Lễ hội cháo cầu may Laba ở Bắc Kinh, Trung Quốc

Trung Quốc là một quốc gia có nền văn hóa và lịch sử đa dạng. Nổi tiếng với bề dày lịch sử của các triều đại cùng nền văn hóa lâu đời và được biết đến như chiếc nôi của văn hóa phương Đông. Trung Quốc có các lễ hội vô cùng đặc sắc không thể bỏ qua nếu du khách có dịp đặt chân tới, chẳng hạn như Lễ hội cháo Laba ở Bắc Kinh.

Hàng năm, cứ vào ngày thứ tám của tháng thứ 12 theo lịch âm Trung Quốc là ngày hội cháo cầu may Laba được tổ chức tại chùa Yonghegong Lama ở thủ đô Bắc Kinh. Từ “La” theo tiếng Trung Quốc có nghĩa là “tháng âm lịch cuối cùng” và “Ba” có nghĩa là “tám”. Đó là lễ hội khởi đầu cho các hoạt động đón chào Tết âm lịch của người Trung Hoa.

Vào đúng 8h30, nồi cháo Laba nghi ngút khói với hương thơm nồng nàn được các vị lạt ma của ngôi chùa Yonghegong Lama bưng ra và làm lễ phát cháo như thường niên. Rất nhiều người dân đến đây xếp hàng để ăn cháo với tin rằng Cháo Laba có thể mang lại cho mọi người của cải và sự bội thu trong năm tới. Và nó cũng rất dinh dưỡng.

Cháo Laba thường được nấu với 30 loại nguyên liệu, trong đó gạo, đậu đỏ, quả hạch và hoa quả khô là các nguyên liệu chủ yếu. Sự phong phú về nguyên liệu trong một món ăn cộng với công thức nấu gia truyền, sự tinh tế trong cách phối hợp các nguyên liệu âm dương phổ biến trong món ăn đã làm cho món cháo Laba trở nên đặc biệt và thơm ngon hơn hẳn.

Những người dân thủ đô Bắc Kinh trong chờ lễ hội đến để có thể thưởng thức bát cháo Laba chứa đầy hi vọng. Còn đối với những vị khách du lịch quốc tế, việc được hòa vào dòng người đón nhận bát cháo Laba trong lễ hội đặc biệt này thì quả là điều thích thú. Chính vì lý do đó nên lễ hội cháo Laba hiện nay được nhiều người đón nhận và tham gia.

Tương truyền, nguồn gốc lễ hội cháo Laba xuất phát từ Ấn Độ: Trên đường Thích Ca Mâu Ni đi tìm đường giác ngộ, ông đói và kiệt sức nên đã nằm lại bên một con sông. Một cô gái chăn cừu tìm thấy và đã chia sẻ với ông bữa trưa của mình – bát cháo được nấu bằng gạo và đậu. Sau đó, Thích Ca Mâu Ni đã có thể tiếp tục cuộc hành trình và đạt tới sự giác ngộ, trở thành Đức Phật trong ngày thứ tám của tháng âm lịch cuối cùng. Từ đó, các nhà sư và lạt ma luôn chuẩn bị cháo gạo vào đêm hôm trước trước và tổ chức lễ hội vào ngày hôm sau.

Nếu du khách có dịp đến Bắc Kinh trong chuyến du lịch Trung Quốc trong những ngày cuối năm thì đừng bỏ qua cơ hội tham gia lễ hội cháo Laba nhé! Chắc chắn đây sẽ là một trải nghiệm thú vị mà du khách khó lòng quên được.

Mì Dan Dan – món ăn đặc trưng của ẩm thực Tứ Xuyên, Trung Quốc

Tứ Xuyên nổi tiếng với nền ẩm thực độc đáo sử dụng các loại ớt khác nhau kết hợp hài hòa cùng những nguyên liệu để tạo nên vị cay nồng trứ danh. Và khi nhắc đến ẩm thực Tứ Xuyên là phải nhắc đến ngay món mì Dan Dan – một trong mười món mì nổi tiếng nhất Trung Quốc.

Mì Dan Dan là một trong những món ăn nức tiếng nhất của Tứ Xuyên. Mì Dan Dan được ra đời từ năm 1841, do một người bán hàng rong có tên là Trần Bảo Bảo sáng tạo nên. Từ “Dan Dan” vốn để chỉ đòn gánh của những gánh hàng rong, chính vì vậy, món ăn này còn được gọi là “mì gánh”. Mì Dan Dan của Trần Bảo Bảo đã nhanh chóng trở nên nổi tiếng và những người khác cũng học theo để bán gánh hàng rong khắp vùng Tứ Xuyên, Thành Đô. Ngày nay, dù phần lớn mì Dan Dan được phục vụ trong nhà hàng, thì lẩn khuất trong những khu chợ nhỏ tại Tứ Xuyên vẫn tồn tại một vài gánh hàng mì mang đậm nét và hương vị của thời xưa cũ.

Món mì dân dã này được chế biến từ những nguyên liệu đơn giản bao gồm: mì trứng, thịt xay, tỏi tươi, rau mùi, đậu phộng rang cùng loại sốt “cay toát mồ hôi lưỡi” đặc trưng. Đầu tiên, phần sốt thịt sẽ được cho xuống cuối bát, tiếp đến là phần mì trứng tươi đã được chần nóng, và cuối cùng là nêm nếm gia vị, rắc hành lá, mùi và đậu phộng rang lên trên bề mặt. Khi ăn, thực khách sẽ dùng đũa để trộn món mì lên và thưởng thức.

Để tạo nên hương vị độc đáo cho món mì Dan Dan thì nhất định phải có hạt cải muối (Yacai) và ớt chưng chuẩn Tứ Xuyên. Hạt cải muối là một trong những loại thực phẩm phổ biến nhất Tứ Xuyên, những hộ gia đình thường muối cả hũ to để ăn dần quanh năm. Ớt chưng Tứ Xuyên cũng là loại gia vị được làm khá cầu kỳ từ nhiều loại gia vị khác nhau như: ớt, lá nguyệt quế, hồi, thảo quả, nhục đậu khấu, đinh hương… Ớt chưng Tứ Xuyên có hương vị khá phức tạp và chúng chính là bí quyết để đem đến vị cay tê và tạo nên mùi thơm đặc trưng cho mọi món ăn ở vùng đất này.

Món mì Dan Dan với những sợi mì mỏng, nước dùng ăn vào có vị mặn vừa, cay nhẹ, hương thơm nức mũi, dễ ăn. Nước mì có màu đỏ bóng, có thêm rau xanh, mùi tương dầu đậm đà, vị chua cay tê tê đầu lưỡi, thơm không ngấy, cay nhưng không quá khô. Thịt ở đây phải là thịt xay hoặc băm nhuyễn, xào lên cùng các hương liệu phối hợp cho thơm. Một bát mì Dan Dan cơ bản là phải có mì cán sợi mỏng, nước dùng đặc trưng, thịt băm xào thơm, vài cọng rau xanh (thường sẽ là cải thìa) và hành lá cùng tỏi băm nhuyễn. Đặc trưng của món mì Dan Dan là không quá nhiều nước dùng mà chỉ có phần nước sốt cay chan gần xâm xấp mặt mì.

Người mới ăn món mì Dan Dan sẽ cảm thấy hơi hăng mùi tỏi thậm chí sốc vì sự khô nóng của dầu cay, nhưng khi đã ăn được rồi thì sẽ ghiền luôn món mì này nhờ hương vị độc đáo, hòa quyện giữa các nguyên liệu và gia vị.

Nếu có dịp đến Tứ Xuyên trong hành trình du lịch Trung Quốc, đừng chần chừ mà hãy thưởng thức tinh hoa ẩm thực cay nồng tại thành phố này nhé!

Cuộc đời thật của Thục Gia Hoàng Quý phi trong lịch sử Thanh triều

Trong Hậu cung Trung Hoa xưa, không hiếm thấy sự xuất hiện của các phi tần ngoại quốc. Những vị phi tần ấy vốn dĩ chỉ là “vật hi sinh” cho các cuộc hôn nhân chính trị, và đa phần đều chết thảm do không có thủ đoạn bằng các phi tần chính quốc. Tuy nhiên, với Thục Gia Hoàng Quý phi – vị phi tần duy nhất có nguồn gốc Triều Tiên của Càn Long Đế là một ngoại lệ đặc biệt.

Thục Gia Hoàng Quý phi có xuất thân Triều Tiên, nhưng làm phi tần của Thanh Cao Tông Càn Long Đế không phải vì mục đích chính trị. Chưa kể bà đã trụ vững trong chốn thâm cung, từng bước đi lên từ vị trí Quý Nhân cho đến Hoàng Quý phi và hạ sinh cho Càn Long Đế tới 4 Hoàng tử, mang về cho gia tộc không ít vinh hiển.

Thục Gia Hoàng Quý phi Kim Giai thị, nguyên là Kim thị, sinh vào ngày 25/7 (âm lịch) năm Khang Hi thứ 52, xuất thân Chính Hoàng kỳ Bao y, là hậu duệ một gia tộc người Triều Tiên, nguyên gốc hiện ở Nghĩa Châu.

Sau sự kiện Đinh Mão chi dịch xảy ra năm 1617, tổ tiên bà đến cậy nhờ Hậu Kim, sinh sống ở vùng Đông Bắc, do vậy về căn bản Kim thị là một Mãn Châu nữ tử gần như thuần chủng. Nhà Thanh thiết lập Cao Ly Tá lĩnh, là xếp dòng dõi của bà vào hệ này, cũng xem là trở thành chân chính Mãn Châu sĩ phu. Căn cứ “Mãn Châu Bát Kỳ thị tộc thông phổ ” ghi lại, Cao Ly Tá lĩnh, là Tá lĩnh độc nhất ở Nội vụ Phủ, đều lệ thuộc Chính Hoàng kỳ Bao y đệ Tứ Tham lĩnh, sở hữu 43 dòng họ khác nhau, trong đó Kim thị và Hàn thị là 2 họ hiển hách nhất. Hai gia tộc đều lấy quân công lập nghiệp, cũng hoạch phong thế chức, do vậy Mãn Châu quý tộc đối với họ rất ưu ái cùng coi trọng, trở thành sĩ tộc có ảnh hưởng trong xã hội.

Theo “Bát Kỳ thông chí” cuốn 4, Kỳ phân chí ghi lại: năm đầu Thiên Thông (1627), tằng tổ phụ của Thục Gia Hoàng quý phi Tam Đạt Lễ, khi đó tùy trưởng huynh Tân Đạt Lễ quy phụ Hậu Kim, lấy làm quan phiên dịch. Đương Hoàng Thái Cực quy mô dụng binh Triều Tiên bán đảo, do vậy cho quy phục Chính Hoàng kỳ Bao y, nhậm Cao Ly Tá lĩnh, Tân Đạt Lễ nhậm Cao Ly đệ Nhị Tá lĩnh, kiêm Nội vụ Phủ Tam kỳ Hỏa doanh Tổng quản sự. Tổ phụ Thượng Minh không rõ sự tích. Cha của Kim thị là Thượng Tứ Viện Khanh Kim Tam Bảo, từng là Tuần thị Trường lô diêm chính, sau thăng Võ Bị viện Khanh, kiêm nhậm Công trung Tá lĩnh, nhậm Đệ Tam Tá lĩnh kiêm Đệ Tứ Tá lĩnh. Anh trai trưởng Kim Đỉnh từng nhậm Lam Linh Thị vệ, thứ huynh Kim Huy từng nhậm Mãn Tả Thị lang của bộ Binh, anh út là tương lai Lễ bộ Thượng thư Kim Giản.

Do là Bao y thuộc Nội vụ phủ, Kim thị sẽ thông qua Nội vụ phủ tuyển tú nhập cung làm cung nữ, và thông qua đó có lẽ Kim thị đã hầu hạ Hoàng tứ tử Hoằng Lịch, nhận danh phận làm Cách cách và sống trong Tiềm Để cùng ông. Đến khi Hoằng Lịch đăng cơ Hoàng đế, bà chính thức được sắc phong vị trí Quý Nhân. Tới đây, con đường hoạn lộ của bà mới chính thức khai hoa nở nhụy.

Mùa xuân năm Càn Long thứ 2 (1737), Kim Quý Nhân được Càn Long đế sắc phong thành Tần. Khi định huy hiệu, Nội vụ phủ soạn ra 4 huy hiệu lần lượt là “Lệnh”, “Uyển”, “Gia” và “Túy”, sau cùng định chọn “Gia tần”. Theo Hồng xưng thông dụng của Nội vụ phủ, chữ “Gia” có Mãn văn là “Gitulkhan”, có nghĩa là “đáng khen”. Ngày 4/12 (âm lịch) cùng năm đó, lấy Lễ bộ Thượng thư Nhậm Lan Chi làm Chính sứ, Nội Các Học sĩ Ngô Gia Kỳ  làm Phó sứ, tiến hành lễ sách phong.

Năm Càn Long thứ 4 (1739), ngày 14/1 (tức ngày 21 tháng 2 dương lịch), bà hạ sinh Hoàng tứ tử Vĩnh Thành, là vị hoàng tử đầu tiên của Càn Long Đế sau khi đăng cơ.

Năm thứ 6 (1741), ngày 13/2, chỉ dụ tấn lên Phi. Cùng năm tháng 11, lấy Lễ bộ Thượng thư Tam Thái làm Chính sứ, Lễ bộ Thị lang Mãn Sắc làm Phó sứ, hành sắc phong lễ. Năm Càn Long thứ 11 (1746), ngày 15/10, bà lại sinh hạ Hoàng bát tử Vĩnh Tuyền.

Năm Càn Long thứ 13 (1748), ngày 1/7 (âm lịch), Nhàn Quý phi Na Lạp thị được lập làm Nhiếp lục cung sự Hoàng Quý phi, lễ nghi đều như sách lập Hoàng hậu. Do đại lễ long trọng này, Càn Long Đế cũng đại phong hậu cung, dụ tấn Gia phi Kim thị thành Quý phi. Cùng năm, ngày 9/7, Gia Quý Phi phúc khí tràn đầy, lại sinh thêm một Hoàng tử, đáng tiếc Hoàng tử này yểu mệnh nên chưa được 1 tuổi đã hoăng thệ.

Cứ tưởng con đường sinh nở của bà tới đây là dừng lại và bà đã an phận ở vị trí Gia Quý phi, nhưng không, năm Càn Long thứ 17 (1751), ngày 7/2, bà tiếp tục hạ sinh Hoàng thập nhất tử Vĩnh Tinh.

Cũng chính vì do liên tục sinh nở nên sức khỏe của Gia Quý Phi đã sớm cạn kiệt. Bà đã lâm trọng bệnh và qua đời vào ngày 15/11, ở tuổi 42. Bà được đích thân Sùng Khánh Hoàng Thái hậu truy phong thành Thục Gia Hoàng Quý phi, đồng thời cũng là 1 trong 5 hậu phi duy nhất được an táng ở Dụ lăng phi viên tẩm cùng Càn Long Đế, bên cạnh Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu, Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu, Tuệ Hiền Hoàng Quý phi và Triết Mẫn Hoàng Quý phi. Thần bài của bà được đặt ở Tây Noãn các trong Long Ân điện, phía Tây bài vị của Tuệ Hiền Hoàng quý phi (ở giữa Noãn các), và phía Đông, cũng là đối diện chính là bài vị của Triết Mẫn Hoàng Quý phi.

Đáng lưu ý là dù đã qua đời, nhưng những ân sủng của bậc Thiên tử dành cho bà vẫn còn tiếp tục. Chẳng hạn như việc Hoàng đế Gia Khánh (kế vị Càn Long đế) đã hạ lệnh gia tộc Kim Thị của Thục Gia Hoàng Quý phi được đổi thành Kim Giai Thị và nhập vào Mãn Châu Chính Hoàng kỳ. Đến năm Gia Khánh thứ 23, hoàng đế truyền chỉ chính thức sửa tên Kim Thị thành Kim Giai thị trong ngọc điệp hoàng gia, biểu thị ân sủng thâm hậu đối với gia tộc của bà. Từ đây gia tộc trở nên hưng thịnh, Kim Giản lần lượt nhậm Tương Hoàng kỳ Hán quân Đô thống, rồi Lại bộ Thượng thư. Con là Ôn Bố, sơ thụ Bái đường a, Lam Linh Thị vệ, Tổng binh trấn Thái Ninh, Nội vụ Phủ đại thần, Võ Anh điện Tổng đài quan, Tương Hồng kỳ Hán quân Phó đô thống, Công bộ Thị lang, Chính Hồng kỳ Mông Cổ Phó đô thống, cuối cùng là Thượng thư bộ Hộ. Cháu Thiện Ninh, tập nhậm Thế quản Tá lĩnh, còn Kim Huy từng nhậm Tả Thị lang bộ Binh. Gia tộc từ khi liên hôn hoàng thất, dần dần phát đạt.

Quả thật, mặc dù với xuất thân Triều Tiên nhưng Thục Gia Hoàng Quý phi Kim Giai Thị không những không bị “đào thải” sớm trong chốn hậu cung nhà Thanh vốn thâm độc nhiều tâm cơ, mà còn trụ vững, nâng cao phi vị của mình cho tới khi cuối đời và mang về cho gia tộc không ít vinh hiển đúng là chuyện hiếm thấy.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất kỳ khách du lịch nước ngoài nào. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn thì hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc nhé!

Vén màn bí mật về chế độ lương thưởng của phi tần nhà Thanh

Hẳn trong hình dung của hậu thế, các phi tần của nhà vua đều sẽ được hưởng thụ cuộc sống ăn sung mặc sướng, tiêu tiền như nước. Tuy nhiên, thực tế là các phi tần trong lịch sử Trung Hoa, đặc biệt là vào thời nhà Thanh, vốn không có quyền tự do tiêu xài tiền bạc mà cũng chỉ được phát bổng lộc ở một mức nhất định.

Vào thời nhà Thanh, khi chế độ quản lý hậu cung đã đạt tới mức hoàn thiện và chặt chẽ nhất, thì đời sống chi tiêu của những phi tử nơi cung cấm thậm chí cũng được quy định hết sức rạch ròi.

Chiếu theo quy chế của Thanh cung, hậu cung của các vị Hoàng đế chỉ được phép có 1 Hoàng hậu, 1 Hoàng Quý phi, 2 Quý phi, 4 Phi, 6 Tần. Các cấp bậc thấp hơn như Quý nhân, Thường tại, Đáp ứng tuy không giới hạn số lượng nhưng cũng không thể lựa chọn một cách tùy tiện.

Về chế độ cấp phát bổng lộc, mỗi hàm phi vị khác nhau sẽ được hưởng thụ những đại ngộ khác nhau. Đãi ngộ này sẽ bao gồm cả ngân lượng cấp theo năm và các nhu yếu phẩm phục vụ cho cuộc sống hàng ngày của họ. 

Theo lẽ thông thường, người được hưởng thụ đãi ngộ cao nhất trong hậu cung Thanh triều (chỉ tính riêng các thê thiếp của Hoàng đế) nghiễm nhiên sẽ là Hoàng hậu. Dựa vào ghi chép của Thanh cung, Hoàng hậu mỗi năm được hưởng 1.000 lượng bạc.

Một lượng bạc của thời nhà Thanh sẽ ứng với khoảng 250 NDT ngày nay. Như vậy, các Hoàng hậu của vương triều này mỗi năm sẽ nhận được 250.000 NDT/năm, tương đương mức lương 20.800 NDT/tháng (xấp xỉ với khoảng 73.000.000 VND/tháng).

Hưởng mức đãi ngộ cao thứ hai là Hoàng Quý phi. Nhân vật được ví như “Phó Hoàng hậu” trong hậu cung này sẽ được hưởng 800 lượng bạc mỗi năm, tương đương khoảng 200.000 NDT/năm, ứng với mức lương 16.600 NDT/tháng (xấp xỉ với khoảng 58.000.000 VND/tháng).

Các vị Quý phi trong hậu cung Thanh triều mỗi năm được cấp phát 600 lượng bạc làm bổng lộc, tương đương với khoảng 150.000 NDT/năm, ứng với mức lương gần 12.500 NDT/tháng (xấp xỉ với khoảng 43.750.000 VND/tháng)

Những người ở hàng Phi vị sẽ được hưởng bổng lộc 300 lượng bạc/năm, tương đương 75.000 NDT/năm, ứng với mức lương 6.250 NDT/tháng (xấp xỉ với khoảng 21.900.000 VND/tháng).

Những phi tử mang Tần vị thường được cấp phát 200 lượng bạc mỗi năm, tương đương 50.000 NDT/năm, ứng với mức lương khoảng 4.200 NDT/tháng (xấp xỉ với khoảng 14.700.000 VND/tháng).

Quý nhân trong hậu cung Thanh triều mỗi năm được cấp 100 lượng bạc làm bổng lộc, tương đương 25.000 NDT/năm, ứng với mức lương 2.000 NDT/tháng, xấp xỉ với khoảng 7.000.000 VND/tháng.

Xếp dưới Quý nhân là các Thường tại, nhóm người này được phát 50 lượng bạc làm bổng lộc hàng năm, tương đương 12.500 NDT/năm, ứng với mức lương hơn 1.000 NDT/tháng (xấp xỉ với khoảng 3.500.000 VND/tháng).

Đứng cuối trong danh sách những phi tần có chức vị trong hậu cung là các Đáp ứng. Họ chỉ nhận được 30 lượng bạc để chi tiêu cho cả năm, tương đương với 7.500 NDT/năm, ứng với mức lương 625 NDT/tháng, xấp xỉ với khoảng 2.900.000 VND/tháng).

Ngoài số bổng lộc được xem như tiền lương kể trên, mỗi phi tần ở các thứ bậc khác nhau sẽ được hưởng những đãi ngộ khác nhau về nhu yếu phẩm. Số vật dụng này sẽ bao gồm lăng la tơ lụa, đồ ăn hàng ngày, số cung nữ hầu hạ… Ngoài ra, vào dịp sinh nhật của mỗi phi tử, nhà vua sẽ ban thưởng cho họ quà tặng là những lễ vật riêng. Trong các dịp lễ tết, những phi tần có con đều được Hoàng đế phát “hồng bao”. Số ngân lượng hoặc lễ vật được phát trong các dịp này được gọi là “thứ bổng”, tương đương với tiền thưởng trong thời hiện đại.

Mặc dù được quy định rõ ràng, thế nhưng thông qua các đãi ngộ kể trên, không khó để nhận thức mức độ chênh lệch giữa những người có thứ bậc khác nhau là rất lớn. Thực tế là chỉ cần hơn kém một thứ bậc là đãi ngộ của người có phẩm hàm cao hơn gần như đã gấp đôi, gấp rưỡi người ở hàng thấp hơn. Đó là chưa kể tới việc Hoàng hậu thậm chí còn được hưởng đãi ngộ gấp tới hàng chục lần so với các phi tần cấp thấp.

Chính vì thế, để tồn tại trong chốn Hậu cung, họ đã phải nỗ lực cả đời để cải thiện đia vị của mình, cũng như tránh khỏi những mưu kế hiểm độc. Và có lẽ cũng chính vì những đãi ngộ khác nhau về cấp bậc ấy mà những phi tần nơi hậu cung đã sẵn sàng đánh đổi cả tính mạng để tiêu diệt đối thủ, tranh giành sự sủng ái của nhà vua.

Hậu cung Trung Hoa cổ đại luôn có những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện ấy lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về vùng đất “đặc biệt” này. Hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc để tự mình khám phá được nhiều điều thú vị hơn nhé!

Điểm danh 20 loại Bánh bao “vạn người mê” ở Trung Quốc

Không ngoa khi nói rằng bánh bao là một trong những món ăn trứ danh góp phần làm nên tên tuổi cho nền ẩm thực Trung Quốc. Nó không chỉ thơm ngon mà còn được biến tấu theo nhiều kiểu đa dạng và vô cùng độc đáo.

Gạo là một loại lương thực chủ yếu của người dân Trung Quốc nên cơm hay mì là món ăn chính trong bữa ăn của họ. Nhưng nếu có một cuộc thăm dò để tìm kiếm món ăn thông dụng nhất Trung Quốc, du khách sẽ nhận được câu trả lời, đó chính là bánh bao.

Bánh bao có mặt ở khắp nơi, từ các quán hàng lề đường cho đến những nhà hàng cao cấp. Và đặc biệt, mỗi một thành phố của đất nước Trung Quốc đều có một dạng đặc trưng riêng, đến cả người bản xứ cũng chưa chắc đã thưởng thức đủ hết các loại. Và dưới đây là 20 loại bánh bao đặc trưng nhất của Trung Quốc:

Gou Bu Li (Bánh bao Cẩu Bất Lý)

Bánh bao có tên “Cẩu Bất Lý” (Gou Bu Li), nghĩa là “chó cũng không thèm ăn” là một đặc sản nổi tiếng được xếp vào “Thiên Tân tam tuyệt” (3 món ngon bậc nhất ở thành phố Thiên Tân, Trung Quốc). Loại bánh bao này ngon đến mức từng khiến Từ Hy Thái hậu phải thốt lên rằng: “Cao lương mỹ vị chim trời cá biển đều không ngon bằng loại bánh bao này, đây mới đúng là món ăn trường thọ”.

Bánh bao Cẩu Bất Lý nổi tiếng và được nhiều người yêu thích là nhờ hương vị ngon đặc biệt. Bánh bao Cẩu Bất Lý sử dụng nguyên liệu thịt lợn trộn với loại nước sốt đặc biệt được hầm từ xương sườn trong nhiều giờ liền. Ngoài ra, người thợ còn cho thêm dầu mè, xì dầu tự làm, gừng, hành lá và một số gia vị gia truyền khác làm nên phần nhân ngon tuyệt hảo.

Phần vỏ bánh cũng được chế biến cầu kỳ không kém. Bột mì sau khi được ủ men với thời gian thích hợp thì được nhào nặn và cán mỏng thành những hình tròn rồi cho nhân vào gói lại. Trong lúc gói bánh, người thợ làm bánh sẽ khéo léo dùng tay nặn bánh thành rất nhiều nếp gấp đều nhau ở trên đỉnh, tạo thành một bông cúc trắng rất xinh xắn và đẹp mắt.

Chính phần nhân ngon đặc biệt, phần vỏ bánh mềm thơm lại đẹp mắt nên bánh bao Cẩu Bất Lý ngày càng nổi tiếng, tiếng lành đồn xa, người người kéo đến thưởng thức nườm nượp.

Bánh bao ba hạt lựu

Bánh bao ba hạt lựu là món ăn đặc sản của Dương Châu. Nó nổi tiếng là nhờ có vỏ bánh trắng như tuyết, cảm giác mềm mềm, nhân thịt thì thơm ngon. Cái tên “ba hạt lựu” là vì được làm từ thịt gà thái hạt lựu, thịt heo thái hạt lựu và măng thái hạt lựu, tất cả trộn đều tạo ra hương vị lạ miệng thơm ngon.

Bánh bao xá xíu

Đây là cái tên quen thuộc trong các tiệm Dim Sum ở Quảng Đông. Bánh bao xá xíu có hình dạng khá nhỏ, ở trên thường không gấp nếp mà hơi vỡ để lộ phần nhân hấp dẫn. Muốn đúng vị thì phải dùng xá xíu có mỡ và thịt vừa làm nhân, vỏ bánh sau khi được hấp chín phải mềm và mịn, lan tỏa mùi hương xá xíu đậm đà.

Bánh bao chiên (Sheng Jian Bao)

Sheng Jian Bao là một loại bánh bao chiên đặc sản, là món điểm tâm phổ biến nhất ở Thượng Hải kể từ đầu những năm 1900. Hình ảnh của Sheng Jian Bao thường gắn liền với các đầu bếp ở một quán hàng ăn sáng nhỏ cùng với một chiếc chảo đen khổng lồ, được đậy bằng cái nắp gỗ nặng trịch.

Món bánh này bên ngoài có lớp vỏ giòn, nước dùng đậm, thịt thơm nức. Cắn nhẹ một cái, mùi thịt, mùi dầu, mùi hành cùng mùi cứ quanh quẩn trong miệng mãi không tan. Do người Thượng Hải có thói quen gọi bánh bao là màn thầu nên bánh bao chiên ở Thượng Hải thường được gọi là “màn thầu chiên”.

Tiểu long bao (Xiaolongbao)

Đây là một loại bánh bao đặc biệt bắt nguồn từ Nanxiang – một vùng ngoại ô của Thượng Hải. Loại bánh bao này có nhân làm từ tôm, thịt hay các loại hải sản. Ngoài ra, phần xếp ly phía trên mặt bánh cũng luôn phải đảm bảo đủ 18 ly tròn trĩnh và vừa vặn. Xiao Long Bao có khá nhiều loại, có loại vỏ dày, vỏ mỏng, có loại hấp, loại chiên trong chảo nóng hay cả loại nhân thịt heo, nhân thịt cua… 

Điều thú vị hơn cả là Xiaolongbao có nước dùng nóng hổi được bao quanh từng miếng bánh. Du khách hãy tưởng tượng, từng chiếc bánh Xiaolongbao thơm ngon với nước dùng nóng hôi hổi, chỉ cần cắn nhẹ một miếng là vị nhân đậm đà tứa ra đầu lưỡi, mềm, thơm… còn gì đã hơn thế nữa chứ?

Khi thưởng thức chiếc bánh này thì du khách phải dùng đầu đũa khẽ làm rách lớp vỏ bột bên ngoài một chút để phần nước súp bên trong chảy ra lòng thìa. Sau đó, hãy húp thật nhẹ nhàng phần nước súp này rồi từ từ thưởng thức đến nhân thịt và lớp vỏ mỏng bên ngoài. Ngoài ra, nếu cảm thấy có vị nhạt thì du khách có thể chấm Xiaolongbao với một ít nước tương trộn giấm và gừng nhỏ thái sợi để tăng thêm hương vị.

Bánh bao nước (Thang Bao)

Thang Bao là món ăn rất độc đáo ở Thượng Hải nói riêng và Trung Quốc nói chung, bởi cũng là chiếc bánh bên ngoài là bột mì, vỏ mỏng, bên trong là nhân thịt như biết bao loại bánh Dimsum khác, nhưng để ăn được Thang Bao, thực khách nhất định phải nhờ đến sự trợ giúp của chiếc ống hút.

Thang Bao được làm từ những nguyên liệu giống như bánh bao thông thường nhưng thêm một thành phần rất đặc biệt, đó là “thạch da heo”. Để làm thành phần này, đầu bếp sẽ đun nóng nước với da lợn, gừng và hành, sau đó để đông thành thạch, trộn chung với các thành phần còn lại và ngồi vào nhân bánh. Khi hấp ở nhiệt độ cao, thạch sẽ tan ra, tạo thành một dung dịch nóng sốt, vừa miệng và ngon tuyệt hảo. Chiếc bánh sau khi hấp cũng sẽ béo hơn nhiều so với bánh bao thông thường.

Với những ai lần đầu nếm thử, việc cắm ống hút vào chiếc bánh sẽ hơi bỡ ngỡ, nhưng hương vị nóng sốt, ấm nồng của gừng, béo béo của thịt heo, đậm đà của các gia vị hài hòa sẽ khiến thực khách thực sự ngỡ ngàng.

Sau khi hút xong nước, thực khách sẽ dùng đũa để ăn vỏ và phần nhân còn lại như một chiếc bánh thông thường. Bánh thường được ăn kèm xì dầu hay một loại nước sốt hơi chua chua.

Bánh bao chiên nước Lợi Tân

Có mặt từ đời nhà Thanh, món bánh bao này nhìn tưởng giống bánh trứng gà non nhưng thực ra lại khác hoàn toàn. Đặc điểm chính là vỏ bánh mỏng có màu vàng vàng, được chiên cháy xém phần đáy nên rất giòn và thơm lại không cứng. Bên trong chỉ là nhân bánh bao bình thường nhưng kết hợp với bên ngoài độc đáo nên được nhiều người biêt đến.

Momo Bao

Momo Bao là món bánh bao bắt nguồn và rất phổ biến tại Tây Tạng, thường được ăn kèm trong các bữa ăn Thukpa (Thenthuk). 

Momo Bao với hai hình dạng khác nhau: hình tròn hoặc hình trăng lưỡi liềm. Những chiếc bánh Momo có phần to và nặng hơn so với bánh bao truyền thống của Trung Quốc, thường có nhân là hỗn hợp gồm khoai tây và rau băm nhỏ, thịt gà hoặc bò cùng các gia vị như gừng, rau mùi và tỏi.

Thông thường, những chiếc bánh Momo sau khi được làm xong thì đem hấp chín hoặc chiên giòn, ăn kèm với nước sốt ớt tự chế và một bát súp thơm ngon. Súp ăn cùng có thể bao gồm thịt, mì sợi, rau xanh và một ít củ cải.

Bánh bao nướng

Là món ăn chính nổi tiếng nhất nhì đất Tân Cương, vỏ bánh bao nướng được làm từ bột mì chưa lên men, không được cán mỏng như nhiều loại khác, bốn mặt được xếp thành hình vuông. Nhân bánh được làm từ thịt dê và mỡ đuôi dê thái hạt lựu, hành tây, bột thì là,… thêm chút nước và trộn đều. Đem bánh được gói kỹ dán trên thành trong hố nang, nướng trong 10 phút. Vậy là đã có món bánh ngon “níu chân” du khách gần xa.

Manti Bao

Manti Bao là một loại bánh bao có nguồn gốc từ khu tự trị Tân Cương và là món ăn phổ biến ở vùng Trung Á. Bánh bao Manti có nhân là một hỗn hợp gồm thịt, thường là thịt cừu hoặc thịt bò, được bọc trong một lớp vỏ bột mì, sau đó đem luộc hoặc hấp. Tuy món ăn này đơn giản, nhưng nó có một hương vị rất lạ khiến du khách tò mò muốn nếm thử nhiều lần.

Ngoài ra, Manti Bao còn có một công thức biến tấu vô cùng thú vị, xuất hiện từ giữa thế kỷ 15 và vẫn còn tồn tại trong nền ẩm thực hiện đại của Thổ Nhĩ Kỳ. Manti Bao sẽ được hấp chín và rưới đầy hỗn hợp sốt làm từ sữa chua, bơ đun chảy, tỏi và bột gia vị, tạo thành một món ăn rất đẹp mắt.

Bánh bao nước thịt chua

Thêm một món bánh bao ngon và độc lạ tại Tân Cương mà du khách sẽ có cơ hội thưởng thức đó là bánh bao thịt cừu được “tắm” trong súp chua nóng.

Món ăn này có một hương vị rất đặc biệt và khác những loại bánh bao bình thường. Nước súp để rưới lên bánh bao chính là điểm nhấn tạo nên sự khác biệt nhất ở món ăn với hạt vừng, tỏi tây thái nhỏ và rau mùi thêm hương vị đậm đà cho nước súp để lại ấn tượng khó quên cho thực khách.

Sủi cảo (Shui jiao)

Nếu du khách là fan của phim kiếm hiệp chắc hẳn du khách sẽ không còn xa lạ gì với Sủi cảo (bánh chẻo). Đây là một loại thực phẩm cực kỳ phổ biến tại miền Bắc Trung Quốc nói riêng và toàn bộ Trung Quốc nói chung.

Món bánh trứ danh này có hình thù là “bán nguyệt” với đường viền đều. Theo người Trung Hoa, hình dáng nửa vầng trăng của Sủi cảo nhằm tượng trưng cho sự may mắn. Nếu kéo dài hài đầu sủi cảo hình bán nguyệt nối liền với nhau giống như một nén bạc tương trưng cho cuộc sống tiền bạc dư dả, sung túc. Ngoài ra, Sủi cảo còn được người ta in hình bông lúa mì trên vỏ bánh với mong ước một năm trồng trọt bội thu. Bởi thế với người Trung Quốc ăn Sủi cảo vào đầu năm sẽ đem đến nhiều điều may mắn và cuộc sống sung túc hơn.

Cách làm Sủi cảo cũng mang nhiều ý nghĩa khá thú vị. Quá trình chuẩn bị cầu kì nhất là băm thịt và rau. Khi băm nhân, dao và thớt chạm vào nhau phát ra tiếng rắn chắc. Theo quan niệm của người Trung Quốc băm nhân với thời gian càng dài tức là gói Sủi cảo càng nhiều, tức là cuộc sống đầm ấm, khá giả.

Vỏ bánh được làm từ loại gạo nếp ngon và xay nhuyễn cùng với một chút gừng tươi để tạo hương vị đặc biệt. Bột sau khi nhào nặn được cán mỏng thành những miếng hình tròn rồi cho nhân vào. Khi nước trong nồi sôi, bỏ Sủi cảo vừa gói vào nồi rồi lấy vợt quấy đến đáy nồi để cho bánh không bị dính nồi. Trong khi nấu, thường là phải cho thêm 3 lần nước lạnh, vì trong tiếng Trung, từ này đồng âm với “phúc đi rồi lại đến”. Nấu sủi cảo thường từ 10-20 phút là chín.

Sủi cảo có thể làm được rất nhiều món như hấp, chiên, nấu canh. Đặc biệt ăn sủi cảo phải chấm với xì dầu thêm chút gừng và ớt thì mới dậy vị.

Há cảo (Har Gow)

Há cảo là một loại bánh bao có nguồn gốc từ Triều Châu và thường được dùng vào các bữa ăn sáng hoặc là món điểm tâm. Loại bánh này cực ngon và dễ ăn.

Cũng như các loại bánh bao khác, vỏ ngoài Há cảo được làm từ hỗn hợp bột mì, bột há cảo và bột năng. Bên trong chiếc bánh là các loại nhân rất đa dạng bao gồm thịt, tôm, cùng các loại rau củ quả…

Món Há cảo thông dụng thường là Há cảo hấp, ngoài ra còn Há cảo chiên. Há cảo được gói theo hình trăng lưỡi liềm, khi chín lớp vỏ bánh trở nên trong mờ lấp ló nhân tôm thịt hồng hồng đẹp mắt, cộng với chút xanh của hành lá cùng mùi thơm hấp dẫn đã trở thành món ăn ưa chuộng của rất nhiều thực khách. Hả cảo ăn kèm với nước chấm cho thêm vị đậm đà và có thể trang trí thêm để đẹp mắt.

Hoành thánh (Hun tun)

Hoành thánh là món khá quen thuộc với người Việt. Tuy nhiên, phải được dịp thưởng thức tại chính “quê hương” của chúng, du khách được cảm nhận trung thực nhất về món ăn này.

Hoành thánh được làm từ bột mì, có nhân là hỗn hợp thịt, hải sản và rau băm nhỏ. Hoành thánh có thể đem hấp hoặc chiên rán. Hoành thánh có thể ăn riêng kèm với nước sốt gia vị hoặc tại vùng Quảng Đông, hoành thánh được dùng nhiều trong món mì vằn thắn, súp vằn thắn.

Guo tie

Guo tie còn được gọi là “Potstickers”, là một món ăn Trung Quốc phổ biến có tầm ảnh hưởng và thậm chí đã lan truyền rộng rãi đến một số quốc gia như Nepal, Nhật Bản, cả Đông và Tây Châu Á.

Bề ngoài của Guo tie có hình dạng gần giống với hoành thánh nhưng vỏ dày và dẹt hơn. Nhân bánh được chế biến từ thịt băm nhỏ và các loại rau củ. Chúng thường được luộc hoặc chiên cho tới khi cháy cạnh trong chảo gang. Loại bánh này ăn kèm với tương ớt hoặc sốt giấm đậu nành thì tuyệt!

Bánh bao súp Khai Phong

Có lịch sử hơn 100 năm, đây là một trong những món ăn nổi tiếng phải ăn khi đến Trung Quốc. Vỏ bánh bao mỏng, nhân bánh dày, chứa đầy súp và dầu, lúc nhấc lên thì giống như một chiếc đèn lồng, khi đặt xuống thì giống như hoa cúc. Và đặc biệt món bánh bao này không cỏ lớp vỏ bao kín mà vẫn hở ở phần chóp trên, nhưng khi hấp vẫn giữ được hương vị của nhân, khi ăn thì phải húp phần nước súp ở trên trước.

Bánh bao súp gạch cua

Bánh bao súp gạch cua của thành phố Tĩnh Giang thuộc tỉnh Giang Tô tuy không nổi tiếng ở nước ngoài nhưng rất được nhiều người Trung Quốc ăn tẩm bổ. Dù cũng có phần nước súp bên trong như Xiaolongbao nổi tiếng và cách ăn tương tự, nhưng phần súp của món này có mùi vị khác hoàn toàn. Khi ăn, ta có thể liên tưởng đến món súp cua đặc sệt thơm lừng nhưng phần nguyên liệu có chút cao cấp hơn khi dùng gạch cua để nấu tạo màu đỏ cam cực đẹp.

Bánh bao chỉ

Bánh bao chỉ là loại bánh bao tròn, màu trắng, có nguồn gốc ở Hồng Kông. Bánh bao chỉ có vỏ mềm mịn, dẻo dai làm từ bột nếp, phủ 1 lớp bột dừa. Thông thường, bánh bao chỉ có phần nhân ngọt ở bên trong với 4 loại nhân: mè đen, dừa, đậu xanh, đậu phộng.

Tangyuan

Tangyuan hay còn gọi là Yuan xiao là một loại bánh bao đặc trưng thường có mặt trong Lễ hội đèn lồng – là ngày cuối cùng của lễ kỷ niệm năm mới âm lịch, người ta ăn bánh để biểu thị cho sự đoàn tụ, hài hòa và vui vẻ trong gia đình.

Tangyuan có hình tròn, vỏ ngoài của bánh được làm bằng bột gạo nếp, bên trong là các loại nhân ngọt có thể là từ vừng, bột đậu, hoặc trái cây khô… Sau khi làm xong, bánh có thể được luộc, chiên hoặc hấp. Tangyuan có vị ngọt, thơm và ăn rất ngon. Mỗi cách đều tạo ra vị ngon riêng.

Xíu mại (Shao mai)

Shao mai có hình dáng độc đáo hơn so với các loại bánh trên. Nó có nguồn gốc từ vùng Nội Mông. Món bánh này mềm, khá dễ làm và giá thành rẻ. Nhân bánh đa dạng được làm từ thịt heo, rau củ, hải sản và các loại nấm… được gói trong một lớp vỏ mỏng, bên trên được trang trí bằng thịt cua hoặc cà rốt băm nhỏ với màu cam, hoặc dùng đậu để có được màu xanh đẹp mắt điểm trên từng miếng xíu mại.

Ẩm thực Trung Hoa quả thực vô cùng đa dạng. Chỉ riêng bánh bao thôi mà cũng có rất nhiều loại khác nhau rồi. Nếu có cơ hội du lịch Trung Quốc, du khách đừng bỏ qua cơ hội thưởng thức những đặc sản thơm ngon này nhé! Chắc chắc du khách sẽ phải “mê mệt” vì chúng.

Tết Nguyên Đán của người dân Trung Hoa

Mỗi năm đến dịp Tết Nguyên Đán, người Trung Quốc lại thực hiện hành trình di dân lớn nhất trong năm để tìm về nguồn cội. Tết Nguyên Đán ở Trung Quốc là thời điểm “vàng” trong năm để du khách có dịp tìm hiểu, khám phá về nét văn hóa độc đáo tại quốc gia có bề dày lịch sử lâu đời. Đối với người Trung Quốc, đây là dịp trọng đại trong một năm.

Tết Nguyên Đán là lễ hội truyền thống quan trọng nhất trong năm của một số dân tộc Châu Á như Trung Quốc, Việt Nam, Hàn Quốc, Triều Tiên,…Tết Nguyên Đán đánh dấu sự kết thúc của năm cũ và khởi đầu một năm mới.

Chữ “Tết” được người Việt Nam đọc chệch đi từ chữ “Tiết” (mùa màng, lễ hội) mà thành. Trong khi đó, cả hai chữ “Nguyên Đán” (元旦) nghĩa là “sự khởi đầu buổi sáng mới”; “nguyên” có nghĩa là sự khởi đầu hay sơ khai và “đán” có nghĩa là buổi sáng sớm, cho nên đọc đúng phiên âm phải là “Tiết Nguyên Đán”. Thời xa xưa, người Trung Quốc gọi Tết Nguyên Đán bằng nhiều tên khác nhau như: “Nguyên thần”, “Tuế đầu”, “Niên tiết”, “Nguyên thần”, “Nguyên nhật”,…

Tết được tính từ ngày đầu tiên của tháng âm lịch đầu tiên – ngày Chính (Chánh Nguyệt) và kết thúc vào ngày tổ chức lễ hội đèn lồng rằm tháng giêng. Đêm giao thừa của Trung Quốc, ngày dành cho sum họp gia đình, được gọi là đêm Trừ Tịch với “trừ” nghĩa là thay đổi, hoán đổi và “tịch” là đêm, “trừ tịch” nghĩa là “đêm của sự thay đổi””đêm của thời khắc giao thời”.

Tết Nguyên Đán là ngày tết âm lịch dài nhất và quan trọng nhất ở Trung Quốc, thường kéo dài từ ngày 8/12 âm lịch đến ngày 15 tháng Giêng âm lịch.

NGUỒN GỐC TẾT NGUYÊN ĐÁN

Liên quan đến nguồn gốc của Tết Nguyên Đán có nhiều cách diễn giải, tuy nhiên, giả thiết được nhiều người Trung Quốc đại lục phổ biến chấp nhận hiện nay đó là thời kỳ vua Nghiêu vua Thuấn, vào chính ngày mà vua Nghiêu lên nắm ngai vàng, ông đã dẫn theo thuộc hạ của mình lên núi khấn bái trời đất, kể từ đó, người ta gọi ngày này là “tuế thủ” và coi là khởi đầu của một năm. Đây là một trong những giả thuyết được lưu truyền rộng rãi nhất.

Còn theo lịch sử Hồng Kông, nguồn gốc Tết Nguyên Đán có từ đời Tam Hoàng Ngũ Đế và thay đổi theo từng thời kỳ các triều đại. Thời kỳ Tam Hoàng, nhà Hạ chuộng màu đen nên chọn tháng giêng, tức tháng Dần làm tháng đầu năm mới.Nhà Thương thích màu trắng nên lấy tháng Sửu, tức tháng chạp, làm tháng đầu năm. Còn nhà Chu ưa sắc đỏ nên chọn tháng Tý, tức tháng mười một, làm tháng Tết. Mãi cho đến đời nhà Hán, sau khi Hán Vũ Đế thống nhất giang sơn đã đặt lại ngày đầu năm mới vào tháng Dần, tức tháng Giêng. Từ đó về sau, trải qua bao nhiêu thời đại, không còn nhà vua nào thay đổi về tháng Tết nữa.

Cũng có nghiên cứu cho rằng Tết Nguyên Đán có nguồn gốc từ phong tục “Tế lễ tháng chạp” (lạp tế) từ thời thượng cổ, đến nay đã có lịch sử phát triển hơn 4.000 năm. Ngay từ thời kỳ vua Nghiêu vua Thuấn, xã hội Trung Quốc đã xuất hiện hoạt động “Lạp tế”. Lạp tế tức là hoạt động tế lễ bách thần diễn ra vào tháng cuối cùng trong năm (lạp nguyệt), nhằm cảm tạ thần linh đã phù hộ cho mọi người được no đủ, mùa màng bội thu. Nghi thức tế lễ này vô cùng trang trọng, mọi người phải chuẩn bị những loại thực phẩm ngon nhất để tế tự bách thần. Bởi thế, người ta phải đi săn (đả liệp), nhằm kiếm thịt thú rừng tươi, có mùi vị thơm ngon để làm tế phẩm. Thời cổ, chữ “liệp” đồng nghĩa với chữ “lạp”, bởi vậy “Lạp tế” còn có ý nghĩa là hoạt động “săn bắt, tế tự”.

Ngoài ra, Tết Nguyên Đán của người dân Trung Hoa cũng bắt nguồn từ truyền thuyết về con Niên. Theo truyền thuyết, khởi đầu của Tết Nguyên Đán Trung Quốc là một cuộc chiến chống lại con niên (Niên Thú) quanh năm sống dưới đáy biển. Con niên hay đến vào dịp đầu năm mới để phá hoại gia súc, mùa màng, giết hại dân làng, đặc biệt là trẻ con. Để bảo vệ mình, dân làng đặt thức ăn trước cửa nhà vào dịp đầu năm và sau đó, già trẻ trai gái cùng dắt nhau lên núi trốn chạy con niên. Mọi người tin rằng sau khi ăn những thức ăn đó, nó sẽ không tấn công dân làng nữa. Một lần, có một ông già ăn xin đến thôn làng, khi đó dân làng đã trốn hết lên núi, chỉ còn một bà lão ở lại cho ông thức ăn và khuyên ông lão nhanh chân đi trốn. Ông lão bất ngờ nói: “Hãy cho tôi ở lại nhà hôm nay, tôi sẽ đuổi được con niên đi”. Thế rồi vào đêm trừ tịch (giao thừa), con niên đến thôn như thường lệ, nhưng phát hiện ra có điều bất thường, ngoài cửa nhà bà lão đầu thôn có dán giấy đỏ, bên trong nhà có ánh lửa sáng rực, con niên khi đó đã vô cùng sợ hãi, kêu to một tiếng toan tháo chạy. Ngay khi đến gần cửa, bên trong vườn đột nhiên phát ra tiếng pháo nổ lớn, con niên khiếp đảm, một mạch chạy thẳng ra cửa mà không dám quay đầu trở lại nữa. Sau này, dân làng mới hiểu ra rằng con niên sợ màu đỏ, ánh lửa và tiếng pháo nổ. Do đó, về sau, vào những ngày đầu năm mới, dân làng đều treo đèn lồng đỏ, dán giấy đỏ trên cửa sổ, cửa ra vào. Mọi người cũng dùng pháo hoa để làm cho con niên khiếp sợ. Từ đó, con niên không bao giờ tới làng nữa. Cuối cùng, con niên bị Hồng Quân Lão Tổ bắt (ngài là thầy dạy của Tam Thanh – là ba vị thần tiên tối cao trong Đạo Giáo). Con niên trở thành vật cưỡi của Hồng Quân Lão Tổ.

PHONG TỤC ĐÓN TẾT NGUYÊN ĐÁN CỦA NGƯỜI DÂN TRUNG HOA

Dọn dẹp và trang trí nhà cửa

15 ngày trước khi thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới bắt đầu, người dân Trung Quốc đã bắt đầu tất bật cho các hoạt động mua sắm quần áo, đồ trang trí, thực phẩm cất trữ. Vài ngày trước Tết thường là từ 2-3 ngày, mọi người sẽ bắt đầu dọn dẹp nhà cửa, để loại bỏ đi những mảnh vụn, mảnh đất xấu của năm trước. Việc dọn dẹp này được xem như là cách để xua đi những thứ cũ kỹ đã qua và chào đón điều mới mẻ trong năm mới.

Dọn dẹp nhà cửa thường là hoạt động chung, tất cả các thành viên trong gia đình sẽ tham gia hoạt động này. Đây là một cách để tạo sự gắn kết các thành viên trong nhà, đồng thời cũng mang đến khoảng thời gian thư giãn, thoải mái nhất cho mọi người. Kết hợp với dọn dẹp vệ sinh, nhiều gia đình cũng sơn sửa lại nhà, tạo nên một không gian mới mẻ hơn để chào đón năm mới.

Sau đó, người ta sẽ thực hiện trang trí nhà cửa của mình bằng nhiều hình thức:

  • Treo câu đối xuân

Bắt nguồn từ thời đại Shu (hơn 1.000 năm trước), các câu đối cho Tết Nguyên Đán có một lịch sử lâu dài và phong phú. Vào thời cổ đại, những cặp câu đối này được chạm khắc thành những tấm thẻ làm từ thân cây đào.

Theo truyền thuyết, có một cây đào khổng lồ trong thế giới linh hồn. Mỗi buổi sáng, những linh hồn đến thăm thế giới loài người phải trở về đó. Lối vào được bảo vệ bởi hai vị thần. Những linh hồn gây hại trong đêm sẽ bị bắt và cho hổ ăn. Mọi người bắt đầu khắc tên của hai vị thần này vào gỗ đào để chống lại những linh hồn hung ác. Điều này chuyển thành những lời phước lành bằng văn bản, sau đó chúng thành những câu thơ trên giấy đỏ.

Ngày nay, khi đến Trung Quốc, du khách có thể thấy chúng dọc theo cánh cửa của hầu hết mọi gia đình trong mùa năm mới. Một dòng thứ ba ngắn hơn tùy ý được đặt phía trên khung cửa. Nhiều ý muốn được đưa vào những bài thơ này. Số lượng từ của mỗi dòng nên giống nhau; nếu du khách tự viết, hãy sử dụng bộ đếm từ để đảm bảo mỗi dòng chứa cùng số lượng từ.

Các định dạng và âm điệu nên đồng nhất hoặc bổ trợ cho nhau. Một số người viết thậm chí còn muốn sử dụng sự lặp âm đầu hoặc sử dụng các từ giống nhau cho hai bên. Có vô số phiên bản và phong cách khác nhau, nhưng mỗi cặp câu đối đều truyền đạt mong muốn của người viết cho năm mới.

  • Dán chữ “Phúc”

Tương tự, người Trung Quốc cũng trang trí ngày Tết bằng một số từ nhất định. Từ phổ biến nhất là từ “Phúc” – nghĩa là hạnh phúc và may mắn. Nó được viết bằng thư pháp trên một mảnh giấy đỏ vuông. Những thứ này có thể được dán lên tường, cửa ra vào hoặc cửa sổ.

Chữ “Phúc” thường được kết hợp vào các đồ trang trí khác, chẳng hạn như giấy cắt và tranh. Như một cách chơi chữ, nhiều người thích đặt chữ “Phúc” đảo ngược. Bởi chữ dán ngược nghĩa là “Phúc Đảo”, chữ “Đảo” trong tiếng Hán đồng âm với chữ “Đáo” (倒 – Dào), nó đồng âm với từ “ở đây” (到). Trò chơi chữ này thể hiện rằng vận may đang đến, hoặc đã ở đây.

  • Dán tranh Thần cửa

Theo tín ngưỡng dân gian Trung Quốc có nhiều vị thần khác nhau, cũng như các nhân vật lịch sử được tôn kính (có thật hoặc huyền thoại) và trong đó có vị thần mang tên Thần Cửa. Đúng như tên gọi, tranh của những vị thần này được dán lên cửa chính của một ngôi nhà, vì lối vào chính theo truyền thống bao gồm hai cửa, nên các vị thần luôn xuất hiện theo cặp.

Theo truyền thuyết, thợ săn quỷ nổi tiếng nhất tên là Zhong Kui có khuôn mặt rất đáng sợ. Đây là lý do tại sao tất cả các vị thần Cửa đều có đôi mắt giận dữ, gương mặt nhiều nếp nhăn và giữ vũ khí truyền thống. Thần sẵn sàng bảo vệ gia đình trước bất kỳ con quỷ hay linh hồn nào.

  • Tranh cắt giấy nghệ thuật

Cắt giấy là một nghề thủ công dân gian, nó có thể được sử dụng quanh năm, nhưng được dùng đặc biệt trong Tết Nguyên Đán. Tranh cắt giấy nghệ thuật thường thấy trên các cửa sổ, theo đúng tên gọi của nó là “cửa sổ hoa”. Các nghệ nhân sẽ tỉ mỉ tạo ra những tác phẩm tuyệt đẹp này và dán chúng lên cửa sổ bằng keo dính từ cơm.

Những đồ trang trí này thường tượng trưng cho sự thịnh vượng và lời chúc tốt lành, chúng được làm bằng giấy đỏ. Hình ảnh bao gồm cá, đào, lúa, rồng, phượng,… Những hình ảnh ấy là biểu tượng cho những điều tốt lành, chẳng hạn như con cá, theo tiếng Trung Quốc có phát âm giống phước lành. Những hình ảnh khác như rồng và đào, là biểu tượng từ truyện dân gian và truyền thuyết. Xiên đâm cá và hình ảnh liên quan khác, đại diện cho hy vọng một vụ thu hoạch tốt…

  • Dán các loại tranh có ý nghĩa

Nghĩa đen của loại tranh cụ thể này là “bản vẽ của năm mới”. Chúng còn được gọi là “bản in Năm Mới”. Đây là một nghề thủ công có lịch sử ít nhất một nghìn năm. Chúng phù hợp với tất cả các đồ trang trí năm mới, những bức tranh này được người dân sử dụng để bày tỏ mong muốn cho năm tới.

Phong cách nghệ thuật truyền thống của Trung Quốc đã quen được sử dụng, nhưng với sự phát minh của công nghệ in, phong cách và hình ảnh được mô tả đa dạng hơn. Một số người gọi những bức tranh này là bách khoa toàn thư về đời sống dân gian. Các khái niệm có thể xuất phát từ các sinh vật trên trời đến truyện dân gian hay các hoạt động hàng ngày.

Phần lớn các bản in mô tả một đứa trẻ như búp bê mũm mĩm hoặc một phụ nữ xinh đẹp. Những hình ảnh này thể hiện mong muốn về những đứa trẻ khỏe mạnh và một gia đình hạnh phúc. Có ba trường phái đặc biệt của tranh dân gian Trung Quốc: Táohuā wù (桃花坞) từ Tô Châu (苏州 -Sūzhōu), Yángliǔqīng (杨柳青) từ Thiên Tân (天津 -Tiānjīn) và Wéifāng (潍坊) từ Sơn Đông (山东 – Shāndōng).

  • Treo đèn lồng

Tết Nguyên Đán ở Trung Quốc kéo dài tổng cộng 15 ngày, với các hoạt động khác nhau cho mỗi ngày, đặc biệt là Lễ hội đèn lồng. Có rất nhiều kiểu đèn lồng, từ hình dạng cơ bản như hình cầu, đến hoa sen và thậm chí là rồng! Một số người viết chữ “Phúc”, thơ hoặc thư pháp lên đèn lồng trước khi thả chúng.

Đèn lồng Kongming, được đặt theo tên của Khổng Tử, nó đặc biệt quan trọng trong Lễ hội đèn lồng. Mọi người viết ra những điều ước ở mỗi bên của đèn lồng và thả chúng bay lên trời, với hy vọng điều ước của họ sẽ thành hiện thực trong năm mới.

Tiễn Ông Táo về trời

Theo như truyền thuyết thì mỗi gian bếp của từng nhà đều có ông thần Táo (hay gọi tắt là Ông Táo). Vào ngày 23/12 âm lịch thì ông Táo sẽ bay về trời báo cáo cho Ngọc Hoàng về những sự việc đã xảy ra dưới hạ giới trong năm qua. Vì thế, tiễn ông Táo về trời là một phong tục Tết Nguyên Đán ở Trung Quốc mà người dân địa phương luôn thực hiện. Món ăn để dâng cúng ông Táo thường là bánh đường, bánh rán và súp đậu hũ.

Làm bánh bao hấp vào đêm giao thừa

Ăn bánh bao hấp trong những ngày Xuân về là một phong tục Tết Nguyên Đán ở Trung Quốc mang ý nghĩ truyền thống, lâu đời. Và người dân địa phương thường trang trí những chấm tròn đỏ lên bánh bao để tạo màu sắc tươi sáng. Trước đây thì mọi người trong gia đình luôn quây quần lại để cùng nhau làm bánh. Nhưng hiện nay, do xã hội phát triển, mọi người cũng không có thời gian tự làm nên họ sẽ mua bánh bao bán sẵn trong siêu thị hay cửa hàng tiện lợi để đem về cúng. Chỉ có một số vùng quê nông thôn là vẫn còn giữ gìn tập tục truyền thống này.\

Đốt pháo, bắn pháo hoa

Pháo hoa không chỉ làm sáng bầu trời đêm ở thời khắc chuyển giao từ năm cũ sang năm mới mà còn mang trong mình nét giao hưởng rực rỡ đầy màu sắc, âm thanh vui nhộn được phát ra. Hơn nữa, ý nghĩa của việc bắn pháo hoa đêm giao thừa ở Trung Quốc còn được cho là để xua đuổi tà mà, quỷ quái đến gần.

Hiện ở đất nước Trung Quốc không chỉ có pháo hoa mà còn có cả các loại pháo thông thường được người dân đốt mỗi độ Tết đến xuân về. Đây là một phong tục Tết Nguyên Đán ở Trung Quốc để tạo nên bầu không khí rộn ràng những ngày đầu năm. Đầu tiên sẽ đốt một dây pháo nhỏ rồi tiếp theo là đốt 3 tiếng pháo lớn hơn tượng trưng cho việc năm cũ đã qua và chào đón năm mới đang tới. Tuy nhiên, việc đốt pháo đã bị cấm ở những thành phố lớn của Trung Quốc. Và chỉ còn xuất hiện tại một số vùng nông thôn hẻo lánh.

Ăn mặc trang trọng

Đây là thời điểm rất tốt để mặc quần áo truyền thống của Trung Quốc. Trang phục truyền thống của Trung Quốc (được làm từ lụa) có thể được mua tại Phố người Hoa. Gắn liền với niềm vui, hạnh phúc, may mắn, thịnh vượng và an khang, quần áo màu đỏ sẽ đảm bảo rằng bạn đã thể hiện trọn vẹn tinh thần của ngày Tết. Ngoài màu đỏ, màu vàng cũng là một màu được sử dụng rất nhiều trong dịp đón năm mới, hoặc họ có thể học cách kết hợp cả 2 màu này. Người Trung Quốc tránh ăn mặc quần áo có màu đen trong dịp Tết. Màu đen tượng trưng cho điềm xui rủi, và thậm chí cái chết.

Thờ cúng Tổ tiên

Nhằm tỏ lòng biết ơn và tôn trọng những gì tổ tiên đã ra cho mình, các gia đình Trung Quốc đã thờ cúng tổ tiên của mình, đặc biệt là rất trang trọng vào những ngày này. Có rất nhiều phong tục truyền thống để thể hiện lòng biết ơn của họ, chẳng hạn như cúi lạy trước mộ hoặc bàn thờ tổ tiên hoặc chuẩn bị thức ăn và đồ uống để thờ cúng tổ tiên.

Đi chùa

Vào dịp tết Nguyên Đán, người Trung Quốc có thói quen đi chùa hay đền thờ để cầu may mắn. Họ sẽ thắp nhang và khấn nguyện. Hầu hết các ngôi chùa đều chào đón tất cả mọi người, không chỉ riêng người Trung Quốc. Đặc biệt, họ cũng thường tìm được ống xăm may mắn ở gần lối đi vào các đền thờ hoặc chùa. Khấn nguyện xin một quẻ xăm, rồi lắc ống xăm cho đến khi một thẻ xăm rơi ra. Sẽ có một thầy bói giải thích quẻ xăm đó cho khách.

Bữa ăn lớn cùng gia đình

Một bữa ăn lớn cùng gia đình là cách chào đón năm mới phổ biến nhất của người Trung Quốc. Một thành phần quan trọng trong các món ăn vào Tết Nguyên Đán là mì trường thọ. Món mì trường thọ thay cho lời chúc mạnh khỏe, sống lâu. 

Trong mâm cơm ấy cũng không thể thiếu món cá. Bởi vì, theo quan niệm của người Hoa thì cá là món ăn sẽ mang lại cho họ sự giàu có, phùng vinh, dư giả suốt năm. Điều đặc biệt nhất ở đây là vào dịp Tết Nguyên Đán, khi ăn họ sẽ không ăn hết mà chỉ ăn phần thân cá còn phần đuôi và đầu cá sẽ để lại qua đêm theo quan điểm của họ là “niên niên hữu dư”.

Mâm cơm Tết Nguyên Đán của người Trung Quốc không thể gọi là đầy đủ nếu thiếu món salad cá Yu sheng (hay còn được biết với tên Lo Hei), là món salad đầy màu sắc của cá tươi và rau, quả. Những năm gần đây, các nguyên liệu đã trở nên ngày càng phong phú, bao gồm sứa, đu đủ, khoai lang, hẹ ngâm và nhiều hơn nữa.

Ngoài ra, các ngày khác trong bữa ăn thường có bánh tổ (Nian Gao). Loại bánh này được làm từ gạo nếp loại tốt, cùng với đường và một chút gừng tươi; ăn chiếc bánh này truyền tải mong ước các thành viên trong gia đình lúc nào cũng luôn kết dính, gắn bó với nhau bền vững. Phiên âm Nian Gao còn mang ý nghĩa chỉ sự thịnh vượng, tiến bộ, luôn đi lên.

Còn có rất nhiều món ăn khác mà mỗi gia đình Trung Hoa quây quần bên nhau để thưởng thức như: Sủi cảo, Khâu nhục, Xá xíu, Lạp vịt, Chả giò, Bánh xoắn chiên, Bánh củ cải (Luo Buo Gao), Chè trôi nước, các loại trái cây (cam quýt, đào, bưởi), mứt gừng, hồng khô,…

Chúc Tết người thân, bạn bè

Vào những ngày đầu năm mới, người Trung Quốc sẽ đến chơi nhà của người thân, bạn bè, có thể dùng chung bữa cơm thân mật. Trong chuyến đi này, họ sẽ gửi cho nhau những lời chúc năm mới may mắn, an lành và tốt đẹp. Trẻ em thì luôn ngoan ngoãn, vui tươi, người già thì nhiều sức khỏe,…

Mừng tuổi bằng phong bao đỏ

Vào ngày Tết cổ truyền của Trung Quốc, người lớn sẽ tặng những phong bao màu đỏ có tiền mừng tuổi cho trẻ nhỏ (bao lì xì). Ý nghĩa của phong bao này là mang tới sức khỏe dồi dào, may mắn… Cho tới ngày nay, phong tục Tết cổ truyền của Trung Quốc này thay đổi một chút, đó là những người trẻ cũng sẽ tặng những phong bao đỏ cho ông bà, bố mẹ, để thay lời chúc sức khỏe và bình an.

Múa lân sư tử

Múa lân sư tử trong tiếng trống lớn là một nghi thức mang tính biểu tượng trong năm mới. Hai hay ba người luôn mặc trang phục đặc biệt và chuyển động đầu sư tử để xua đuổi xui xẻo và mang đến may mắn.

Có thể thấy, ngày Tết Nguyên Đán ở Trung Quốc cũng có nhiều nét đặc sắc như Việt Nam. Nếu có dịp du lịch Trụng Quốc vào những ngày đầu xuân năm mới, du khách sẽ có cơ hội tìm hiểu sâu hơn về các phong tục đón Tết nơi đây.

Nét thú vị về đôi đũa trong văn hoá Trung Hoa

Đối với mỗi người dân Trung Hoa, đôi đũa là một vật dụng quen thuộc không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày. Dù sau này, trên bàn ăn đã xuất hiện thêm các dụng cụ từ phương Tây như nĩa, dao… thì đôi đũa vẫn giữ được sự quan trọng của mình. Vì thế, đôi đũa đã trở thành một nét văn hóa rất độc đáo của Trung Quốc.

Có nhiều quốc gia tự coi mình là nơi sản sinh ra đôi đũa. Điều này còn cần được nghiên cứu thêm. Tuy nhiên, ở Trung Quốc đôi đũa đóng vai rất trò quan trọng trong truyền thống văn hóa. Từ xa xưa, đũa được những người dân bên bờ sông Trường Giang gọi là “Zhu” có nghĩa là “dừng lại”. Nhưng đối với những người thủy thủ đi trên tàu, “dừng lại” là một điều không may mắn. Vì thế thay bằng gọi Zhu” họ gọi là “Kuai có nghĩa là nhanh nhẹn, hoạt bát. Từ đó đến nay, người Trung Hoa gọi đôi đũa là “Kuai”.

Người Trung Quốc không dùng dao và dĩa trong bữa ăn bởi theo quan niệm của học thuyết Khổng Tử, đó là những vật dụng liên quan đến bạo lực và binh đao. Trong khi đó, đũa tượng trưng cho sự thanh cao và lòng nhân từ, đây cũng là hai nội dung chính của học thuyết Khổng Tử. Một lý do nữa không kém phần quan trọng đó là các món ăn của người Trung Quốc thích hợp với đũa hơn là dao và dĩa. Do đó, đôi đũa đóng một vai trò quan trọng trong truyền thống văn hóa của người Trung Hoa.

3 TRUYỀN THUYẾT VỀ SỰ RA ĐỜI CỦA ĐÔI ĐŨA 

Đôi đũa là một phần của văn hóa Trung Hoa cổ xưa, được kể lại trong rất nhiều các truyền thuyết và câu chuyện dân gian khác nhau trong lịch sử. Trong đó, 3 truyền thuyết phổ biến nói về sự ra đời của đôi đũa là: Đát Kỷ và đôi đũa (truyền thuyết được lưu truyền vùng Giang Tô); Đại Vũ dùng cành cây, cành trúc gắp thức ăn (truyền thuyết được lưu truyền vùng Đông Bắc); Khương Tử Nha và đôi đũa trúc.

Trước hết, chúng ta sẽ nói tới Truyền thuyết về Đát Kỷ và sự ra đời của đôi đũa. Tương truyền tại vùng Giang Tô, vua Trụ (triều đại nhà Thương) buồn vui thất thường, khi hắn ăn uống thì hoặc là chê thịt cá không tươi, khi lại mắng canh gà nóng quá, thậm chí còn bực bội vì mặt nhạt không hợp khẩu vị,… Kết quả rất nhiều ngự trù đã mất mạng dưới thái độ hách dịch của vị hôn quân này.

Yêu hồ Đát Kỷ được vua Trụ sủng ái, mỗi lần có yến tiệc, để tránh làm Trụ Vương nổi giận, Đát Kỷ đều thử đồ ăn trước. Có một lần Đát Kỷ chọn ra được vài món hợp khẩu vị nhưng thấy phần quá nóng, thời gian lại gấp không kịp cho đổi. Trong lúc vội quá Đát Kỷ liền nhanh trí rút trâm ngọc trên đầu rồi kẹp đồ ăn và thổi, sau đó mới đưa cho Trụ Vương.

Trụ Vương thấy hành động gắp đồ ăn của Đát Kỷ lạ mắt nên rất vui, từ đó ngày nào cũng yêu cầu Đát Kỷ làm như thế. Mỹ nhân này liền nhờ người thợ thủ công làm cho hai cây trâm ngọc thật dài để gắp đồ ăn. Đây chính là hình thức đầu tiên của đũa ngọc. Về sau cách gắp đồ ăn này được truyền đến dân gian, sinh ra đôi đũa trúc.

Truyền thuyết này không hợp với bằng chứng lịch sử. Giới khảo cổ học trước đây đã khai quật khu lăng mộ thời nhà Ân Thương ở khu Hầu Gia Trang, thuộc An Dương và đã tìm thấy loại đũa bằng thép, qua khảo chứng niên đại thì sớm hơn thời mạt kỳ Trụ Vương nhà Thương.

Một truyền thuyết phổ biến khác trong dân gian cho rằng đôi đũa được Hoàng đế Hạ Vũ tìm ra. Hạ Vũ nổi tiếng là một vị vua nhân cách đạo đức ngay thẳng và có tài chống lũ lụt.

Trong một giai đoạn lịch sử, khi đất nước mà ông trị vì liên tục bị lũ lụt nghiêm trọng đe dọa, vì quá bận rộn với công việc cải cách hệ thống những con đê để kiểm soát nước nên Hạ Vũ không thể dành thời gian để gặp vợ và con mình, không thể cùng họ dùng một bữa cơm tươm tất.

Một lần nọ, khi cùng những binh lính đến một hòn đảo, Hạ Vũ đích thân chuẩn bị dụng cụ nấu ăn và lửa để nấu thịt. Vì quá đói do làm việc cật lực dưới trời mưa lớn và nước ngập mọi nơi, đồng thời muốn rút ngắn thời gian ăn uống để quay lại công việc, ông đã bẻ hai nhành cây nhỏ từ một cành cây gần đó và dùng chúng để trực tiếp gắp thịt thả vào nồi nước đang sôi. Những người hầu cận và binh lính có mặt lúc đó cũng bắt chước ông. Và cây đũa đã ra đời trong hoàn cảnh như vậy.

Truyền thuyết này nếu tính theo thời gian thì lại khá hợp lý. Tuy nhiên, cũng không có gì khảo chứng chuẩn xác điều này.

Truyền thuyết thứ ba thì lại kể rằng, vì Khương Tử Nha quá nghèo túng, vợ của ông muốn hại chết ông để lấy người khác. Một hôm người vợ nói: “Ông đói phải không? Tôi nấu thịt cho ông rồi, mau dùng đi nhé!”.

Khương Tử Nha tay đang cầm miếng thịt, bỗng một con chim bay từ ngoài cửa sổ vào rồi mổ vào tay Khương Tử Nha. Khương Tử Nha đau quá kêu “ai da” một tiếng, rồi xua đuổi con chim đi. Lần thứ hai cầm miếng thịt con chim lại bay vào mổ vào tay ông. Sau ba lần liên tục, Khương Tử Nha bất giác nghi ngờ, không lẽ miếng thịt này không ăn được? Thế là Khương Tử Nha đuổi theo con chim ra ngoài, chạy đến một sườn núi không có người. Con chim lúc này đậu trên một cành trúc rồi kêu lên lảnh lót: “Khương Tử Nha ôi Khương Tử Nha, ăn thịt không được dùng tay cầm, đồ để gắp thịt ở dưới chân ta đây…”.

Khương Tử Nha nghe thế thì nghĩ đây đúng là con chim thần, bèn nghe theo chỉ điểm của chim, bẻ hai nhánh trúc nhỏ rồi đi về nhà. Về đến nhà người vợ lại thúc giục ông ăn thịt, Khương Tử Nha dùng hai que trúc thò vào trong bát kẹp miếng thịt, đâu ngờ từ một đám khói xanh bốc lên từ que trúc, “tại sao que trúc lại bốc khói, không lẽ có độc?” Nghĩ thế Khương Tử Nha liền gắp miếng thịt bắt vợ ăn. Người vợ sợ hãi vội bỏ chạy đi. Câu chuyện sau đó bị nhiều người biết, vợ Khương Tử Nha không còn dám đầu độc ông nữa, còn hàng xóm láng giềng thì ai nấy học cách dùng nhánh trúc ăn cơm.

Truyền thuyết này không phù hợp với lịch sử. Khương Tử Nha sống cùng thời vua Trụ nhà Thương, đã có vua Trụ dùng đũa ngà voi, vậy thì đũa trúc của Khương Tử Nha không phải nguồn gốc đầu tiên của đũa.

Tất cả những điều trên đều chỉ là lời đồn đại và chưa hề có ghi chép lịch sử chính xác về người đã tạo ra đũa. Chúng ta chỉ có thể nói rằng chiếc đũa là phát minh của một người Trung Quốc cổ đại có bộ óc thông minh.

VẬT LIỆU TẠO NÊN ĐÔI ĐŨA

Giới khảo cổ học ở Trung Quốc đã khai quật khu lăng mộ thời nhà Ân Thương ở khu Hầu Gia Trang, thuộc An Dương. Họ đã tìm thấy loại đũa bằng thép. Có thể coi đây là bằng chứng khảo cổ sớm nhất mà chúng ta tìm thấy được liên quan đến vật dụng này.

Ngày nay, đôi đũa ở Trung Quốc có thể được tạo ra từ nhiều vật liệu khác nhau như tre, gỗ, nhựa, sứ, bạc, đồng, ngà, ngọc, xương, thậm chí là đá. Tuy nhiên, đũa tre vẫn là loại được sử dụng thường xuyên nhất trong cuộc sống hàng ngày của người Trung Quốc.

Ý NGHĨA ĐẰNG SAU CỦA ĐÔI ĐŨA TRONG VĂN HÓA TRUNG HOA

Đứng ở góc độ tự nhiên, đôi đũa là thể hiện của các yếu tố của triết học Trung Hoa, đặc biệt là nhị phân âm dương. Hai chiếc đũa phải được sử dụng như một cặp, một cái giữ vững chắc trong khi cái kia di chuyển, để sử dụng. Điều này phản ánh sự hòa hợp của âm và dương như các yếu tố thụ động và hoạt động tương ứng tạo nên khái niệm về một tổng thể năng lượng.

Theo truyền thống Trung Hoa, chiều dài tiêu chuẩn của một chiếc đũa là 7 thốn (1 thốn = 3,33m) và 6 phân (1 phân = 3,33mm). Điều này tượng trưng cho thất tình lục dục của con người trong đạo lý của Phật giáo. Ăn cơm cũng giống như tu thân dưỡng tính, loại bỏ những dục vọng trong mỗi con người.

Đôi đũa có hình dạng một đầu vuông và đầu còn lại hình tròn tượng chưng cho trời và đất: “Trời tròn còn đất vuông”. Điều này có nguồn gốc từ bát quái trong triết học của người Trung Quốc. Đây là nguồn gốc sinh ra vạn vật. Chúng ta dùng đầu tròn để gắp thức ăn tượng chưng cho câu nói: “Dân dĩ thực vi tiên” (Dân coi thực là trời).

Đũa thường có một cặp, tượng chưng cho âm và dương. Khi dùng đũa, một chiếc giữa chặt, chiếc còn lại chuyển động. Tượng chưng cho “tĩnh và động” phản ánh sự hòa hợp trong âm dương.

Khi cầm đũa đúng cách, những ngón tay tự nhiên đặt vào 3 vị trí: Ngón cái và ngón trỏ trên cao, ngón út và ngón đeo nhẫn ở dưới thấp, ngón giữa nằm ở giữa 2 chiếc đũa. Điều này không đơn giản chỉ là một quy ước bề mặt, nó còn tượng trưng cho quan niệm truyền thống của người Trung Hoa xưa về trời, đất và con người.

Ngón út và ngón đeo nhẫn hỗ trợ lẫn nhau dưới thấp, biểu thị cho Đạo của đất. Ngón cái và ngón trỏ tương ứng với sự linh hoạt và ổn định hoặc những luật lệ trên thiên thượng.

Ngón giữa là biểu tượng cho vị trí khó khăn nhưng danh giá của một vị vương, theo truyền thống gọi là thiên tử. Đây chính là người vừa phải đáp ứng nhu cầu, mong ước của người dân vừa phải tuân thủ đạo đức và thuận theo mệnh trời.

Người Trung Quốc cổ đại tin rằng ở đôi đũa có tồn tại mối liên kết giữa trời đất và con người. Những niềm tin đó đã thâm nhập vào văn hoá và cuộc sống. Đó là từ các nghi lễ tôn giáo được tổ chức trong triều đình đến các phong tục dân gian truyền từ đời này sang đời khác trong dân chúng, lưu truyền bao đời.

NGHI THỨC DÙNG ĐŨA CỦA NGƯỜI TRUNG HOA

Đũa thường được giữ trong tay phải và việc sử dụng đũa bằng tay trái được coi là nghi thức không thích hợp ở Trung Quốc.

Nghịch đũa được coi là một hành vi xấu, còn gắp thức ăn cho người già, trẻ em sẽ được coi là lịch sự và chu đáo.

Khi đi ăn với người lớn tuổi, người Trung Quốc thường để người lớn cầm đũa trước mình.

Thông thường, một người chủ nhà mến khách sẽ chủ động gắp thức ăn từ đĩa vào đĩa của khách.

Gõ đũa vào thành bát được cho là hành động bất lịch sự bởi vào thời cổ đại Trung Quốc, những người ăn xin thường làm vậy để thu hút sự chú ý.

Văn hóa Trung Hoa quả thật có rất nhiều điều thú vị mà khi đặt chân đến đây du khách mới có thể khám phá một cách trọn vẹn. Hãy để tour Trung Quốc của chúng tôi là chiếc cầu nối đưa du khách đến với một nền văn hóa đặc sắc này nhé!

Thú vị Tết Trung thu ở Trung Quốc

Trải qua mấy nghìn năm lịch sử, Tết Trung thu vẫn luôn là ngày lễ đóng vai trò quan trọng trong đời sống văn hoá của người dân Trung Quốc. Đối với họ, Trung thu là Tết đoàn viên, những người thân yêu sẽ được ở bên nhau với niềm hạnh phúc tròn đầy, viên mãn như ánh trăng rằm.

Những câu thơ cuối trong bài “Thuỷ Điệu Ca Đầu” của nhà thơ Đường nổi tiếng Tô Đông Pha: “Chỉ nguyện cho đời người trường cửu / Ngàn dặm cùng ngắm ánh trăng thanh”, có lẽ đã thể hiện được hoàn hảo nhất tinh thần của Tết Trung Thu, một sự kiện lâu đời có nguồn gốc từ văn hóa Trung Hoa.

Từ xa xưa, đêm 15 tháng 8 âm lịch – khi mặt trăng tròn đầy và sáng nhất, cũng là dịp mà thành viên trong các gia đình ở Trung Quốc lại sum họp, ăn mừng một vụ mùa bội thu và cùng ăn uống trong bầu không khí thân tình, ấm áp.

TRUYỀN THUYẾT VỀ TẾT TRUNG THU

Là một ngày lễ lớn ở đất nước Trung Quốc, ngày Tết Trung Thu bắt nguồn từ những truyền thuyết từ thời xa xưa nhưng lại mang những ý nghĩa sâu sắc. Bàn về sự tích ngày lễ này, người Trung Quốc nhắc đến truyền thuyết về Hậu Nghệ và Hằng Nga.

Hậu Nghệ là một người bất tử, trong khi đó Hằng Nga là một tiên nữ xinh đẹp sống ở Thiên Đình và phục vụ cho Tây Vương Mẫu. Cả hai người là vợ chồng. Sắc đẹp của Hằng Nga và sự bất tử của Hậu Nghệ đã làm cho một số vị thần tiên khác ganh ghét, và họ đã vu oan một tội lỗi phạm thiên đình cho Hậu Nghệ trước mặt Vua Nghiêu. Từ đó, Hằng Nga và Hậu Nghệ bị đuổi khỏi hoàng cung và phải sống cuộc đời thường dân. Từ đó, cuộc sống làm lụng, săn bắn đã làm cho chàng Hậu Nghệ trở thành một xạ thủ có tiếng trong dân gian.

Bấy giờ, có 10 mặt trời cùng lúc tồn tại, cứ một mặt trời thì chiếu một ngày, và cứ thay phiên như vậy trong vòng một ngày. Tuy nhiên, tai họa ập đến, một ngày kia cả 10 mặt trời cùng xuất hiện trong một ngày và đã thiêu cháy hầu hết sinh linh trên mặt đất. Trước hoàn cảnh “ngàn cân treo sợi tóc” trên, Vua Nghiêu đã sai Hậu Nghệ bắn rơi 9 mặt trời chỉ để một cái lại mà thôi. Chàng Hậu Nghệ đã hoàn thành sứ mạng xuất sắc. Để đáp lại, Vua Nghiêu đã cho chàng một viên thuốc trường sinh bất lão và dặn rằng “Tạm thời không được uống cái này vào, hay bắt đầu cầu nguyện và ăn chay trong một năm sau đó mới được uống”. Hậu Nghệ làm theo, chàng đem viên thuốc về nhà và giấu nó ở cái rui trên nóc nhà và tự khổ luyện tinh thần. Được khoảng nửa năm, Vua Nghiêu mời chàng đến kinh thành “chơi”. Hằng Nga ở nhà thì bỗng lưu ý đến một vật sáng lóng lánh trên mái nhà và phát hiện ra viên linh dược, sau đó, biết là linh dược, nàng đã uống ngay viên thuốc cũng đúng lúc Hậu Nghệ vừa về đến và ngay tức khắc chàng đã biết chuyện gì đã xảy ra. Nhưng tất cả đã quá muộn, Hằng Nga bắt đầu bay về trời.

Với chiếc nỏ trong tay, Hậu Nghệ đuổi theo Hằng Nga. Nhưng đi được đến nửa đường thì thần Gió đã cản chàng lại mặc cho nàng tiên nữ xinh đẹp kia bay đến mặt trăng. Khi vừa đến nơi Hằng Nga bỗng không thở được và viên thuốc bỗng văng ra. Kể từ đó, Hằng Nga mãi ở trên mặt trăng không thể nào trở lại. Truyền thuyết còn kể lại rằng nàng đã kêu gọi những con thỏ ở mặt trăng tạo ra viên thuốc giống như vậy để nàng còn quay về với người chồng ngày đêm mong nhớ, nhưng tất cả đều vô dụng.

Trong khi đó, ở dương thế, sự mong nhớ và nỗi hối hận ngày đêm cồn cào Hậu Nghệ. Cuối cùng, chàng xây một lâu đài trong mặt trời và đặt tên là “Dương”, trong khi đó thì Hằng Nga cũng xây một lâu đài tương tự đặt tên là “Âm”. Cứ mỗi năm một lần, vào ngày rằm tháng 8, hai người được đoàn viên trong niềm hân hoan hạnh phúc. Chính vì thế mà mặt trăng luôn thật tròn và thật sáng vào ngày này như đê nói đến niềm vui, sự hân hoan khi được gặp mặt của con người.

Đây là tài liệu có trong truyền thuyết Trung Quốc khá phổ biến ở thời Tây Hán (206 TCN – 24 SCN).

Theo sự tích thứ 2 thì Hậu Nghệ vốn là người phàm trần và là một xạ thủ rất giỏi, chàng đã bắn rơi 9 mặt trời để cứu loài người, nhưng sau đó chàng ta đã trở thành vua Trung Quốc nhưng rồi anh ta trở nên bạo ngược và thi hành những đạo luật khắt khe với nhân dân. Một ngày kia, Hậu Nghệ đánh cắp một viên thuốc trường sinh bất lão của một vị nữ thần. Tuy nhiên, Vợ Hậu Nghệ, Hằng Nga đã uống nó vì nàng không muốn chồng của mình cứ mãi mãi trở thành một ông vua bạo ngược để nhân dân oán ghét. Và sau khi uống viên linh dược, Hằng Nga đã bay về trời. Vì quá yêu thương Hằng Nga, Hậu Nghệ đã không nỡ bắn rơi mặt trăng giống như chàng đã từng làm với 9 mặt trời trước đó.

Một truyền thuyết khác đã cho rằng: Hằng Nga và Hậu Nghệ đều là những vị thần bất tử sống trên thiên đình. Một ngày kia, người con trai thứ 10 của Ngọc Hoàng đã phân thân thành mười mặt trời từ đó gây nên thảm kịch cho loài người. Trước tình hình đó, Hậu Nghệ, với tài bắn tên của mình đã bắn rơi 9 mặt trời nhưng vì tình cảm, đã tha chết cho bản thể thứ 10 của con trai của Ngọc Hoàng. Dĩ nhiên, Ngọc Hoàng không chấp nhận và rất phật ý. Ông ta đã trừng phạt Hậu Nghệ và Hằng Nga bằng cách bắt họ phải sống cuộc đời con người ở trần thế.

Sau khi xuống trần thế, hối tiếc cuộc sống bất tử đã qua, Hậu Nghệ đã bỏ nhà ra đi tìm thứ thuốc có thể trường sinh bất lão. Cuối cùng, chàng tìm thấy Tây Vương Mẫu, bà đã cho Hậu Nghệ linh dược, nhưng dặn rằng: mỗi người chỉ nên uống nửa viên để có được sự sống trường tồn.

Hậu Nghệ đem viên thuốc về nhà và để nó trong một chiếc lọ. Chàng đã cảnh báo Hằng Nga không được mở chiếc lọ ra để xem trong đó có gì và đi săn bắn trong vài tháng. Cũng giống như Pandora trong Thần Thoại Hi Lạp. Sự tò mò đã làm Hằng Nga mở chiệc lọ và tìm thấy viên thuốc, dĩ nhiên nàng đã uống hết viên linh dược mà không biết rằng mỗi người chỉ nên uống nửa viên. Hậu quả thật tai hại, Hằng Nga đã bay về mặt trăng mà không thể cứu vãn được. Kể từ đó cả hai người đã phải sống trong tình cảnh chia lìa, ngăn cách.

Theo truyền thuyết thứ hai, Tết Trung thu ở Trung Quốc bắt nguồn từ thời vua Đường Minh Hoàng. Chuyện xưa kể rằng vua Đường Minh Hoàng dạo chơi vườn Ngự Uyển vào đêm rằm tháng 8 âm lịch. Trong đêm Trung Thu, trăng rất tròn và trong sáng. Trời thật đẹp và không khí mát mẻ. Nhà vua đang thưởng thức cảnh đẹp thì gặp đạo sĩ La Công Viễn còn được gọi là Diệp Pháp Thiện. Đạo sĩ có phép tiên đưa nhà vua lên cung trăng. Ở đấy, cảnh trí lại càng đẹp hơn. Nhà vua hân hoan thưởng thức cảnh tiên và du dương với âm thanh ánh sáng huyền diệu cùng các nàng tiên tha thướt trong những xiêm y đủ màu xinh tươi múa hát. Trong giờ phút tuyệt vời ấy nhà vua quên cả trời gần sáng. Đạo sĩ phải nhắc, nhà vua mới ra về nhưng trong lòng vẫn bàng hoàng luyến tiếc.

Về tới hoàng cung, nhà vua còn vấn vương cảnh tiên nên đã cho chế ra Khúc Nghê Thường Vũ Y và cứ đến đêm Rằm tháng Tám lại ra lệnh cho dân gian tổ chức rước đèn và bày tiệc ăn mừng trong khi nhà vua cùng với Dương Quý Phi uống rượu dưới trăng ngắm đoàn cung nữ múa hát để kỷ niệm lần du nguyệt điện kỳ diệu của mình. Kể từ đó, việc tổ chức rước đèn và bày tiệc trong ngày rằm tháng tám đã trở thành phong tục của dân gian.

Cũng có người cho rằng tục treo đèn bày cỗ trong ngày rằm tháng tám âm lịch là do ở điển tích ngày sinh nhật của vua Đường Minh Hoàng. Vì ngày rằm tháng tám là ngày sinh nhật của vua Đường Minh Hoàng nên triều đình nhà Đường đã ra lệnh cho dân chúng khắp nơi trong nước treo đèn và bày tiệc ăn mừng. Từ đó, việc treo đèn bày cỗ trong ngày rằm tháng tám trở thành tục lệ.

PHONG TỤC TRUYỀN THỐNG VÀO NGÀY TẾT TRUNG THU Ở TRUNG QUỐC

Trung thu được xem là một trong những ngày Tết truyền thống quan trọng bậc nhất đối với người dân Trung Quốc, chỉ xếp sau Tết Nguyên Đán. Trong đêm rằm sáng nhất năm này, họ có rất nhiều hoạt động sôi nổi và đặc sắc. 

Cúng trông trăng

Cúng trông trăng là một phong tục rất lâu đời tại Trung Quốc. Thực chất đây là một loại hình hoạt động thờ cúng “thần mặt trăng” của người xưa. Để cúng trăng, người ta bày một bàn hương lớn, đặt các lễ vật như bánh Trung thu, dưa hấu, táo, đỏ, mận, nho. Dưới mặt trăng đặt bài vị “Nguyệt thần” theo hướng mặt trăng, ngọn nến đỏ sẽ cháy cao, cả nhà lần lượt cúng trăng cầu phúc. Tế trăng ngắm trăng, ngắm trăng thể hiện ước nguyện của con người. Là một trong những nghi lễ quan trọng của Tết Trung thu, tục cúng trăng đã tiếp tục từ xa xưa đến nay, và dần phát triển thành các hoạt động thưởng trăng, tụng kinh của dân gian, đồng thời cũng trở thành hình thức chính của con người hiện đại mong muốn đoàn tụ và gửi gắm những ước nguyện tốt đẹp cho cuộc sống.

Thắp và chơi đèn lồng

Vào đêm Trung thu không thể thiếu đi tục thắp đèn cầu trăng. Khoảng 10 ngày trước khi lễ hội thắp đèn diễn ra, tại mỗi gia đình đều tất bật chuẩn bị những thanh tre chắc khỏe nhất để làm nên những chiếc đèn lồng độc đáo với màu sắc sặc sỡ. Nến đốt bên trong được buộc vào cọc tre bằng dây thừng, dựng trên mái ngói hoặc sân thượng hoặc dùng những chiếc đèn nhỏ để tạo thành các nhân vật hoặc nhiều hình dạng khác nhau. Có thể nói lễ hội đèn lồng Trung Thu tại Trung Quốc dường như chỉ đứng sau Lễ hội đèn lồng về quy mô.

Trẻ em thì sẽ chơi những chiếc đèn con thỏ, ông sao hay đèn hộp… nhiều chiếc đèn với kích thước, hình thù khác nhau được người lớn giúp sức làm nên. Vào ngày này, ngoài đường sẽ rộn vang tiếng cười con trẻ trong những chiếc đèn với ánh đèn sáng lang thang qua những con đường rất đẹp.

Người Trung Quốc cũng có một phong tục đó là vào ngày 15/8 âm lịch sẽ thả đèn lên trời và thả đèn hoa đăng dưới sông để cầu mong một điều gì đó may mắn, hạnh phúc sẽ đến với chính bản thân và những người xung quanh mình. Thả đèn là một hoạt động vô cùng có ý nghĩa đối với trẻ em tuổi thơ và với những em thiếu nhi. Bắt đầu thả đèn, ai ai cũng đều thành tâm cầu nguyện, mong mỏi những điều ước bay đi xa và trở thành những hiện thực đáng mơ ước.

Ngắm trăng

Phong tục ngắm trăng xuất phát từ tín ngưỡng dâng lễ vật lên mặt trăng, tế lễ nghiêm trang đã dần trở thành một thú vui mỗi khi dịp trăng Rằm tháng Tám. Người ta cho rằng đêm này chính là thời khắc mặt trăng gần với trái đất nhất, trăng to nhất, tròn nhất và sáng nhất nên từ xưa đến nay đã có tục uống rượu và ngắm trăng.

Từ thời cổ đại, người Trung Quốc đã có phong tục ngắm trăng vào đêm trung thu. Các ghi chép lịch sử vào đời Chu đã đề cập rất nhiều vào buổi lễ tế thần mặt trăng vào đêm trăng tròn và sáng nhất năm để chào đón mùa đông. Người ta bày rất nhiều thứ bánh Trung thu, dưa hấu, táo và nho trên bàn lễ.

Đến thời Đường – Tống, việc thưởng nguyệt, ngắm trăng trong đêm đoàn viên càng trở nên thịnh hành nên người ta còn gọi Trung thu là Tết ngắm trăng. Ngày nay, vào dịp Tết Trung thu, hầu hết người dân Trung Hoa sẽ cùng nhau đổ ra đường để chiêm ngưỡng vẻ đẹp đặc biệt của đêm trăng trằm. Họ xem lúc mặt trăng lên cao và tròn nhất là khoảnh khắc vô cùng thiêng liêng, biểu hiện sự tròn đầy, viên mãn và đẹp nhất của đất trời nên càng không thể bỏ lỡ.

Thưởng thức bánh Trung thu

Bánh trung thu hay còn gọi là bánh cung đình, bánh sum họp… là lễ vật để cúng thần mặt trăng trong dịp Tết Trung thu thời xa xưa. Bánh Trung thu ban đầu được dùng làm lễ vật để cúng thần mặt trăng, sau này người ta dần lấy tết Trung thu để ngắm trăng và nếm bánh trung thu như một biểu tượng của sự sum họp gia đình. Bánh Trung thu tượng trưng cho sự đoàn tụ, được mọi người coi là thức ăn của lễ hội, dùng để cúng tế cho người thân, bạn bè. Từ khi phát triển, ăn bánh Trung thu đã trở thành một phong tục nhất định phải có trong ngày Tết Trung thu ở khắp mọi miền nam bắc Trung Quốc, người ta ăn để tỏ lòng “đoàn tụ” trong ngày này.

Trong dân gian có rất nhiều truyền thuyết giải thích tại sao cứ đến tết Trung thu người ta lại ăn bánh trung thu. Nhưng truyền thuyết được phổ biến nhất là trong những năm cuối triều đại nhà Nguyên, bọn thống trị áp bức bóc lột nhân dân rất tàn khốc, khiến dân chúng bất mãn và nuôi ý chí phản kháng mãnh liệt.

Hồi ấy có hai vị lãnh tụ của phong trào nông dân khởi nghĩa là Chu Nguyên Chương và Lưu Bá Ôn đã tổ chức nhân dân vùng lên chống lại bè lũ thống trị tàn bạo. Để có thể truyền đạt tin tức và mệnh lệnh một cách bí mật, người ta đã làm những cái bánh hình tròn, trong những cái bánh này đều có nhét thêm một tờ giấy ước định thời gian khởi nghĩa là lúc trăng sáng nhất trong đêm Rằm tháng Tám âm lịch. Sau đó, những cái bánh này được người ta truyền đi cho nhau và trở thành một phương tiện liên lạc. Phương pháp này tỏ ra hết sức hiệu nghiệm, tin tức hô hào khởi nghĩa đã được truyền đi khắp nơi. Về sau người Trung quốc lấy việc làm bánh Trung thu vào ngày Rằm tháng Tám để kỷ niệm sự kiện ấy. Như vậy phong tục ăn bánh Trung thu trong ngày tết Trung thu dần dần đã được lưu truyền cho tới ngày nay.

Có ý kiến khác cho rằng: bánh Trung thu đã có từ đời Đường. Nó được coi như một thứ đồ lễ để cúng thần mặt trăng, và hồi ấy bánh này được gọi là bánh nhỏ (tiểu bính) hay bánh ngọt (điềm bính) và ở kinh thành Trường An đã có những cửa hiệu làm và bán bánh Trung thu.

Sang đến đời Tống thì các nơi trong nước Trung Quốc đã có nhiều thứ bánh Trung thu với phong vị khác nhau, chẳng hạn bánh kiểu Tô Châu, bánh kiểu Quảng Châu, bánh kiểu Ninh Ba, bánh kiểu Bắc Kinh.

Vì bánh Trung thu có mùi vị thơm ngon, hình của nó lại tương tự như mặt trăng, cho nên về sau loại bánh này đã được dùng làm vật tượng trưng cho chuyện gia đình đoàn tụ trong ngày tết Trung thu, đồng thời nó cũng được dùng làm quà ngày lễ để bạn bè thân thuộc tặng cho nhau kèm theo những lời chúc tốt lành.

Múa rồng lửa

Từ tối ngày 14/8 âm lịch hàng năm, phong tục múa rồng lửa sẽ được tổ chức trong ba đêm liên tục. Con rồng lửa này dài hơn 70m, được buộc thành thân rồng 32 khúc bằng cỏ ngọc, chứa đầy hương trường sinh. Vào đêm diễn ra sự kiện, trên các con đường, ngõ hẻm của quận này, những con rồng lửa uốn lượn nhảy múa vui nhộn dưới ánh đèn và tiếng nhạc trống rồng rất sôi động. Người dân Trung Quốc tin rằng rồng lửa là linh vật mang lại nhiều may mắn và an lành tới mọi gia đình.

Giải câu đố

Vào đêm rằm Trung thu ở những nơi công cộng người dân treo rất nhiều đèn lồng, mọi người tập trung lại với nhau, cùng nhau giải những câu đố ghi trên đèn lồng. Đây là hoạt động mà nam thanh nữ tú rất ưa chuộng, trò chơi này đã làm nên vô số giai thoại tình yêu. Vì thế, giải câu đố trong đêm Trung thu trở thành phương pháp bày tỏ tình yêu của các đôi nam nữ.

Mai mối

Tin rằng sự may mắn của thần mặt trăng là một người mai mối thành công, một bộ phận người Trung Hoa đã xây dựng nên các buổi dạ hội trong đêm trăng rằm hòng tìm kiếm cơ hội se duyên cho các cặp đôi trẻ. Ở đây những cô gái sẽ tham gia ném khăn tay của mình vào đám thanh niên, người bắt được và trả lại khăn tay sẽ chủ nhân của nó.

Mỗi đất nước đều mang trong chính mình những sự mới mẻ và đa dạng đa màu sắc riêng của văn hóa ngày lễ truyền thống. Tại Trung Quốc cũng vậy, Tết Trung thu ở Trung Quốc đã để lại những dấu ấn khó có thể phai mờ trong tiềm thức của những người dân bản địa nơi đây đã sinh ra lớn lên và phát triển gắn bó với mảnh đất quê hương yêu dấu này. Nếu như muốn được khám phá nhiều hơn nữa về nét văn hóa đặc sắc này hãy nhanh tay book tour Trung Quốc nhé! 

Thành phố hẹp nhất thế giới ở Trung Quốc

Nằm dọc theo bờ sông Nậm Thi, giữa những ngọn núi dốc của tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Diêm Tân được xem là thành phố hẹp nhất thế giới.

Tại điểm hẹp nhất, Diêm Tân chỉ rộng 30m và phần rộng nhất của thành phố là khoảng 300m. Mỗi bên sông có một con đường chính để đi lại và thành phố chỉ trải dài vài km dọc theo bờ sông nên không có quá nhiều cây cầu.

Phần đất hẹp kẹp giữa dòng sông Nậm Thi và những ngọn núi dốc dường như không phải là một vị trí thích hợp để xây dựng một thành phố có khoảng 450.000 dân, nhưng đó chính xác là điều khiến Diêm Tân trở nên đặc biệt. Đây giống như một thành phố xuất hiện trong một bộ phim giả tưởng hoặc một trò chơi điện tử hơn là một thành phố hiện đại.

Bên cạnh là thành phố hẹp nhất thế giới, Diêm Tân còn có một điểm đặc biệt đáng chú ý khác. Vì đất đai trong khu vực này vô cùng quý giá nên nhiều chung cư nằm ngay bên bờ sông được xây dựng trên những cột trụ mỏng như nhà sàn để tránh lũ lụt trong trường hợp nước dâng.

Những đoạn video về thành phố Diêm Tân được quay từ trên cao đã được lan truyền trên mạng xã hội Trung Quốc trong nhiều năm, khiến nhiều người vô cùng thắc mắc về lý do tại sao rất nhiều người muốn sống trong một thành phố chật hẹp như vậy, trong khi Trung Quốc có rất nhiều nơi đáng sống khác.

Nhưng sự thật là khu vực này đã có người sinh sống hàng trăm năm qua và phần lớn người dân địa phương cho biết họ sẽ không bỏ nơi này để đến bất kỳ nơi nào khác sinh sống.

Tuy nhiên, điều đáng buồn là kinh tế tại Diêm Tân có thể coi là kém phát triển do bị bao quanh bởi các dãy núi và chỉ có một con đường chính đi qua khiến thành phố này rất khó để tiếp cận được.

Ngắm nhìn thành phố Diêm Tân từ trên cao, thật khó mà tin rằng một đô thị như vậy thực sự tồn tại ngoài đời thực.

Những điểm du lịch “nguy hiểm” nhất ở Trung Quốc

Trung Quốc có nhiều địa điểm du lịch tuyệt đẹp và ấn tượng nhưng cũng có những điểm du lịch đáng sợ. Dưới đây là những điểm du lịch ” nguy hiểm” được người dân kể lại  vô cùng khác thường

Đường mòn bằng ván Mount Hua

Một trong những địa điểm đáng sợ nhất trên thế giới là đường mòn bằng ván Mount Hua, nằm không xa thành phố Hóa Âm, tỉnh Thiển Tây. Để lên được đỉnh núi, bạn phải đi qua đường mòn này. Hãy suy nghĩ thật kĩ trước khi đến đây bởi đường mòn chỉ được tạo bởi những ván gỗ dày, đóng trên các chốt kim loại ở vách núi. Tất nhiên nó không hề có lan can hay bất kì chỗ bám víu nào cho bạn.a

Núi Kailash

Núi Kailash nằm ở phía nam của Cao nguyên Tây Tạng. Ý nghĩa của ngọn núi này theo tiếng Tây Tạng, từ Kailash có nghĩa là “Đá quý của tuyết”.

Ảnh opindia

Kailash là ngọn núi cao nhất thuộc dãy Himalya với độ cao 6638 mét. Sở dĩ ngọn núi này được xếp vào các địa điểm thăm quan “lạnh gáy” là do nó có địa hình rất phức tạp. Những con dốc ẩn chứa nhiều bí mật, rất ít người đã từng đến đây để khám phá hay nghiên cứu về chúng.

Các nhà thám hiểm trong và ngoài nước đã rất nỗ lực để đi lên đỉnh núi nhưng tất cả đều thất bại. Muốn đến được đây, bạn cần phải có sự cho phép của Liên Hợp Quốc, chính phủ Trung Quốc, Đức Đạt Lai Lạt Ma và những người dân địa phương.

Được biết, các cạnh dốc của núi Kailash hướng về 4 điểm chính của la bàn. Vì vậy, một số nhà khoa học đã cho rằng, nó là một kim tự tháp cổ đại được xây dựng bởi bàn tay và trí óc của con người, hoặc là người ngoài hành tinh.

Đỉnh Everest

Sẽ thật thiếu sót nếu như không nhắc tới đỉnh Everest trong danh sách này. Ở Trung Quốc, người ta thường gọi nơi này là đỉnh Chomolungma, nơi sở hữu độ cao khoảng 8848 mét và có dấu hiệu không ngừng cao lên.

Mỗi năm, có tới 500 người cố gắng leo lên đỉnh núi này. Rất nhiều người trong số họ phải đối mặt với những điều kì lạ, thậm chí là thần bí trên đường chinh phục. Họ kể rằng, họ đã nhìn thấy ma trong các chuyến thám hiểm của mình.

Tất cả những người đam mê leo núi bắt buộc phải tin rằng Everest có “linh hồn”. Nếu không có sự tôn trọng và thành kính thì sẽ khó mà trở về sau những chuyến leo núi.

Hồ Poyang

Hồ Poyang là hồ chứa nước ngọt lớn nhất ở Trung Quốc. Địa danh này ẩn chứa rất nhiều câu chuyện kinh hoàng.

Trong vòng ba thập kỉ qua, có tới 2000 người bị chết đuối ở Poyang. Những người may mắn sống sót sau vụ đắm tàu đã mất trí nhớ sau khi tỉnh lại. Những câu chuyện cũ về chiếc hồ này rất nhiều, tiêu biểu là câu chuyện về 13 chiếc thuyền đánh cá bị mất tích vào cùng ngày 3/8/1985, không một ngư dân nào sống sót. Các quan chức và đoàn thám hiểm tư nhân đã nhiều lần cố gắng để tìm kiếm thuyền hoặc thi thể của ngư dân nhưng mọi thứ dường như bốc hơi, không có bất kì thứ gì có thể tìm kiếm.

Có rất nhiều tình tiết đáng sợ và bí ẩn hơn về hồ Poyang. Liệu bạn có đủ dũng cảm ghé thăm hồ nước này?