Du lịch Trung Quốc, đừng quên thưởng thức những biến thể đậu phụ thối trứ danh

Nhắc tới những món ăn vặt ở Trung Quốc, không ai không biết tới món đậu phụ thối với nhiều “phiên bản” nổi tiếng. Đây là món ăn mà bất kỳ người già hay trẻ nhỏ đều cực kỳ yêu thích.

Đậu phụ thối là một loại đậu phụ lên men khá nặng mùi. Món ăn này được mệnh danh là “thiên hạ đệ nhất thối” vừa ăn vừa bịt mũi ấy vậy mà trở thành đặc sản gây thương nhớ của mỗi người dân Trung Quốc và kể cả khách du lịch nước ngoài.

Với tên gọi của món ăn này cũng cho thấy nó chắc chắn là sẽ rất “thối”, ngay từ khoảng cách rất xa cũng có thể ngửi thấy mùi “khó ngửi” của món ăn này, nó có mùi thối giống như mùi của rau củ đang thối rữa hoặc phân bón mục rữa, rất khó chịu. Có người so sánh vị của nó với pho mát xanh của người phương Tây, trong khi người khác thì nghĩ nó giống thịt rữa. Vì thế nên tuy rằng đậu phụ thối rất ngon nhưng mùi của nó vẫn là một thách thức đối với người ăn, đặc biệt là những vị khách du lịch nước ngoài lần đầu thưởng thức món ăn kì lạ này.

Một cửa hàng đậu phụ thối gia truyền chia sẻ bí quyết làm món đậu phụ “thiên hạ đệ nhất thối” với công thức nhìn thôi là đã biết thối kinh người. Chủ cửa hàng chia sẻ rằng để có món đậu phụ thối ngon thì phải có nước muối ngon. Và nước muối bà làm ra bằng cách ngâm muối lên men đủ loại rau cải trong khoảng 2 năm để rau cải úng rã ra. Sau đó, bà lọc lấy nước từ rau cải ngâm và cho đậu phụ vào ủ lên men. Đậu phụ ngâm nước muối rau cải càng lâu thì càng mềm ngon và tất nhiên là sẽ càng thối.

Cách làm đậu hũ thối khá cầu kỳ. Thông thường, người ta làm đậu hũ từ đậu nành, rồi ủ cùng với nước cốt gồm sữa, rau (thường là rau cải) trong khoảng 6 tháng cho lên men. Ngoài ra, nước cốt ủ đậu hũ thối có thể là mù tạt xanh, măng tre và thảo dược Trung Quốc.

Cũng là một loại đậu phụ thối với quy trình và nguyên liệu giống hệt, thế nhưng đậu phụ thối xanh lại khiến người dân nơi đây có một trải nghiệm ẩm thực mới mẻ hơn. Khi nhìn vào miếng đậu phụ này, nó giống như thạch, mềm mịn và mát lạnh. Màu xanh của đậu hũ được làm từ một loại lá cây trồng ở địa phương, sau đó đem trộn chung với bột gạo và nước trái cây. Thế nên, hương vị của loại đậu hũ này rất lạ, vào mùa hè người ta xem nó như một món tráng miệng giải nhiệt. Chính vì hương vị tuyệt vời của nó mà người dân xếp hàng mua rất nhiều.

Mặc dù chúng có vị ngon nhưng cơ bản quy trình vẫn là làm đậu hũ thối nên chúng vẫn có mùi hôi đặc trưng. Tuy nhiên, người Trung Quốc lại không cảm thấy điều đó và ăn rất ngon lành. Ngoài món đậu phụ thối chiên thì bây giờ họ có thêm một lựa chọn mới là đậu phụ xanh.

Tùy theo khẩu vị của từng người, họ có thể để lạnh rồi ăn cùng với các loại nước sốt riêng hoặc đem chiên giòn. Đậu hũ xanh này không được bán rộng rãi khắp Trung Quốc, thế nhưng đến Hà Nguyên, Quảng Đông, mọi người sẽ thấy chúng được bán khắp nơi.

Một biến thể khác của đậu phụ thối mà du khách sẽ bắt gặp khi đến tỉnh Hồ Nam, đó là Đậu phụ thối hoả cung điện “đen như mực, non như pho mát, mềm như nhung”.

Nguyên liệu chính để làm món ăn này là đậu phụ nước làm từ đậu tương, sau khi ngâm trong dung dịch nước muối đặc biệt nửa tháng thì lấy ra, dùng dầu cây trà chiên lên trên lửa nhỏ, rồi cho thêm dầu mè và sốt tương ớt.

Cũng giống như đậu phụ thối thông thường, đậu phụ thối hỏa cung điện vẫn giữ nguyên mùi “thum thủm” rất đặc trưng. Nhưng sau khi ăn vào thì thứ mùi khó chịu đó lại mất đi, thay vào đó là hương thơm nồng cùng vị béo ngậy, non mềm hòa quyện cùng với lớp vỏ giòn tan khiến thực khách không thể nào quên.

Có được hương vị đặc biệt đó là do trong dung dịch nước muối ngâm đậu phụ, người nấu cho thêm các nguyên liệu như măng tươi, đậu nành lên men đặc biệt của vùng Lưu Dương, nấm hương và rượu trắng thượng hạng. Nhưng thứ làm cho món đậu phụ thối hỏa cung điện chỉ có ở Hồ Nam này trở nên nổi tiếng là ở thời gian ngâm ủ đậu. Nếu bình thường, đậu phụ được ngâm trong nước muối từ 5 đến 10 ngày, riêng đậu phụ nơi đây lại được ủ đến 15 ngày. Chính thời gian ngâm ủ dài hơn làm cho miếng đậu phụ không còn có màu vàng nữa, mà chuyển sang màu đen nhánh như mực, và hương vị cũng vì thế mà trở nên thơm bùi và béo ngậy hơn gấp nhiều lần.

Để thưởng thức món ăn này theo đúng vị có lẽ là chiên những miếng đậu phụ trên lửa nhỏ rồi trên mỗi miếng xiên một lỗ nhỏ đủ để rưới dầu mè và sốt lên.

Với cách chế biến công phu này, món ăn đậu phụ thối đã và đang trở thành món ăn hấp dẫn cho du khách trong và ngoài nước. Cùng với vị thơm ngon đậm đà, mùi “thum thủm” cùng hương thơm hòa quyện vào với nhau đã tạo nên vị nồng ngon khó tả. Cũng từ đó, tiếng vang của đậu phụ thối hỏa cung điện không chỉ còn ở riêng vùng Hồ Nam mà lan ra khắp cả nước, tạo nên thương hiệu riêng. 

Ở tỉnh An Huy, phía nam Trung Quốc, cũng có một loại đậu phụ thối ngon và “kinh khủng” không kém, nó được gọi là Đậu phụ lông. Có hương vị hấp dẫn không kém gì món đậu phụ thối, nhưng đậu phụ “mọc lông” lại khiến nhiều người e dè không dám thử bởi trông như có lớp nấm mốc dày bao phủ bên ngoài.

Đúng như tên gọi, đậu phụ lông là những miếng đậu phụ trắng nhưng có nhiều sợi lông dài mỏng mịn như bông bám kín xung quanh bề mặt. Những sợi lông này là kết quả của bào tử nấm được cấy vào đậu phụ rồi khiến nó có kết cấu giống như pho mát mốc xanh. Trong quá trình lên men, protein động vật chuyển đổi thành axit amin.

Thực tế, đậu phụ lông là món không được nhiều người biết đến, thậm chí cả người Trung Quốc. Nhưng người dân ở vùng núi tỉnh An Huy đã làm theo phương pháp truyền thống trong nhiều trăm năm qua rồi. Với họ, đây lại là món đặc sản được truyền từ nhiều thế hệ trong bao nhiêu thế kỷ.

Sau khi được cấy nấm mốc, những miếng đậu phụ sẽ được phơi ngoài trời ở chỗ lạnh và khô trong điều kiện nhiệt độ khoảng 15-23 độ C. Nếu vào mùa hè, món ăn này chỉ làm mất khoảng 3 ngày. Nhưng những ngày đông, cần tới 6 ngày mới tạo ra những sợi lông phủ đều mềm mịn trên miếng đậu phụ. Nhờ điều kiện thời gian, nhiệt độ và độ ẩm phù hợp đã tạo ra lớp lông mịn dày phủ bên trên. Quá trình sản xuất đòi hỏi sự cẩn thận, tỷ mỉ. Chỉ cần một khâu sơ suất có thể hỏng luôn cả mẻ.

Có mùi khó ngửi không kém gì đậu phụ thối, nhưng đậu phụ lông lại có độ chắc và ngậy khác biệt. Khi lớp nấm mốc mọc đủ dài và phủ dày, người nấu bếp mới lấy chúng để chế biến món ăn.

Từ đậu phụ lông, người An Huy có thể ăn tươi kèm với gia vị hoặc được chế biến thành vô số món ngon, nhưng phổ biến hơn cả là om với thịt hoặc chiên giòn. Với món chiên, đầu tiên các miếng đậu sẽ nhúng vào hỗn hợp của lòng đỏ trứng gà đánh nhuyễn, sau đó cho ngay vào chảo ngập dầu và rán. Chúng được chiên già lửa, khiến miếng đậy có lớp vỏ trứng giòn ngậy bên ngoài, nhưng vẫn giữ kết cấu mềm mượt bên trong. Sau cùng, người ta sẽ rắc thêm hỗn hợp gồm hành lá, tỏi, ớt, gừng xào qua với đường và nước tương rồi phủ lên trên. 

Ở An Huy ngày nay, du khách có thể thưởng thức chúng ở ngay những quán hàng bán đồ ăn vặt trên hè phố. Nhờ hương vị lạ miệng khiến món ăn này đã tồn tại suốt hàng trăm năm nay mà không sợ bị thay thế.

Khi tham gia những tour Trung Quốc của chúng tôi, du khách có cơ hội được thưởng thức món ăn nức danh này khi đoàn dừng chân sinh hoạt tự do trên một tuyến phố. Thưởng thức đậu phụ thối sẽ mang lại cho du khách thêm nhiều trải nghiệm đáng nhớ.

Phật nhảy tường – “cao lương mỹ vị” trong ẩm thực Trung Hoa

Khi nói về ẩm thực Phúc Kiến ở Trung Quốc, món ăn mà mọi người nhắc đến đầu tiên là “Phật nhảy tường” (hoặc Phật khiêu tường – Fo tiao qiang). Đây là một trong những món ngon danh tiếng trong danh sách ẩm thực Phúc Kiến với lịch sử tồn tại hơn 200 năm.

“Phật nhảy tường” thực chất là súp vi cá của người Phúc Kiến. Đây là một món ăn bổ dưỡng do một vị bếp trưởng nổi tiếng đồng thời cũng là chủ nhà hàng Tụ Xuân Viên ở Phúc Châu, Phúc Kiến là Trịnh Thuần Phát sáng chế vào thời nhà Thanh. Trịnh Thuần Phát vốn là đầu bếp trong phủ của một quan cấp cao ở địa phương.

Kể từ khi món ăn được tạo ra, nó được xếp vào hàng “cao lương mỹ vị” trong ẩm thực Trung Hoa, bởi mùi vị đa dạng, hương vị đa dạng mà tinh tế đến nỗi dân gian truyền hai câu thơ ngụ ý đến người tu hành cũng có thể bị “cám dỗ”: “Đàm khải huân hương phiêu tứ lân / Phật văn khí thiền khiêu tường lai” (tạm dịch: Mở nắp vung, mùi hương thơm lừng bay khắp xóm / Phật ngửi được, liền bỏ thiền nhảy tường sang).

Liên quan tới nguồn gốc của món ăn này, chuyện kể rằng, có một phú ông mang theo cả nhà già trẻ lớn bé đến Tụ Xuân Viên. Một là do danh tiếng, hai là khoe khoang sự giàu có. Ông ta gọi tất cả các món ăn trong tiệm. Vì vậy đầu bếp liền nghĩ ra một cách. Nếu làm tất cả mọi món thì chắc chắn sẽ ăn không hết do vậy mỗi một món chỉ lấy một phần nhỏ rồi xếp chung vào một nồi đem hầm nhừ sau đó mang lên cho phú ông. Lão phú ông nhìn thấy trên bàn là một nồi thập cẩm liền nổi giận trách mắng tiệm rượu. Nhưng chủ tiệm vốn là người thông minh lanh lợi, có tài ứng biến liền nói: “Quý ông đây là một người có khuôn mặt phúc hậu, rất giống như câu nói Phúc như Đông Hải, thọ tỷ Nam Sơn, bây giờ lại thêm cả nhà đoàn viên con cháu đầy đàn, thật giống như vì vậy nhân dịp này dâng lên quý ông đây món ăn này để chúc mừng”. Phú ông nghe vậy liền vui vẻ. Đồng thời cũng giới thiệu khắp mọi nơi, một truyền mười, mười truyền trăm, trăm truyền ngàn. Rất nhanh sau đó đã truyền khắp đất Thần Châu.

Có vài tú tài vì nghe danh món ăn cũng chạy tới Tụ Xuân Viên đặt đi dã ngoại liên hoan. Vừa là đi du xuân đồng thời cũng là hội ngâm thơ. Nhưng đồ ăn đã nguội lạnh chỉ có thể hâm nóng lại. Cho nên hương thơm tỏa khắp, hương thơm bay qua đồng ruộng lại bay vào chùa chiền, bay vào tận ruột gan các sư tăng. Trong chùa sư tăng nhịn không được cám dỗ mà nhảy trộm qua tường trốn ra chùa cùng các tú tài uống rượu thưởng thức món ăn. Vì vậy một tú tài cao hứng mà ngâm thơ: “Đàm khải huân hương phiêu tứ lân / Phật văn khí thiền khiêu tường lai”.

Câu chuyện khác lại kể rằng, vào thời nhà Đường, một tu sĩ nổi tiếng trên đường đến chùa Thiếu Lâm ở tỉnh Phúc Kiến, ông ghé quán trọ ở Phúc Châu nghỉ chân. Ban đêm, gia đình bên cạnh chuẩn bị món ăn để hôm sau đãi khách khiến mùi thơm lan sang căn phòng nơi nhà sư ngủ. Không thể cưỡng lại sự cám dỗ, nhà sư nhảy qua bức tường sang nhà bên để thưởng thức món ăn và vi phạm giới luật (Trong phật giáo, nhà tu hành không được ăn thịt). Kể từ đó, món ăn được đặt tên là “Phật nhảy tường”.

Món “cao lương mỹ vị” này không chỉ nổi tiếng vì thơm ngon mà còn nổi tiếng bởi sự đa dạng của các nguyên liệu cũng như quá trình chế biến cầu kỳ, phức tạp. Các nguyên liệu chính để chế biến ra món ăn danh tiếng này được lựa chọn công phu, cần từ 1-2 ngày chuẩn bị. Nó bao gồm tới 18 nguyên liệu chính, chủ yếu là sơn hào hải vị như: hải sâm, vây cá mập, bào ngư, nhân sâm, gân hươu, da cá, sò điệp,… cùng các nguyên liệu khác như trứng cút, thịt gà, gân heo, nấm hương, khoai môn, hạt dẻ, táo đỏ. Mỗi loại đều được hấp riêng trong một hũ sau đó cho chung vào một thố bằng đất sét nhỏ miệng, thêm rượu Thiệu Hưng để dậy mùi thơm. Ngoài ra, đầu bếp còn phải cho thêm tới 30 thành phần và 12 gia vị khác như quế, gừng, lát,… thiếu một nguyên liệu cũng có thể khiến món ăn kém hấp dẫn. Sau đó, đầu bếp đậy kín thố đất cẩn thận bằng lá sen, hầm trên lửa nhỏ từ 5 – 6 tiếng. Trong quá trình hầm phải hạn chế để mùi thơm thoát ra.

Tới khi mở ra chỉ thấy nước dùng màu nâu sánh đậm, nguyên liệu bên trong cho dù hầm rất nhiều giờ vẫn giữ được hình dáng vốn có. Những nguyên liệu này đặt riêng vốn đã rất quý giá nhưng khi dung hợp thành thứ chất lỏng kết dinh sanh mịn màu nâu tựa như một dàn nhạc trong một buổi hòa âm với nhiều cung bậc rung động đến tâm can người thưởng thức, điều mà không loại nhạc khí riêng rẽ nào có thể tạo ra được. Đó là thứ hương vị quanh quẩn trong khoang miệng, xẹt qua nơi đầu lưỡi, lướt qua lồng ngực trôi thẳng xuống dạ dày trong thoang chốc khiến người ta kinh ngạc, trong kinh ngạc lại xen chút buồn bã bởi vị ngon thoáng qua rồi biến mất làm cho ta chẳng kịp hồi tưởng, chỉ muốn đem vị ngon kia khắc cốt ghi tâm, vĩnh viễn lưu giữ trong tim, ấy mới đích thực là mỹ vị chân chính.

Do chế biến cầu kỳ, nguyên liệu quý hiếm và hương vị ngon khó cưỡng, món “Phật nhảy tường” thường có giá cao ngất ngưởng. Tại một số nhà hàng ở Trung Quốc, mức giá cho món ăn này vào khoảng 1.000 NDT (tương đương 3.500.000 VNĐ). Tuy nhiên, giá cả mỗi nơi có thể khác nhau, tùy thuộc vào loại nguyên liệu các đầu bếp sử dụng. 

Ngoài độ ngon khó cưỡng, món ăn độc đáo này còn rất bổ dưỡng. Nhiều tài liệu cho thấy, món “Phật nhảy tường” có tác dụng tăng trí nhớ, tăng thể lực, tăng cường hệ miễn dịch, chống lão hóa, chống viêm. Bên cạnh đó, nhiều người cho rằng món ăn còn giúp đàn ông tăng cường sinh lực, tráng dương bổ thận.

Món “Phật nhảy tường” từng được chọn để phục vụ cho nhiều nguyên thủ quốc gia trên thế giới như Tổng thống Mỹ Ronald Reagan, Nữ hoàng Anh Queen Elizabeth II và được giới chuyên gia ẩm thực đánh giá cao.

Ngày trước, món “Phật nhảy tường” chỉ được phục vụ trong các gia đình quý tộc vào dịp đông mang tính nhiệt. Nếu như món ăn này ăn vào mùa hè thì có thể gây chảy máu cam. Do vậy, “Phật nhảy tường” được người Trung Quốc ăn nhiều từ sau Trung Thu đến giữa tháng 2.

Ẩm thực Trung Quốc là một kho tàng phong phú với rất nhiều món cao lương mỹ vị, điển hình như “Phật nhảy tường”. Du khách hãy du lịch Trung Quốc để thỏa đam mê ăn uống, với những món ăn thơm ngon và lạ miệng nhé!

Lễ Vu Lan – nét văn hoá đặc sắc của Trung Hoa

Cứ đến ngày Rằm tháng 7 âm lịch hàng năm, người dân ở Trung Quốc lại đón Lễ Vu Lan với các tục lệ khác nhau nhằm bày tỏ sự tôn kính với người đã mất. Lễ Vu Lan được gọi là “Lễ ma quỷ”, dân gian tương truyền rằng ngày này là ngày quỷ môn quan mở cửa. Theo Đạo giáo, đây là ngày “Lễ Trung Nguyên”, là ngày địa quan xá tội. 

Lễ hội Vu Lan được dựa trên một câu chuyện kinh điển của Phật giáo. Ngày lễ này xuất phát từ sự tích về Bồ Tát Mục Kiền Liên đại hiếu đã cứu mẹ của mình ra khỏi kiếp ngạ quỷ. Vu Lan là ngày lễ hằng năm để tưởng nhớ công ơn cha mẹ – cha mẹ của kiếp này và của các kiếp trước.

Theo Kinh Vu Lan, ngày xưa, Mục Kiền Liên đã tu luyện thành công nhiều phép thần thông. Mẹ ông là bà Thanh Đề đã qua đời, ông tưởng nhớ và muốn biết bây giờ mẹ như thế nào nên dùng mắt phép nhìn khắp trời đất để tìm. Thấy mẹ mình, vì gây nhiều nghiệp ác nên phải sanh làm ngạ quỷ, bị đói khát hành hạ khổ sở, ông đã đem cơm xuống tận cõi quỷ để dâng mẹ. Tuy nhiên, do đói ăn lâu ngày nên mẹ của ông khi ăn đã dùng một tay che bát cơm của mình đi không cho các cô hồn khác đến tranh cướp, vì vậy khi thức ăn đưa lên miệng đã hóa thành lửa đỏ.

Đau đơn vô cùng khi thấy mẹ như vậy, Ngài liền về bạch Thế Tôn, Đức Phật nói với Ngài rằng: “Dù có Thần Thông Quảng Đại đến đâu cũng không đủ sức cứu mẹ của ông đâu. Điều duy nhất lúc này là dùng thần lực của chúng Tăng khắp mười phương tinh tấn tu hành thanh tịnh tập trung cầu nguyện, may ra mới thoát kiếp khổ cực của mẹ ngươi được”.

Nghe vậy, Tôn Giả Mục Kiền Liên nghĩ hy vọng đã mở ra liền khẩn cầu với Thế Tôn: “Vậy làm sao con có thể mời được chư Tăng mười phương cúng dường một lúc được?”. Đức Phật dạy: “Ngày Tự tứ của chư Tăng, ngươi nên sắm các thứ cúng dường, ngày đó dù các vị ở trong thiền định, hay thọ hạ kinh hành, hay hóa độ nhân gian, cũng tập trung lại để Tự tứ và cầu nguyện cho mẹ ngươi, thì mẹ ngươi sẽ thoát được cảnh khổ”.

Tôn Giả Mục Kiền Liên đã thực hành theo lời dạy của Thế Tôn và chính trong ngày lễ Vu Lan năm đó, mẹ của Ngài đã thoát được cảnh ngạ quỷ. Niềm vui không thể kể siết và Tôn Giả thỉnh cầu: “Nếu sau này chúng sanh nào muốn phát tâm hiếu để cầu nguyện cho cha mẹ thoát cảnh khổ thì làm như con có được không?”.  Thế Tôn nói rằng: “Đương nhiên là được, cứ làm như người vào ngày Tự tứ không chỉ giúp cha mẹ đời này và nhiều nhiều đời được siêu độ giải thoát”. Từ đó, ngày Lễ Vu Lan ra đời. Đây là một trong những nét văn hóa độc đáo của Trung Quốc.

Vào ngày này, người dân Trung Quốc thường sắm sửa mâm cỗ thịnh soạn để dâng lên tổ tiên, 3 lần mỗi ngày, buổi lễ chính vào lúc hoàng hôn. Họ tới những ngôi chùa lớn và phát gạo cho người nghèo. Cùng với đó là các nghi lễ cúng tế diễn ra ngay trên đường, bao gồm đốt nến, nhang, vàng mã cho những linh hồn lang bạt. Các ngôi nhà, khu dân cư, văn phòng đều treo đèn lồng đỏ có viết tên người đã khuất.

Bên cạnh đó, đến mùa Vu Lan, người ta đi thăm viếng phần mộ của người thân đã quá cố và sửa sang, quét dọn lăng mộ. Họ cúng thực phẩm và giấy tiền, vàng mã cho những người đã khuất. Việc làm này được xuất phát bởi niềm tin, khi đốt những đồ hàng mã ấy thì linh hồn người mất sẽ nhận được, nhờ vậy mà các vong linh ấy đỡ khổ, đỡ vất vả, đồng thời không quấy rầy đến các công việc làm ăn, sinh sống của người còn sống, ngược lại còn phù hộ cho người sống được ăn nên làm ra, gặp nhiều điều may mắn hơn.

Trong bữa cơm ngày rằm ở Trung Quốc sẽ có thịt gà luộc và lợn quay. Họ luôn để một chiếc ghế trống cạnh bàn ăn và có niềm tin mãnh liệt rằng linh hồn người đã khuất sẽ ngồi đó.

Tùy từng địa phương mà Lễ Vu Lan cũng diễn ra với những điểm khác biệt. Có nhiều nơi, đến tháng 7 mưa ngâu lất phất, sẽ tổ chức “lễ hội thả hoa đăng” cầu chúc cho ba mẹ một cuộc sống an bình ấm to khỏe mạnh để sống đời với các con. Tại Giang Tô, người ta thả 4 chiếc thuyền trên sông, chở theo Kinh Phật, những đồng tiền làm bằng giấy thiếc, đèn lồng và đồ ăn cúng lễ cho cô hồn. Ở Phúc Kiến, tất cả những phụ nữ đã lấy chồng dù ở nơi nào cũng phải về tặng quà cho cha mẹ, món quà đó được đặt trong chiếc hòm hoặc rương, gồm quần áo mũ mão. Ở Hồng Kông, trong suốt tháng 7 âm lịch, người ta sử dụng mọi không gian công cộng để cúng tổ tiên cũng như những linh hồn lang thang, thắp hương, vàng mã, phát gạo miễn phí. Nhiều nơi dựng những đài tế tạm thời và sẽ hạ xuống khi kết thúc mùa Vu Lan. Ở Quảng Tây, người dân thường giết vịt để cúng bái vì cho rằng các linh hồn thường đứng trên mình vịt, nhờ vịt cõng mà có thể tự do đi lại giữa âm thế và dương gian. 

Trong ngày lễ Vu lan, các vị chư Tăng thường tổ chức các buổi lễ cầu nguyện cho người đã quá cố. Những khóa lễ đặc biệt được tổ chức ở các chùa suốt cả ngày lẫn đêm trong mùa Vu Lan để cầu nguyện cho các vong linh đã khuất, cho những vong hồn đang bị đói khát dày vò nơi cảnh giới địa ngục, ngạ quỷ được ấm no, an lành.

Thường thì người Phật tử ở Trung Hoa tổ chức Lễ Vu Lan từ ngày 15/7 cho đến ngày 30/7 âm lịch. Và người ta còn quan niệm rằng, trong những ngày ấy, cửa địa ngục sẽ mở ra cho các vong linh hồn về thăm người thân của họ, cho đến ngày 30/7 thì cửa ngục đóng lại. Đồng thời cũng trong dịp này, tín đồ Phật tử ở Trung Hoa còn làm các việc phước thiện như: Bố thí, phóng sinh,… để hồi hướng công đức cho cha mẹ và người thân của mình.

Lễ Vu Lan được người dân Trung Hoa xem rất quan trọng trong các ngày lễ của năm. Du lịch Trung Quốc vào dịp Lễ Vu Lan, du khách có cơ hội chiêm ngưỡng, trải nghiệm và tận hưởng những điều khác biệt tạo nên nét văn hóa đặc trưng cho miền đất này.

Phục trang của các phi tần thời nhà Thanh

Gần đây, các bộ phim cổ trang đang rất được chú ý, hầu hết các hãng phim đều đang cố gắng hết sức để lột tả được chân thực nhất đời sống cũng như những phục trang mà người xưa thường sử dụng. Trong đó, triều đại nhà Thanh là thời đại có nhiều quy tắc lễ nghi được đánh giá là phức tạp nhất trong lịch sử phong kiến Trung Hoa.

Trong nghi thức về phục trang thời nhà Thanh, với một nữ nhân trong hậu cung, về cơ bản có 3 loại phục trang được mặc, đó là: Triều phục, Cát phục, Thường phục.

Thường phục là loại mặc thường ngày, không có quy định cụ thể. Nhưng với Triều phục và Cát phục thì luôn cần phải chuẩn chỉnh, bởi điều đó thể hiện vinh hiển của Đại Thanh. Và dù là trang phục nào thì cũng là yếu tố thể hiện địa vị, nên sẽ có sự khác biệt nhất định với từng người.

Triều phục là trang phục dành cho các dịp cực kỳ trọng đại, như lễ sắc phong hoặc đại lễ. Quy định bộ triều phục của một hậu phi thời nhà Thanh là tương đối phức tạp, với ít nhất là 10 yếu tố tạo thành, bao gồm: Triều quan (mũ), Kim ước (dây đeo trán để giữ triều quan), Nhị (hoa tai), Lãnh ước (kiềng trên cổ), Triều châu (bộ dây ngọc khoác bên ngoài), Thải thuế (dây rũ bằng vải trước ngực), Triều quái (áo khoác mặc ngoài triều bào), Triều bào (áo chính), Triều váy (Có 2 loại: có áo hoặc không dựa theo hiện vật thật), và Triều ủng (giày).

Để chi tiết hơn thì từ ngoài vào trong sẽ gồm 3 lớp là Triều quái, Triều bào và Triều váy. Trong đó, Triều phục của Hoàng thái hậu và Hoàng hậu là đồng dạng. Các mệnh phụ cấp cao (phu nhân của đại công thần trong triều) thì có Triều phục giống nữ nhân mang tước vị Tần. Và cũng phải từ tước Tần trở lên mới được phép có Triều quái, Triều bào và Triều quan thôi.

Cát phục là thứ phục sức đặc biệt nhất, bởi trong tất cả các triều đại, chỉ có nhà Thanh là hình thành quy định chính thức mà thôi.

Khác với Triều phục chỉ được mặc trong các dịp rất trọng đại, thì vào các dịp lễ ít trang trọng hơn, các hậu phi sẽ mặc Cát phục. Về cơ bản, loại trang phục này cũng giống như Thường phục, nhưng có thêm hoa văn và trang sức mỹ lệ hơn, nên còn được gọi là “Thải phục” hay “Hoa y”.

Một bộ cát phục bao gồm: Long quái và Long bào. Long quái: áo mặc ngoài, có xẻ vạt, thân áo dài, ống tay tương đối dài, đều có màu xanh đen (tức là Thạch Lam sắc). Long quái của Hậu phi chỉ xẻ đằng sau, trong khi của Đế vương là xẻ cả trước sau. Long bào: mặc bên trong, cũng là áo chính của bộ Cát phục. Áo cổ tròn, ống tay áo dạng Mã đề tụ, xẻ vạt trái phải, thân áo dài, viền cổ áo có hoa văn. Có thể chỉ cần mặc Long bào, không cần khoác Long quái.

Có thể thấy, cụm từ “Long bào” cũng được dùng với Cát phục của các nữ nhân chứ không chỉ Hoàng đế. Nhưng tất nhiên, màu sắc phải khác nhau, tùy theo địa vị. Thái hậu, Hoàng hậu và Hoàng Quý phi có Long bào màu Minh hoàng. Kế đến tước Quý phi và Phi dùng màu Kim hoàng, còn Tần thì dùng màu Hương (màu có tone nâu đất, trầm ấm).

Với Long quái, tùy vào địa vị mà hoa văn sẽ có khác biệt. Long quái có thêu rồng vàng 5 móng (Ngũ trảo kim long) được dành cho Hoàng hậu, Hoàng Quý phi, Quý phi và Phi. Riêng tước Tần, phần vạt áo phải theo Quỳ ong – hình rồng lượn trong một hình tròn nhưng không quay chính diện).

Không chỉ quần áo trang phục, mà các phụ kiện cũng là yếu tố thể hiện địa vị của người đeo một cách rõ ràng. Hơn nữa, một số phụ kiện được yêu cầu có mặt trên Triều phục, nên hiển nhiên phải thực hiện theo quy định. Có thể kể đến: 

Lưu tô

“Lưu tô” là tên gọi của những loại trang sức dạng móc treo dài, có thể dùng để gắn lên búi tóc của các phi tần. Trong phim Hoàn Châu Cách Cách, nó là một đoạn dây tua rua màu đỏ, được gắn trên chiếc mũ lớn đội đầu của các phụ nữ trong hậu cung. Còn trong Chân Hoàn Truyện, nó lại được làm bằng các chuỗi ngọc trai kết lại với nhau.

Món trang sức này được tạo ra với mục đích khi người phụ nữ bước đi, sợi dây cũng nhẹ nhàng đung đưa theo. Nó mang lại cảm giác “yểu điệu thục nữ” – một hình tượng mà các nữ nhân trong xã hội cổ đại đều hướng đến.

Trâm cài tóc

Đối với những người ở thời cổ đại, việc cài trâm mang ý nghĩa một cô gái đã chính thức trở thành một người phụ nữ (sau khi kết hôn). Đến thời nhà Thanh, trâm cài tóc đã có nhiều hình thức và kiểu dáng hơn, bao gồm cả mặt thẩm mỹ và tính thực dụng.

Nó được làm bằng các chất liệu chủ yếu như: ngọc, phỉ thúy, mã não, vàng, bạc… Những loại chất liệu làm trâm này cũng phụ thuộc vào thân phận và cấp bậc trong xã hội hay trong gia đình, cung cấm của người phụ nữ. Đồng thời, những chất liệu này cũng có sự liên quan đến yếu tố thời tiết. Ví dụ như: đông xuân thì cài trâm vàng, đến lập hạ sẽ đổi sang trâm ngọc.

Áp khâm

Món đồ hay được các phi tần đeo trước ngực có tên gọi là Áp khâm – một loại trang sức lưu hành dưới thời Minh – Thanh, làm từ những chất liệu đá quý như hạt châu, ngọc hoặc tơ tằm, kim loại tùy vào địa vị, thân phận của chủ nhân. Áp khâm được đeo trên chiếc nút cài thứ hai tính từ cổ xuống của vạt áo bên phải. Những mỹ nhân trong Diên Hi công lược cũng đeo áp khâm khi diện Kỳ bào. Món phụ kiện này được kết từ nhiều hạt tròn, có thể dùng làm một loại vòng tay, tùy mục đích sử dụng.

Ban đầu, Áp khâm được làm hoàn toàn từ kim loại, thường là bạc, dài 28cm, nặng 40g. Phần trên khép kín gọi là hoa lam, bên trong hoa lam có khi được đặt thêm hương liệu như trầm hương, đàn hương, long não,… Phần đuôi kiểu sợi chuỗi buông tỏa gọi là ngân liên. Về sau dần dần xuất hiện kiểu áp khâm chuỗi hạt và có phần đuôi làm từ tơ. Bên cạnh việc làm đồ trang sức, Áp khâm còn có một công dụng để giữ cố định cho vạt áo không bị xộc xệch khi di chuyển, giữ sự kín đáo tinh tế cho người dùng (Áp là giữ, đè chặt, Khâm là vạt áo).

Kiềng đeo cổ (Lãnh ước)

Kiềng đeo trên cổ Triều phục là một điểm để phân giai cấp trong Hậu cung, giữa những cấp bậc khác nhau. Hoàng hậu có 11 Đông châu, ở giữa lấy San hô, dây rũ ở 2 đầu dùng màu Minh hoàng, ở giữa các dây sức San hô, ở đuôi các dây sức đá Ngọc lam. Hoàng quý phi có 7 Đông châu, ở giữa lấy San hô, dây rũ ở 2 đầu dùng màu Minh hoàng, ở giữa các dây sức San hô, ở đuôi các dây cũng sức San hô. Các quý phi sẽ diện màu dây là Kim hoàng, còn lại như Hoàng quý phi.

Nhẫn móng tay (hộ giáp)

Nhẫn móng tay còn được gọi là “móng tay giả” hay “hộ giáp”. Nó đã xuất hiện rất lâu, từ tận thời Chiến quốc. Người Trung Quốc xưa quan niệm rằng tóc, móng tay là của cha mẹ sinh ra, vì vậy tránh cắt đi mà cứ để chúng mọc dài tự nhiên.

Tóc thì không sao, nhưng móng tay mọc dài rất vướng víu, dễ gãy. Vì vậy, người ta bắt đầu chế ra “hộ giáp” với mục đích đơn thuần ban đầu là bảo vệ phần móng tay dài. Và chỉ có người xuất thân cao quý, thuộc tầng lớp trung lưu trở lên mới “nuôi” móng tay dài và dùng hộ giáp. Không chỉ phụ nữ thôi đâu mà cả nam nhân cũng có thể dùng phục sức này.

Lâu dần thành thói quen, hộ giáp đã trở thành thứ phụ kiện biểu trưng cho vẻ đẹp và quyền lực của các bậc cao cao tại thượng, là phục sức không thể thiếu của phái nữ (vì họ ở khuê phòng, ít ra ngoài nên dễ “nuôi” móng tay hơn).

Đến thời nhà Thanh, hộ giáp lại được nâng tầm và gắn liền với phi tần mỹ nữ chốn cung đình. Nó không còn món đồ bảo vệ móng đơn thuần mà là dấu hiệu phân cấp địa vị, quyền lực. Hoàng hậu, quý phi dùng hộ giáp bằng vàng, bạc, ngọc trai, mai rùa,… Các phi tần thứ bậc thấp thì dùng hộ giáp bằng đồng, ngà, men sứ… Họa tiết chạm khắc trên hộ giáp cũng vô cùng tinh xảo, hoàng hậu chạm khắc hình phượng hoàng. Hộ giáp của Thái hậu lại khắc hình chữ “vạn”, chữ “thọ”. Một số hộ giáp còn có thể uốn cong theo khớp ngón tay.

Đặc biệt, Từ Hy Thái hậu từ người bảo dương hộ giáp của mình kĩ càng nhất. Theo tự truyện của một cung nữ từng theo hầu hạ bà tiết lộ, Từ Hy ngày đeo hộ giáp vàng ở bàn tay phải, hộ giáp ngọc trai ở tay trái. Đêm ngủ thay bằng loại hộ giáp “ít lấp lánh” hơn. Bà đều đeo chúng ở ngón út và ngón áp út, mỗi cái dài từ 5 – 7cm. Từ Hy bảo vệ móng tay lẫn hộ giáp vô cùng cẩn thận. Mỗi ngày đều sai cung nữ rửa bằng nước nóng, sau đó dùng nước bóng từ Pháp đánh lên. Dù vậy, khi về già, móng tay dĩ nhiên “héo úa”, xỉn màu. Ban đầu Từ Hy trách tội hạ nhân đã lơ là trách nhiệm. Nhưng cuối cùng bà nhận ra không thể chống lại quy luật tất yếu của thời gian. Lúc này Từ Hy Thái hậu mới chịu cắt móng tay thường xuyên.

Nắm được vai trò của hộ giáp từ thực tế, các nhà làm phim đã khéo léo đưa chúng lên màn ảnh nhỏ. Mục đích vừa thể hiện hình ảnh đặc trưng của triều nhà Thanh, lại vừa tăng độ ấn tượng nơi bàn tay của các vị nương nương. Ví dụ như trong Diên Hi Công Lược, những lần hành lễ “đỏng đảnh” của Cao Quý phi, cái nhịp tay tính toán mưa kế của Nhàn Phi… đều là những chi tiết nhỏ nhưng phô bày độ sắc sảo của phục sức, giúp khắc họa tính cách nhân vật.

Bộ ba cặp hoa tai (Nhị)

Đây cũng được coi là một trong những trang sức đặc trưng thời nhà Thanh. Theo truyền thống người Mãn, Hậu phi đều xỏ 3 lỗ ở tai và đeo 3 viên trang sức hoa tai vào khi mặc Triều phục. Theo quy chế, hình hoa tai của tần phi đều có hình rồng làm bằng vàng, ngoài ra còn sức trân châu mỗi bông 2 viên, tuy nhiên chất lượng trân châu tùy cấp bậc mà khác biệt như Hoàng hậu sẽ đeo hoa tai dùng nhất đẳng Trân châu, Hoàng quý phi và Quý phi dùng nhị đẳng Trân châu, các nàng Phi dùng tam đẳng Trân châu, còn Tần thì dùng tứ đẳng Trân châu.

Khăn Long Hoa

Bên cạnh những phụ kiện tinh xảo như: trâm cài tóc, móng tay giả,… các phi tần, cách cách luôn đeo trên cổ một chiếc khăn trắng với tên gọi là “Long Hoa Lĩnh Cân” hay gọi tắt là “khăn Long Hoa”. Đây chính là phục sức riêng biệt, thể hiện sự cao quý của bản thân và cũng khiến mình trở nên nổi bật hơn trong chốn hậu cung ba nghìn giai lệ.

Khăn Long Hoa được hệt từ tơ lụa hảo hạng. Trên mỗi chiếc khăn thường được thêu thùa tỉ mẩn những hoa văn, hình vẽ đặc thù, tượng trưng cho địa vị của người mặc.

Những mỹ nhân mới nhập cung, chưa có danh phận, nên trên khăn Long Hoa sẽ không xuất hiện bất kỳ họa tiết nào. Còn Hoàng Hậu và Thái Hậu thì thường đeo khăn Long Hoa với họa tiết được trang trí cầu kỳ và tỉ mẩn nhất. Không chỉ vậy, kích thước khăn của 2 vị chủ tử này cũng lớn hơn các phi tần khác, bởi họ là người đứng đầu tam cung lục viện. Với các phi tần khác, khăn Long Hoa sẽ được trang trí với những họa tiết đơn giản như hình hoa lá nhằm tránh bất kính với bề trên, đảo lộn tôn ti trật tự, thứ bậc trong cung. Ngoài ra, khăn Long Hoa còn giúp trang phục, vẻ về ngoài của các phi tần trở nên trang nhã và lịch thiệp hơn.

Quạt lụa – 1cm giá 3 chỉ vàng

Quạt cũng là loại phục sức được đưa vào quy định trong hậu cung nhà Thanh, là một phụ kiện không thể thiếu với những phi tần, phu nhân có địa vị cao. Và bởi nó là yếu tố thể hiện địa vị, nên làm ra nó cũng không hề đơn giản.

Những chiếc quạt thời nhà Thanh được dệt theo một kỹ thuật đặc biệt được gọi là “Kesi” – hay dệt lụa hoa – hiểu nôm na “những sợi chỉ đan kết vào nhau”. Về cơ bản, đó là một phương pháp dệt hết sức tinh tế, hoa văn cực kỳ tinh xảo và hoàn toàn được làm thủ công. Có khi một ngày chỉ dệt được 2cm, thế nên mới nói 1cm lụa Kesi ngày xưa có giá 3 chỉ vàng là vì vậy.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về lịch sử triều đại của một đất nước đông dân nhất thế giới này. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn thì hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc nhé!

Điểm tên 21 loại bánh ngọt truyền thống của Trung Quốc

Trung Quốc là một vùng đất xinh đẹp với những nét văn hóa độc đáo, cuốn hút. Bên cạnh đó nền ẩm thực nơi đây cũng vô cùng đa dạng, phong phú. Đặc biệt, những loại bánh ngọt thanh khiết, nhẹ nhàng sẽ khiến người ta phải thích mê.

Ở Trung Quốc, các loại bánh ngọt truyền thống dùng cho món tráng miệng thường được làm thủ công. Do nguyên liệu từ thiên nhiên dồi dào, lại thêm phong tục vùng miền đa dạng nên bánh ngọt  cũng có nhiều phong cách và hương vị khác nhau. 

1. Bánh quế hoa 

Bánh quế hoa thường xuất hiện trong những buổi tiệc cung đình hay trong bữa ăn của gia đình quý tộc thời xưa của đất nước Trung Hoa. 

Món bánh này bắt đầu xuất hiện từ những năm cuối của triều Minh (1368-1644). Khi đó, một người bán hàng rong có tên Lưu Cát Tường đã ngửi được mùi thơm nồng của hoa quế từ thư phòng một vị trạng nguyên bay đến. Vì thấy mùi thơm khá đặc biệt, người này chợt nghĩ cách nhặt hoa quế ở đây, đem lọc để khử nước đắng rồi mang hoa đi ướp với mật đường. Sau khi đã được ướp, mật hoa này được trộn cùng một số nguyên liệu như bột nếp, bột gạo, dầu cải, đường… rồi mang hấp và để khuôn đem đi bán. Về sau, để phù hợp với khẩu vị nhiều người, món bánh quế hoa có thể được “biến tấu” với nhiều công thức và nguyên liệu khác nhau.

Khi ăn một chiếc bánh quế hoa, người ăn sẽ cảm nhận được rõ nhất là vị thơm nồng của hoa quế, điểm xuyết vào đó là chút ngọt thanh của được phèn, đường mật. Bánh quế hoa truyền thống tuy không quá nổi bật về vẻ bên ngoài thế nhưng lại hấp dẫn nhờ vào hương vị đặc biệt của mình. Bánh xốp nhưng không khô, ngọt thanh chứ không gắt, thế nên dù có ăn nhiều một chút cũng không hề gây ngán cho người thưởng thức.

2. Bánh bột đậu

Đây là loại bánh ăn nhẹ truyền thống của người dân Trung Hoa đã tồn tại xuyên suốt hàng trăm năm lịch sử. Khi làm, nhân phải được cuộn đều, nhiều tầng. Nó có vị ngọt, dính, mùi thơm đậu nành đậm đà đặc trưng.

Bánh bột đậu có nhiều kiểu, nổi danh nhất là bánh đậu xanh kiểu Bắc Kinh – loại bánh không dầu và có vị mềm. Các phong cách khác bao gồm kiểu Tô và kiểu Dương, là loại bánh có dầu với cảm giác mềm mại, tinh tế.

Ở Trung Quốc cổ đại, bánh bột đậu thường được ăn kèm với bánh tống tử, rượu hùng hoàng và trứng vịt muối trong Lễ hội Thuyền Rồng. 

3. Bánh đậu đỏ

Bánh đậu đỏ là một loại bánh phổ biến ở phía nam Trung Quốc. Các nguyên liệu làm ra nó bao gồm đậu đỏ, đường và bột gạo. Loại bánh này thích hợp để ăn vào mùa hè và sẽ có vị ngon hơn sau khi được làm lạnh.

4. Bánh Oản đậu hoàng

Oản đậu hoàng là món ăn nhẹ mùa xuân hoặc mùa hè truyền thống tại Bắc Kinh. Theo phong tục Bắc Kinh, mọi người sẽ ăn loại bánh này vào mùng 3 tháng 3 âm lịch. Nó có thể xuất hiện trong các nhà hàng phong cách Bắc Kinh và chợ phiên mùa xuân hàng năm ở Bắc Kinh.

5. Bánh lương

Đây là loại bánh tráng miệng truyền thống phổ biến ở khu vực Bắc Kinh. Loại bánh này có hương vị tươi ngon, ngọt mềm và thường được ăn vào mùa hè. Đây cũng là món ăn vặt quen thuộc ở thành phố Nghi Tân, tỉnh Tứ Xuyên. Nhưng khác với Bắc Kinh, nó được làm từ gạo và đường nâu.

6. Bánh gạo nếp đậu đỏ Aiwowo

Aiwowo, một món ăn nhẹ truyền thống ở Bắc Kinh, được bán hàng năm trong quán ăn vặt của Bắc Kinh vào dịp Tết Nguyên đán, và được bán cho đến cuối mùa hè và đầu mùa thu. Bánh được làm từ gạo nếp với nhân đậu đỏ bên ngoài phủ bột đậu nành. Khi cho vào miệng thực khách sẽ cảm nhận được độ mềm, độ dai hoàn hảo và hương vị không quá ngọt. Do đó, Aiwowo cũng là một loại đồ ăn mùa xuân thu, có sẵn quanh năm.

7. Bánh ngàn lớp

Bánh ngàn lớp là một trong những món ăn nhẹ phổ biến ở Bắc Kinh. Món bánh này được làm từ bột mì, bột nở, mỡ lợn, các loại trái cây và rượu gạo. Sở dĩ món bánh này tên là bánh ngàn lớp vì ngoại hình của chiếc bánh là tầng tầng lớp lớp chồng lên nhau. Khi cắn một miếng ta sẽ cảm nhận được hương vị đậm đà và độ mềm của từng lớp bánh. Tùy thuộc vào nguyên liệu cũng như các loại trái cây được sử dụng mà bánh sẽ có những màu sắc khác nhau.

8. Bánh bò

Bánh bò có thể được tìm thấy ở nhiều nơi tại miền nam Trung Quốc. Thành phố Trạm Giang và Mậu Danh của tỉnh Quảng Đông, tỉnh Tứ Xuyên và thành phố Trùng Khánh đều là những nơi làm bánh bò có tiếng.

Bánh bò là một loại bánh xốp làm từ: bột gạo, nước, đường và men. Mặt bánh có rất nhiều bong bóng nhỏ do có nhiều lỗ khí trong bánh. Loại bánh bò ở Trung Quốc được gọi là “bái táng gāo” (白糖糕) – nghĩa là “bánh đường trắng”, loại bánh bò này hơi chua và bỏ qua thành phần dừa – một thành phần không thể thiếu trong bánh bò ở Việt Nam. Bánh bò nói chung được ăn như món tráng miệng hoặc ăn với chả,…

9. Bánh quai chèo

Bánh quai chèo là món phổ biến trong danh sách đồ ăn nhẹ Bắc Kinh, còn được gọi là “tai đường”, bởi vì nó có hình dạng giống như tai người. Người ta nhồi vào nhân bánh thập cẩm, thêm hoa quế, gừng ngọt, hạch đào, đậu phộng, vừng, thêm sợi thanh hồng và đường phèn. Bánh tai đường có màu nâu nhạt, trơn bóng, mềm xốp, hương vị ngọt ngào, ngon miệng.

10. Bánh rán vừng

Bánh rán vừng từ lâu đã là một món ăn đã gắn liền với tuổi thơ của biết bao thế hệ trong văn hóa ẩm thực của người Trung Quốc. Người ta cho rằng món bánh rán vừng này là tượng trưng cho sự sung túc, phú quý, giàu sang cùng sự may mắn bởi màu vàng ruộm của nó. Nhân bánh thường làm bằng đậu đỏ hoặc đậu đen.

11. Bánh củ mã thầy

Bánh củ mã thầy là một trong những món tráng miệng truyền thống phổ biến ở tỉnh Quảng Đông và thành phố Phúc Châu. Món bánh này được làm với nguyên liệu chính là củ mã thầy (hay còn gọi với tên khác là củ năng) được mài thành bột sau đó được trộn với đường nâu và bột vừng. Sau khi đã sẵn sàng thì bánh được mang đi hấp. Khi bánh chin, bánh mềm, có vị ngọt mát. Không chỉ người lớn mà trẻ con cũng rất yêu thích món bánh này.

12. Bánh củ mài

Bánh củ mài là loại bánh có vị ngọt làm từ củ mài (Chinese Yam). Đó là một loại thực phẩm thuốc có tác dụng tăng cường sức khỏe lá lách và thận.

13. Bánh Fagao

“Fagao” có tên tiếng Trung phát âm gần với từ “lớn nhanh hơn”, “cao hơn”, nên thường được dùng làm quà tặng thay cho những lời chúc tốt đẹp, hàm ý chúc sự thành công và phát đạt.

Bánh Fagao được làm từ 2 nguyên liệu chính là gạo nếp và đường nâu. Khi du khách đưa nó vào miệng để thưởng thức, du khách sẽ cảm nhận được vị thơm ngon đặc trưng của bánh đầu tiên và sau đó mới đến là cảm nhận được sự mềm xốp của bánh.

14. Bánh Trung thu

Bánh trung thu là món ăn được yêu thích vào ngày rằm tháng 8 âm lịch của người Trung Hoa. Bánh thường có hình tròn, tượng trưng cho ngày đoàn viên vào dịp Trung thu. Những vị bánh được yêu thích gồm ngũ cốc, đậu đỏ, sen trắng, trứng muối và một số loại trái cây.

15. Bánh Niangao

Từ thời xa xưa, Niangao (hay còn gọi là Bánh Tổ) là một món quà đặc sản dân dã và trở thành một món đặc sản rất phổ biến ở Trung Quốc, đặc biệt là trong dịp Tết. 

Tên bánh “Niangao” ngụ ý chỉ sự thịnh vượng, tiến bộ, luôn đi lên. Theo tiếng Trung, “Gao” là bánh, “Nian” là chất dính, nghĩa là bánh nếp, bánh dính, mọi người dùng món bánh này với mong ước các thành viên trong gia đình lúc nào cũng sẽ luôn kết dính, gắn bó với nhau bền vững.

Niaogao được làm từ gạo nếp loại tốt để đảm bảo độ dẻo thơm cho bột bánh, đường nếp được thắng kỹ để loại bỏ tạp chất, và cuối cùng là một chút gừng tươi, phần nguyên liệu quan trọng này giúp mang lại hương vị đặc trưng cho chiếc bánh.

16. Bánh chiên Nhĩ Đóa Nhãn

Là một trong “Thiên Tân Tam Tuyệt”, đặc sản Thiên Tân này vô cùng thơm ngon với gạo nếp làm thành mặt bánh, đậu đỏ, đường trắng xào với nhau thành nhân bánh, cuối cùng dùng dầu thơm chiên lên. Một thành phẩm hình cầu, màu vàng nhạt với nhân đậu đỏ bên trong cực tinh tế.

Nguồn gốc của Bánh chiên Nhĩ Đóa Nhãn có lịch sử hơn 100 năm, vào thời vua Quang Tự triều Thanh. Người tạo ra loại bánh này chính là Lưu Vạn Xuân nằm ở lối ra của ngõ Nhĩ Đóa Nhãn nhỏ hẹp, nên thực khách gọi là “bánh chiên Nhĩ Đóa Nhãn”.

17. Bánh khô Chi Lan Trai

Bánh Chi Lan Trai là một món bánh truyền thống nổi tiếng của dân tộc Hán ở vùng Thiên Tân, là sản phẩm của tiệm cổ có tuổi đời hơn 60 năm. Bánh Chi Lan Trai được chế biến từ gạo nếp, gạo nếp xay ra rồi thêm các loại nguyên liệu làm nhân và chưng lên. Bánh này do cửa tiệm Chi Lan Trai sáng tạo ra, nên gọi là bánh Chi Lan Trai. Bánh có màu trắng tinh khiết, ăn không dính răng, bột không rơi vãi, vị mềm, có nét độc đáo riêng.

Bánh khô Chi Lan Trai bắt nguồn từ năm 1928, người làm ra món bánh này – Phí Hiệu Tăng đã đem bán trong tiệm ăn cổ Chi Lan Trai trên đường Thẩm Trang Tử. Giá thành của bánh Chi Lan Trai rất rẻ, người ăn kiêng trong tháng giêng âm lịch thường chọn món ăn này. Bánh Chi Lan Trai có sự khác biệt so với loại bánh khô ở thôn Dương – Thiên Tân, vì người đời sau không cho thêm nguyên liệu vào nhân, giữ nguyên sắc nguyên vị, còn người đời trước trong quá trình chế biến đã cho thêm bánh đậu, đường trắng, quả táo gai,… vào nhân bánh. Ngoài ra, còn rắc thêm hạt tùng, hạt dưa, hạt óc chó, sợi thanh hồng và một số nguyên liệu khác.

18. Bánh quy hạnh nhân

Được ví như là vua của các loại bánh, bánh quy hạnh nhân xuất hiện vào đầu thế kỷ 20 và trở thành một trong những loại bánh quy cổ điển tại Macau – Trung Quốc. Món bánh này có mùi thơm lan tỏa trong không khí đến vài trăm mét. Khi cắn một miếng, du khách sẽ cảm nhận được bánh rất giòn nhưng sau đó sẽ tan ngay trong miệng.

19. Bánh Tart trứng

Bánh Tart trứng nổi tiếng Macau mang đặc trưng hương vị ẩm thực phương Đông, là sự kết hợp hoàn hảo giữa vỏ bánh giòn rụm và lớp nhân sữa trứng thơm mềm, béo ngậy. Vỏ bánh làm bằng bột mì được nhồi khéo léo tạo thành nhiều lớp vừa mỏng vừa giòn. Nhân bánh là hỗn hợp làm từ kem tươi, sữa, trứng gà được đổ gọn trong lòng khuôn bánh, rồi phủ lên trên cùng là một lớp caramen màu cánh gián đặc trưng.

Xuất phát là món bánh thường dùng trong những bữa tiệc trà hoặc tráng miệng sau bữa ăn chính của người Bồ Đào Nha, bánh Tart trứng có hình dáng nhỏ xinh, giống như những chiếc chén nhỏ vừa tay cầm. Chiếc bánh vừa đảm bảo ngon miệng, ngon mắt, lại phù hợp làm món ăn nhẹ.

20. Bánh Boh Loh Baau

Boh Loh Baau là loại bánh ngọt nổi tiếng ở Hồng Kông, Trung Quốc. Boh Loh Baau hay còn được gọi với cái tên thân thương là “bánh dứa” do hình dạng của chiếc bánh có những đường khứa trông giống vỏ trái dứa. Theo truyền thống thì người dân Hồng Kông hay dùng bánh này khi còn ấm, ăn kèm với lát bơ mỏng kẹp ở giữa là ngon nhất, bánh có thể vào bữa sáng hay bữa trà chiều. Bánh dứa mới ra lò nóng hổi, bốc khói thơm phức, người ta dùng dao rạch ngang bánh rồi kẹp vào đó một miếng bơ vàng tươi trông rất hấp dẫn, ăn có vị béo ngậy hòa cùng vị ngòn ngọt của bánh thật tuyệt vời.

21. Bánh Tangyuan

Tangyuan có hình tròn, vỏ ngoài của bánh được làm bằng bột nếp, bên trong là các loại nhân ngọt làm từ vừng, bột đậu, trái cây khô trộn với đường… Bánh có thể được luộc, hấp hoặc chiên lên đều được. Mỗi loại nhân bánh sẽ tạo ra một hương vị riêng, nhờ vậy khi ăn Tangyuan, người ta sẽ thấy nó có vị ngọt, thơm, mềm mại và không bị ngán.

Tangyuan thường được người dâ Trung Hoa ăn trong Lễ hội đèn lồng – ngày cuối cùng của lễ kỷ niệm năm mới âm lịch để biểu thị cho sự đoàn tụ, hài hòa và vui vẻ trong gia đình.

Trên đây là danh sách 15 món bánh ngọt nổi tiếng hàng đầu Trung Quốc mà chúng tôi muốn giới thiệu cho du khách. Nếu có cơ hội du lịch Trung Quốc, du khách hãy nếm thử hương vị của những món bánh này… chắc chắn sẽ làm cho hành trình của du khách trở nên đáng nhớ và thú vị hơn rất nhiều.

Thịt kho Đông Pha – món ăn trứ danh của nền ẩm thực Trung Hoa

Thịt kho Đông Pha còn có cái tên gọi khác khá quen thuộc với người Việt Nam là ”Thịt kho tàu”. Món ăn này là đặc sản nổi tiếng của người Hàng Châu nói riêng và Trung Quốc nói chung.

Tên của món ăn này được đặt theo tên của một nhà thơ, nhà thi pháp rất giỏi của Trung Quốc có tên là Tô Thức (1037-1101) sáng tạo nên. Ông còn được biết đến như một nhân vật có niềm đam mê nấu nướng khi trong các bài thơ ông viết đều có sự liên kết với các món ăn.

Tô Thức, hiệu là Đông Pha cư sĩ, nên còn có tên quen thuộc là Tô Đông Pha. Ông được mệnh danh là một trong Bát đại gia Đường Tống, để lại hàng nghìn bài thơ cho hậu thế. Ông từng bị giáng chức, hoàng đế lệnh cho chuyển đến Hàng Châu. Nơi ở của ông nằm ở phía đông kinh thành, trở thành nguồn cảm hứng sau này cho danh xưng Tô Đông Pha.

Tương truyền, ngày nọ có một người bạn cũ đến thăm Tô Đông Pha khi ông đang om thịt heo trên bếp, và thách thi sĩ này chơi cờ tướng. Ván cờ đòi hỏi sự tập trung cao độ, khiến nhà thơ quên cả chuyện bếp núc. Khi nồi thịt cạn nước, nó tỏa ra một hương thơm đặc biệt và lại có vị mềm ngọt đến bất ngờ. Nhiều năm sau đó, khi giám sát việc cải tạo Tây Hồ thành nơi trữ nước tưới tiêu, Tô Đông Pha được người dân dâng thịt heo để tỏ lòng biết ơn. Nhưng ông đem kho thịt và gửi lại cho từng hộ gia đình, và đãi công nhân nạo vét hồ như thay lời cám ơn vì họ đã chăm chỉ làm việc. Đó là cách Tô Đông Pha đưa món ăn của mình đến với tầng lớp lao động, và để lại một đặc sản cho Hàng Châu như ngày nay.

Một câu chuyện khác lại kể rằng, khi đến Hàng Châu sống, Tô Đông Pha rất thích ăn thịt kho. Và vì ông quá nổi tiếng, nên một số nhà hàng đã lấy tên ông đặt cho món ăn. Và cũng nhờ vậy mà món ăn này càng ngày càng được nhiều người biết đến hơn nữa.

Tuy là một món ăn ngon với hương vị đậm đà, thế nhưng nó có cách chế biến khá đơn giản. Loại thịt dùng để nấu món ăn này chính là thịt ba chỉ (nếu chỉ dùng thịt nạc sẽ khiến món ăn mất đi hương vị). Người ta sẽ cắt thịt ba chỉ thành những miếng hình vuông sao cho vừa ăn. Sau đó thịt sẽ được ướp với nước tương, xì dầu và rượu Thiệu Hưng (người nấu có thể thay thế bằng các loại rượu vang từ trung bình đến ngọt đậm). Sau khi thịt đã ngấm đều gia vị, người ta sẽ đem chiên thịt trong dầu nóng, giữ cho phần vỏ ngoài vàng ruộm và giòn. Sau khi đã chiên xong, thịt sẽ được cho vào nồi kho cùng hỗn hợp nước ướp. Để món ăn này thơm ngon và hấp dẫn hơn, khi chế biến, người ta thường sử dụng nồi đất để kho. 

Một bí quyết không kém phần quan trọng để nấu thịt kho Đông Pha chính là thời gian. Đun nhỏ lửa trong vài giờ liền để phần thịt heo hấp thụ hết hương vị của rượu và nước tương, khiến nó tan chảy ngay khi cho vào miệng, giảm độ béo của mỡ và để lại lớp bì nâu bóng. Thịt mềm đến mức mà ta có thể dễ dàng xắn từng miếng nhỏ bằng đũa. 

Thịt kho Đông Pha thường được kết hợp với gừng và bông cải xanh để không bị ngấy. Ngoài ra, nó cũng được ăn kèm với cơm trắng, rau cải. Đặc biệt là vào những ngày mùa đông lạnh giá, được cầm trên tay bát cơm ấm nóng, được cắn vào một miếng thịt kho mềm thì đó quả là một điều tuyệt vời.

Nhắc đến Hàng Châu, người ra sẽ nghĩ đến thịt kho Đông Pha trứ danh. Nếu du lịch Trung Quốc, du khách hãy nhớ thử món ăn đặc sắc này nhé!

Trải nghiệm với 19 lễ hội đặc sắc của dân tộc thiểu số ở Trung Quốc

Trung Quốc là một quốc gia đa dân tộc, cùng với nền văn hóa đa dạng thì ngoài những ngày lễ tết truyền thống phổ biến được nhiều người biết đến như Tết Nguyên Đán, Tết Thanh Minh, Đoan Ngọ,… thì ở quốc gia tỉ dân này còn vô số những ngày hội, ngày lễ đặc sắc của bộ phận dân tộc người thiểu số mà du khách có thể chưa được biết đến.

1. Lễ hội Munao Zongge

Munao Zongge là tết truyền thống của dân tộc Jingpo ở tỉnh tự trị Đại Đức, được diễn ra vào 15 ngày đầu của tháng đầu tiên trong năm mới âm lịch. Lễ hội bắt đầu bằng một nghi lễ hiến tế long trọng, và một nghi thức đặc biệt để trao vương miện cho các vũ công hàng đầu. Tiếp theo đó là người dân, và khách từ các dân tộc khác nhau sinh sống ở Dehong sẽ tham gia vào điệu nhảy đại chúng, trong tiếng trống mạnh mẽ, và âm nhạc dân gian.

Những điệu nhảy này thường có số lượng người lớn, và có nhiều cách di chuyển phức tạp. Sẽ có nhiều nhóm nhảy khác nhau tham gia vào nghi lễ, và sẽ có một người dẫn đầu để giúp họ không đi nhầm. Mỗi bước nhảy đều rất quan trọng, nên thường là vũ công giỏi nhất dẫn đầu. Cho dù có bao nhiều người tham gia lễ hội đi chăng nữa, thì đội hình sẽ không bao giờ trở nên lộn xộn.

2. Lễ hội Dao Gan Jie

Người dân Lisu ở các quận Tengchong và Longling thuộc tỉnh Vân Nam tổ chức lễ hội Dao Gan Jie vào ngày 7-8/2 âm lịch hàng năm nhằm tưởng nhớ vị quan Wang Ji – người sinh sống trong triều đại nhà Minh, được biết đến như một anh hùng vĩ đại của người Lisu. Bản thân Wang Ji là người Hán, nhưng anh đã sống trong bộ lạc Lisu, và đào tạo những thành niên trẻ của làm trở thành chiến binh tài giỏi, để bảo vệ vùng đất của họ trước nhữ kẻ xâm lược.

Wang Ji đã sống ở Lisu trong nhiều năm, và dạy cho họ tất cả những kỳ thuật nông nghiệp và quân sự khác. Tuy nhiên, Wang Ji đã bị đầu độc, sau đó đóng khung vì tội phải quốc, nhưng nhờ sự giúp đỡ của anh đối với Lisu, nên người dân nơi đây luôn nhớ về công lao đó, và tưởng nhớ cái chết của ông cũng như vinh danh bằng lễ hội Dao Gan Jie.

Trong lễ hội Dao Gan Jie, những người tham gia sẽ đi bộ trên lửa bằng chân trần trên than nóng, và nhiều hoạt động khác như leo lên cột lửa, múa kiếm lửa,… Trong đó, phải kể đến leo kiếm, một trong những trò chơi mạo hiểm nhất, những người đàn ông trong làng phải trèo lên một chiếc thang đặc biệt, tất cả các thanh của chiếc thang này đều làm từ các lưỡi kiếm gắn vào cọc tre. Không sử dụng bất cứ một dụng cụ hỗ trợ nào, họ phải thực hiện bằng chân trần và người chiến thắng sẽ là người đầu tiên leo lên đỉnh của bậc thang rồi thực hiện động tác nhào lộn và đốt pháo hoa trước khi leo xuống. Màn trình diễn thót tim này là điểm không thể bỏ qua đối với du khách khi đến đây.

3. Lễ hội lửa Làng Hongwan

Nằm ở khu vực miền núi phía tây của huyện Maiwan thuộc tỉnh Vân Nam, là nơi sinh sống của hơn 300 hộ gia đình,
trong đó có 1.200 là người dân tộc Ai (một nhánh của người Yi). Đây là nơi cư trú của người Yi cổ xưa, và là ngôi làng cuối cùng của người Yi ở Trung Quốc. Và lễ hội lửa Làng Hongwan là lễ hội cổ xưa của người Yi, được tổ chức vào ngày 3/2 âm lịch hàng năm.

Trong lễ hội, những chàng trai trẻ trong làng sẽ tập trung tại sân chơi của một trường tiểu học vào sáng sớm, và họ vẽ lên mình những hình ảnh kỳ lạ, có liên quan đến lửa trên mặt, và thân trên. Trên người họ mặc một chiếc váy màu nâu, và có sử dụng dây buộc, trên đầu là cỏ dại, vỏ lá cây, cây trồng,… Trong sự kiện họ la hét một cách điên loạn để thể hiện những ham muốn của linh hồn, và giải phóng niềm đam mê.

Người gia trong làng sẽ hát và nhảy những bài hát của người Yi trên đường phố, họ thổi lá hoặc sáo trúc hoặc chơi các bài hát bằng cây đàn nhị tự chế. Vào buổi trưa, bữa tiệc đường phố được bắt đầu, dân làng đặt những cây thông tươi được thu thập từ ngọn núi gần đó như một bàn ăn, và bắt đầu bữa tiệc. Sau bữa ăn là màn đốt lửa gỗ, và những điệu nhảy của Bimo – một phù thủy trong làng.

4. Lễ hội Đuốc

Cũng là một lễ hội lửa của dân tộc Yi, lễ hội Đuốc ở Sở Hùng thuộc tỉnh Vân Nam lại là một lễ hội lớn hơn. Sự kiện này không chỉ có người dân tộc Yi tham gia, mà còn có một số lượng lớn người dân tộc thiểu số khác, kể cả người Bai.

Lễ hội được tổ chức vào ngày 24/6 âm lịch để tôn vinh vị thần Atilaba trong truyền thuyết, một người khổng lồ đã dùng cây đốt đuốc để đánh đuổi dịch châu chấu.

Vào ngày nay, ban ngày, mọi người từ già nhỏ gái trai đều ăn mặc đẹp đẽ tham gia các hoạt động dân gian tập thể như đấu bò, đấu vật, đua ngựa, bắn cung… và không thể thiếu uống rượu để chúc mừng. Về đêm, mỗi gia đình đều sẽ đốt đuốc trong nhà và canh ở vị trí mà luôn đảm bảo ngôi nhà nhận được ánh sáng tốt nhất. Ngoài ra, mọi người cũng sẽ đốt đuốc ở ngoài hay ở các cánh đồng. Đặc biệt, thời điểm vui nhất có thể nói là lúc mọi người trong làng tụ họp bên ngọn đuốc lớn đỏ rực, cùng nhau nhảy múa, ca hát, những chàng trai thổi sao, những cô thiếu nữ xinh đẹp thì nhảy múa trong những điệu nhạc dân gian.

5. Lễ hội hát mồng 3 tháng 3

Lễ hội hát mồng 3 tháng 3 không chỉ là lễ hội truyền thống của dân tộc Choang mà còn là một trong những lễ hội của các dân tộc thiểu số như Hán, Yao, Dong, Miao ở Quảng Tây.

Có rất nhiều truyền thuyết nói về sự ra đời của ngày lễ này, trong đó có lẽ thú vị nhất được người dân truyền miệng lại chính là câu chuyện về rắn cụt đuôi, tương truyền có một người phụ nữ dân tộc Choang một ngày đi làm đồng, vô tình thấy con rắn cụt đuôi cứ năm lần bảy lượt chuôi vào giỏ của mình. Thương tình bà đem nó về nuôi, kì lạ, rắn càng ngày càng lớn dần, còn có tài hô mưa gọi gió, cứu giúp dân làng qua cơn đại hạn. Bỗng một ngày người mẹ của rắn qua đời, rắn thần đã khóc rất nhiều. Từ đó cứ ngày này, ngày 3 tháng 3 rắn thần lại về tảo mộ mẹ mình.

Trong ngày này hàng năm, mọi người đều tổ chức bắn pháo hoa, bên cạnh đó là các hoạt động nhân gian truyền thống như diễn kịch, múa rồng, kéo co, chọi gà và các hoạt động triển lãm thương mại để quảng bá đặc sản của địa phương. Du khách đến đây sẽ được người dân chào đón nồng hậu bằng những điệu hát, tiếng kèn truyền thống, tiếp đón du khách tứ phương bằng những ly rượu gạo thơm và các món ăn đặc trưng của vùng đất này.

6. Lễ hội Lusheng

Lễ hội Lusheng là lễ hội nổi tiếng nhất của nhóm dân tộc thiểu số người Miao (Hmong), đây là lễ hội đặc trưng được tổ chức khắp nơi, ở bất kì chỗ nào có người Miao sinh sống, nhưng lớn nhất và nổi tiếng nhất có lẽ là lễ hội Lusheng là ở Kaili, tỉnh Quý Châu. Lusheng là một nhạc cụ bằng gỗ tre, nhạc cụ hoàn hảo để đồng hành với nhiều hoạt động dân gian truyền thống như múa Miao và nhào lộn.

Người Miao từ các ngôi làng xung quanh hay lân cận cùng nhau tụ tập lại, mặc những bộ trang phục đẹp nhất của dân tộc mình, đội những chiếc mũ bạc. Những người phụ nữ nhảy múa theo điệu nhạc do những người đàn ông trong làng thổi, bên cạnh đó còn có các hoạt động thú vị như đấu bò, đua ngựa…Đặc biệt đây cũng là thời điểm tuyệt vời để các nam thanh nữ tú trong làng gặp gỡ, tìm hiểu, kết duyên.

7. Lễ hội té nước

Có nguồn gốc từ các nghi lễ trong Phật giáo, nhiều lễ hội té nước khác nhau đã được tổ chức trên khắp Châu Á. Tại Trung Quốc, người Da tổ chức Lễ hội té nước về cơ bản cũng khá giống như lễ hội nổi tiếng Songkran của Thái Lan. Về cơ bản đây là một lễ hội truyền thống mang tính chất tôn giáo, nhưng khi được tổ chức vào thời hiện đại, thì không khí của lễ hội trở nên vui vẻ và sôi động hơn rất nhiều.

Lễ hội được tổ chức trong nhiều ngày của tháng 4 hàng năm tại Tây Song Bản Nạp, tỉnh Vân Nam. Vào sáng sớm, mọi người sẽ diện trang phục thật xinh đẹp, thật sặc sỡ cùng nhau đến các ngôi chùa để thực hiện nghi thức tắm Phật, sau đó bắt đầu ăn mừng. Cũng trong thời gian này, mọi người với những khẩu súng phun nước trên tay hoặc những chậu nước lớn và té vào nhau, như để cầu nguyện cho một năm mới tốt lành hơn. Ngoài ra còn có các hoạt động thú vị khác như đua thuyền, cưỡi voi, đánh đu, biểu diễn nghệ thuật và các hoạt động văn hóa dân gian khác…

8. Lễ hội Monihei

Bắt đầu từ ngày 1/5, người dân tộc Wa và khách du lịch lại nô nức tham gia Lễ hội Monihei ở Cangyuan, tỉnh Vân Nam. Đây là một lễ hội thú vị nhất từ trước đến nay của dân tộc Wa khi địa phương phát hiện ra một loại thuốc thảo dược “thần kỳ”, là chìa khóa cho sự trường sinh bất tử.

Thuốc này có dạng bột, sau đó được trộn với nước để tạo thành hỗn hợp sền sệt và thoa khắp cơ thể. Hiện giờ, bùn cũng được sử dụng như một sự thay thế tượng trưng cho loại thuốc bí ẩn đó, mọi người chạy xung quanh để ném và bôi bùn lên cơ thể của nhau và càng bẩn càng tốt. Bùn trên mặt trẻ em được coi là lời chúc bình an, bùn trên mặt người già được coi là lời chúc trường thọ, và bùn trên mặt phụ nữ được coi là lời chúc sắc đẹp.

9. Lễ hội Naadam

“Nadaam” theo tiếng Mông Cổ có nghĩa là “tiêu khiển” hoặc “giải trí”. Đây là một lễ hội thể hiện sự tinh vi và hùng hồn của văn hóa du mục, nó được tổ chức như một lễ kỷ niệm tôn vinh nền độc lập dân tộc, là sự kết hợp xuất sắc của nghệ thuật và thể thao. Lễ hội này đã có từ rất lâu đời, ít nhất là vào thời Đế chế Mông Cổ, khi Thành Cát Tư Hãn biến lễ kỷ niệm truyền thống thành một ngày lễ chính thức của người Mông Cổ.

Lễ hội được tổ chức với 3 môn thể thao chính là đấu vật, cưỡi ngựa và bắn cung, kết hợp với các yếu tố nghệ thuật như: ca hát, nhảy múa và biểu diễn.

Lễ hội Nadaam đặc biệt được diễn ra vào tháng 7, khi những cánh đồng cỏ xanh tươi, trải dài vô tận trên thảo nguyên Mông Cổ là địa điểm thích hợp nhất để diễn ra cuộc tranh tài vô cùng gây cấn và lý thú của người dân nơi đây, không phân biệt tuổi tác, khoác lên mình những phục sức sặc sỡ nhất, tham gia tranh tài cưỡi ngựa. Những lá cờ đầy màu sắc bay phấp phới trong gió, tiếng mọi người la hét cổ vũ, đồng cỏ yên bình ngày thường bỗng chốc trở nên ồn ào náo nhiệt lạ thường.

Ngoài 3 trò chơi chính, một cuộc thi bắn súng nhỏ cũng sẽ được tổ chức bên cạnh. Và trong lễ hội bánh xèo với thịt là một phần không thể tách rời.

10. Tết Losar

Đây là ngày lễ quan trọng nhất trong năm của người Tây Tạng, thể hiện đầy đủ nhất những nét văn hóa và tín ngưỡng độc đáo của họ. Tết Losar sẽ được diễn ra trong 15 ngày (trong đó có 3 ngày chính) với những nghi lễ cổ đại diện cho cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, bằng cách tụng kinh, đi qua ngọn đuốc. Lễ Losar đặc trưng bởi những điệu nhảy, âm nhạc và tinh thần lạc quan của người Tây Tạng.

Ngày chính của Tết Losar bắt đầu (Mồng 1 Tết hay còn gọi là Lama Losar), lúc này các thành viên trong gia đình đều sẽ dậy sớm, mặc những bộ quần áo mới và đẹp nhất. Các bà mẹ sẽ nấu một nồi rượu lúa mạch Changkol và chờ mặt trời lên. Trong thời gian này, họ sẽ cùng nhau ăn Droma dresil – một món cơm thập cẩm gồm gạo, bơ, nho khô, đường. Khi bình minh ló rạng, người phụ nữ cao tuổi nhất nhà sẽ mang một chiếc gầu ra con sông gần nhà để lấy về gầu nước đầu tiên trong năm mới. Sau đó, các thành viên trong gia đình cùng quây quần bên nhau, trao cho nhau câu chúc năm mới truyền thống là “Tashi Delek” và cùng uống rượu lúa mạch. Người ta sẽ để hạt lúa mạch mọc mầm và bánh lúa mạch Tsampa cùng những hạt ngũ cốc khác lên bàn thờ để cầu mong một năm mới được mùa.

Ngày thứ hai của Tết Losar có tên “Gyalpo Losar”. Trong ngày này sẽ có những màn múa hát, biểu diễn đặc sắc chỉ có duy nhất một lần trong năm. Người dân cũng uống rượu lúa mạch Chang và cùng nhau ca hát, nhảy múa. Trong các gia đình, vào buổi tối, người ta sẽ mang những cây đuốc và đi khắp nhà, vừa đi vừa la hét để xua đuổi quỷ dữ ra khỏi nhà.

Mồng 3 Tết (Choe-kyong Losar), người dân tổ chức cúng tế những vị thần bảo hộ các Lạt Ma. Họ treo cờ sặc sỡ trên đồi, núi và nóc nhà, đốt lá cây bách xù và đốt hương dâng lên thần thánh. Họ hát và cầu nguyện những điều tốt đẹp trong năm mới.

11. Lễ hội Shoton

Shoton cũng là một trong những lễ hội truyền thống lớn nhất ở Tây Tạng. Lễ hội này kéo dài 1 tuần (khoảng 29/6 đến 1/7 theo lịch Tây Tạng) nhằm tỏ lòng tôn kính đức Phật. 

Tại ngày khai hội, người dân Tây Tạng sẽ cùng nhau trải bức tranh Thangka thể hiện chân dung đức Phật với tấm lòng thành tôn kính vô hạn. Bức tranh khổng lồ này rộng khoảng 500m2 đang dần mở trên lưng đồi của tu viện Drepung để đón những tia sáng mặt trời đầu tiên chiếu vào bức Thangka vào khoảng 8 giờ sáng. Nghi lễ này được gọi là “Tắm Phật trong ánh mặt trời”.

Bên cạnh đó, âm nhạc Tây Tạng cũng là một hoạt động hấp dẫn của lễ hội. Âm nhạc và các vũ điệu được biểu diễn kể từ ngày thứ hai của lễ hội từ 11:00 trưa đến tối. Các buổi trình diễn thường được diễn ra ở Norbulingka và Longwangtan (Dragon King Pond, công viên đối diện với cung điện Potala). Những người dân dịa phương ngồi trên thảm với gia đình và bạn bè, uống trà bơ, thưởng thức các món ăn và xem biểu diễn, trong khi vẫn cầu nguyện với tràng hạt trong tay.

Lễ hội Shoton còn có nhiều hoạt động thú vị như: đua trâu Yak (trâu lùn), đua ngựa, biểu diễn những bài hát địa phương và các điệu nhảy truyền thống vẫn được thực hiện luân phiên.

Trong thời gian diễn ra lễ hội, người dân và du khách có thể thưởng thức đặc sản sữa chua trâu lùn Tây Tạng có 1 không 2 trên thế giới và cùng hòa mình cùng với những người dân bản địa để tham gia những hoạt động tập thể như nhảy múa, nhạc kịch dân gian, thưởng thức món ăn vùng,… và nhất là hoạt động ném sữa chua vô cùng vui nhộn và độc đáo.

12. Lễ hội Đèn bơ

Cứ ngày 25/10 hàng năm theo lịch Tây Tạng, các tu viện, đền, chùa lại tưng bừng tổ chức lễ hội đèn bơ để tưởng niệm Tsong Khapa – một vị Lạt-ma Tây Tạng, người đã sáng lập ra giáo phái Gelug của Phật giáo Tây Tạng.

Vào ban ngày, mọi người hành hương tới các đền, chùa và cầu mong những điều tốt lành sẽ đến với họ. Khi đêm về, buổi thắp sáng đèn bơ sẽ được tổ chức. Trong lễ hội, các tín đồ sẽ thắp hàng ngàn cây đèn bơ khác nhau thành nhiều hình ảnh, và cả đức Phật tại những ngôi đền chùa và nhà của mình.

Vào ban đêm, mọi người cũng bắt đầu tổ chức các cuộc thi hát đối kháng, đôi khi cuộc thi được kéo dài trong một vài ngày. Nơi diễn ra lễ hội nổi bật nhất chính là ở Lhasa.

13. Lễ hội cầu nguyện Monlam

Được coi là sự kiện quan trọng nhất đối với Phật tử Tây Tạng, lễ hội cầu nguyện Monlam bắt đầu 3 ngày sau Tết Nguyên đán ở miền Tây Trung Quốc, khu vực dân tộc Tây Tạng và được tổ chức trong gần 2 tuần. Trong thời gian Monlam, hàng triệu người hành hương đến các tu viện để cầu may mắn trong năm mới và cúng dường cho những người thân quá cố của họ.

Một trong những điểm đến phổ biến nhất cho khách hành hương là Tu viện Labrang ở quận Xiahe, quận tự trị Tây Tạng Gannan, tỉnh Cam Túc. Tu viện, được thành lập vào năm 1709, là một trong sáu tu viện lớn nhất của giáo phái Mũ Vàng của Phật giáo Tây Tạng và là nơi cư ngụ của hàng ngàn tu sĩ.

Các sự kiện chính của lễ hội được tổ chức vào những ngày cuối cùng. Đầu tiên là lễ ra mắt Đức Phật, trong đó các nhà sư Phật giáo Tây Tạng mang Thangka 30m mô tả Đức Phật lên sườn đồi phía trên Tu viện Labrang cho hàng ngàn tín đồ chiêm ngưỡng.

Ngày hôm sau, các nhà sư mặc trang phục như các vị thần và những người bảo vệ Pháp (Pháp như là giáo pháp của Đức Phật nói chung) và thực hiện điệu múa Chăm. Với các chuyển động chậm và lặp đi lặp lại, nghi thức kéo dài hàng giờ được thực hiện để tiêu diệt các linh hồn xấu và mong cầu những lợi ích to lớn cho nhân loại. Phật tử sùng đạo sử dụng điệu nhảy này để thiền định và kết nối tâm linh với các vị thần. Sau cùng, mọi người tham gia một đám rước lớn.

Vào buổi tối ngày hôm sau, tất cả các nhà sư và khách hành hương đi xem các tác phẩm điêu khắc làm từ bơ Yak của các nhà sư Phật giáo Tây Tạng mà theo truyền thống đại diện cho một lễ vật dâng lên Đức Phật và các vị thần.

Vào ngày cuối của lễ hội, một đám rước lớn cuối cùng được tổ chức, khi các nhà sư Phật giáo Tây Tạng mang theo một bức tượng Di Lặc, vị Phật tương lai, thực hiện Kora (mạch hành hương) xung quanh tu viện Labrang cùng với hàng ngàn người hành hương.

14. Lễ hội đua ngựa Litang

Lễ hội đua ngựa Litang vào tháng 8 là dịp tốt để du khách ngắm những tay du mục trên lưng ngựa, thảo nguyên xanh bao la đến tận chân trời và thưởng thức thịt và sữa chua bò lông vàng Yak.

Dân tộc Kham là một phân nhóm của dân tộc Tây Tạng đang sinh sống ở gần biên giới Tứ Xuyên và Tây Tạng. Chủ yếu là dân du mục. Họ sinh sống ở các vùng núi cao trên 3.000 m. Xung quanh là những đồng xanh bao la đầy cỏ. Mặc dù, thời tiết mưa phùn liên tục nhưng khi mặt trời lên, bầu không khí ẩm ướt lập tức bị phá tan và thay vào đó là cái nắng nóng đến cháy da. Mùa hè đến, thời tiết bắt đầu đẹp hơn, các tu viện địa phương tổ chức cuộc đua ngựa và buổi ca nhạc Tây Tạng truyền thông. Ở đây, các nhà sư đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức vở kịch Tây Tạng. Ở cuộc đua ngựa, họ cũng được sắp xếp ngồi ở vị trí danh dự nhất.

Trong một vài ngày lễ hội diễn ra, nó thu hút sự chú ý của dân làng và dân du mục khắp nơi đến tham dự. Hầu hết những người tham gia sẽ dựng lều trại tạm thời xung quanh địa điểm tổ chức. Đồng thời, họ cũng mở những gian hàng nhỏ mua bán, trao đổi những món hàng như thuốc bí truyền, đồ trang sức, đặc sản các vùng. Xen giữa thời gian nghỉ hay các tiết mục đặc sắc, họ ăn uống, nhảy múa.

Lễ hội đua ngựa Litang tập hợp đàn ông ở nhiều độ tuổi khác nhau phô diễn tài năng, thể hiện trình độ huấn luyện, đào tạo ngựa. Họ tham gia vào cuộc chơi, từ màn đua tốc độ đến các màn biểu diễn nhào lộn với ngựa, kỹ năng vừa cưỡi ngựa vừa bắn cung tên…

Giải thưởng nhận được có khi là tiền mặt, có khi là một chú ngựa mới. Nhưng đa phần, việc được phô trưng tài năng trước phái nữ đã là phần thưởng lớn nhất giành cho những người đàn ông du mục này.

15. Lễ hội Panwang

Sau 1.000 năm di cư, người Yao đã trở thành dân tộc thiểu số phân bố rộng rãi nhất ở Trung Quốc, và lễ hội Panwang hàng năm của họ như là một mô hình thu nhỏ của văn hóa lịch sử độc đáo của người Yao. Lễ hội còn được biết đến với tên gọi khác là sự trở lại của nhà vua, là lễ hội lớn của người Yao để hiến tế nhà vua. 

Lễ hội Pan Wang được tổ chức vào tháng 10 âm lịch hàng năm tại Hạ Châu, Quảng Châu. Nội dung của lễ hội Panwang chủ yếu là để tôn thờ Pan Wang, và tổ chức các hoạt động văn hóa dân gian. Vào ngày lễ hội được tổ chức, người Yao sẽ mặc quần áo đặc trưng của dân tộc, và có một số lượng người tham gia rất đông. Trong lễ hội, mỗi gia đình phải sử dụng rượu và thịt hảo hạng để thờ cúng Panwang, cũng như tổ tiên của gia đình, và xua đuổi tà ác.

16. Lễ hội sờ ngực

Nam giới có thể tùy ý sờ ngực các cô gái trong 3 ngày tháng 7 Âm lịch mà không bị coi là hành vi khiếm nhã, thiếu tôn trọng. Lễ hội sờ ngực hay lễ hội ma quỷ, là một nét văn hóa truyền thống của người dân tộc Di sống ở tỉnh Vân Nam.

Hàng năm, cứ vào ngày 14 – 16/7 âm lịch, ngoài việc đốt vàng mã cúng tế, tất cả nam và nữ khi ra ngoài đường đều phải tuân thủ quy định của lễ hội sờ ngực. Đàn ông phải sờ ngực phụ nữ một cách nhiệt tình, còn phụ nữ phải đón nhận việc đó một cách vui vẻ. Mọi người đều coi việc sờ và “được sờ” này sẽ mang đến may mắn cát tường cho bản thân.

Theo tục lệ, các chàng trai và cô gái còn độc thân sẽ ra ngoài đường tụ tập tham dự lễ hội và tìm “đối tác”. Khi tìm được người ưng ý, hai người sẽ nắm tay nhau cùng đi vào rừng tùng trên núi… Nhưng ngày nay đa số mọi người, bao gồm cả khách du lịch đến đây, nếu trên đường gặp cô gái mình thích đều có thể tùy ý sờ ngực để lấy may. Các cô gái cũng không vì vậy mà tức giận, ngược lại đều cảm thấy vui vẻ.

Tuy liên quan đến vấn đề giới tính nhưng người dân tộc Di lại coi đây là một ngày lễ truyền thống. Trong thời gian lễ hội diễn ra, nam thanh nữ tú vui chơi, đánh đàn ca hát nhảy múa làm cho không khí trở nên sôi động.

17. Lễ hội đường phố tháng 3

Lễ hội đường phố tháng 3 thực sự được tổ chức bởi nhiều nhóm dân tộc khác nhau, nhưng lễ hội của dân tộc Bai ở Đại Lý là đến nay nổi tiếng nhất. Một ngôi chợ ngoài trời lớn được dựng lên dưới chân núi Cangshan bán mọi thứ như thực phẩm, các loại trà đặc sản, đồ thủ công mỹ nghệ, nhạc cụ,… thậm chí là cả gia súc. Tất cả đều do người dân của khu vực này tự sản xuất và tự mình đem ra bày bàn. 

Không chỉ là một nét đẹp về văn hóa mà lễ hội này còn có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế địa phương và được người dân địa phương cũng như du khách mong đợi. Sẽ là một trải nghiệm khó quên cho du khách khi cùng nhau dạo quanh giữa các gian hàng thủ công mỹ nghệ độc đáo, được thưởng thức những món ăn đặc sản nơi đây.

18. Tết truyền thống của Dân tộc Miêu

Thông thường, năm mới của người Miêu (ở huyện tự trị dân tộc Miêu Rongshui, thuộc khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây) sẽ diễn ra vào khoảng tháng 10 âm lịch (cuối tháng 10 hoặc tháng 11 dương lịch), hoặc có khi trễ hơn.

Thời điểm chính xác để đón mừng năm mới thường chỉ được tiết lộ khoảng 2 tháng trước khi lễ mừng diễn ra. Tết là dịp lễ hội quan trọng nhất trong năm của người Miêu. Nó tượng trưng cho sự khởi đầu của những điều mới mẻ và thành công.

Trong dịp lễ này, những cô gái dân tộc Miêu sẽ mặc trang phục truyền thống xuống đường du xuân. Nhiều cuộc diễu hành lớn cũng được tổ chức. Nhiều hoạt động vui chơi giải trí như đua ngựa, đấu bò, thi thổi lusheng cũng được diễn ra thu hút rất đông người xem và tham dự.

19. Lễ mừng năm mới của Dân tộc Đồng 

Lễ mừng năm mới của người Đồng (ở huyện Rongjiang, tỉnh Quý Châu) thường không có thời gian cố định mà thường thay đổi qua từng năm. Thông thường, người Đồng sẽ đón Tết vào những ngày đầu tiên của tháng 11 âm lịch (khoảng cuối tháng 11 hoặc 12 theo dương lịch). Tuy nhiên, thời gian còn có thể thay đổi tùy theo từng ngôi làng, một vài nơi còn tổ chức mừng năm mới vào những ngày cuối của tháng 10. 

Lễ mừng năm mới của người Đồng thường là dịp để đánh dấu sự kết thúc một mùa gặt (thường là mùa thu). Theo đó dân làng sẽ bắt đầu nghỉ ngơi, dành thời gian để vui chơi thư giãn sau một vụ mùa bận rộn.

Trước Tết, người Đồng thường dọn dẹp nhà cửa, mua sắm quần áo mới, làm bánh gạo, giết mổ động vật, thắp nhang và nến để cúng bái tổ tiên.

Trong lễ mừng năm mới, người Đồng sẽ mặc trang phục truyền thống và mời khách đến nhà để dự tiệc, đồng thời gửi nhiều loại thức ăn khác nhau cho bạn bè, bà con họ hàng như rau củ muối chua, cá đông lạnh và ziba (một loại bánh làm từ gạo nếp). Để đáp lại tấm lòng của người gửi, thông thường người nhận sẽ tặng lại một số đồ tương đương cho người gửi. Phong tục này thường được người dân địa phương gọi là “Sự trở lại của ziba”.

Nhiều hoạt động vui chơi giải trí cũng được tổ chức vào dịp này. Điểm nổi bật nhất trong các lễ hội là những màn chơi lusheng (một loại sáo làm từ tre) của các nam thanh niên trong làng cùng những màn chọi trâu. Cả hai hoạt động đều thu hút rất đông khán giả đến xem.

19 lễ hội dân tộc thiểu số trên đây đã nêu bật sự đa dạng của các ngày truyền thống kỷ niệm của Trung Quốc. Chỉ cần tham gia vào một trong số các lễ hội này, du khách sẽ thêm nhiều trải nghiệm độc đáo và khó quên cho chuyến du lịch Trung Quốc.

Bún qua cầu – món ăn ẩn chứa câu chuyện về nghĩa vợ chồng sâu sắc

Nằm về phía tây nam Trung Quốc, Vân Nam là vùng đất có phong cảnh đẹp và văn hóa ẩm thực khá đa dạng. Một trong những món ngon nổi tiếng của Vân Nam đó là món Bún qua cầu đã có lịch sử hơn 100 năm. 

Bún qua cầu (过桥 米线 – Guoqiao Mixian) là món ăn đặc trưng của người Hán ở vùng Điền Nam (Điền là tên gọi của Vân Nam) thuộc về khu vực ẩm thực Điền hệ (một trong các vùng ẩm thực nổi tiếng của Trung Quốc). Bún qua cầu luôn khiến bất cứ ai cũng muốn một lần thử thưởng thức và “tấm tắc” khen ngợi.

Món Bún qua cầu này nổi tiếng không chỉ nhờ độ ngon mà còn nhờ câu chuyện về tình yêu, nghĩa vợ chồng sâu sắc khiến nhiều người cảm thấy thú vị lẫn yêu thích. Tương truyền, vào đời nhà Thanh, ở huyện Mông Tự, tỉnh Vân Nam có một đôi vợ chồng trẻ sống hạnh phúc với nhau, nhưng người chồng chỉ ham chơi mà không tu chí học hành. Thấy vậy, người vợ nói với chồng: “Nếu chàng không dùi mài kinh sử, làm nên nghiệp lớn, sau này mẹ con thiếp sẽ tủi hổ vì thua kém chị em”. Từ đó, người chồng chuyển ra một hòn đảo nhỏ giữa hồ để học hành cho yên tĩnh.

Hàng ngày, người vợ đều nấu cơm mang đến cho chồng. Vì đường xa, khi đến hòn đảo, các món ăn nàng nấu đều bị nguội, người chồng ăn không ngon miệng nên ăn ít, người gầy đi. Thương chồng ăn ít sẽ không đủ sức học hành, người vợ nghĩ ra nhiều món ăn ngon nhưng đều không thành công.

Trong một lần luộc gà và làm món bún, đứa con nhỏ đùa nghịch cho thịt vào bát canh, nàng ăn thử thấy ngon nên đã đun nước ấm, cho bún và thịt vào giỏ mang đến cho chồng. Nàng cũng phát hiện nước sẽ nóng lâu hơn nếu trên mặt có một lớp mỡ. Đồ ăn mang đến nơi vẫn còn nóng nên người chồng ăn rất ngon. Thương vợ vất vả, chàng chăm chỉ học hành hơn và đã đỗ cao trong kỳ thi sau đó.

Kể từ lúc ấy, món ăn này được gọi là “Bún qua cầu” và được lan truyền rộng rãi trong dân gian với ý nghĩa về tình vợ chồng sâu sắc.

Ngày nay, món Bún qua cầu vẫn còn được xem là một trong những đặc sản của tỉnh Vân Nam. Bún qua cầu vẫn giữ nguyên phong cách chế biến và nguyên liệu chính như thịt gà, thịt heo, mực, đậu phụ, nấm, hành, hẹ, bún, trứng chim cút, hành tây, rau cải, đu đủ, cà rốt cùng các gia vị như nước tương, muối, gừng, tỏi… và nhất định không thể thiếu những sợi bún tro tròn – nguyên liệu quan trọng của món ăn này.

Nhưng để làm nên một suất bún qua cầu hoàn thiện thì chắc chắn phải có thêm một bát nước dùng nóng hổi bày cùng với những chiếc đĩa xinh xinh đựng các nguyên liệu kể trên. Dù chỉ mỗi thứ một chút xíu nhưng tất cả đều được chọn kỹ càng, tươi ngon, mùa nào thức ấy và nhất là được bày biện đẹp mắt, đủ màu sắc. Hơn thế nữa, số lượng các nguyên liệu ăn kèm bún cũng không giới hạn mà tùy theo từng nhà hàng, tùy mùa mà có thể lên tới hàng chục món.

Nước dùng của bún qua cầu cũng khá độc đáo vì được nấu từ xương hầm trong thời gian rất lâu, hơn 6 tiếng để cho ra chất nước đậm đà và vị ngọt vô cùng hấp dẫn thực khách. Vì vậy mà khi ăn cùng các nguyên liệu như bún sợi to, các loại nấm, trứng, dưa leo, rau và thịt thái mỏng vẫn vô cùng thấm vị và thơm ngon, không hề bị nhạt.

Cách chế biến đã công phu thì việc thưởng thức món ăn này một cách đúng điệu lại càng khiến thực khách thích thú hơn. Trước tiên phải thả trứng vào bát nước dùng, chờ đợi một vài phút rồi lần lượt cho thịt, rau, nấm vào. Bún là nguyên liệu sau cùng được cho vào bát. Sau khi trộn đều vài lần là du khách có thể tận hưởng vị nóng hổi, ngầy ngậy, ngọt mềm, dai dai tự nhiên của nấm, rau, thịt và trứng.

Nếu có dịp du lịch Trung Quốc và ghé đến vùng đất Vân Nam xinh đẹp, du khách đừng quên thưởng thức món bún mang đậm tình nghĩa phu thê này nhé! Chắc chắn đây sẽ là một trải nghiệm ẩm thực tuyệt vời dành cho du khách.

Vén màn bí mật về tầng lớp thái giám trong lịch sử Trung Hoa cổ đại

Dưới sự thống trị của chế độ phong kiến Trung Hoa cổ đại, bên cạnh hoàng đế tồn tại có một nhóm người đặc biệt. Họ là nhóm người tiêu biểu nhất của chế độ phong kiến. Những người ấy là hoạn quan, cũng tức là thái giám.

Nguồn gốc của Hoạn quan ở Trung Quốc

Trong lịch sử Trung Quốc, hoạn quan đã có từ thời Tây Chu, đương thời gọi là tử nhân, hoặc hạng nhân, yêm doãn, nội tiểu thần. Được tuyển dụng để làm một số công việc cung đình: truyền lệnh của nhà vua đến các quan, canh gác hậu cung, quét dọn phòng ốc, liên lạc giữa nhà vua với các cung phi… Vào thời Tây Chu các nước Tề, Sở, Tần, đều có hoạn quan, và gọi bằng các tên như hình thần, ty cung. Thời Chiến Quốc nước Triệu có Hoạn giả lệnh coi về hoạn quan. Nước Tần có hoạn quan đảm nhận chức Xa phủ lệnh. Sau khi Tần thống nhất Trung nguyên, hoạn quan có người làm đến Thừa tướng, gọi là Trung thừa lệnh. Thời Tây Hán, các hoạn quan được gọi là thường thị có những hoạn quan đảm nhận các chức Hoàng môn lệnh, Dịch đình lệnh. Đến nhà Đường đổi là trung quan.

Tại các triều nhà Tùy, nhà Đường, nhà Tống đặt ra cơ cấu Nội thị tỉnh do hoạn quan đảm nhiệm, trông coi các việc nội bộ ở trong cung đình. Hoạn quan ở hai triều Đường, Tống có người trực tiếp thống lãnh quân đội. Đến đời nhà Minh, đặt ra Thập nhị giám, Tứ ty, Bát cục gọi là Nhị thập tứ nha môn, trông coi về việc phục dịch trong cung đình, mỗi cơ cấu có thái giám trông coi. Đến đời nhà Thanh có Tổng quản thái giám, người đứng đầu thái giám, trực thuộc Nội vụ phủ.

Chữ Hán, có hơn ba mươi từ ngữ dùng để chỉ hoạn quan, nên thường giải thích hoạn quan là thái giám. Nhưng kỳ thực, khái niệm về hai từ ngữ này có chỗ khác biệt. Mới đầu hoạn quan không nhất thiết phải là người bị thiến. Trong lịch sử Trung Quốc cổ xưa đã có hoạn quan. “Hoạn quan” chỉ là danh xưng chỉ chung những quan viên phục dịch, hầu hạ hoàng đế và gia tộc trong hoàng cung. Cho đến đầu đời nhà Đông Hán, khi Lưu Tú quang phục lại Hán thất, mới ban lệnh hoạn quan tất yếu phải là người đàn ông bị thiến. Trước đó, thời Hán Võ Đế, năm 99 trước Công nguyên, khi Lý Lăng thua trận đầu hàng Hung Nô, Tư Mã Thiên vì bênh vực Lý Lăng mà bị thiến và tuy là người bị thiến nhưng Tư Mã Thiên không phải là hoạn quan.

Từ ngữ “thái giám” xuất hiện sớm nhất vào đời Đường Cao Tông Lý Trị năm Long Sóc nhị niên, tức năm 662, khi đem thay đổi danh xưng “Điện trung tỉnh”, cơ cấu chuyên lo việc xa giá, y phục trong hoàng cung thành “Trung ngự phủ”, và cải “Giám thành trung ngự” thành “thái giám” và “thiếu giám”.

Đến đầu đời nhà Minh thiết lập “Nhị thập tứ nha môn”, mỗi nha môn đặt ra một thái giám giữ ấn tín phục dịch hoàng đế cùng gia thuộc, và người được giữ chức thái giám tất yếu phải là hoạn quan. Từ đấy “thái giám” thành danh xưng chuyên chỉ hoạn quan. Đến giữa thời kỳ nhà Minh, quyền thế của thái giám được mở rộng thêm ra. Thái giám có quyền làm sứ giả, trông coi quân đội, coi xét quan lại, dân tình nên trở thành lộng quyền.

Đến đời nhà Thanh, xét thấy sự chuyên hoành và tệ hại của thái giám mới đặt ra chức “Tổng quản Thái giám” làm thủ lĩnh, lệ thuộc vào “Nội vụ phủ” và giới hạn tước vị đến “tứ phẩm” để nhằm làm giảm quyền lực của thái giám.

Hệ thống thái giám chính thức cáo chung vào ngày 5/11/1924, thời điểm hoàng đế Phổ Nghi bị đuổi ra khỏi Tử Cấm Thành. Tính ra ông vua cuối cùng của Trung Quốc được sống trong nhà mình thêm 12 năm tính từ lúc cuộc cách mạng Tân Hợi lật đổ nhà Mãn Thanh năm 1912.

Nhìn chung, có 4 cách đàn ông Trung Quốc thời xưa trở thành thái giám. Một là bị gia đình ép buộc, bán cho triều đình lúc còn nhỏ; hai là nghèo đói không còn lựa chọn; ba là tự nguyện với hy vọng có cuộc sống sung sướng hơn; và bốn là các phạm nhân, thay vì chịu án tử thì đổi lại thành “thiến”.

Quá trình “tịnh thân” đầy đau đớn

Thời cổ đại, có hai nơi chuyên phẫu thuật tịnh thân cho nam giới là “Nội vụ phủ” trong cung và “Cơ sở chuyên tịnh thân” bên ngoài. Dưới triều Thanh, “Thận Hình Ti” là tên gọi để chỉ bộ phận trong cung chuyên thực hiện quá trình này.

Tịnh sư là tên gọi của những người hành nghề tịnh thân. Đây là nghề hái ra tiền bởi quá trình thực hiện vô cùng đau đớn và tỉ lệ tử vong rất cao, đòi hỏi kỹ thuật cao.

Trước khi bắt đầu, người tịnh thân và tịnh sư sẽ phải ký một bản cam kết trước sự có mặt của người làm chứng. Bản cam kết sẽ ghi rõ người tịnh thân hoàn toàn tự nguyện, bất chấp mọi rủi ro hay tử vong sau tịnh thân. Người tịnh thân cũng phải nộp một khoản phí nhất định. Đa số những người này đều xuất thân nhà nghèo nên phải xin trả dần từng năm sau khi nhập cung.

Quá trình hoạn cũng thật công phu và tỉ mỉ. Quá trình tịnh thân đòi hỏi phải chọn lựa thời tiết bởi nền y học cổ đại còn khá kém, chưa tìm ra loại thuốc sát trùng hiệu quả. Chính vì vậy, người ta thường tiến hành quá trình này vào cuối xuân đầu hạ, khi mà khí hậu ôn hòa và gần như không có ruồi muỗi.

Trước đó, người tịnh thân sẽ được nhốt vào một căn phòng kín gió, không được ăn uống gì để tránh đại tiểu tiện gây nhiễm trùng.

Giai đoạn đầu tiên của quá trình này được gọi là “yêm cát”, sử dụng “yêm đao” có lưỡi cong làm bằng vàng và đồng để tránh nhiễm trùng. Quá trình này sẽ gồm 3 người thực hiện: tịnh thân sư và 2 trợ lý. Người tịnh thân sẽ bị bịt kín mắt, trói chặt chân tay, đồng thời được giữ chặt bởi 2 người hỗ trợ tịnh sư, nhằm tránh trường hợp khổ chủ vì quá đau mà giãy giụa, khiến máu chảy không cầm được và mất mạng.

Vào đời nhà Thanh, người tịnh thân còn bị dùng gậy trúc đánh vào phần thân dưới cho mất cảm giác, đồng thời nhét trứng luộc bóc vỏ hoặc giẻ vào miệng để tránh việc đau quá mà cắn phải lưỡi.

Tiếp đến, bộ phận sinh dục của người tịnh thân sẽ được rửa và ngâm trong canh ớt. Tiếp sau đó, tịnh sư sẽ cầm tất tật mọi thứ: dương vật, bìu… gọn lỏn trong tay trái, và rồi tất cả sẽ biến mất chỉ sau một nhát dao “phực” thật ngọt. Cuối cùng, đao phủ sẽ dùng nút đúc bằng sáp trắng, ấn vào nơi trước kia là niềm tự hào của các nam nhân rồi băng bó lại.

Trong vòng 3 ngày, người tịnh thân sẽ không được ăn uống gì để tránh nhiễm trùng. Hết khoảng thời gian này sẽ tháo băng, và nếu thái giám đi tiểu bình thường được tức là đã “hoạn” thành công. Còn không, tức là đường sinh thực khí đã bị thu hẹp hay bịt kín, và người này chỉ còn nước chờ chết.

Do cơ quan sinh dục vẫn có khả năng phát triển hoặc mọc dài ra, thái giám sau khi nhập cung sẽ được kiểm tra cơ thể mỗi năm một lần. Quá trình này được gọi là kiểm tịnh. Không ít thái giám có mùi khai trên người do tịnh thân chưa chuẩn, khiến nước tiểu rỉ ra.

Sau ca mổ, ba món “bảo bối” – tức hai tinh hoàn và dương vật của tân thái giám, sẽ được trữ trong một cái bình niêm phong đặt trên kệ cao. Điều này có hai lý do quan trọng.

Thứ nhất, mỗi khi thái giám được thăng chức, anh ta phải vượt qua bài kiểm tra nghiêm ngặt, và điều này bất khả thi nếu thiếu “bảo bối”. Bài kiểm tra là cơ hội để mấy tay thầy lang kiếm chác, vì lắm khi bệnh nhân quên mất việc thu hồi “bảo bối” sau ca mổ. “Bảo bối” thậm chí có thể mượn, mua hoặc thuê bằng tiền.

Thứ hai, khi thái giám chết, anh ta mong được chôn chung với “bảo bối”. Nếu bị thất lạc, anh ta sẽ tìm mọi cách để có được cái khác. Thái giám muốn chết một cách “vẹn toàn”, vì chỉ có vậy anh ta mới đầu thai trở lại làm đàn ông ở kiếp sau.

Người Hoa cổ tin rằng Diêm Vương sẽ biến kẻ nào mất “của quý” thành con la cái. Đó là tại sao thái giám sợ mất “bảo bối” đến vậy.

Theo nghiên cứu về thái giám Trung Hoa công bố năm 1877 của học giả phương Tây G. Carter Stent, việc mất đi bộ phận sinh dục ảnh hưởng đến tính cách và khiến thái giám trông già hơn tuổi. Họ dễ bị xúc động mạnh, bao gồm nóng giận mất kiểm soát. Họ cũng sẽ không lộ yết hầu, giọng nói lảnh lót, cử chỉ động tác như đàn bà. Và họ không còn kiểm soát được bàng quang nên thường hay “đái dầm”. Người Hoa có câu “hôi như thái giám” cũng do đây mà ra.

Hoạn quan: Kẻ làm sụp đổ cả một vương triều, người tìm ra một trong tứ đại phát minh Trung Hoa

Hoạn quan vốn chỉ là quan trong nội đình, không có quyền can dự chính sự, nhưng là người hầu cận thường ngày gần nhất của hoàng đế, được hoàng đế tin dùng, nên có khả năng lộng quyền, nắm được đại quyền chính trị, thậm chí có thể phế lập hoàng đế. Dưới các triều Đông Hán, Đường, Minh đều từng xảy ra những việc hoạn quan chuyên quyền làm bậy.

Dù bị tước đi khả năng tự lập cho mình một vương triều tập quyền (không có con nối dõi), nhưng một số hoạn quan trở nên tha hóa, biến thành những con người tham lam, tàn nhẫn và gian hiểm. Trong các bộ phim cổ trang Trung Quốc, hoạn quan thường là những vai phản diện. Rất nhiều gian thần hoạn quan có thể tìm thấy trong lịch sử Trung Quốc.

Sự sụp đổ của triều Tần (221-206 TCN) dưới tay hoạn quan Triệu Cao là một ví dụ. Theo như sử sách chép lại, Triệu Cao xuất thân trong một gia đình quý tộc tông thất nhà Triệu (một trong số 7 nước thời Chiến Quốc). Vì cha mẹ của Triệu Cao phạm pháp, ông cùng với huynh đệ của mình mắc tội liên đới và bị xử cung hình. Triệu Cao vốn giỏi về hình luật và pháp lệnh nên được Tần Thủy Hoàng thu nạp về dưới trướng rồi phong cho chức “Trung xa phủ lệnh”. Dần dần, Triệu Cao trở thành một trong những cận thần thân tín của hoàng đế. Sau khi Tần Thủy Hoàng băng hà, Triệu Cao và Thừa tướng Lý Tư đã tiến hành một cuộc chính biến, bức hại thái tử Phù Tô cùng hai tướng quân thân cận của Phù Tô là Mông Điềm và Mông Nghị. Sau đó, Triệu Cao đưa con thứ của Tần Thủy Hoàng là Hồ Hợi lên ngôi làm một hoàng đế bù nhìn, tức Tần Nhị Thế.

Chỉ 3 năm sau, một cuộc bạo loạn lớn nổ ra. Triệu Cao nhiều lần giấu nhẹm tin bại trận, không cho Tần Nhị Thế Hồ Hợi biết rõ binh tình. Sau này, khi Lưu Bang và Hạng Vũ hai mặt tiến đánh vào Quan Trung, vì sợ tội, Triệu Cao đã bức Tần Nhị Thế phải tự sát.

Nhị Thế chết rồi, Triệu Cao lại lập Tử Anh lên làm hoàng đế mới. Tử Anh biết rõ mình chỉ là con rối trong tay Triệu Cao và sẽ sớm bị phế bỏ một khi không còn giá trị lợi dụng. Tử Anh lập mưu giết chết Triệu Cao. Nhưng các cuộc nổi dậy đã không còn có thể dập tắt được nữa. Tử Anh đầu hàng Lưu Bang, người mở cơ nghiệp cho triều Hán sau này. Chỉ 3 năm sau ngày Tần Thủy Hoàng băng hà, dưới tay Triệu Cao, cơ nghiệp nhà Tần đã mau chóng sụp đổ.

Dù trong lịch sử, hoạn quan nổi tiếng quỷ quyệt tuy nhiên không phải tất cả đều xấu xa, một số thậm chí còn đóng góp rất lớn cho văn hóa Trung nguyên. Giấy, một trong bốn phát minh vĩ đại của con người do thái giám Thái Luân dưới thời Đông Hán làm ra. Ngoài ra, Trịnh Hòa, một vị thái giám phục vụ dưới thời vua Minh Thành Tổ, đã chỉ huy các đoàn tàu thương lái di chuyển đến các khu vực như Đông Nam Á, Ấn Độ, Ả Rập, Ba Tư và Đông Phi, sớm kết nối thương mại Trung Quốc với các khu vực này.

Các thái giám còn đóng góp cho âm nhạc. Các thái giám thời nhà Minh còn được công nhận là những người Trung Quốc đầu tiên chơi nhạc cổ điển phương Tây. Hoàng đế Càn Long thời nhà Thanh còn lập một dàn nhạc thính phòng bao gồm các hoạ sĩ mặc âu phục và đội tóc giả.

Nhan nhản chuyện thái giám “làm bậy”

Theo lẽ thường, sau khi bị thiến, khả năng sinh dục của những người này bị cắt đứt, buộc họ phải dứt bỏ những hành vi gắn với dục vọng. Vậy nhưng, lịch sử Trung Hoa vẫn ghi nhận không ít trường hợp các thái giám “không an phận” mà làm nên những chuyện đồi bại, biến thái.

Vào những năm Gia Tĩnh, Minh triều từng xảy ra vụ việc hoạn quan Lưu Quang Vinh có hành vi tư thông với nhiều cung nữ. Sau khi sự tình bại lộ, thái giám họ Lưu này bị Hoàng đế thẳng tay bãi quan.

Khi Minh Hi Tông còn tại vị, ba kẻ hoạn quan là Ngụy Trung Hiền, Triệu Tiến Kinh, Từ Ứng Nguyên từng thông đồng với nhau gây nên nhiều hành vi đồi bại trong cung đình. Thậm chí, Ngụy Trung Hiền cùng một thái giám khác là Ngụy Triệu Đồng còn tư thông với nhũ mẫu của Hoàng đế, gây ra tai tiếng khuấy đảo chốn cung đình lúc bấy giờ. Chưa dừng lại ở đó, những kẻ hoạn quan không an phận này còn gây ra chuyện tày trời khiến bàn dân thiên hạ “giận sôi máu”. Đó chính là hành vi cưỡng hiếp phụ nữ.

Theo các tài liệu lịch sử ghi chép, vào cuối những năm Hồng Vũ, vị quan tên là Thạch Doãn nhận nhiệm vụ tuần tra tại Hà Nam. Có lần, Thạch Doãn cải trang thành thường dân đi vi hành. Tới một ngôi nhà, ông nghe thấy tiếng khóc bi ai vọng ra. Sau khi điều tra, Thạch Doãn mới biết rằng con gái nhà ấy bị một hoạn quan cưỡng gian, vì nhục nhã nên đã tự sát. Biết rõ chân tướng vụ việc, vị quan họ Thạch ấy dâng tấu lên nhà vua. Đọc được tấu chương này, Hoàng đế Chu Nguyên Chương vô cùng tức giận, đã hạ lệnh phán tội chết cho tên hoạn quan kia.

Vào năm Cảnh Thái nguyên niên (1450), Đại đồng Hữu Tham tướng Hứa Quý dâng tấu lên nhà vua, tố cáo Thái giám phụ trách việc giám quân là Vi Lực Chuyển cậy thế cưỡng gian thê tử của một vị quan quân. Vì người thiếu phụ này phản kháng, Vi Lực Chuyển đã “giận cá chém thớt”, kiếm cớ trách phạt và đẩy vị quan quân kia vào chỗ chết. Lúc ấy, Minh Đại Tông Chu Kỳ Ngọc tra hỏi Tuần án Ngự sử thì quả nhiên thấy có chuyện như vậy. Thậm chí, hoạn quan họ Vi này còn không từ thủ đoạn với cả người thân trong nhà. Sinh thời, Lực Chuyển có nhận một người con trai nuôi. Nhưng vì vừa mắt với thê tử của con mình, Vi Lực Chuyển đã làm chuyện đồi bại, thậm chí còn thẳng tay hại chết con nuôi để chiếm đoạt con dâu sau khi sự việc bị bại lộ. Năm Thuận Thiên nguyên niên, Công bộ Hữu Thị Lang Hoắc Tuyên Hiệu lại dâng tấu hạch tội Vi Lực Chuyển. Tấu chương vạch rõ: Hoạn quan họ Vi này mỗi khi tổ chức yến tiệc đều tìm kỹ nữ đến bồi rượu, vui thú, sau đó còn nhiều lần ép các quan quân phải gả con gái cho mình. Minh Anh Tông nghe xong liền vô cùng tức giận, lập tức sai người bắt Vi Lực Chuyển trừng trị theo pháp luật.

Những sự việc trên hẳn sẽ khiến nhiều người không khỏi thắc mắc, thái giám là những kẻ đã mất đi khả năng quan hệ nam nữ, sao có thể phạm tội cưỡng gian?

Đi sâu vào quá trình “tịnh thân” của các thái giám, ta có thể thấy rõ, vào thời cổ đại, trong cung có hai cách để thiến các nam tử. Cách thứ nhất là cắt bỏ toàn bộ dương vật. Cách thứ hai là cắt bỏ hoặc bóp nát tinh hoàn. Trong số đó, việc loại bỏ tinh hoàn được sử dụng phổ biến hơn cả. Khi cơ quan này bị “vô hiệu hóa”, đàn ông sẽ mất đi khả năng phát dục, dương vật cũng không thể cương, năng lực tình dục cũng vì vậy mà “tiêu biến”.

Vậy nhưng, các thái giám vẫn sử dụng “ngọc hành” (dương vật) đã trở nên vô dụng để “đùa bỡn” phụ nữ. Tuy nhiên, việc sở hữu cơ quan sinh dục bị khiếm khuyết khiến quan hệ nam nữ của các hoạn quan không thể diễn ra theo phương pháp thông thường.

Sự thỏa mãn về mặt sinh lý của họ cũng chỉ có thể dừng lại ở mức độ đụng chạm thân thể hoặc dùng các dụng cụ khác để “vũ nhục” đối phương. Chưa dừng lại ở đó, có một số thái giám còn sở hữu khả năng “hồi xuân”. Vì nhiều lý do khác nhau, một vài hoạn quan được nhân nhượng bằng cách thiến “hông triệt để”, hoặc sử dụng thủ thuật khiến dương vật tạm thời teo lại để che mắt người ngoài. Đối với các trường hợp hi hữu này, chức năng của dương vật rất có khả năng khôi phục trở lại, nhu cầu về mặt sinh lý cũng theo đó mà phát sinh.

Theo một số nguồn sử liệu Trung Hoa, những sự việc như vậy quả thực đã từng được ghi nhận. Cuốn “Tảo lâm tạp trở” thời nhà Minh khẳng định thái giám Ngụy Trung Hiền sở hữu khả năng khiến “ngọc hành sống lại”. Đến thời nhà Thanh, hoạn quan Tiểu Đức Trương được miêu tả là người “có hứng thú đặc biệt với phụ nữ”, thậm chí còn cưới tới mấy người vợ.

Ngay cả khi có khả năng “hồi xuân”, nhưng hầu hết các thái giám đều mang tâm lý méo mó, biến thái do nhu cầu sinh lý bị đè nén, lại thêm ánh mắt kỳ thị từ phía dư luận. Cũng bởi vậy mà những hành vi vũ nhục, cưỡng gian của những kẻ không an phận này đều hết sức đáng sợ, tàn nhẫn.

Hoạn quan lấy vợ là chuyện không hiếm

Căn cứ theo ghi chép của nhà sử học, Đông Hán, Đường và Minh là ba thời kỳ chịu ảnh hưởng lớn nhất của hoạn quan. Trong số đó, căn theo ghi chép trong sách sử, ngay từ thời Hán Thành Đế, việc hoạn quan lấy vợ đã rất phổ biến.

Đến thời Hán Hoàn Đế, những hoạn quan như Đan Siêu, Đường Hoành, Từ Hoàng được phong làm Ngũ hầu, họ cũng công khai lấy vợ. Từ đó có thể thấy, vào thời nhà Hán, việc hoạn quan lấy vợ đã vô cùng phổ biến.

Vào thời nhà Đường, hoạn quan càng gây hại, không những sống xa hoa lãng phí, còn chọn dùng người thân của mình vào việc công.

Ở giai đoạn sau ở nhà Đường, bởi hoàng đế quá mức ngu dốt, bỏ bê triều chính, khiến hoạn quan nắm được quyền thế, vậy nên hoạn quan không những ngang nhiên lấy vợ, còn cố tình nâng đỡ nhà vợ.

Vào thời Đường Huyền Tông, hiện tượng này khá rõ ràng. Khi ấy, hoạn quan Cao Lực Sĩ rất được hoàng đế sủng ái. Sau khi lấy con gái một quan nhỏ phụ trách văn thư tên là Lã Huyền Ngộ, Cao Lực Sĩ bắt đầu cất nhắc cha vợ mình một cách trắng trợn, đề bạt ông ta làm Thiếu khanh. Khi mẹ vợ của Cao Lực Sĩ qua đời, lễ tang cũng muôn phần long trọng. Các quan lớn trong triều ào ào đích thân tới chia buồn, cảnh tượng hết sức rầm rộ, từ đó có thể thấy được địa vị của hoạn quan vào thời nhà Đường cao tới mức nào.

Mãi cho tới thời nhà Tống, hiện tượng hoạn quan lấy vợ mới giảm thiểu rõ ràng, bởi vì vào thời nhà Tống, hoàng đế đã rút ra bài học kinh nghiệm từ việc hoạn quan gây hại trong giai đoạn cuối nhà Đường, cho nên đã tăng cường quản lý đối với hoạn quan, mặc dù vẫn có một số hoạn quan lấy vợ, thế nhưng số lượng rất ít, gần như không có ghi chép trong sử sách.

Thế nhưng, thời nhà Minh, tình trạng hoạn quan lộng quyền diễn ra vô cùng nghiêm trọng, vì thế hoạn quan lấy vợ đã là chuyện thường tình. Vào giai đoạn đầu của nhà Minh, Minh Thái Tổ có quy định rõ ràng rằng hoạn quan không được lấy vợ, nếu như có người vi phạm, sẽ phải chịu hình phạt lột da. Tới thời Minh Thành Tổ, bởi vua hết sức sủng ái hoạn quan, cho nên những quy định này cũng dần bị coi nhẹ. Căn cứ theo ghi chép, giai đoạn này đã có rất nhiều hoạn quan lấy vợ, có trường hợp Hoàng đế ban thưởng cho hoạn quan, cũng có trường hợp là do cung nữ và hoạn quan cùng sống trong hoàng cung lâu ngày nên nảy sinh tình cảm, đa số những cung nữ này sau khi được xuất cung cũng đều gả cho những thái giám ấy.

Ở Trung Quốc có cụm từ “đối thực” dùng để chỉ chuyện vợ chồng giữa cung nữ và thám giám (ban đầu dùng để mô tả hành vi đồng tính luyến ái nữ giữa các cung nữ).

Tới thời nhà Thanh, vào giai đoạn đầu, bởi quy định vô cùng nghiêm khắc, thế nên chuyện hoạn quan lấy vợ rất hiếm thấy, nhưng tới giai đoạn giữa và sau đã xuất hiện rất nhiều hoạn quan lấy vợ nuôi con.

Theo lời kể của một thái giám tên Tôn Diệu Đình, ông nói rằng ở trong hoàng cung (thời nhà Thanh), gần như mỗi một thái giám đều sẽ có nhân tình, ai không có nhân tình sẽ bị chê cười.

Từ đó có thể thấy, vào giai đoạn cuối của nhà Thanh, chuyện thái giám lấy vợ cũng hết sức phổ biến.

Cả đời tận tuỵ hầu hạ chủ nhân, lúc nghỉ hưu chật vật tìm chốn dung thân

Thời phong kiến ở Trung Quốc, việc trở thành thái giám được coi là điều xấu hổ, có lỗi với tổ tiên, và gia đình thường không muốn chấp nhận họ. Bởi vậy khi qua đời, họ cũng không được chôn cất trong phần mộ của tổ tiên.

Đối với những thái giám có tên tuổi như Lý Liên Anh (thái giám triều đại nhà Thanh thế kỷ XIX, là người thân cận và tâm phúc của Từ Hi Thái hậu) sẽ không phải đau đầu vì việc dưỡng già. Bởi họ có nhiều cơ hội kiếm được tiền, xây vương phủ tráng lệ như một cung điện cho riêng mình ở Bắc Kinh, sống một cuộc sống xa hoa, ăn chơi sa đọa.

Nhưng những nhân vật như vậy không có nhiều, phần lớn thái giám sẽ gặp khó khăn trong việc dưỡng lão khi về già. Sau khi “nghỉ hưu” thường thì họ sẽ chọn ở chùa, bởi chỉ có ở nơi đó họ mới được chấp nhận.

Các thái giám sau khi rời cung cũng thành lập một tổ chức tương trợ, gọi là “Hiệp hội dưỡng lão”, có thể coi là một nhóm dành cho các thái giám cao tuổi. Họ thiết lập mối quan hệ thân thiết với nhà chùa bằng cách quyên góp tiền bạc, để có cơ hội có chốn dung thân sau khi nghỉ hưu. Ngoài ra, Hiệp hội dưỡng lão còn đầu tư mua đất, xây dựng đình chùa làm nơi trú ngụ cho các thái giám, gọi là “miếu thái giám”. Theo thống kê, vào cuối triều đại nhà Thanh, có 26 ngôi miếu thái giám trong và ngoài thành phố Bắc Kinh.

Các hoạn quan thời nhà Thanh khi còn trẻ đã phải chuẩn bị cho việc dưỡng lão. Đầu tiên, họ cần tích lũy tài sản, sau đó đi quyên góp cho Hiệp hội dưỡng lão thì mới có đủ tư cách tham gia hiệp hội này, và khi về già có thể yên tâm rời khỏi chốn cung đình. Chẳng hạn như Thôi Ngọc Quý, đại thái giám thân cận của Từ Hi Thái hậu đã hiến 680 mẫu đất. Sau khi nghỉ hưu vào năm 1908, ông sống trong đền và mất tại đó.

Ngoài ra, những thái giám nghèo không tiết kiệm được tiền bạc thì chỉ có thể sống lang thang, ăn xin sống tạm bợ qua ngày cho đến khi chết vì đói.

Bên cạnh đó, thái giám nên đến chùa khi còn trẻ để bái kiến các nhà sư, đạo sĩ làm thầy, quyên góp tiền tu sửa chùa, để sau khi rời cung có thể chuyển về đó. Tiêu biểu nhất trong việc trên là thái giám Lưu Đa Sinh (thái giám thân cận của Hàm Phong Đế). Thái giám Lưu Đa Sinh về sau quyên góp để sửa chữa và xây dựng 20 ngôi đền cho thái giám, đồng thời còn mua hơn 2.600 mẫu đất.

Thời phong kiến, thái giám là những người tuy phục vụ trong cung mấy chục năm nhưng về già lại không được coi trọng. Do đó, thời trẻ họ phải tích lũy tài sản, mua nhà tậu đất, thăm nom sư thầy để có chốn nương thân khi nghỉ hưu.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất kỳ khách du lịch nước ngoài nào. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn thì hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc nhé!

Trứng trà – món ăn với hương vị tuy lạ nhưng đặc sắc có một không hai

Nói đến các món trứng nổi tiếng của Trung Quốc thì hầu như ai cũng nghe nhắc về trứng bắc thảo hoặc trứng vịt muối, nhưng có lẽ ít người biết rằng, nền ẩm thực Trung Hoa còn có món “trứng trà” cực kỳ độc đáo. Đây là món trứng gà kho với nước trà, cho hương vị tuy lạ nhưng đặc sắc có một không hai.

Ở Trung Quốc, món trứng trà rất phổ biến và được người dân ăn quanh năm. Du khách có thể tìm thấy món ăn độc đáo này từ những gánh hàng rong, trong những cửa hàng tiện lợi hoặc ở nhiều nhà hàng truyền thống khác.

Món trứng trà rất dễ làm, có thể sẽ là một điểm nhấn khác biệt cho bữa ăn của du khách thay thế cho món trứng luộc thông thường. Khác với cách luộc trứng thông thường, trứng được luộc trong nước trà cùng các loại thảo mộc sẽ giúp món ăn ngon hơn, tốt cho sức khỏe.

Để làm được món trứng trà, khâu đầu tiên chuẩn bị trứng (thường là trứng gà). Trứng gà được luộc trong nước đang đun sôi. Tùy theo khẩu vị thích ăn lòng đỏ chín đều hay chỉ lòng đào mà thời gian đun sẽ nhiều hay ít. Tuy nhiên, nếu đun kỹ quá sẽ khiến món trứng trà làm ra có vị không ngon như ý.

Sau khi trứng vừa chín, người ta sẽ dùng một chiếc thìa kim loại gõ nhẹ nhàng trên bề mặt vỏ trứng để cho vỏ trứng nứt ra, nhưng không bóc bỏ lớp vỏ này để tiếp tục kho với nước trà. Phần nước trà thì có thể dùng bất kỳ loại trà nào để làm món này nhưng nếu dùng trà đen Phúc Kiến hoặc trà Ô Long thượng hạng sẽ cho món ăn có hương vị đặc biệt hơn. Hỗn hợp gia vị ngâm cùng trà gồm có hoa hồi, đinh hương, hạt tiêu, thìa lá, quế… nêm nếm đường và muối cho vừa ăn. Trứng được kho cùng hỗn hợp thảo dược trên trong vòng 1 tiếng, sau đó ủ tiếp 5 giờ đến khi phần nước trà có màu đen nhánh, là lúc hương vị được thấm đều vào trứng thì mới vớt ra.

Khi trứng được bóc bỏ, thực khách thưởng thức nó không chỉ được cảm nhận ở hương vị đậm đà và thơm phức mùi thảo dược mà còn bởi các vân màu đẹp mắt trên quả trứng. Khi bóc vỏ trứng, để lộ lớp lòng trắng mịn màng, thực khách sẽ thấy những đường vân màu hạt dẻ phủ khắp mặt trứng. Nó trông như những viên ngọc cẩm thạch.

Vào trong những ngày hè nóng bức, người dân Trung Quốc thưởng thức món ăn này kèm với nước đá. Tuy nhiên, trứng trà phải được ăn nóng mới đảm bảo được vị thơm ngon. 

Ở Trung Quốc, người ta dùng trứng ngâm trà như một món ăn nhẹ, đôi khi họ cũng dùng với cơm trắng, cơm chiên, cháo hoặc với thịt kho. Nó luôn mang lại dư vị tuyệt vời, khó quên cho những ai lần đầu tiên nếm thử.

Trứng trà dường như đã trở thành một nét đẹp trong văn hoá của người Trung Quốc. Không chỉ đậm đà hương vị phương Đông, món trứng trà còn cho thấy một sự sáng tạo tài tình trong ẩm thực mà người Hoa đã dành tặng cho thế giới. Vì vậy, sẽ thật hối tiếc nếu du khách bỏ qua món ăn độc đáo này trong hành trình du lịch Trung Quốc.