm của những phi tần không có gia thế là họ sẽ công bằng nghiêm minh, không có sự thiên vị, hống hách, kết bè phái sau lưng Hoàng đế. Điều này giúp cho hậu cung sẽ yên bình. Bởi biết gia tộc của mình hoàn toàn mờ nhạt nên nếu một Hoàng hậu, phi tần nào đó đắc tội với Hoàng đế thì sẽ dễ gây ra họa diệt vong, ảnh hưởng gia đình.

Trong số những gia tộc cao quý thuộc dạng không có quyền lực nhiều trên chính trường, nhưng lại sản sinh ra nhiều Hoàng hậu, phi tần cho các đời Hoàng đế Thanh triều, nổi lên cái tên rất nổi bật: Nữu Hỗ Lộc thị.

Nữu Hỗ Lộc thị cũng gọi Nữu Hỗ Lỗ thị hay Nữu Cổ Lộc thị, là một họ của người Nữ Chân rất phổ biến triều nhà Thanh. Độ phổ biến và nối tiếng của họ này được liệt vào một trong Bát Kỳ Mãn Châu.

Nữu Hỗ Lộc thị được cho là khởi nguồn từ vùng núi Trường Bạch, thuộc tỉnh Cát Lâm ngày nay, giữa hai con sông Tùng Hoa và Mẫu Đơn. Theo những ghi chép trong gia phả thị tộc, phả hệ được truy về Sách Hòa Tế Ba Nhan, ông tổ 6 đời của Ngạch Diệc Đô, thành viên Nữu Hỗ Lộc thị nổi tiếng đầu tiên được ghi lại trong tài liệu lịch sử đời Thanh. Với sự hỗ trợ đắc lực của Ngạch Diệc Đô và thị tộc Nữu Hỗ Lộc, Nỗ Nhĩ Cáp Xích lần lượt thống nhất được các bộ tộc Nữ Chân để hình thành nhà nước Hậu Kim. Khi hệ thống Bát Kỳ ra đời, để tưởng thưởng cho lòng trung thành và công lao của Ngạch Diệc Đô, Nỗ Nhĩ Cáp Xích đã xếp Nữu Hỗ Lộc thị thuộc vào Tương Hoàng kỳ, trong nhóm Thượng Tam Kỳ, biến thị tộc này thành một trong những thị tộc có thế lực nhất trong Bát Kỳ. Đến thời cực thịnh nhất của nhà Thanh, hầu như các kỳ trong Bát kỳ đều có các thành viên của Nữu Hỗ Lộc thị giữ những vị trí trọng yếu.

Trong đời nhà Thanh, Nữu Hỗ Lộc thị là gia tộc vinh hiển nhất, mệnh danh “Danh môn trung danh môn”. Đồng thời, Nữu Hỗ Lộc thị cũng là gia tộc xuất sinh nhiều Hoàng hậu, phi tần của nhà Thanh nhất, với cả thảy 6 phi tần và 6 vị Hoàng hậu (bao gồm cả trường hợp được con trai sau khi lên ngôi hoàng đế truy phong cho mẹ mình). Bao gồm: Triều đại Hoàng Thái Cực (Thanh Thái Tông): Thái Tông nguyên phi; Khang Hi (Thanh Thánh Tổ): Hiếu Chiêu Nhân hoàng hậu (kế hậu); Ôn Hy Quý phi (em gái Hiếu Chiêu Nhân hoàng hậu), Thánh Tổ Thứ phi; Ung Chính (Thanh Thế Tông): Hi Quý phi (mẫu thân của Càn Long, truy phong là Hiếu Thánh Hiến hoàng hậu); Gia Khánh (Thanh Nhân Tông): Hiếu Hòa Duệ hoàng hậu (kế hậu), Cung Thuận hoàng quý phi; Đạo Quang (Thanh Tuyên Tông): Hiếu Mục Thành hoàng hậu (là phúc tấn lúc Đạo Quang còn là hoàng tử, về sau truy phong hoàng hậu), Hiếu Toàn Thành hoàng hậu (kế hậu), Tường phi, Thành quý phi; Hàm Phong (Thanh Văn Tông): Hiếu Trinh Hiển hoàng hậu (kế hậu).

Lịch sử Thanh triều nói riêng và lịch sử phong kiến Trung Hoa nói chung luôn có những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện ấy lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về vùng đất “đặc biệt” này. Hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc để tự mình khám phá được nhiều điều thú vị hơn nhé!

Mai Quý phi Từ Giai thị – Vị phi tần duy nhất sống qua 4 đời nhà Thanh

Trong lịch sử hậu cung nhà Thanh có vô số phi tần bị giáng chức, nhưng những người bị giáng làm cung nữ thật sự rất hiếm hoi, một trong số đó là Mai Quý phi Từ Giai thị. Tuy nhiên, sau khi giáng chức, Từ Giai thị lại có cơ hội trở mình, một lần nữa được phong phi, trở thành vị phi tần đặc biệt sống qua 4 đời nhà Thanh.

Mai Quý phi Từ Giai thị là một phi tần của Thanh Văn Tông Hàm Phong Hoàng đế. Bà sinh ngày 5/8 (âm lịch) năm Đạo Quang thứ 18 (1839), là con gái của Từ Giai Thành Ý, từng giữ chức Lĩnh Thúc – một chức quan nhỏ trong quân đội bát kỳ. Gia tộc Từ Giai thuộc tầng lớp hạ nhân (Nội vụ phủ bao y) của Mãn châu Chính hoàng kỳ nên bà có xuất thân cực thấp kém, ban đầu chỉ là một cung nữ.

Như vậy, gia thế của Từ Giai thị không có gì đặc biệt nếu không muốn nói là vô cùng bình thường, theo đó làm mất đi lợi thế để được tấn phong ở địa vị cao hơn. Tuy nhiên bù lại Từ Giai thị nổi tiếng xinh đẹp tú lệ. Chính lợi thế này giúp bà thay đổi vận mệnh.

Căn cứ tư liệu hiện có, Từ Giai thị vào năm Hàm Phong thứ 3 (1853) sơ phong Mai Thường tại (玟常在). Theo tài liệu Hồng xưng thông dụng (鴻稱通用) của Nội vụ phủ, phong hiệu “Mai” có Mãn văn là “Gehungge”, ý là “Quang huy”, “Sáng ngời”.

Nhờ được hoàng đế sủng ái, năm Hàm Phong thứ 4 (1854), bà tiếp tục được phong làm Mai Quý nhân. Tuy nhiên, đến năm Hàm Phong thứ 5 (1955), vào ngày 24/4 (âm lịch), không rõ nguyên nhân bà lại bị giáng xuống Thường tại. Chưa đầy 1 tháng sau, hoàng đế lại ra lệnh giáng bà xuống làm Quan nữ tử (cũng gọi Cung nữ tử 宮女子). Trong chiếu dụ ghi rõ, Từ Giai thị đã hành hạ cung nữ và thân mật với thái giám, cả 2 đều đã phạm đại kị trong hoàng cung. Có lẽ vì sự bất mãn khi bị giáng xuống Thường tại nên Từ Giai thị đã trút hết mọi bực tức lên các cung nữ xung quanh, phạm vào đại tội.

Chỉ trong vòng 1 tháng, Từ Giai Thị bị giáng liền 3 cấp, đang ở hàng phi tần phải xuống làm cung tỳ, hẳn trong lòng bà rất tủi nhục và phải lấy nước mắt “rửa mặt” hàng đêm. Bà biết rất rõ cơ hội có lại sự sủng ái của Hoàng đế một lần nữa là rất mong manh. Tuy nhiên, dù cơ hội nhỏ bé đến thế nào, Từ Giai thị cũng đã nắm bắt được.

8 ngày sau, Hàm Phong Đế mủi lòng, nghĩ mình đã quá nặng tay, bèn khôi phục lại thân phận Thường tại cho bà vào năm Hàm Phong thứ 6 (1856), ít lâu sau đó lại tái phong làm Quý nhân. 

Trải qua nhiều sóng gió, sau khi được tái phong, Mai Quý nhân đã lĩnh hội được thiên uy của hoàng đế nên hành sự ngày càng cẩn trọng, khéo léo hầu hạ phục tùng. Chẳng bao lâu sau đã lấy lại được cảm tình của Hàm Phong. Được tái đắc sủng, bà nhanh chóng mang long thai. Đến ngày 5/2 (âm lịch) năm Hàm Phong thứ 8 (1858), Mai Quý nhân sinh hạ hoàng nhị tử nhưng đứa trẻ chỉ sống được 3 giờ đồng hồ thì qua đời. Để an ủi bà, vào ngày 9/3 (âm lịch), Hàm Phong Đế phong bà lên làm Mai tần (玟嫔) trong cùng năm đó. Theo như sách văn phong Tần thì trước đó bà đã được phục vị Quý nhân. Ngày 24/12 (âm lịch), lấy Lễ bộ Thượng thư Chu Tôn (朱嶟) làm Chính sứ, Nội các Học sĩ Nghi Chấn (宜振) làm Phó sứ, tiến hành lễ tấn phong cho Mai tần. Sách văn viết:

“惟坤元翊治。还资襄赞之人。巽命扬休。用美柔嘉之德。芬流鸣瑀。典茂镌镠。尔玟贵人徐佳氏、敬慎持躬。谦冲蕴性。应四星而列耀。华选先膺。教九御以宣勤。芳型克树。是用晋封尔为玫嫔。申之册命。尔其含和履善。益昭雅度于珩璜。集祉延禧。永荷殊恩于纶綍。钦哉

Duy khôn nguyên dực trị. Hoàn tư tương tán chi nhân. Tốn mệnh dương hưu. Dụng mỹ nhu gia chi đức. Phân lưu minh vũ. Điển mậu tuyên lưu.

Nhĩ Mân Quý nhân Từ Giai thị, kính thận trì cung. Khiêm trùng uẩn tính. Ứng tứ tinh nhi liệt diệu. Hoa tuyển tiên ưng. Giáo cửu ngự dĩ tuyên cần. Phương hình khắc thụ. Thị dụng tấn phong nhĩ vi Mân tần. Thân chi sách mệnh.

Nhĩ kỳ hàm hòa lí thiện. Ích chiêu nhã độ vu hành hoàng. Tập chỉ duyên hi. Vĩnh hà thù ân vu luân phất. Khâm tai.”

Năm Hàm Phong thứ 11 (1861), vua Hàm Phong băng hà, Hoàng đế Đồng Trị nối ngôi, hạ chỉ dụ tôn phong Mai tần là Hoàng khảo Mai phi và truy phong hoàng nhị tử là Mẫn quận vương, lúc này, bà mới 25 tuổi. Đến ngày 16/11 năm Đồng Trị thứ 13 (1874), Hoàng khảo Mai phi được hoàng đế tấn tôn là Hoàng khảo Mai Quý phi theo ý chỉ của lưỡng cung Hoàng Thái hậu Từ An và Từ Hi.

Mai Quý phi qua đời vào ngày 8/11 năm Quang Tự thứ 16 (1890), thọ 55 tuổi. Sau khi tạm an ở Điền thôn, ngày 13 tháng 4 năm Quang Tự thứ 19, kim quan của Từ Giai thị được đưa vào an táng tại Định lăng Phi viên tẩm, cùng Trang Tĩnh Hoàng quý phi Tha Tha Lạp thị.

Hậu cung Trung Hoa xưa luôn có những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện ấy lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về vùng đất “đặc biệt” này. Hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc để tự mình khám phá được nhiều điều thú vị hơn nhé!

Du lịch Trung Quốc, không thể bỏ qua món “Gà ăn mày” độc lạ

“Gà ăn mày” là một món ăn rất phổ biến ở Trung Quốc và được thực khách trên khắp thế giới vô cùng ưa chuộng. Thoạt nhìn ban đầu, món ăn trông có vẻ không được bắt mắt lắm, nếu không muốn nói là hơi kì dị. Nhưng nó thực sự là một món ăn mang hương vị bản sắc Trung Quốc mà bất cứ ai cũng không nên bỏ lỡ.

Có những món ăn mà mới chỉ nghe tên gọi thôi cũng khiến người nghe cảm thấy tò mò và muốn được thưởng thức ngay lập tức. Có những món ăn có tên gọi giản dị, có món ăn lại có tên gọi đặc biệt, nghe một lần là nhớ, món “gà ăn mày” là một món ăn như vậy. Cái tên “gà ăn mày” thoạt nghe rất lạ tai nhưng là món ăn độc đáo trong ẩm thực Trung Quốc. 

Món “gà ăn mày” mang hương vị thơm ngon với cách chế biến vô cùng độc đáo và cả một câu chuyện thú vị gắn liền với xuất xứ món ăn này. Món “gà ăn mày” xuất hiện từ thời nhà Thanh và cái tên “ăn mày” có liên quan đến người đã sáng tạo ra nó lần đầu tiên.

Theo sự tích kể lại thì một người ăn mày ở Hàng Châu (Giang Tô), trong cơn đói kém, đành phải liều mình bắt trộm gà ở sân vườn một nhà ven đường để xoa dịu những tiếng ùng ục phát ra từ cái dạ dày rỗng đã nhiều ngày qua. Trong khi đang nhóm lửa và chuẩn bị làm gà thì nhà vua và cận thần đi qua. Sợ quá, người ăn mày liền lấy bùn rồi bọc gà lại, ném vội vào lửa. Không ngờ, mùi thơm đã len lỏi qua lớp đất tỏa ra phưng phức thu hút sự chú ý của nhà vua dừng bước và dùng bữa cùng kẻ ăn mày kia. Thật ngạc nhiên, món ăn ngon đến mức nhà vua khăng khăng muốn biết cách chế biến món ăn này. Kết quả là món gà nướng này biến thành đặc sản quý, được đưa vào thực đơn trong cung, dùng trong các bữa tiệc tùng và cứ thế trở thành món ăn nổi tiếng cho đến ngày nay.

Mặc dù, lúc bấy giờ, nó đã trở thành món ăn quý tộc nhưng dân gian vẫn quen gọi cái tên “gà ăn mày”. Tuy nhiên, ngày nay nhiều hàng quán ở Trung Quốc lại gọi món ăn bằng cái tên mỹ miều hơn là “gà nung đất sét”.

Và công thức làm món gà này cũng được chế biến cầu kỳ hơn chứ không chỉ đơn giản là đắp bùn lên con gà rồi nướng. Nó được được biến tấu với nhiều loại nguyên liệu và gia vị khác nhau, tạo nên sự lạ miệng: thịt săn chắc, vài lá sen khô, đất sét và dầu mè, và không thể thiếu là một con gà nặng hơn 1kg, là giống gà thả trong vườn.

Gà được để nguyên con, bỏ đi phần nội tạng, rồi rửa sạch bằng rượu gạo cho hết mùi tanh hôi. Sau đó đem hỗn hợp gồm hành lá, gừng, đậu tương, bột ngũ vị và vài loại thảo mộc của Trung Quốc đã được xào qua nhồi vào bụng gà để tăng vị thơm ngon, đậm đà. Sau đó lại ướp gà với nước tương, hoa hồi, dầu đinh hương, hạt tiêu, quế, muối, đường và chút bột nêm. Ướp gà trong vài giờ để các loại gia vị ngấm sâu vào thớ thịt.

Công đoạn tiếp theo là bọc gà bằng lá sen trước khi bọc đất để làm sạch lớp gà và thịt phảng phất hương vị của lá sen. Thứ đất được dùng để bọc gà nhất định phải chọn loại đất sét được lấy từ khu vực ao hồ để đảm bảo độ kết dính, không quá khô hay ướt, khi nung ở nhiệt độ cao sẽ tạo nên mùi thơm vô cùng đặc biệt. Việc bọc đất cũng đòi hỏi phải rất tỉ mỉ để sao cho không chỗ nào bị mỏng quá hay dày quá khiến gà bị cháy xém hoặc không chín.

Cuối cùng là cho gà lên bếp củi khô để nướng. Thời gian nướng khá lâu, có thể kéo dài tới 1-2 tiếng. Lửa ở mức vừa phải để món ăn chín dần dần. Đây cũng là bước quan trọng bởi người đầu bếp cần canh sao cho lửa không to quá. Nếu quá lửa, gà sẽ cháy sém, mất đi vị ngọt tự nhiên. Đến khi phần đất sét nứt ra, khi ấy thịt gà đã chín. 

Khi chín, mùi lá sen thoang thoảng cùng các loại nguyên liệu và gia vị bên trong thấm đều vào từng thớ thịt gà nên ăn sẽ càng ngon hơn rất nhiều. Gà trở nên béo ngậy, mềm, ngọt, không hề bị khô và có mùi thơm rất hấp dẫn. Đặc biệt, tất cả xương gà đã róc hết thịt và chỉ cần dùng một đôi đũa nhỏ cũng có thể nhẹ nhàng tách riêng phần xương và phần thịt. Cảm giác, khi tách đôi con gà vàng ươm, thực khách nhẹ nhàng bóc lớp da béo ngậy rồi chấm với bát nước tương cay cay, mặn mặn, càng ăn lại càng thèm hơn nữa…

“Gà ăn mày” chỉ ăn nóng mới cảm nhận hết vị ngon, ngọt. Thực khách có thể cảm nhận được vị lá sen thoang thoảng, nấm hương, mùi thơm của tiêu, cay của ớt và miếng gà ăn không bị ngán. Món ăn này được nhiều khách du lịch nước ngoài đến Trung Quốc ưa thích. 

Hãy thực hiện một chuyến du lịch Trung Quốc đế có được một lần thưởng thức món ăn vô cùng độc đáo và đặc sắc này nhé!

Kinh kịch – loại hình nghệ thuật tinh tuý của Trung Hoa

Dân tộc Trung Hoa trải qua mấy nghìn năm tôi luyện và hoà hợp, kết tụ và phát triển đã thu hút được muôn phương mà lại có phong thái độc đáo, hình thành nên nền văn hoá rực rỡ muôn màu, đa nguyên nhất thể, rộng lớn sâu lắng mà lại mộc mạc tươi đẹp. Trong đó, Kinh kịch là một loại hình sân khấu đẹp có lịch sử trên 200 năm, được xem như một trong những di sản văn hóa đặc sắc nhất của văn hóa Trung Hoa.

Kinh kịch (京剧 – Jīngjù) hay còn gọi là “ca kịch Phương Đông”, là loại hình sân khấu đặc sắc của Trung Quốc mang đậm nét văn hóa thuần túy Á Đông. Vào tháng 11/2010, Tổ chức UNESCO đã chính thức công nhận Kinh kịch là “Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại”. 

Kinh kịch – một thể loại ca kịch dân gian được hình thành và phát triển mạnh tại Bắc Kinh vào thời vua Càn Long. Kinh kịch cũng đã trải qua với nhiều tên gọi: “Nam hí”, “Truyền kì”, “Côn Khúc”, “Huy Kịch” và bây giờ tên chính thức là “Kinh kịch”.

Có thể nói rằng, Kinh kịch là sự kết hợp giữa Huy kịch và Hán kịch. Kinh kịch được phát triển từ các nghệ thuật cổ đại dân gian từ xưa như tuồng – loại hình nghệ thuật tổng hợp, sự kết hợp hài hòa và đồng nhất giữa “Ca, nói, biểu hiện, đấu võ, vũ đạo”. 

Ban đầu, kinh kịch đơn giản chỉ ca múa kèm vũ đạo, tương tự như nghệ thuật tuồng. Hoặc có pha trộn thêm một số loại tạp kĩ như xiếc hoạt kê, các màn nhào lộn, kể chuyện hay những đoạn đối thoại và cả võ thuật. Cho đến thời nhà Đường, tên gọi “Kinh kịch” còn được gọi là “Hí kịch”. Các thể loại nghệ thuật khác của Trung Quốc thường lấy cốt truyện từ lịch sử. Họ thường lấy những vị anh hùng làm đề tài chính. Sang thời nhà Tống thì Kinh kịch còn được gọi là “Tham Quân hí” hay có thể gọi là “Tạp Kịch”.

Phần lớn các vở Kinh kịch đều có đời sống và cảm hứng từ các cốt truyện huyền thoại như cổ tích, truyền thuyết pha lẫn tính dã sử của tiểu thuyết Trung Quốc cổ điển. Chắc hẳn trong chúng ta đã quá quen thuộc với những tác phẩm như Mỹ Hầu Vương, Tam Quốc Diễn Nghĩa, Thủy Hử,… là những tác phẩm điện ảnh quen thuộc cũng đều được tái hiện lại một cách hoàn hảo thông qua loại hình nghệ thuật đặc sắc này. Vì vậy khi nghe và xem Kinh kịch cũng là chúng ta đang tìm hiểu về lịch sử cũng như văn hóa cổ xưa của đất nước Trung Hoa.

Các nhân vật trong Kinh kịch chủ yếu chia làm bốn vai chính: Sinh (vai nam), Đán (vai nữ), Tịnh (vai nam),Sửu (nam nữ đều có). “Sinh” (生) tùy theo tuổi tác và thân phận trong các vở kịch mà chia thành lão sinh, tiểu sinh và võ sinh. “Đán”(旦) bao gồm thanh y, hoa đán, võ đán, lão đán. “Tịnh”(净)vào vai nam hào kiệt hoặc thư sinh, đặc trưng nổi bật là phải vẽ nhiều màu sắc trên mặt, vì vậy còn gọi là “hoa kiểm”. “Sửu”(丑) là vai xấu xa hoặc hài hước lanh lợi.

Nhạc cụ để biểu diễn trong một vở Kinh kịch bao giờ cũng là sự kết hợp đồng bộ giữa bộ gió, bộ dây và bộ gõ, chúng tạo ra những tiếng đệm theo lời hát trầm bổng réo rắt vốn đã được xem là chuẩn mực, “quốc túy”, trong điệu hát Trung Hoa.

Cùng với các nhạc khí, nhân vật Kinh kịch còn sử dụng các loại đạo cụ khác như: đao, thương, kiếm, gậy, quạt,… để hỗ trợ cho diễn xuất và thể hiện tính cách riêng.

Nghệ thuật hóa trang trong Kinh kịch cũng rất đặc sắc. Vai “Sinh” và “Đán” phải vẽ lông mày, nâng lông mày và vẽ tròng mắt. Vai “Tịnh” và “Sửu” phải vẽ mặt nạ hay cụm từ mà miêu tả chính xác theo cách gọi của người Trung Quốc đó là Kiểm Phổ.

Kiểm phổ là cách hóa trang để diễn viên Kinh kịch hóa thân nhập vai nhân vật định sẵn, cách vẽ và hình vẽ sẽ khác nhau tùy thuộc vào nội tâm nhân vật thể hiện, và không được vẽ lẫn lộn giữa các vai khác nhau. Trong đó, phương pháp vẽ lại thiên hình vạn trạng, mỗi kiểm phổ có nét kỳ diệu riêng. Một số kiểm phổ chỉ đơn thuần dùng tay chấm màu vẽ và bôi nhẹ lên mặt, không cần dùng bút kẻ các đường nét, ví dụ như trong các tuồng Võ hí, diễn viên đóng các vai anh hùng đều áp dụng cách vẽ này.

Những tướng võ thông thường đa số đều phải vẽ mặt, nghĩa là dùng dầu trang điểm pha trộn các màu sắc khác nhau và vẽ lên mặt, màu sắc đậm nhạt, vòng mắt to nhỏ, lông mày thẳng hoặc cong, hoa văn biến hóa, lực vận bút mạnh nhẹ đều phải tuân theo chuẩn mực quy định, không được sơ suất; vai gian thần thì phải dùng mạt kiểm (mặt bôi, dùng tay bôi màu lên mặt) – lông mày được bôi đậm thêm, mắt vẽ hình tam giác, và vẽ thêm hai đường vân gian ác (giống như chân ruồi), bôi phấn lên mặt sao cho cả mặt có màu trắng xóa giống như bộ mặt giả, không được để lộ bộ mặt thật ra ngoài.

Kiểm phổ được vẽ tinh xảo, màu sắc rực rỡ, khuôn mặt có thể méo mó nhưng cũng có thể ngay thẳng, đường nét có thể thô hoặc mỏng, rất đa dạng. Qua Kiểm Phổ, khán giả có thể nhận biết các nhân vật trung thành hoặc gian trá, tốt đẹp hay xấu xa, lương thiện hay gian ác, cao thượng hay thấp hèn. Kiểm phổ chính là bằng chứng phát triển hoàn thiện của thủ pháp tả ý ước lệ trong Kinh kịch, hiểu rõ ý nghĩa tượng trưng mà Kiểm Phổ muốn thể hiện sẽ giúp ích cho việc tìm hiểu cốt truyện của tuồng kịch.

Kiểm phổ thể hiện tính cách, ví dụ như mặt đỏ thể hiện tính cách trung liệt, dũng cảm, chính nghĩa; mặt đen biểu thị sự thô bạo, hung dữ; mặt xanh dương biểu thị sự ngoan cường, dũng mãnh; mặt trắng biểu thị sự gian xảo, nham hiểm; “mặt đậu phụ” biểu thị sự a dua, nịnh bợ,…

Ngoài ra, còn rất nhiều kiểm phổ mà không thể liệt kê ra hết, vừa có thể dùng các màu sắc khác nhau để vẽ nên các hoa văn khác nhau nhằm lột tả hết tính cách của nhân vật trong vở kịch, giúp khán giả có cái nhìn cụ thể hơn.

Để biểu thị quan hệ huyết thống, có thể nhân vật cha con trong kịch sẽ được vẽ mặt cùng một màu, cách vẽ và hình vẽ sẽ to nhỏ khác nhau. Để biểu thị thân phận: nhân vật được vẽ màu vàng kim hoặc màu bạc không là tiên thì cũng là Phật; nhân vật được vẽ hình rắn, sâu bọ, cá, tôm thì chắc chắn sẽ là thủy quái hoặc sơn yêu; khuôn mặt lộ vẻ uy nghiêm đa phần là trung thần hoặc hiếu tử; mặt vẽ màu xanh lá hoặc xanh dương đều là những bậc anh hùng xuất thân trong tầng lớp nhân dân; vẽ “mắt eo”, “mày dùi cui” (nghĩa là ở giữa thô, phía dưới có hình tròn nhọn, phía trên rất nhọn, lông mày ngắn có hình dạng như chiếc dùi cui) cho nhân vật hòa thượng; kiểm phổ có mắt đen với vòng mắt nhỏ, miệng nhỏ chắc chắn sẽ là thái giám cung đình; bôi “miếng đậu phụ” màu trắng ở ngay giữa sống mũi đều là những vai phụ xuất hiện để chọc cười mua vui trong kịch.

Kiểm phổ còn có thể mở rộng phạm vi diễn xuất của diễn viên, diễn viên có thể đóng luôn các vai động vật, không cần phải kéo trâu thật ngựa thật lên sân khấu, và diễn viên vừa lột tả được hết tính cách của vai diễn, lại vừa có thể nói chuyện được, thú vị vô cùng.

Với loại hình nghệ thuật Kinh kịch, mặt nạ cũng được xem là yếu tố đặc sắc. Qua những sắc thái trên mặt nạ chúng ta có thể biết được nhân vật vai thiện hay ác. Mỗi khuôn mặt, mỗi kiểu tính cách lại có những cách tạo hình nhân vật khác nhau. Cho dù là nhân vật gian trá, thiện lành hay xấu xa, cao thượng hay thấp hèn đều thể hiện rõ nét trên khuôn mặt. Màu sắc trên khuôn mặt cũng chiếm giúp việc tạo hình được thành công hơn. Màu đỏ thường biểu thị cho những con người trung thành hết mực. Màu trắng thể hiện nhận vật gian trá,giả trân, độc ác. Màu xanh làm phản chiếu nhân vật kiên cường và dũng cảm. Mặt na màu bạc thể hiện sự tàn bạo. Màu vàng thể hiện thần phật quỷ quái. Màu sắc thể hiện được sự huyền ảo kì bí đồng thời cũng thu hút người xem hơn rất nhiều.

Trong Kinh kịch, không thể thiếu các màn nhào lộn, xiếc, và diễn trò. Sau này dưới sự ảnh hưởng của võ thuật Trung Hoa, những tiết mục Kinh kịch bắt đầu có các màn biểu diễn võ thuật làm cho buổi biểu diễn trở nên sinh động và cuốn hút hơn. Ngoài ra, Kinh kịch đã tạo nên một hệ thống động tác biểu diễn mang tính chất tượng trưng cao. Chẳng hạn như lấy một chiếc mái chèo biểu thị một con thuyền, hay một chiếc roi ngựa biểu thị một con ngựa. Diễn viên không cần đạo cụ vẫn có thể biểu diễn những động tác như lên lầu, xuống lầu, mở cửa, đóng cửa. Những động tác này tuy có hơi khuếch đại, nhưng có thể đem lại cảm giác chân thật cho khán giả.

Gắn liền với vẻ mặt trí tuệ của vai diễn cũng như nghệ thuật vũ đạo, múa võ, kỹ xảo xiếc điêu luyện…, sự độc đáo của Kinh kịch còn nằm trong vẻ đẹp hoàn mỹ của những trang phục dân tộc. Xuất xứ từ trang phục của triều đại nhà Minh (1368-1644), sự lộng lẫy và tinh xảo trong trang phục của Kinh kịch đến nay vẫn làm cho mọi người phải ngạc nhiên; kết hợp với trang phục, vai diễn tự nhiên và hoàn hảo trong sự nhuần nhuyễn giữa thực tế, trí tưởng tượng cũng góp phần tăng sự hoành tráng trong vở Kinh Kịch.

Phải nói rằng, người xưa có phong cách thưởng thức nghệ thuật rất thanh tao, chú trọng vào nội hàm chứ không chỉ là những màn phô diễn nghệ thuật. Bởi vậy mà Kinh kịch có sức sống tới mấy trăm năm mà không hề bị phai nhòa. 

Thật là tuyệt vời khi khám phá thêm một nét văn hóa rất Trung Hoa phải không nào? Du khách đã bị thu hút và tò mò muốn xem Kinh kịch này chứ? Nếu có cơ hội du lịch Nhật Bản, du khách hãy nhớ dành thời gian thưởng thức buổi biểu diễn Kinh kịch đặc sắc nhé! Chắc chắn du khách sẽ có thêm được một trải nghiệm thú vị trong hành trình khám phá vùng đất Trung Hoa.

Lễ hội đèn lồng – nét đẹp văn hoá truyền thống của Trung Quốc

Lễ hội đèn lồng là một phong tục không thể thiếu khi kết thúc mùa Tết Nguyên Đán của Trung Quốc. Đèn lồng đỏ được treo ở mọi nẻo đường mọi khu phố như dấu hiệu tạm biệt những ngày đầu xuân năm mới. Khi phố lên đèn, những chiếc đèn đỏ lung linh treo cao như tương lai tươi sáng.

Ngày 15/1 âm lịch hay còn gọi là ngày rằm tháng Giêng là một trong những ngày rất quan trọng theo lịch âm của người Châu Á. Có nơi thậm chí còn quan niệm: “Cúng cả năm không bằng rằm tháng Giêng”. Ở Trung Quốc, ngày này người ta tổ chức Lễ hội đèn lồng để chính thức kết thúc những ngày Tết nguyên Đán.

Lễ hội đèn lồng ở Trung Quốc đã có từ rất lâu đời. Theo sử sách thì lễ hội này bắt nguồn khoảng từ năm 206 trước Công nguyên đến năm thứ 25 sau Công nguyên. Thời ấy, đạo Phật tại Trung Quốc rất phát triển. Vào ngày trăng tròn của tháng âm lịch đầu tiên trong năm mới, các nhà sư thường thắp đèn lồng để cầu nguyện Phật. Một vị vua sùng đạo Phật thấy vậy cũng đã ra lệnh thắp sáng đèn lồng trong cung điện và các đền thờ để tỏ lòng tôn kính Phật. Về sau, truyền thống trên đã phát triển thành một lễ hội lớn trong dân chúng.

Lễ hội đèn lồng cũng gắn liền với nhiều truyền thuyết. Truyền thuyết thứ nhất kể rằng: Ngày xửa ngày xưa có một con thiên nga từ trên thiên đình bay xuống hạ giới đã bị một người thợ săn bắn chết. Để trả thù cho con thiên nga, Ngọc Hoàng đã sai một đội quân Thiên đình đúng ngày 15 tháng 1 xuống hỏa thiêu toàn bộ con người và động vật dưới hạ giới. Rất may cho loài người là có một số vị thần trên Thiên đình không đồng ý với quyết định có phần hơi nặng tay của Ngọc Hoàng. Họ đã liều mình xuống hạ giới để hiến kế cho chúng sinh. Thế là vào ngày đó, nhà nhà treo đèn lồng và bắn pháo hoa để trên Thiên đình tưởng rằng nhà cửa của họ đã bị phóng hoả. Nhờ đó mà loài người mới thoát khỏi cảnh diệt vong.

Một truyền thuyết khác: Vào thời Hán Vũ Đế, có một cô gái trẻ tên là Yuanxiao sống trong cung bị cấm về thăm cha mẹ vào ngày 15 tháng 1 đã có ý định lao xuống giếng để tự vẫn. Cảm động trước tấm lòng hiếu thảo của cô gái, một vị quan cận thần có tên là Dongfang Shuo đã nghĩ ra một kế để giúp cô. Ông tâu với Hán Vũ Đế rằng, ngày 16 tháng 1, Thiên dình sẽ sai Hỏa thần xuống thiêu rụi Kinh thành. Để tránh tai họa đó, mọi người phải treo đèn lồng trước cửa nhà mình và ngoài đường vào ngày 15. Theo lệnh của Hán Vũ Đế, ngày đó mọi nhà đều treo đèn lồng, nhân lúc mọi người đang mải ngắm những chiếc đèn xinh xắn đó, cô gái trẻ đã trốn về nhà thăm cha mẹ mà không hề ai biết.

Đối với mỗi người dân Trung Quốc, lễ hội này có ý nghĩa tinh thần rất lớn. Không chỉ tiếp nối truyền thống và lịch sử của dân tộc, Lễ hội đèn lồng còn là nơi mọi người cầu mong một năm mới suôn sẻ. Trong quá khứ, Lễ hội đèn lồng còn là dịp cầu duyên của những người trẻ tuổi đang tìm kiếm tình yêu. Người Trung Quốc quan niệm rằng ánh sáng từ những chiếc đèn lồng đỏ sẽ xua tan đi giá lạnh của mùa đông và chào đón mùa xuân ấm áp. Đèn lồng thắp sáng như xua đi bóng tối và thắp lên một tương lai tươi sáng và tốt đẹp phía trước. 

Vào ngày này, những chiếc đèn lồng sẽ được treo kín các con đường, từ những khu phố về ngõ nhỏ trên khắp đất nước Trung Quốc. Nơi tổ chức trưng bày đèn lồng hoành tráng nhất là đền Khổng Tử ở Nam Kinh (thành phố Hạ Môn), vườn đào Thượng Hải và công viên Việt Tú ở Quảng Châu. Ghé thăm Trung Quốc vào dịp này du khách sẽ được thưởng thức những nét đẹp văn hoá Trung Hoa đặc sắc và độc đáo riêng có nơi đây.

Cứ đến chiều tối, người người sẽ đổ xuống đường phố để thưởng thức vẻ đẹp lộng lẫy của hàng nghìn chiếc đèn lồng đa dạng về chủng loại, chẳng hạn như: đèn lồng cung đình, đèn lồng vải, đèn lồng vải và nhiều loại khác. Có nhiều loại hình ảnh được trang trí trên lồng đèn như: Họa tiết hình tượng, tranh phong cảnh, hoa và chim, hoa văn rồng phượng, cá và côn trùng. Ngoài ra, còn có lồng đèn kéo quân có khả năng làm cho hình ảnh chuyển động. Thiết kế truyền thống nhất, được nhìn thấy nhiều nhất là lồng đèn có hình dáng quả bí ngô, đính tua rua ở dưới. Có đôi khi là đèn lồng dạng hình trụ, mà các cung nữ ngày xưa hay dùng khi di chuyển. Các vật liệu được sử dụng để làm đèn lồng rất đa dạng. Thông thường, khung đèn được làm từ vật liệu tre, mây, gỗ, sợi thép. Bọc xung quang là vải hoặc giấy. Tùy từng loại chất liệu mà được trang trí họa tiết.

Xuyên suốt lễ hội, những tiết mục bắn pháo hoa, biểu diễn múa lân và kịch nghệ sẽ diễn ra liên tục giúp không khí lễ hội càng thêm nhộn nhịp và từng bừng, những nụ cười vui vẻ và hạnh phúc luôn nở trên môi mỗi người. Không chỉ vậy các hoạt động như treo điều ước, giải câu đố đậm nét văn hoá truyền thống cũng diễn ra thu hút người dân và du khách đến trải nghiệm.

Một trong những điểm nhấn chính của lễ hội này là hoạt động thả đèn hoa đăng. Người tham dự sẽ viết những điều ước của mình cho năm mới và đồng loạt thả chúng lên trời cao. Người dân tin rằng, bằng cách này, những chiếc đèn giấy sẽ giúp họ gửi gắm được điều ước của mình đến với Thượng Đế. Những chiếc đèn được thả lên trời cũng như mong muốn và ước mơ của người dân nơi đây bay cao bay xa và luôn toả sáng. Nhìn ngắm cả bầu trời đêm được thắp sáng bởi hàng trăm đốm sáng nhỏ sẽ là một trải nghiệm khó quên cho bất cứ ai từng chứng kiến.

Ngoài loại đèn lồng truyền thống, những nghệ sĩ tham gia thiết kế lễ hội còn tạo nên những mẫu đèn lồng sáng tạo với nhiều hình thù và chất liệu khác nhau. Đèn được trưng bày tại lễ hội không đơn giản chỉ là những món đồ trang trí được treo lên mà còn có thể thả trôi dưới nước, thả lơ lửng trên trời, tạo thành các tác phẩm nghệ thuật thú vị, vừa phá cách, vừa giàu bản sắc Trung Hoa.

Ngoài nhìn ngắm những chiếc đèn lồng truyền thống treo khắp đường phố, những chiếc đèn hoa đăng lung linh trên bầu trời đêm và cả những chiếc đèn bồng bềnh theo dòng nước trôi, Lễ hội đèn lồng còn là dịp để mọi người thưởng thức bánh trôi nước. Loại bánh này được làm từ bột gạo nếp dẻo, có lớp nhân bên trong là mè đen, đường, đậu phộng hoặc các loại đậu đỏ, đen, xanh,… Bánh trôi nước có thể được luộc, hấp và chiên tùy theo vùng miền, nhưng phổ biến nhất vẫn là loại bánh được luộc lên và dùng chung với rượu gạo. Người dân cho rằng, hình dáng tròn trịa của bánh trôi là biểu tượng của sự trọn vẹn. Hình ảnh những chiếc bánh trôi bên trong chiếc chén nhỏ còn được cho là giống với cảnh các thành viên trong gia đình cùng quây quần bên nhau – biểu tượng của sự đoàn viên.

Lễ hội đèn lồng mang thật nhiều nét đẹp văn hoá dân tộc mang lại những niềm vui và hi vọng cho mọi người. Du lịch Trung Quốc để hoà mình vào Lễ hội đèn lồng nhộn nhịp và tự tay thả chiếc đèn hoa đăng mang mơ ước của bản thân lên trên trời cao chắc chắn sẽ là một trải nghiệm thú vị mà du khách khó lòng quên được.

Đậu phụ thối – món ăn “thiên hạ đệ nhất thối” của Trung Quốc

Ẩm thực Trung Hoa đa dạng và tinh tế được cả thế giới biết đến như cơm chiên Dương Châu, vịt quay Quảng Đông… Bên cạnh những món ăn cầu kỳ đó, các món ăn bình dân như sủi cảo, kẹo xiên và đặc biệt đậu hũ thối chính là nét độc đáo làm nên linh hồn cho văn hóa ẩm thực đất nước này.

Đậu phụ thối (臭豆腐) là một loại đậu phụ lên men khá nặng mùi. Món ăn này được mệnh danh là “thiên hạ đệ nhất thối” vừa ăn vừa bịt mũi ấy vậy mà trở thành “đặc sản” gây thương nhớ của mỗi người dân Trung Quốc và kể cả khách du lịch nước ngoài.

Du lịch Trung Quốc, du khách sẽ dễ dàng bắt gặp món ăn bình dân này ở các chợ đêm hoặc quán ăn ven đường và thậm chí trong các nhà hàng sang trọng.

Nguồn gốc món đậu phụ thối

Nguồn gốc của món đậu phụ thối có khá nhiều dị bản. Chuyện kể rằng, khi xưa Chu Nguyên Chương xuất thân bần hàn, lúc còn nhỏ ông đã đi làm ăn mày và hòa thượng. Có một lần vì đói quá không chịu được nên ông đã nhặt đậu phụ đã hỏng mà người ta vứt đi rồi đem về nhà rán lên. Khi đưa vào miệng, mùi vị ấy khiến ông khó quên. Sau đó, ông làm thống soái, đội quân của ông thuận lợi đánh tới tỉnh An Huy, trong lúc vui vẻ ông đã hạ lệnh cho toàn quân ăn đậu phụ thối để mừng thắng lợi, món đậu phụ thối từ đó được lưu truyền rộng rãi.

Một câu chuyện khác phổ biến hơn cả là món ăn này do một chàng thư sinh nghèo tên Vương Trí Hòa từ thời vua Khang Hi tìm ra. 

Do thi trượt khoa cử, Vương Trí Hòa phải ở lại kinh thành bán đậu phụ kiếm sống qua ngày. Do đậu phụ ế nhiều, anh đành cắt nhỏ và bỏ vào một cái chum ướp muối. Vài ngày sau, chỗ đậu phụ đó đã chuyển thành màu xanh lục và có mùi vô cùng “khó ngửi”, nhưng khi ăn thử thì lại thấy nó rất ngon. Từ đó món đậu phụ thối lan truyền rộng rãi. Thậm chí đến vua Khang Hi cũng phải mê mẩn, hạ lệnh đưa vào thực đơn của cung đình.

Mùi vị đặc trưng của đậu phụ thối

Với tên gọi của món ăn này cũng cho thấy nó chắc chắn là sẽ rất “thối”, ngay từ khoảng cách rất xa cũng có thể ngửi thấy mùi “khó ngửi” của món ăn này, nó có mùi thối giống như mùi của rau củ đang thối rữa hoặc phân bón mục rữa, rất khó chịu. Có người so sánh vị của nó với pho mát xanh của người phương Tây, trong khi người khác thì nghĩ nó giống thịt rữa. Vì thế nên tuy rằng đậu phụ thối rất ngon nhưng mùi của nó vẫn là một thách thức đối với người ăn, đặc biệt là những vị khách du lịch nước ngoài lần đầu thưởng thức món ăn kì lạ này. 

Một cửa hàng đậu phụ thối gia truyền chia sẻ bí quyết làm món đậu phụ “thiên hạ đệ nhất thối” với công thức nhìn thôi là đã biết thối kinh người. Chủ cửa hàng chia sẻ rằng để có món đậu phụ thối ngon thì phải có nước muối ngon. Và nước muối bà làm ra bằng cách ngâm muối lên men đủ loại rau cải trong khoảng 2 năm để rau cải úng rã ra. Sau đó, bà lọc lấy nước từ rau cải ngâm và cho đậu phụ vào ủ lên men. Đậu phụ ngâm nước muối rau cải càng lâu thì càng mềm ngon và tất nhiên là sẽ càng thối.

Cách chế biến món đậu phụ thối

Cách làm đậu hũ thối khá cầu kỳ. Thông thường, người ta làm đậu hũ từ đậu nành, rồi ủ cùng với nước cốt gồm sữa, rau (thường là rau cải) trong khoảng 6 tháng cho lên men. Ngoài ra, nước cốt ủ đậu hũ thối có thể là mù tạt xanh, măng tre và thảo dược Trung Quốc.

Ở mỗi vùng miền, món đậu phụ thối lại có một cách chế biến khác nhau:

Đậu phụ thối hỏa cung điện Trường Sa: Đậu nành được sử dụng để làm đậu phụ trong đậu phụ thối hỏa cung điện Trường Sa phải là đậu nành Hồ Bắc, vì đậu nành được trồng ở lưu vực sông Trường Giang sẽ có đủ nước, khi nấu thành đậu hũ sẽ rất mềm. Trong quá trình chế biến, những người thợ phải sàng lọc đậu nành, chọn ra những hạt mẩy, có chất lượng cao để bảo đảm được hương vị của đậu phụ. Cách chế biến dung dịch muối ngâm đậu phụ cũng là một bí mật của hỏa cung điện, măng và nấm hương phải chọn loại có chất lượng hảo hạng để các nguyên liệu này có thể lên men tự nhiên trong nước chao đun sôi. Các loại thực vật này lên men tự nhiên trong dung dịch nước muối, mặc dù sẽ rất thối, thối đến mức sẽ khiến người khác phải choáng váng nhưng sau khi được chiên qua dầu, dọn lên bàn ăn, bỏ vào miệng thì thực khách chỉ cảm nhận được mùi thơm mà thôi. Chính những yêu cầu nghiêm ngặt trong khâu lựa chọn nguyên vật liệu và chế biến mới có được món đậu hũ thối hỏa cung điện Trường Sa “đen như mực, non như pho mát, mềm như nhung”.

Đậu phụ thối Thiệu Hưng: Đậu phụ thối Thiệu Hưng là một món ăn nhẹ hàm chứa nhiều giá trị văn hóa phong phú, có lịch sử gần 1.000 năm, thời đại rực rỡ nhất được truy nguyên về thời đại vua Khang Hy (nhà Thanh), sau khi người ăn xong món ăn này thì khua tay viết 2 chữ “青方”, sau đó món ăn này lập tức vang danh thiên hạ. Theo lịch sử, Từ Hi thái hậu cũng có thói quen ăn đậu phụ thối, liệt kê nó vào món ăn của hoàng gia. Đậu phụ thối ngon đến như vậy, bí quyết nằm ở lọ nước dung dịch ngâm và quy trình để chế biến loại nước ngâm này cũng vô cùng phức tạp, không chỉ lựa chọn những loại rau cải tươi để ướp và cho lên men tự nhiên, mà trong quá trình ướp để lên men phải không ngừng thêm vào các loại hương liệu nữa. Loại nước ngâm nếu chỉ có vài năm thì chưa thể xem là tốt được, loại nước tốt phải có tuổi đời trên 20 năm.

Đậu phụ thối Nam Kinh: Đậu phụ thối ở đây được chia làm 2 loại, một loại là đậu phụ mềm màu xám, loại khác là đậu phụ khô màu xám gạch. Đậu phụ thối mềm được cho vào chảo chiến đến khi có màu vàng nâu. Lúc ăn có thể xịt thêm một ít tương ớt, nước sốt mè, nước sốt tỏi, ngò rí, hẹ và gừng, bên ngoài thì giòn giòn bên trong lại rất mềm, mùi vị nồng nặc. Còn loại đậu phụ thối khô màu xám, phải chiên trong khoảng thời gian lâu hơn, như thế mới chín đều. Mùi thơm lan tỏa trong không khí, lúc này trên bề mặt đậu phụ sẽ xuất hiện những bong bóng nhỏ, khi màu chuyển sang màu xám đen, lúc này đã có thể ăn được rồi. Loại đậu phụ thối khô này thường sẽ được cắt thành từng miếng nhỏ, xiên vào các que tre, sau khi chiên xong thường được quét lên với các loại nước sốt, ăn lúc còn nóng, sẽ khá giòn và dại.

Đậu phụ thối Phúc Kiến: Theo phong tục của người Phúc Kiến, vào mùa đông, người dân nơi đây thường sẽ trữ tuyết lại, sau đó đến mùa hạ năm sau thì trộn vào nước do tuyết tan ra đó một ít tro và gia vị, loại nước đó sẽ được dùng làm nước ngâm đậu phụ tươi. Sau 1 ngày người ta sẽ vớt đậu phụ ra, thêm vào đó dầu mè, ớt xanh, tỏi giã, rau ngò, nước tương và một ít muối. Đậu phụ thối thường được dùng để làm món ăn phụ. Bởi vì được ngâm trong nước tuyết nên đây là một món ăn có tác dụng giải nhiệt. Người dân địa phương này đã truyền từ đời này đời kia công thức làm món ăn bí truyển này

Đậu phụ thối có giá trị dinh dưỡng

Món đậu phụ thối có mùi thối là do đậu phụ đã trải qua quá trình lên men mạnh tới khi đậu nổi mốc, vậy đậu phụ thối có tốt cho sức khoẻ không? Theo nghiên cứu của các chuyên gia dinh dưỡng cho thấy đậu phụ thối có giá trị dinh dưỡng cao. Món ăn này có hàm lượng vitamin B2 và B12 rất cao, giúp phòng tránh bệnh mất trí nhớ ở người già. Ngoài ra, hàm lượng protein trong đậu phụ thối khá cao, chiếm khoảng 15-20%, tương đương với nhiều loại thịt. Thực phẩm này còn chứa lượng canxi phong phú. Chưa kể, các chất protein trong đậu phụ thối sau khi lên men chuyển hóa thành các loại axit amin, có tác dụng tăng cảm giác thèm ăn, hỗ trợ tiêu hóa. Ngoài ra, đậu phụ thối còn có tác dụng chữa bệnh. Theo sách Đông Y cổ, đậu phụ thối mang tính hàn nhưng ích khí, có tác dụng điều hòa tỳ vị, giảm chướng bụng đầy hơi, thanh nhiệt tán huyết, giúp thải độc cho đại tràng.

Đậu hũ thối thậm chí trở thành đề tài nghiên cứu khoa học quen thuộc của các sinh viên, giảng viên chuyên ngành hóa học ở Trung Quốc. Trường Đại học Thanh Hoa đã tiến hành xét nghiệm một mẫu đậu hũ thối trong phòng thí nghiệm và phát hiện hơn 15 loại vi khuẩn có lợi trong thành phần của nó, tương tự các loại vi khuẩn tìm thấy trong sữa chua (yogurt). Còn các nhà nghiên cứu Hong Kong tìm được 21 loại hợp chất hóa học vô hại trong đậu hũ thối, chỉ có duy nhất một loại không tốt cho sức khỏe nhưng không đáng kể.

Tuy nhiên, cái gì ăn nhiều quá cũng không tốt, các chuyên gia khuyến cáo không nên ăn nhiều đậu phụ thối, vì trong quá trình lên men, đậu phụ thối sẽ sản sinh ra các amin như methylamine, putrescine, serotonin. Các chất này giúp cho món ăn có mùi rất đặc biệt nhưng không hoàn toàn có lợi cho sức khỏe. Và trong quá trình chế biến dễ bị vi khuẩn xâm nhập gây ngộ độc thực phẩm. Thêm nữa hàm lượng muối trong đậu phụ thối khá cao vì thế không nên ăn nhiều. Hàm lượng kalo trong đậu phụ thối chiên cao hơn rất nhiều so với đậu phụ thường, nếu ăn nhiều sẽ dẫn đến thừa kalo.

Khi tham gia những tour Trung Quốc của chúng tôi, du khách có cơ hội được thưởng thức món ăn nức danh này khi đoàn dừng chân sinh hoạt tự do trên một tuyến phố. Thưởng thức đậu phụ thối nóng hổi giòn rụm giữa tiết thu sẽ mang lại cho du khách thêm nhiều trải nghiệm đáng nhớ.

6 lần tuần du Giang Nam – những cuộc chơi xa xỉ bậc nhất của Càn Long Đế

Trong lịch sử Nhà Thanh Trung Hoa, Càn Long là một vị minh quân nhưng cũng là một ông vua nổi tiếng về khoản ăn chơi, hưởng lạc. Trong số những cuộc chơi xa xỉ bậc nhất của Càn Long, không thể không nhắc đến 6 lần tuần du Giang Nam.

Hoàng đế Càn Long tên thật là Ái Tân Giác La Hoằng Lịch, sinh vào ngày 13/8 năm Khang Hi thứ 50 (1711), tại Như Ý thất, Đông thư viện của Ung Thân vương phủ, ấu danh Nguyên Thọ. Ông là con trai thứ tư của Thanh Thế Tông Ung Chính Đế, khi ấy đang là Ung Thân vương, còn mẹ là Hiếu Thánh Hiến Hoàng hậu Nữu Hỗ Lộc thị, khi ấy vẫn còn là Cách cách của Ung Thân vương.

Từ nhỏ, Hoằng Lịch có tiếng thông minh, học đâu nhớ đó. Năm Khang Hi thứ 60 (1721), Khang Hi nghe nói cháu nội Hoằng Lịch rất thông minh, bèn cho vời gặp. Sau khi gặp, Khang Hi rất thích Hoằng Lịch, lệnh đưa vào cung học vấn, sau đó còn cho đi theo mình đến Nhiệt Hà sơn trang. Khi đó, Hoằng Lịch mới 10 tuổi.

Khi Khang Hi qua đời (1722), Ung Thân vương đăng cơ, tức Ung Chính Đế. Con trưởng Hoàng Thời hành vi phóng túng, rất không được Ung Chính yêu thích, mà Hoằng Lịch vào những năm cuối, được Khang Hi sủng ái, nên vô hình chung đã khiến địa vị của Ung Chính trong cuộc tranh đoạt Hoàng vị suôn sẻ hơn. Đây có lẽ là lý do Ung Chính đã ngấm ngầm chọn Hoằng Lịch làm Trữ quân.

Trước khi Hoằng Lịch lên ngôi, tin tức về người kế vị đã được nhiều người biết đến. Hoằng Lịch chính là người được Khang Hi Đế (ông nội) và phụ hoàng là Ung Chính Đế đánh giá cao. Trên thực tế, Ung Chính đã giao cho Hoằng Lịch nhiều công việc quan trọng từ khi Hoằng Lịch còn là hoàng tử, bao gồm cả những việc triều chính liên quan đến các chiến lược quân sự.

Theo mật chỉ do Ung Chính Đế công bố, ngay từ năm Ung Chính nguyên niên (1723), tháng 8, Ung Chính Đế đã chỉ định Hoàng tứ tử Hoằng Lịch chính thức trở thành Trữ quân. Do vậy, sự giáo dục của Hoằng Lịch từ thời khắc đó trở nên chú trọng hơn, bao gồm các lão thần Trương Đình Ngọc, Từ Nguyên Mộng, Thái Thế Xa,… ngoài ra các hoàng thân như Dận Lộc, Dận Hi cũng đều kèm cặp cưỡi ngựa bắn cung cho Hoằng Lịch, để Hoằng Lịch không quên đi nguồn gốc tổ tiên. Do đó, Hoằng Lịch nhanh chóng trở thành hoàng tử hiểu biết Mãn, Hán, Mông văn.

Năm Ung Chính thứ 2 (1724), gặp ngày kị của Thánh Tổ Khang Hi, Ung Chính Đế mệnh Hoằng Lịch thay mình tế Cảnh lăng. Đến tháng 7 năm Ung Chính thứ 5 (1727), Hoằng Lịch tiến hành đại hôn với Phú Sát thị, con gái Sáp Cáp Nhĩ tổng quản Lý Vinh Bảo, xuất thân từ dòng họ Phú Sát thị của Tương hoàng kỳ. Đại hôn cử hành ở Tây Nhị sở trong Tử Cấm Thành (về sau Càn Long Đế đổi tên thành Trọng Hoa cung).

Năm Ung Chính thứ 11 (1733), ông được gia phong Bảo Thân vương. Cùng năm này, Ung Chính Đế cho phép Hoằng Lịch tham gia nghị định đàn áp Hãn quốc Chuẩn Cát Nhĩ và người Miêu ở Quý Châu. Đây đều là đại chính sự khi đó của Đại Thanh, cho thấy tư cách kế vị của Hoằng Lịch đã rõ ràng hơn bao giờ hết. Ngoài ra, việc tế lăng, tế Khổng, tế Quan Thánh Đế Quân, tế Miếu,… những việc tế tự trọng đại đều do Hoằng Lịch đích thân chủ trì.

Để tránh lặp lại một cuộc tranh giành quyền lực – điều vốn để lại vết nhơ trong con đường đến ngai vàng của mình, Ung Chính Đế đã viết sẵn tên người kế ngôi, đưa vào trong một chiếc hộp niêm phong cẩn thận được đặt phía sau tấm bảng Chính đại quang minh phía trên ngai vàng tại Càn Thanh Cung. Tên người kế vị sẽ được công khai cho các hoàng thân trong cuộc họp mặt của tất cả các quan đại thần, sau khi Hoàng đế mất. Đây chính là hình thức xác nhận ngôi vị Trữ quân mà các hoàng đế nhà Thanh áp dụng cho đến khi Cách mạng Tân Hợi (1911) nổ ra, chấm dứt triều Thanh.

Vào năm Ung Chính thứ 13 (1735), ngày 23/8, Ung Chính Đế qua đời. Nội thị lấy chỉ dụ đã được soạn sẵn, công bố trước triều đình nhà Thanh. Theo đó, Bảo Thân vương Hoằng Lịch kế thừa Hoàng đế vị. Ngày 3/9, Hoằng Lịch lên ngôi ở điện Thái Hòa, lấy năm sau là năm đầu niên hiệu Càn Long. Ngày 27/9, di cư Dưỡng Tâm điện.

Trong lịch sử Trung Quốc, Hoàng đế Càn Long nổi tiếng với “nhiều cái nhất”, đó là: vị vua sống thọ nhất, cai trị lâu nhất và đặc biệt là có những cuộc chơi xa xỉ bậc nhất, không thể không nhắc đến 6 lần tuần du Giang Nam.

Càn Long đã thực hiện tuần du phương nam 6 lần, bằng với số lần tuần du của hoàng đế Khang Hi. Tuy nhiên, chi phí mỗi chuyến đi của Càn Long lại nhiều gấp 10 lần so với Khang Hi. 

Những chuyến tuần du phương nam của Càn Long, chủ yếu là đi thăm thú, ăn chơi hưởng lạc. Ông ta thường bắt đầu những chuyến tuần du vào mùa xuân, mùa đẹp nhất trong năm.

Một trong những chuyến tuần du tốn kém khủng khiếp nhất, phải kể đến vào năm Càn Long thứ 12 (năm 1748), Càn Long học theo Khang Hi, cùng với mẹ là Sùng Khánh Hoàng thái hậu, xuống Giang Nam thăm thú. Càn Long xuống chiếu, rằng: “Trẫm đi thăm hỏi phong tục, quan sát phong cảnh, tuần du miền Giang, Chiết, thanh sạch mà đến, ân đức dồi dào. Càng nhớ tới vùng Giang Nam, Chiết Giang nhân tài tụ hội. Thánh Tổ nhân hoàng (Khang Hi) đã từng tuần thú nhiều lần, lễ nghĩa thấm nhuần rộng khắp, luật lệ ít lời, ban ơn mưa móc”.

Càn Long tuần du xuống phía nam, chỉ riêng thuyền lớn đã huy động hơn một nghìn chiếc. Thuyền lớn mà Càn Long sử dụng phải dùng đến sức kéo của cả ngàn dân phu mới di chuyển được trên sông. Riêng ngựa được huy động đến 6.000 con, lạc đà 600 con, người hầu, cung nữ, phi tần cho đi theo đến vài ngàn người.

Vốn Càn Long thích nghe kinh kịch, nên suốt lộ trình, các nơi Càn Long đi qua, quan lại đều cho xây dựng sân khấu để hát xướng. Những gánh hát nổi tiếng của Trung Quốc bấy giờ đều đổ xô đến hai tỉnh Giang Nam, Chiết Giang biểu diễn.

Trên chặng đường từ Bắc Kinh đến Hàng Châu, tổng cộng có 36 hành cung được xây dựng, cứ 20 dặm lại có một nhà công quán. Trên đường Càn Long đi qua đều phải trải thảm, che bằng lụa. Đặc biệt, ở những nơi Càn Long tuần du qua, giá của hàng hóa lại bị đội lên gấp hai, ba lần, khiến cho phủ Nội vụ (nơi quản lý tài chính, chi tiêu hoàng gia) phải oằn mình trang trải.

Mỗi khi đến nơi nào quan lại, nhân dân tổ chức đón rước linh đình, làm Càn Long hài lòng, đều sẽ được ban thưởng rất nhiều. Ước tính, chi phí cho mỗi cuộc tuần du của Càn Long lên đến 200 trăm vạn lạng bạc.

Vì tiêu xài quá độ, phủ Nội vụ nhiều năm liền bị thâm hụt ngân quỹ, còn các đại thần mỗi khi nghe hai chữ “tuần du” đều khiếp vía. Tình trạng hao hụt chỉ chấm dứt, khi Hòa Thân tiếp quản chức tổng quản phủ Nội vụ.

Thanh sử chép: Ngày 12 tháng Giêng, năm Càn Long 44 (năm 1780), hoàng đế chuẩn bị xuống Giang Nam lần thứ năm. Chỉ yêu cầu phủ Nội vụ lo liệu những chi phí thường ngày, còn lại giao hết cho Hòa Thân. Thế là Hòa Thân lệnh cho tổng đốc, tuần phủ các tỉnh, các thương nhân gấp rút tu bổ, xây dựng hành cung, vườn cảnh, khơi thông sông ngòi. Càn Long tới xem, thấy nơi nơi thuyền bè đậu kín mặt sông, liên tiếp mấy nghìn chiếc, tỏ ra vô cùng mừng rỡ.

Sáu lần tuần du phương nam, đã để lại rất nhiều giai thoại về những cuộc ăn chơi phong lưu bậc nhất của Hoàng đế Càn Long. Tác phẩm “Thanh cung mười ba triều” đã miêu tả chi tiết việc tổ chức một cuộc đón rước Càn Long như sau:

Những nơi Càn Long đi qua, các quan lại đều được báo trước 1 tháng để chuẩn bị. Tuy nhiên, công quỹ có hạn, mà lễ đón rước muốn cho đẹp lòng Càn Long thì vô cùng tốn kém. Vì vậy, quan lại tìm đến các thương nhân với gia tài khổng lồ,giao cho việc đón tiếp Càn Long, những người này đều được gọi là Thân sĩ. Trong số các Thân sĩ, phải nhắc đến hai nhân vật giàu có nổi tiếng trong lịch sử nhà Thanh, cũng như trong các tác phẩm văn học, điện ảnh, đó là Uông Như Long và Giang Hạc Đình. Cả hai người này đều là những thương nhân buôn muối vô cùng giàu có ở Dương Châu (Giang Tô), sống vào thời Càn Long. Đặc biệt, Uông Như Long là một trong những tài phiệt, thuộc hạ rất đắc lực của Hòa Thân.

Cả Uông Như Long và Giang Hạc Đình đều mua những gánh hát nổi tiếng, những ca kĩ hát hay múa giỏi lại vô cùng xinh đẹp. Nổi bật là hai nàng Huệ Phong và Tuyết Như đều là mỹ nhân bậc nhất Dương Châu. 

Càn Long đến Dương Châu, được Uông Như Long và Giang Hạc Đình cùng đám quan viên phục vụ, vô cùng thỏa mãn. Những kẻ này còn bỏ hàng vạn lạng bạc làm một Thủy hí đài (sân khấu trên nước), để Càn Long vừa có thể nghe nhạc, vui thú cùng hai mỹ nhân, vừa không làm lỡ thời gian của cuộc tuần du.

Càn Long đi từ Giang Tô đến Hàng Châu, đem Thủy hí đài thả vào giữa Tây Hồ cho quan lại và dân chúng xem hát, ai cũng không ngớt khen ngợi.

Càn Long đến Hàng Châu, vốn được coi là miền đất Phật của Trung Quốc. Hàng Châu có rất nhiều ngôi chùa nổi tiếng như chùa Tịnh Từ, Hàn Sơn, Chiêu Khánh, Quang Hóa, Phượng Lâm…

Biết Càn Long rất sùng bái Phật giáo, đám quan lại cùng thương nhân ở đây đã chi 40 vạn lạng bạc để tu sửa hết các chùa chiền, miếu mạo. Những cao tăng ở Ngũ Đài Sơn được mời đến để giảng pháp, mong sao cho đẹp lòng Càn Long. Tuy nhiên, việc mời các cao tăng Ngũ Đài Sơn không thành, họ bèn tìm những nho sĩ tài cao học rộng, thông hiểu phật pháp, bắt cạo đầu, cho làm trụ trì ở những chùa lớn. Những kẻ này đều được giao hẹn trước, nếu người nào làm Càn Long vừa ý, được ban pháp hiệu, thì phải xuất gia cả đời và được thưởng 2 vạn lạng bạc. Nếu không được ban pháp hiệu thì được trả 4.000 lạng bạc. Sự việc thú vị này cũng được rất nhiều các tác phẩm đời sau nhắc đến.

Có câu chuyện rất nổi tiếng về cuộc đối đáp giữa Càn Long và vị trụ trì giả mạo như sau:

Càn Long đến chùa Tịnh Từ, trụ trì giả là Huệ Lâm đã đứng ở cổng chùa đón tiếp. Hoàng đế lễ Phật xong, cùng các hòa thượng lên núi Ngô Sơn, ngắm thuyền bè qua lại. Càn Long hỏi Huệ Lâm: “Hòa thượng biết trên sông có bao nhiêu thuyền bè qua lại hay không?”. Huệ Lâm nói ngay: “Chỉ có hai chiếc mà thôi, một chiếc đoạt danh, một chiếc đoạt lợi”.

Càn Long lại hỏi: “Hòa thượng mà cũng thấy được danh lợi hay sao?”. Huệ Lâm đáp: “Hòa thượng không thấy danh lợi, bởi vậy nên mới thấy được những người danh lợi trong hai chiếc thuyền kia. Những người trong hai thuyền kia thấy được danh lợi, bởi vậy, lại không thấy được những người ở ngoài hai chiếc thuyền đó”.

Càn Long cho rằng Huệ Lâm quả thật là kiến thức uyên thâm, vô cùng khen ngợi. Sau đó, ông ta trọng thưởng cho đám quan viên và các hòa thượng. Càn Long còn cấp tiền cho xây dựng, tu sửa hàng loạt ngôi chùa ở Hàng Châu, tốn kém bao nhiêu không kể xiết.

Trên đây chỉ là những giai thoại nổi tiếng nhất, được ghi nhận trong nhiều tác phẩm viết về những cuộc tuần du phương nam của Càn Long Đế. Còn có vô số những câu chuyện khác, về những ngón ăn chơi xa xỉ bậc nhất của vị hoàng đế này, được lưu truyền cho đến ngày nay.

Với những thông tin về Hoàng đế Càn Long mà chúng tôi vừa trên sẻ trên đây, hẳn du khách cảm thấy thích thú và muốn khám phá nhiều hơn về vị vua nổi tiếng này. Vậy còn chần chờ gì nữa mà du khách không đặt ngay cho mình một tour Trung Quốc để tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn?