22 món mì nức tiếng của nền ẩm thực Trung Quốc khiến “vạn người mê”

Nhắc đến ẩm thực Trung Hoa sẽ thật là một thiếu sót lớn nếu không nhắc đến những món mì trứ danh. Ở mỗi vùng, bát mì lại được thay đổi công thức, thêm vào những gia vị độc đáo để chiều lòng vị giác của các thực khách. 

Mì Dan Dan

Mì Dan Dan là một món mì đặc sắc và mang đậm nét văn hóa đặc trưng của tỉnh Tứ Xuyên – vùng đất nổi tiếng với những món ăn cay nồng.

Món mì này được ra đời từ năm 1841, do một người bán hàng rong có tên là Trần Bảo Bảo sáng tạo nên. Từ “Dan Dan” vốn để chỉ đòn gánh của những gánh hàng rong, chính vì vậy, món ăn này còn được gọi là “mì gánh”. 

Món mì Dan Dan được chế biến từ những nguyên liệu đơn giản, gồm: mì trứng, thịt xay, tỏi tươi, rau mùi, đậu phộng rang cùng loại sốt “cay toát lưỡi” đặc trưng. Đầu tiên, phần sốt thịt sẽ được cho xuống cuối bát, tiếp đến là phần mì trứng tươi đã được chần nóng, và cuối cùng là nêm nếm gia vị, rắc hành lá, mùi và đậu phộng rang lên trên bề mặt. Đặc biệt, khác với những món mì thông thường, mì Dan Dan không có nhiều nước dùng mà chỉ có phần nước sốt cay chan gần xâm xấp mặt mì. Khi ăn, khách sẽ dùng đũa để trộn món mì lên và thưởng thức.

Mi xào Phúc Kiến

Mì xào Phúc Kiến là một món mì khá phổ biến trong ẩm thực Trung Hoa, luôn để lại ấn tượng khó quên bởi hương vị đặc trưng đối với bất cứ ai có dịp nếm thử. Món mì xào này có nguồn gốc từ tỉnh Phúc Kiến nằm phía Đông Nam của Trung Quốc từ những năm của thế kỷ XIX. Món ăn này đã phải trải qua một hành trình khá dài mới đến được đỉnh cao của sự phổ biến như hiện tại.

Thành phần nguyên liệu trong món mì xào Phúc Kiến thường là hải sản đặc biệt là tôm và mực ống. Còn có một số thành phần nguyên liệu khác tạo nên hương vị của mỳ này đó là trứng, một chút ớt xanh, ớt đỏ. Gia vị dùng trong món mỳ xào Phúc Kiến có chút muối, tỏi, dầu hào, nước tương, tương ớt, một chút bột bắp, một ít nước dùng. Nước dùng cho món mì xào là nước nấu từ đầu tôm, nghêu và ít cá khô.

Công đoạn để chế biến ra món ăn đặc sắc không quá khó. Đầu tiên là ngâm mì để mì sạch và mềm hơn, sau đó đổ nước dùng vào mì và nấu trong vài phút. Tiếp đó cho hải sản vào và bắt đầu đảo đều lên. Công đoạn nấu cuối cùng đó là cho những nguyên liệu khác và gia vị vào rồi đảo cho đến khi trong chảo gần cạn nước, cũng có thể thêm ít bột bắp để làm nước nước thật sánh. Vậy là món ăn này đã được nấu chín, và bây giờ chỉ cần bày ra đĩa, trang trí một chút và thưởng thức món ăn mà thôi. Mì xào được dọn lên ăn nóng cùng chút tương ớt và chanh.

Du khách sẽ thấy mình dễ dàng bị hấp dẫn ngay từ khi mì đang được xào với mùi thơm ngào ngạt. Chính từ sự hấp dẫn thú vị của nó mà du khách sẽ bị mê hoặc ngay từ lần thưởng thức đầu tiên.

Mì xào tương Bắc Kinh

Mì xào nước tương là một món ăn ngon và phổ biến của người dân Bắc Kinh vào mùa hè nắng nóng. Thành phần món ăn gồm có mì kéo, thịt heo băm và các loại rau củ như như cà rốt, hành tây, giá hay rau cải,… Sợi mì sau khi được trụng qua nước sôi sẽ được xào cùng phần nhân thịt và rau củ và nêm nước tương vừa miệng. Sợi mì xào có màu nâu cánh gián rất ngon mắt. Các nguyên liệu xào chung với mì thường được xắt sợi và xắt hạt lựu. 

Mì khoai lang chua cay (Suan La Fen)

Suan La Fen không chỉ phổ biến ở Trùng Khánh mà còn được ưa chuộng rộng rãi ở khắp nơi trên toàn Trung Quốc. Món ăn đơn giản có phần thanh đạm này đặc trưng bởi vị cay nóng và chua hòa quyện với vị ngọt của sợi mì tươi và màu đỏ bắt mắt của ớt sa tế tạo cảm giác vừa ngon mắt vừa ngon miệng.

Thành phần chính của món mì này gồm tinh bột khoai lang và đậu Hà Lan. Sau khi trộn hai loại bột này theo tỷ lệ nhất định, người ta sẽ làm sợi mì bằng cách rây bột lỏng vào nước sôi, kích cỡ của sợi mì sẽ phụ thuộc vào đường kính của những lỗ nhỏ trên rây. Gia vị chính tạo nên đặc trưng của món mì Suan La Fen chính là dầu ớt, hạt tiêu Trùng Khánh và giấm có tác dụng làm dậy hương vị món ăn và kích thích vị giác.

Hiện nay, sợi mì để chế biến Suan La Fen có 2 loại, một loại sợi mì khô đã được chế biến sẵn tiện dụng và loại còn lại là mì tươi được chế biến tại chỗ. Đa phần các quán mì truyền thống vẫn chọn cách chế biến này để đảm bảo sự tươi ngon của sợi mì, đảm bảo vệ sinh và thu hút thực khách khi vừa thưởng thức món ăn vừa tận mắt xem cách chế biến sợi mì rất thú vị.

Mì kéo sợi thịt bò Lan Châu

Mì kéo sợi thịt bò Lan Châu, một trong những món ăn không thể bỏ qua khi ghé thăm Trung Quốc, tuy nhìn rất đơn giản và phổ biến nhưng lại gây nghiện ngay khi thử miếng đầu tiên.

Với món mì kéo sợi Lan Châu chính gốc, thịt bò nhất định phải được xắt thành từng miếng to. Đồng thời tô mì phải đảm bảo: “nhất thanh, nhị bạch, tam hồng, tứ lục, ngũ hoàng” tương ứng với nước dùng trong, củ cải trắng, dầu ớt đỏ, rau mùi và mầm tỏi xanh, cuối cùng là mì vàng nhạt. Nước tro, một thành phần quan trọng trong mì sợi kéo tay khiến cho sợi mì có màu vàng nhạt.

Thành phần chính để làm nước dùng là phần đuôi và xương sống, nhưng bạn có thể thay thế bằng xương đùi. Hơn nữa, nếu cho thêm xương gà, bắp bò hoặc sườn, gừng, hành lá và chút gia vị, nước dùng sẽ ngon miệng hơn nhiều.

Mì Biang Biang

Mỳ Biang Biang là một trong những loại mì ngon có tiếng và được liệt vào hàng phải thử khi đến mảnh đất của từng là kinh đô của 13 triều đại Trung Quốc – Tây An.

Chưa cần nói đến hương vị, món mì này thu hút mọi người bởi cái tên rất thú vị. Tên gọi “Biang Biang” là chỉ âm thanh vui tai khi kéo căng bột mì lúc nhào. Ngoài ra, chữ “Biang Biang” được coi là chữ viết khó nhất trong tiếng Trung, gồm gần 60 nét bút. 

Sợi mì Biang Biang nhìn ban đầu rất to và dày, nhưng nhờ trứng và dầu được thêm vào khi nhào, thưởng thức mới cảm nhận được hết độ mềm, dai, thơm ngon của sợi mì. Mì Biang Biang nức tiếng được dùng kèm với thịt om, rau xanh cùng tương, dấm, rất nhiều ớt đỏ và tỏi thái hạt lựu, chan thêm một chú dầu nóng trước khi mang ra cho khách.

Mì ba hương vị

Đây là một món mì vô cùng độc đáo và du khách chỉ có thể tìm thấy nó ở một nhà hàng duy nhất ở Tây An tên là “San Yuan Huang Jia Lao”. Cùng một tô mì nhưng du khách có thể thưởng thức nó theo 3 cách khác nhau. Cách thứ nhất là trộn mì sốt thịt, cách thứ hai là chan nước súp canh chua còn cách cuối cùng là trộn lẫn cả sốt thịt và cả nước súp canh. Mỗi cách ăn đều ngon và có những điểm thú vị riêng.

Mì rau cải bó xôi

Món mì này không chỉ bổ dưỡng mà còn hấp dẫn bởi màu sắc xanh đẹp mắt của sợi mì. Những sợi mì xanh này được làm ra từ bột mì và nước rau bó xôi. Rau bó xôi còn tươi, xanh mướt được luộc với nước rồi để nguội. Sau đó bột mì được nghiền cùng với nước luộc rau, vừa nghiền vừa nhào tới khi bột mì chuyển sang màu xanh tươi mắt. Sợi mì được nặn thủ công luôn đảm bảo được độ dai. Ngoài ra còn được nghiền cùng rau bó xôi nên chứa một hàm lượng chất dinh dưỡng lớn, mang một hương vị thanh thanh, hấp dẫn vô cùng.

Mì được ăn kèm với thịt chưng vừa tới,không quá nhiều dầu ngấy, cũng không quá thanh nhạt cùng rau bắp cải, và khoai tây. Thưởng thức một bát mì xanh thơm thanh ngấm vị rau, ăn kèm bát nước dùng dầu chưng nóng béo ngậy chắc chắn du khách sẽ cảm nhận được những hương vị hòa quyện tuyệt vời tới khó quên. 

Mì thịt dê

Hẳn nhiều người cho rằng món mì thịt dê có hương vị mạnh, chủ yếu là do phần thịt dê khá gây nên khó có thể thích món ăn này. Tuy nhiên, nếu đã có lần thử món mì này, du khách có thể sẽ phải thay đổi suy nghĩ của mình. Mỗi bát mì là sự kết hợp tuyệt vời của những sợi mì giòn dai cùng phần nước súp thịt béo, ngọt và thơm cùng những loại gia vị khó quên.

Mì khô nóng Vũ Hán

Món mì khô nóng Vũ Hán xuất hiện vào những năm đầu thập niên 1930. Khi đó tại bến cảng Hán Khẩu, có một người đàn ông tên Bao Li điều hành quầy bán thức ăn nhỏ của riêng mình. Quán bán mì đậu và các món phở khác rất đông khách. Vào một buổi chiều, trong khi Li vô cùng bận rộn và lùi lại, anh vô tình làm đổ dầu mè lên một chảo mì lớn đã được nấu chín. Không có thời gian để chế biến một mẻ mì tươi khác, nên Li quyết định không bỏ chúng đi, anh thêm vào một chút hẹ, nêm nếm gia vị, trộn mì lên và đem ra phục vụ thực khách như một món mới của cửa hàng. Những vị khách đã ngay lập tức yêu thích món mì này, họ hỏi Li tên món mì mới là gì? Anh trả lời, nó là Mì khô nóng.

Để có được một tô mì khô nóng ngon “đúng chuẩn”, sợi mì để làm món này phải là mì tươi và được làm từ sáng sớm. Khi khách đến quán và gọi món, người đầu bếp sẽ mang sợi mì đi trụng nước sôi sau đó phủ lên đó nước sốt đậu nành và vừng cay rồi thêm vào một số món ăn kèm như đậu dài ngâm hay củ cải ngâm cay. Khi trộn mì, lượng nước sốt phải vừa đủ để tráng mì, giúp mì dù nóng nhưng vẫn khô vừa đủ.

Một bát mì khô nóng hoàn hảo là khi sợi mì phải có độ mềm vừa phải và vẫn giữ được độ dai. Sau khi trộn mì với một chút dầu mè, gia vị và thêm vào một chút rượu tự nấu của địa phương, bát mì khô nóng Vũ Hán sẽ dậy mùi vô cùng hấp dẫn.

Mì Y Phủ

Mì Y Phủ hay còn gọi “Mỳ Y” là một món mì ngon nức tiếng của tỉnh Sơn Đông. Tương truyền hơn 300 năm trước, đây là món ăn ra đời sau một lần người đầu bếp lỡ tay bỏ mỳ vào chảo dầu. Sau khi vớt vội, trần sơ qua nước để làm món mỳ phục vụ khách, không ngờ món ăn lại được thực khách tấm tắc khen ngon.

Mì Y được làm bằng sợi mì trứng, sau khi mì tươi được chần (trụng) qua với nước sôi cho chín sơ, để ráo nước và chiên với dầu đến khi sợi mỳ ngả vàng. Phần mì có thể bỏ hộp bảo quản lạnh, khi nào ăn mới chế biến phần sốt xào chung với mỳ gồm ớt, tương, rượu gạo và đường trộn đều là trở thành món mì ngon lành. 

Mì ôm ấp người đẹp

Vốn là một đặc sản nức tiếng ở tỉnh Hải Nam, món mì độc đáo này thu hút người ăn nhờ sự cầu kỳ, bắt mắt của các phần nguyên liệu trong tô mì. Sợi mì to được chế biến cùng với thịt bò, đậu phộng và các loại rau ăn kèm. Nhưng chính nhờ sự hài hòa trong tô mì khiến thực khách mới lần đầu nhìn thấy đều có một ấn tượng khó phai.

Những sợi mì dài trắng phau, nõn nà như “gái còn xuân” đang e ấp thoắt ẩn, thoắt hiện giữa các nguyên liệu đi kèm nên nhiều người đã liên tưởng đến sự ôm ấp dành cho các cô gái. Và đó chính là lý do tại sao món ăn này có tên là “mì ôm ấp người đẹp”.

Mì Pian Er Chuan

Đây là một loại mì nước truyền thống của vùng Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang. Pian Er Chuan là một sự lựa chọn hoàn hảo cho bữa sáng. Một bát mì Pian Er Chuan chủ yếu gồm có bắp cải trắng, măng và thịt heo thái miếng, nước dùng thơm ngon vừa miệng. Món mì này đặc sắc ở sự tươi ngon của bắp cải trắng và măng, cắn một miếng là khiến người ta nhớ mãi không quên.

Mì cắt khúc Sơn Tây

Giống như tên gọi, quá trình chế biến người ta sẽ dùng dao để cắt mì thành từng khúc. Khi thành phẩm, mì có hình lá liễu, trong mềm không dính, càng nhai càng cảm nhận được vị thơm ngọt. Nước dùng được hầm từ ruột cừu, trứng cùng các loại nấm. Để tăng thêm hương vị món ăn, thực khách có thể ăn kèm với rau thơm, cà chua hoặc thịt chiên.

Mì Thành Đô

Thành Đô là một nơi nổi tiếng có ẩm thực hấp dẫn cùng một loạt các món ăn vặt đường phố ngon tuyệt. Mì là một trong những đặc sản của địa phương với sợi mì ngắn, dày, dai. Những sợi mì này được ướp với nước tương đậm đặc, đường đỏ, bột đậu phộng, tỏi, dầu mè, bột hạt tiêu tạo ra một bát mì ngọt và cay hoàn toàn làm thỏa mãn thực khách.

Mì kho Hà Nam

Được mệnh danh là “món ngon thiên cổ” tại đất nước tỷ dân khi có lịch sử lên tới 4.000 năm. Nó được xem là món ăn dân dã ai cũng có thể thưởng thức với thành phần chính gồm mì, thịt, rau và nước dùng. Không chỉ thơm ngon “được lòng” thực khách, mì được làm từ nguyên liệu chứa hàm lượng gluten dồi dào khiến món ăn mang lại giá trị dinh dưỡng cao.

Mì mỡ hành

Du lịch Trung Quốc và đặt chân đến thành phố Thượng Hải hoa lệ, du khách sẽ được thưởng thức một món mì vô cùng thơm ngon, đó là Mì mỡ hành. 

Món mì này được chế biến với nguyên liệu vô cùng đơn giản, dễ làm nhưng lại đem đến một hương vị thơm ngon, hấp dẫn theo cách rất riêng. Mì được chần cùng nước sôi, canh đủ lửa nên vẫn giữ được độ dai và chắc của từng sợi mì. Sau khi đã ráo nước, người ta đem trụng cùng với nước mỡ hành.

Điểm nhấn ở đây là hành phi rất béo và dậy mùi thơm. Nước tương, đường và các gia vị khác sẽ thêm thắt vào để hương vị phong phú hơn. Từng sợi mì ướm đều nước mỡ hành bóng bẩy và đậm đà trong sốt rất bắt vị. Thêm vào đó là mùi từ hành lan tỏa ra, vừa ăn vừa cảm nhận chút hăng chút thơm. Một số quán có thể cho thêm nước ninh xương và thịt xé theo yêu cầu của khách. Kết quả là thực khách sẽ có món mì thơm nức mũi và ăn mãi không chán.

Mì sốt dầu mè cay

Mì sốt dầu mè cay là một gợi ý hấp dẫn cho những ai muốn trải nghiệm cảm giác hít hà, toát mồ hôi từ món ăn đến từ Thượng Hải. Mỗi thành phần trong món mì sẽ đem đến một đặc trưng riêng nhưng khi giao hòa lại với nhau thì tạo nên sự cân bằng hương vị một cách trọn vẹn. Sợi mì dai dai trong nước sốt sền sệt, sóng sánh cái ngọt béo của dầu mè nhưng đến khi cảm nhận được cái cay the thì vị giác cứ như được dịp bung tỏa.

Mì Cua lông

Nếu là một người yêu hải sản, chắc chắn du khách không thể bỏ qua mì cua lông sang chảnh và hảo hạng khi đến Thượng Hải. Cua lông được người dân tại đây rất yêu thích và được tận dụng trong nhiều món ăn bởi vị ngọt tươi và mềm mại của chúng. Và món mì cua lông là một trong những biến tấu độc đáo và lạ vị.

Tô mì tuy to nhưng phần mì ít mà thịt cua và gạch lại ngập tràn che hết cả bề mặt. Nước dùng của món mì này không nhiều mà chỉ vừa ngập khỏi thức ăn. Có lẽ nhờ thế mà thực khách lại thưởng thức được độ ngọt tươi, đậm đà đặc trưng của cua. Nước sốt thì nấu từ gạch nên thơm và béo quyện đều bên ngoài từng sợi mì.

Mì cá đù vàng

Mì cá dù vàng thanh vị và dễ ăn chắc chắn sẽ khiến du khách phải “mê mẩn”. Nước dùng được hầm từ cá và không nêm quá nhiều gia vị nên món ăn ngọt nhẹ nhàng, tinh tế làm man mát cổ họng. Tuy nhiên, có một số quán còn thêm thắt các nguyên liệu nên đôi khi nước dùng mì sẽ đục hơn.

Còn với cá dù vàng, đây là một loại cá quen thuộc trong các món ăn Thượng Hải. Với đặc trưng là độ ngọt, dai và thịt thì trắng mịn nên khi ăn cùng mì lại vô cùng hợp vị. Một số kiểu chế biến sẽ chiên cá cho thật giòn và đặt nguyên cả con lên trên tô mì. Còn thông thường thì người ta sẽ tách da, bỏ xương chỉ lấy phần thịt trắng. Ngoài ra, thực khách có thể kết hợp cùng rau để tăng độ giòn, thơm.

Mì lươn

Nếu du khách ngại miệng không dám ăn lươn nhưng khi một lần thưởng thức món mì lươn của Thượng Hải thì chắc chắn du khách sẽ không thấy “sợ hãi” nữa. Lươn sau khi xào cùng xì dầu để thấm đều và chuyển sang màu nâu bắt mắt thì người ta sẽ lóc xương. Mì sẽ ăn cùng nước dùng nóng hổi, trong vắt và lươn xào có thể để riêng hoặc chung. Nhiều thực khách cho rằng, mì lươn hấp dẫn ở độ dai thơm của từng xớ thịt mang lại, cuối cùng đọng ở vị giác chút mát thơm lạ vị.

Mì chiên vuông Tân Cương

Món ăn dễ gây nghiện này đến từ phía tây bắc tỉnh Tân Cương, nơi có một cộng đồng Hồi giáo cư ngụ, vì vậy du khách sẽ tìm thấy rất nhiều thịt cừu và thì là trong món mì này. Những “viên mì” được làm từ bột mì đã được cán phẳng, cắt thành hình vuông và bỏ vào nước sôi cho đến khi chín. Những viên mì này sau đó được vớt ra khỏi nước và cho vào chảo xào cùng ớt, cà chua, thịt cừu và hành lá tạo thành một đĩa mì ngon tuyệt.

Du khách sẽ thấy mình dễ dàng bị hấp dẫn ngay từ các nhìn đầu tiên cùng với mùi thơm ngào ngạt của những món mì ngon nổi tiếng khi đặt chân đến đất Trung Quốc. Chính từ sự hấp dẫn thú vị của chúng mà du khách sẽ bị mê hoặc ngay từ lần thưởng thức đầu tiên. Du khách đừng quên thưởng thức những món ăn ngon tuyệt này khi du lịch Trung Quốc nhé!

11 món canh trứ danh của ẩm thực Trung Hoa

Khi nói về ẩm thực Trung Hoa, chắc chắn chúng ta không thể không nhắc đến các món canh, một trong những thành phần không thể thiếu trong bữa ăn truyền thống của người dân nơi đây.

Các món canh của người Trung Quốc thường được coi như một loại thức ăn có thể “làm sạch” dạy dày. Hầu hết các món canh của họ đều có nhiều chất dinh dưỡng, tốt cho sức khỏe vì được nấu từ nhiều loại thảo mộc; đặc biệt được chế biến rất ngon, dễ ăn và đậm đà. Các nguyên liệu thường thấy trong một nồi canh của người hoa là rau củ, các loại thịt như thịt gà, thịt lợn hoặc một số loại cá nước ngọt. Để tăng thêm phần hương vị, người ta còn cho vào các loại hải sản sấy khô như tôm, hàu, sò, mực,…

Canh cá Shui zhu yu

Canh cá Shui zhu yu (水煮 鱼) là một trong những món ăn đại diện cho đặc trưng ẩm thực vùng Tứ Xuyên: các món ăn luôn đầy ớt và cay xé lưỡi. 

Shui zhu yu có nghĩa là “cá nấu trong nước”, tuy nhiên khi thưởng thức món này thì du khách sẽ nhận ra phần nước dùng này không hẳn là nước, mà thực chất lại được sử dụng rất nhiều dầu thực vật. Đó là lý do tại sao nồi canh cá Shui zhu yu lúc nào cũng trông đẹp mắt và hấp dẫn không thể tả. 

Nguyên liệu phổ biến làm nên món Shui zhu yu này là cá và phần nước dùng được nấu từ dầu thực vật, hạt tiêu Tứ Xuyên, cải thảo, tỏi, hồi, gừng khô và tất nhiên sẽ có rất nhiều ớt đỏ tươi bên trong. Phần nguyên liệu cá ở đây có thể sử dụng từ nhiều loại cá chứ không hẳn chỉ riêng một loại cá nào. Cá có thể được cắt lát cho dễ ăn nhưng cũng có khi được để nguyên cả con. Đặc biệt, ngoài cá ra thì đôi khi nhiều quán ăn ở Tứ Xuyên còn sử dụng nguyên liệu thịt heo, thịt bò để thay thế, tuy nhiên du khách nhất định phải thử món Shui zhu yu nấu từ cá bởi khi được nấu từ cá thì vị ngọt thanh của món ăn chắc chắn sẽ khiến thực khách hài lòng hơn hẳn.

Mặc dù Shui zhu yu đã được công nhận là món ngon nổi tiếng trong nhiều năm qua ở Tứ Xuyên nói riêng và Trung Quốc nói chung, thế nhưng trước khi thưởng thức món ăn này thì du khách cần phải xác định trước “tư tưởng” về độ cay kinh khủng của nó. Shui zhu yu cay đến mức thậm chí nhiều người còn kháo nhau rằng: “Chỉ cần bạn thưởng thức được món Shui zhu yu này là bạn đã đủ trình độ thưởng thức tất cả các món cay khác ở Tứ Xuyên”.

Canh cá chép củ cải

Đây là một món canh hầm của Trung Quốc tuy dân dã nhưng lại chứa rất nhiều dinh dưỡng, giúp bồi bổ khí huyết, giảm béo, nhưỡng vị nhuận tràng. Vào những ngày lạnh, bát canh màu trắng sữa nóng hổi mang vị ngọt đậm từ củ cải, ngọt béo của cá chép và mùi gừng thơm thoang thoảng sẽ rất cuốn hút khẩu vị của người ăn.

Món canh này tuy không dùng thuốc bắc nhưng củ cải cũng là một trong những “vị thuốc”có tác dụng tích cực đối với cơ thể. Theo Đông Y, củ cải tươi có tính mát, vị ngọt, củ cải nấu chín vị ngọt, tính bình dẫn khí đi xuống. Quy kinh phế và dị thường dùng để trị ho, hen suyễn, bụng trướng, sạn thận, lỵ, nhức đầu, ợ chua, thổ huyết, chóng mặt, tiểu đục, trúng phong.

Canh gà hầm hạt sen

Thêm một món canh hầm với mùi vị thơm ngon và giá tị dinh dưỡng thì không cần phải bàn. Gà hầm với hạt sen mềm đậm đà, quyện hương có thể giúp bạn khỏe mạnh lập tức ngay khi chỉ mới ngửi thấy mùi thơm của món canh hầm này. Không những thế đây còn được xem như là một trong những món ăn truyền thống ở Trung Quốc đấy.

Người Trung Quốc rất ưa thích món canh gà hầm với hạt sen bởi tính năng bổ máu của nó rất tốt cho người bệnh mới khỏi, phụ nữ sau sinh… Gần giống với món gà hầm thuốc bắc, nồi canh gà hầm hạt sen có hương thơm quyến rũ, thịt gà hầm, hạt sen bùi cùng với nấm đông cô chính là mỹ vị.

Canh gà hầm thuốc bắc

Món canh gà tầm thuốc bắc này là sự hội tụ dưỡng chất từ nhiều vị thuốc bắc (hạt sen, kỳ tử, đằng sâm, ý dĩ, táo tàu) kết hợp với gà ác tạo nên một món ăn không chỉ ngon mà còn rất bổ dưỡng, thích hợp cho người cần hồi phục sức khoẻ, các bà mẹ đang dưỡng thai và người thiếu chất dinh dưỡng. Đây cũng là một trong những món canh trứ danh trên toàn thế giới.

Nghệ thuật ẩm thực Trung Quốc nằm trong bí quyết dùng lửa. Một món ăn ngon cần có độ lửa thích hợp. Món canh gà hầm thuốc bắc này được hầm cùng các loại gia vị trong khoảng 3 giờ, thời gian hầm dài để đảm bảo rằng gà được ninh mềm và thấm vị.

Khi mở vung ra, mùi thuốc bắc lan tỏa ấm nồng không gian, khi nếm thử nước hầm béo vị gà, thịt gà lại mềm, đậm vị quả thật rất xứng đáng với 3 giờ hầm trên bếp.

Canh gà hầm rau củ

Canh gà hầm rau củ là món ăn được người Trung Quốc dùng nhiều vào dịp xuân đến, vừa là món ăn ngon, lại có tác dụng như một bài thuốc chữa bệnh. Họ cho rằng món ăn này có tác dụng chống viêm và tiêu trừ những nguyên nhân gây cảm mạo.

Có nhiều các loại rau củ để kết hợp như khoai tây, củ cải, cà rốt, cần tây, mùi tây, các loại đậu… đều cho mùi vị thơm ngon và bổ dưỡng. Canh gà hầm rau củ có tác dụng giảm các triệu chứng sung, đau họng, cải thiện khẩu vị giúp ngon miệng hơn, bổ sung năng lượng, cải thiện dinh dưỡng và phục hồi hệ miễn dịch.

Canh gà hoa cúc

Sự kết hợp các dưỡng chất của gà cùng hoa cúc và các vị thuốc bắc sẽ giúp điều hòa khí huyết, rất tốt cho người tụt huyết áp, tái tạo làn da sáng hồng. Đối với người Trung Quốc, đây là món canh rất tốt cho phụ nữ trung niên khắc phục chứng nóng trong, huyết áp thấp, lạnh chân, khó ngủ phục hồi sức khỏe cho người ốm yếu.

Canh tiết vịt

Canh tiết vịt vô cùng thơm ngon và hấp dẫn sẽ làm “siêu lòng” bất cứ ai khi đã thưởng thức qua. Món canh được nấu từ cổ và xương vịt đem ninh nhừ chính vì vậy mà phần nước dùng thường rất ngọt và đậm đà, thêm chút tiết giòn ngon tuyệt. Khi ăn, du khách có thể thưởng thức cùng với bún, miến hoặc đậu phụ chiên và cho thêm một chút gan hay mề vịt.

Canh xí páu hầm sườn

Xí páu là củ cải trắng muối, đây là một món canh của người Hoa có vị đậm đà, tạo cảm giác ngon miệng mà không ngấy. Thay vì dùng củ cải tươi, người Trung Quốc còn muối củ cải với muối để bảo quản được lâu, dùng dần.

Giống như củ cải tươi, xí páu có tính chất khai vị, giúp ăn ngon miệng. Thường được chỉ định dùng trong trường hợp ăn không biết ngon. Rất tốt cho những người bị suy nhược cơ thể, hen suyễn.

Canh củ sen

Canh củ sen là một trong những món canh của người Hoa dễ ăn dễ nấu, vị ngọt mát lại bổ dưỡng thích hợp cho những người bị xuất huyết. Ngoài ra, đây cũng là món canh hợp cho phụ nữ sau khi sinh.

Khi chế biến món canh này, ngoài thành phần chính củ sen, người Trung Quốc còn có thể kết hợp cùng giò heo hoặc nấm tuỳ theo nhu cầu và sở thích của bản thân. 

Canh cải xoong nấu sườn

Canh cải xoong nấu sườn được coi là món ăn kinh điển trong nền ẩm thực Quảng Đông. Cách nấu món canh này vô cùng đơn giản. Đầu tiên, người ta chần sườn qua nước sôi, sau đó cho vào nồi đất đun lửa to với hỗn hợp rau cải xoong, sườn, cà rốt, hạnh nhân, trần bì, táo tàu, gừng lát. Sau khi đun sôi, tiếp tục để lửa nhỏ trong vòng 2 tiếng, thêm chút muối cho vừa miệng là có thể sử dụng. Món ăn vừa dễ ăn lại vừa có tác dụng nhuận phổi, tiêu đờm, nhuận tràng, bảo vệ dạ dày.

Canh bao tử hầm tiêu xanh

Bao tử là một nguyên liệu được khá ưa chuộng trong nấu nướng của người dân Trung Hoa từ hầm, khìa, phá lấu… Trong đó, bao tử hầm tiêu xanh là một món ăn mang nét đặc trưng riêng trong cách nấu canh của người Hoa chứa nhiều đạm và dành cho những ai yêu thích gia vị.

Ngoài công dụng tốt cho bao tử, bao tử hầm tiêu xanh còn có tác dụng rất tốt cho trẻ em suy dinh dưỡng, chứng ra mồ hôi ban đêm… Ngày nay, món canh này không chỉ xuất hiện trong các bữa ăn gia đình mà còn đưa vào thực đơn các bàn tiệc.

Nếu có dịp du lịch Trung Quốc, du khách hãy thử qua 11 món canh hấp dẫn này nhé! Chúc du khách có một hành trình khám phá ẩm thực Trung Hoa đầy thú vị!

Mối thiên tình sử của Hàn Tử Cao và Trần Văn Đế trong lịch sử Trung Hoa cổ đại

Trong lịch sử Trung Hoa cổ đại, tương truyền có mối tình đồng tính thời Nam – Bắc triều của Hoàng đế Trần Văn Đế và “nam Hoàng hậu” Hàn Tử Cao. Nam tử họ Hàn sở hữu vẻ đẹp rung động lòng người, đẹp đến độ thiên hạ cho rằng nhan sắc của chàng còn hơn cả những mỹ nhân nổi tiếng như Điêu Thuyền hay Tây Thi.

Hàn Tử Cao (538-567), nguyên tên là Man Tử, sinh ra dưới thời Ngụy – Tấn, Nam – Bắc Triều. Ông xuất thân trong một gia đình truyền thống làm nghề nông. Hàn Tử Cao sống bằng nghề nghề bện giày rơm ở Sơn Âm, Hội Kê, Lương Triều.

Mặc dù có xuất thân thấp kém, nhưng Hàn Tử Cao lại sở hữu dung mạo vô cùng khôi ngô, tuấn tú, khiến nhiều người tò mò tới chiêm ngưỡng. Tương truyền, năm vừa tròn 16 tuổi, Hàn Tử Cao đã có vẻ ngoài diễm lệ, khiết bạch sáng tươi như mỹ nữ, trán vuông tóc mượt, lông mày thanh tú. Dung mạo mỹ miều đến mức 8 chữ “Chim sa cá lặn, hoa nhường nguyệt thẹn” cũng không đủ diễn tả. 

Trong thời đại các chư hầu hỗn chiến, thiên hạ đại loạn, binh biến diễn ra trong nhiều năm liên tiếp, Hàn Tử Cao phải theo cha chạy nạn khắp nơi, do đó chàng hay gặp phải loạn quân. Thế nhưng, mỗi lần kề gươm vào tới cổ của Hàn Tử Cao, bọn loạn quân lại ngỡ ngàng vì tưởng như mình đang được đứng trước mặt một bậc thần tiên. Cuối cùng, Hàn Tử Cao không những không bị giết mà còn được bọn loạn quân bảo vệ, đưa ra khỏi vùng nguy hiểm. Điều này, càng khẳng định hơn về sắc vóc của Hàn Tử Cao không phải kiểu tầm thường để có thể “mê hoặc” được không chỉ những nữ nhân mà cả những người cùng giới.

Lại có chuyện khác kể rằng, Hàn Tử Cao sống ở đô thành chỉ một thời gian ngắn nhưng danh tiếng về sự đẹp trai thì đã vang khắp xa gần. Khắp nơi thiếu nữ tìm tới hiệu giày của Hàn Tử Cao đông như trảy hội, mua giày thì ít mà ngắm dung nhan của tay thợ giày họ Hàn thì nhiều. Tuy nhiên, Hàn Tử Cao lại tỏ ra rất lạnh lùng. Chính sự lạnh lùng của Hàn Tử Cao lại càng khiến những cô thiếu nữ thêm si mê cuồng nhiệt hơn. Lúc bấy giờ, cô công chúa triều Trần đính hôn với một người tên là Vương Nhan – một quý tộc xuất thân giàu có và cũng nổi tiếng khôi ngô tuấn tú. Khi công chúa tâm sự cùng với cô hầu trên đời này chẳng có ai đẹp hơn chàng. Ai ngờ, cô người hầu lại cho biết Hàn Tử Cao đẹp hơn rất nhiều. Nghe vậy, công chúa không phục, cho rằng Vương Nhan mới là người đẹp trai nhất. Do đó, quyết định tự mình tới hiệu giầy để “kiểm chứng” nhan sắc của Hàn Tử Cao. Kết quả là ngay khi nhìn thấy Hàn Tử Cao, cô công chúa triều Trần đã như bị hớp mất hồn vía, từ đó, chỉ chăm chăm theo đuổi Hàn Tử Cao, quên luôn người chồng sắp cưới của mình. Thế nhưng, Hàn Tử Cao vẫn lạnh lùng như chẳng biết công chúa tồn tại. Công chúa tương tư thành bệnh cuối cùng ho ra máu mà chết.

Sau này, trong thời gian xảy ra Loạn Hầu Cảnh, Hàn Tử Cao lánh nạn ở Kinh sư Kiến An. Kết thúc cảnh loạn lạc, vào một ngày họ, Hàn Cao Tử tới phủ thái thú để xin giấy thông hành về quê. Lúc bấy giờ, quan thái thú là Trần Tây – người sau này trở thành Trần Văn Đế (522-566). Sau khi gặp Hàn Tử Cao, Trần Tây biết rằng mình sẽ cùng người đàn ông này chung sống cả đời. Ông bèn ngỏ ý mời Hàn Tử Cao đi cùng, hưởng vinh hoa phú quý cả đời. Trần Tây còn hứa hẹn với Tử Cao rằng: “Nếu sau này ta làm vua, sẽ lập ngươi làm hoàng hậu, giang sơn này là của riêng đôi ta”. Tuy nhiên, từ trước tới nay, chưa từng thấy người đàn ông nào được phong làm hoàng hậu, vì vậy, suy nghĩ một hồi, Trần Tây nói thêm: “Chỉ sợ ta và ngươi cùng giới tính, người đời sẽ dị nghị mà thôi”. Nghe Trần Tây nói vậy, Hàn Tử Cao bèn nói: “Từ thời cổ đại đã có nữ vương thì tất cũng phải có nam hoàng hậu. Nếu như chúa công có ơn, tôi có chết cũng cam lòng”. Thế là thiên tình sử bắt đầu. Khi đó, Hàn Tử Cao 16 tuổi, Trần Tây thì cũng chỉ mới 22.

Hàn Tử Cao được Trần Tây vô cùng sủng ái. Họ sống chung với nhau, thân thiết hơn vợ chồng. Trần Tây vốn tính nóng nảy nhưng luôn ôn nhu, dịu dàng với Tử Cao, ông dạy chàng cưỡi ngựa, bắn cung, đọc sách viết chữ. Ở bên Trần Tây, Tử Cao dần trưởng thành, trở thành một người tài sắc vẹn toàn, chiếm được sự sủng ái của Trần Thiến. Hai người vào sinh ra tử cùng nhau trên chiến trận, gắn bó keo sơn. Trần Tây luôn giữ Tử Cao bên cạnh, ngày đêm quấn quýt không rời.

Về sau, khi Trần Tây đánh bại triều Lương, lập ra nhà Trần, lên ngôi hoàng đế, sử gọi là Trần Văn Đế thì việc đầu tiên vị vua này nghĩ tới chính là lập Hàn Tử Cao làm hoàng hậu. Tuy nhiên, các đại thần trong triều thi nhau phản đối, không thể phong đàn ông làm hoàng hậu được. Sau nhiều tranh cãi, cuối cùng, Trần Văn Đế đành phải nhượng bộ đám quần thần “hủ nho”, chẳng có chút “bình đẳng giới” nào của mình, gạt chuyện phong hoàng hậu cho Hàn Tử Cao sang một bên. Mặc dù không phong được Hàn Tử Cao làm hoàng hậu, thế nhưng, đối với Trần Văn Đế, người duy nhất là hoàng hậu trong lòng ông ta chỉ có một và đó chính là Hàn Tử Cao.

Tại vị 7 năm, niên hiệu là Thiên Hạ, Trần Văn Đế đã băng hà vào năm 566. Trước khi mất, vua không cho ai vào chăm sóc ngoài Hàn Tử Cao. Những ngày cuối cùng nằm trên giường bệnh đều một mình Hàn Tử Cao túc trực hầu thuốc, không rời nửa bước. Nhớ chuyện khi xưa không giữ được lời hứa lập hậu, Trần Văn Đế cảm thấy có lỗi với Tử Cao bèn để lại di cáo nói rằng khi mình chết đi, trước cửa lăng của minhcó đúc hai bức tượng con kỳ lân đực, thông thường thì các cặp kỳ lân đều là một đực một cái, tượng trưng cho vua và hoàng hậu với sự hòa hợp của âm dương. Tuy nhiên, lăng mộ của Trần Văn Đế lại là hai con kỳ lân đực, điều này như tuyên bố rằng Hàn Tử Cao mới chính bậc mẫu nghi thiên hạ trong lòng Trần Văn Đế.

Sau khi Trần Văn Đế qua đời, trưởng tự Trần Bá Tông lên ngôi lấy hiệu là Trần Phế Đế, nhưng sau khi đăng cơ thì xảy ra tranh đấu trong hoàng tộc. Hoàng thúc Trần Húc đã khởi binh đoạt vị, phế truất Trần Bá Tông vào mùa đông năm 568.

Hàn Tử Cao cùng các vị quân thần không thể lật đổ được âm mưu của Trần Húc. Năm 567, Tử Cao bị Trần Húc bắt giải đến Đình úy rồi bị xử tử, mỹ nam mất lúc 29 tuổi, ra đi khi còn trẻ. Có dị bản kể rằng Trần Húc vốn ép buộc Hàn Tử Cao làm nam nhân bên cạnh mình vì ông ta mê mẩn nhan sắc của chàng tướng quân, nhưng Tử Cao nhất quyết không tuân theo nên bị gán tội mưu phản. Hàn Tử Cao ra đi để giữ tấm lòng trung trinh với Trần Văn Đế.

Thi thể Hàn Tử Cao cũng được chôn cùng với Trần Văn Đế trong lăng mộ. Thiên tình sử khép lại với cái kết không hẳn có hậu, nhưng cũng khiến nhiều người cảm thấy cảm động, tiếc thương cho mối tình hoàng đế và nam hoàng hậu duy nhất lịch sử Trung Hoa cổ đại.

Hậu cung Trung Hoa cổ đại luôn có những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện ấy lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về vùng đất “đặc biệt” này. Hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc để tự mình khám phá được nhiều điều thú vị hơn nhé!

Giai thoại về mối quan hệ “đặc biệt” giữa Càn Long Đế và đại tham quan Hòa Thân

Hòa Thân được biết tới là một đại tham quan khét tiếng trong lịch sử Thanh triều, và có mối quan hệ “đặc biệt” với vua Càn Long. Đối với Càn Long, Hòa Thân quan trọng đến mức ngày nào không được gặp là không chịu được. Sự sủng ái thậm chí còn hơn cả Hán Ai Đế đối với Đổng Hiền xưa.

Hòa Thân (1750-1799) tự Trí Trai, hiệu Gia Nhạc Đường, là người tộc Nữu Hỗ Lộc thuộc Chính Hồng kỳ Mãn Châu. Xuất thân là một công tử Mãn Châu, Gia thế nhà Hòa Thân tuy không hiển hách song cũng là gia tộc quân công. Ông tổ 5 đời Ni Nha Cáp Nạp Ba Đồ Lỗ đã lập chiến công khi nhà Thanh tiến vào Trung Nguyên và được phong Tam đẳng Khinh xa đô úy.

Năm lên 3 tuổi, mẹ ruột của ông qua đời sau khi sinh hạ em trai Hòa Lâm. 6 năm sau, Hòa Thân lại phải chịu cảnh mồ côi cha. Thuở nhỏ, do quan hệ bất hòa với mẹ kế nên phải chịu nhiều vất vả. May mắn khi đó ông được một người hầu lâu năm trong gia đình nuôi dưỡng.

Hòa Thân được theo học tại Hàm An cung. Khi còn đi học, Hòa Thân đã bộc lộ sự vượt trội hơn hẳn so với các bạn học cùng xuất thân Bát kỳ khác. Năm lên 10 tuổi, ông đã bắt đầu học cách bắt chước kiểu chữ của Càn Long để sau này khi viết tấu chương có thể lấy được thiện cảm từ Hoàng đế.

Nhờ tinh thông bốn thứ tiếng là Mãn, Hán, Mông Cổ, Tây Tạng, lại nằm lòng Tứ thư, Ngũ kinh, nên ông được hai thầy giáo là Ngô Tỉnh Khâm và Ngô Tỉnh Lang rất mực yêu mến. Khi mới gia nhập triều đình, năm 22 tuổi, Hòa Thân giữ chức vị Tam đẳng Thị vệ. Tuy còn trẻ nhưng Hòa Thân đã sớm có năng lực làm việc cũng như lập được nhiều công trạng cho triều đình. Có lần, Càn Long thuận miệng dẫn một câu trong Luận Ngữ để biểu đạt ý trách cứ với quần thần. Khi đó, một thị vệ tuấn tú đã tiếp lời ông. Không chỉ hiểu ý Càn Long, thị vệ kia còn đưa ra một câu trả lời khiến Hoàng đế vô cùng hài lòng. Đó không ai khác chính là Hòa Thân.

Lần khác, Càn Long ngồi ở Viên Minh Viên xem chú giải của Chu Hi về “Mạnh Tử”, nhưng vì chữ quá nhỏ nên Hoàng đế cảm thấy khó nhìn. Ngay lúc ấy, Hòa Thân đã nhanh chí học thuộc toàn bộ chú giải và đọc lại cho Hoàng đế nghe. Nhờ vậy, Hoàng đế khen ngợi ông có tài học, ban chỉ phong cho chức tước.

Nhờ sự khôn khéo và hiểu biết của mình, Hòa Thân được Càn Long rất tín nhiệm, trọng dụng. Bởi vậy, tới năm Càn Long thứ 38 (năm 1773), Hòa Thân được giữ chức Đại thần Quản khố, chuyên lo việc quản lý tiền bạc. Từ đây, ông bắt đầu rèn luyện quản lý tài chính. Năng khiếu về chuyện tiền bạc của Hòa Thân từng nhiều lần khiến Hoàng đế trầm trồ khen ngợi.

Tháng Giêng năm 1776, Hòa Thân nhậm chức Thị lang Bộ Hộ. Tới tháng 3 năm đó, ông lại được bổ nhiệm làm Quân cơ đại thần, một tháng sau được phong làm đại thần Tổng quản phủ Nội Vụ.

Khi cảm nhận được sự vững chắc của địa vị cũng là lúc Hòa Thân thấu hiểu chân lý “gần vua như gần cọp”. Ông lo lắng nếu một ngày bị bãi quan sẽ không thể sống nổi nếu chỉ dựa vào tích cóp bổng lộc ít ỏi của triều đình. Cũng từ đây, ông ta dấn thân vào con đường tham ô. Cái “nghiệp” làm tham quan này cũng gắn chặt với ông cho tới tận lúc qua đời.

Vào năm Càn Long thứ 45 (năm 1780), Đại học sỹ kiêm Tổng đốc Vân Quý là Lý Thị Nghiêu bị tố giác tham nhũng. Càn Long liền hạ lệnh cho Thị lang Bộ Hình là Khách Ninh và Hòa Thân điều tra vụ việc. Vụ án nhiều ngày không tiến triển, chỉ đến khi Hòa Thân dùng hình bức cung quản gia Triệu Nhất Hằng, việc tham ô của Lý Thị Nghiêu mới lộ ra chân tướng. Sự việc bê bối của họ Lý gác lại, Hòa Thân cũng lén lút “bỏ túi” được phân nửa tài sản của tên tham quan này. Sau đó, Càn Long lại càng trọng dụng ông ta. Hòa Thân lúc này lại thêm say mê tiền tài, quyền lực.

Theo quy định của triều đình nhà Thanh, các quan lại không được tham gia vào việc kinh doanh và thu lợi nhuận từ những dịch vụ như cầm đồ, buôn bán… Tuy nhiên, điều này đã không làm khó được kẻ ham tiền và ưa lũng đoạn như Hòa Thân. Trong khi đương chức, Hòa Thân đã tự mình mở hàng loạt những ngành nghề kinh doanh hái ra tiền như cửa hàng lương thực, cửa hàng buôn bán vũ khí, nhà hàng, quán rượu, ngân hàng… Trong chốn thương trường, Hòa Thân luôn tỏ ra là một người ngang ngược, trắng trợn chụp giật, dựa vào thân thế cùng với quyền lực của mình, Hòa Thân đã thâu tóm hầu hết những cửa hàng buôn bán cùng nhiều mặt hàng tại kinh thành và nhiều tỉnh lớn khác tại Trung Quốc vào thời điểm đó. Tất cả chuỗi cửa hàng của Hòa Thân tại kinh thành đều có những kẻ có máu mặt cầm đầu và sẵn sàng trừ khử những đối thủ không chịu về dưới trướng của đại thần họ Hòa.

Vào năm 1788, trong 3.000 vạn lạng bạc tiền thu thuế, Càn Long đã để Hòa Thân tự do chi phí cho mọi hoạt động của triều đình. Trong lần này, với tài biến hóa sổ sách, Hòa Thân đã đút túi không dưới vài vạn lạng. Sử sách Trung Quốc còn ghi lại rằng vào cuối đời Càn Long, trong các cống phẩm và vật dụng các tỉnh cống nạp triều đình thì chỉ có 12% được đưa vào ngân khố, 88% còn lại “bị hút” về phủ Hòa Thân.

Vậy thì với một người túc trí đa mưu như Càn Long cộng với việc đối xử với các quan lại dưới quyền rất nghiêm khắc, thì hà cớ gì lại để cho Hòa Thân “một tay che trời” như vậy? Điều này có thể nằm ở những nguyên nhân sau đây:

Thứ nhất, Hòa Thân thực chất chính là một chiếc túi tiền không đáy để nhà vua mặc sức bòn rút. Càn Long khi về già càng thích hưởng lạc, xa hoa. Mỗi lần vi hành của Hoàng đế đều tiêu tốn một số lượng tiền khổng lồ. Trong khi đó, quốc khố vốn chỉ đủ tiêu, vì vậy, một vị quan tham với túi tiền lớn như Hòa Thân nghiễm nhiên trở thành “két sắt” của Càn Long.

Thứ hai, Hòa Thân được xem là một bề tôi sở hữu thiên phú lấy lòng Hoàng đế. Chỉ cần nhìn qua một cử chỉ hay ánh mắt của Càn Long, tham quan này đã biết phải làm gì, nên nói gì. Nhờ tài nịnh bợ hơn người, Hòa Thân luôn thấu hiểu thánh ý và đem lại sự hài lòng cho Càn Long.

Thứ ba, Hòa Thân thực sự là một nhân tài. Mặc dù bị coi là một đại tham quan, nhưng ông ta luôn duy trì những nguyên tắc, phàm là những chỗ không nên tham ô thì cương quyết không lấy dù chỉ một đồng.

Thứ tư, Càn Long muốn để cho Hòa Thân lấp đầy túi tham, đạt đến đỉnh cao quyền lực. Sau đó, để cho Gia Khánh trừng trị ông ta, như một “món quà” cho người kế vị. Tuy nhiên, không có căn cứ lịch sử nào xác thực cho điều này, và Càn Long không có lý do để làm vậy. Bởi lẽ, tiền mà Hòa Thân tham ô được cũng chính là từ ngân khố của Càn Long. Hòa Thân cũng đã tiêu xài, sống xa xỉ không hề ít, Càn Long không khác gì tự đào hố chôn mình. Mặt khác, nếu cứ để mặc cho Hòa Thân thâu tóm quyền lực, hoàng đế non trẻ Gia Khánh rất có thể bị lật đổ. Chưa kể, có rất nhiều chi tiết thể hiện vào những năm cuối đời, Càn Long vẫn thể hiện sự tín nhiệm tuyệt đối với Hòa Thân.

Ngoài ra, theo như lời đồn đại, giữa Càn Long và Hòa Thân có tình cảm đồng tính. Nhưng tài liệu được ghi lại nhiều nhất là việc Hoà Thân chính là truyền kiếp của phi tử đã chết vì Càn Long hoá thành.

Theo giai thoại, vì vô tình vung lược đập trúng mặt Càn Long (lúc này đang là Thái tử) khiến Càn Long bị một vết đỏ ở mặt nên phi tử của Ung Chính (cha Càn Long) đã bị thái hậu ban cho cái chết. Sau cái chết đó, Càn Long vô cùng đau khổ. Vị vua này đã quyết định dùng ngón tay của mình chấm một vết lên cổ vị phi tử này và hẹn kiếp sau sẽ lại cùng nhau gặp gỡ.

Sau khi trở thành vị vua anh minh của nhà Thanh, Càn Long lại vô tình bắt gặp Hoà Thân có mang theo một vết bớt đỏ hình ngón tay trên cổ và cho rằng đây chính là vị phi tử đầu thai.

Theo rất nhiều tài liệu đã ghi chép, Hoà Thân sở hữu dung mạo rất đẹp, trắng trẻo, môi đỏ, khuôn mặt sắc nét rất quyến rũ. Sử sách cũng ghi lại “Hòa Thân có dung mạo trắng trẻo, da trắng môi đỏ, cử chỉ trang nhã xinh đẹp chẳng khác gì nữ nhân”. Khi gặp Càn Long, Hòa Thân đang ở độ tuổi 20, Sử Trung Quốc là: diễm lệ hơn cả phi tần của Càn Long.

Ngoài sở hữu vẻ ngoài đầy kiều diễm giống với người phi tần quá cố của mình, Hoà Thân còn tinh thông vạn việc khiến Càn Long càng ngày sủng hạnh. Theo nhiều ghi chép, hằng ngày vị vua này cứ quấn quít lấy Hoà Thân bất kể có bao cung tần mỹ nữ vây quanh, thậm chí nếu một ngày Càn Long không thể gặp được Hoà Thân thì sẽ không chịu được nên vị đại thần này phải luôn ở bên cạnh ngày đêm hầu hạ và chăm nom. Trước sự sủng hạnh của Càn Long, Hoà Thân không hề tỏ ra chán ghét mà ngược lại còn rất thích thú, thậm chí Hoà Thân còn dành cho Càn Long một tình cảm rất đặc biệt và xem như “người yêu” của mình.

Để chứng minh cho “tình yêu” của mình, Càn Long thậm chí đã gả đệ nhất công chúa mà ông nhất mực yêu thương cho con trai Hòa Thân và phong hiệu “Phong Thân Ân Đức”. Một số tài liệu còn ghi rằng Càn Long từng có ý định nhường ngôi cho Hòa Thân và việc này đã khiến vị vua Gia Khánh sau này vô cùng tức giận.

Do nhiều biến cố đã xảy ra mà sau này Hoà Thân đã bị xử chết tại pháp trường, trước giây phút sinh tử của cuộc đời thì Hoà Thân chỉ nghĩ đến “người yêu” Càn Long của mình. Hoà Thân đã sáng tác một bài thơ ngay tại lúc ấy với nội dung: nếu có kiếp sau ông cùng xin được làm thần tử hầu hạ cho Càn Long.

Lịch sử vẫn luôn tồn tại nhiều uẩn khúc mà người đời không thể biết hết được, cũng chẳng ai có thể khẳng định những ghi chép trên là đúng hay sai. Nhưng những nghi án ấy cũng không phải là vô căn cứ vì không phải tự nhiên mà Càn Long lại dành cho Hoà Thân một sự ưu ái quá đỗi đặc biệt như vậy. Và còn một điều mà ít ai nghĩ tới chính là việc Hòa Thân lại sở hữu dung mạo mỹ miều như những nữ nhân để khiến Càn Long mê mẩn cả đời.

Mối quan hệ “đặc biệt” giữa Hoà Thân và Vua Càn Long cũng như những giai thoại về “đại tham quan” khét tiếng này có lẽ không thể nào kể hết được. Trong hành trình du lịch Trung Quốc, du khách hãy một lần tự mình đến với Cung Vương Phủ của ông, để biết thêm nhiều chi tiết thú vị cũng như vô số những điều bí ẩn xoay quanh cuộc sống lúc sinh thời của vị quan tai tiếng nhất triều đại nhà Thanh này nhé! Chúc các du khách có một chuyến đi thú vị và vui vẻ!

Kẹo Hồ lô ngọt ngào trong đời sống của người dân Trung Hoa

Với những ai là tín đồ của bộ phim cổ trang Trung Quốc, chắc hẳn nhớ hình tượng những xiên kẹo dài với viên tròn đỏ mọng được những cụ ông cụ bà, chú bé cầm trên tay đi rao bán trên các cảnh chợ tấp nập với tiếng rao quen thuộc “Kẹo hồ lô đây!”. Chỉ thể thôi cũng đủ thấy, món kẹo đã có từ rất lâu đời và ngày nay trở thành biểu tượng văn hóa của người Trung Hoa.

Hàng năm, khi thời tiết bắt đầu chớm lạnh, những xiên kẹo hồ lô được bày bán khắp các phố phường Trung Quốc như lời mời hấp dẫn cho một mùa đông ngọt ngào. Với người dân Trung Quốc, tuổi thơ của họ gắn liền với vị ngọt của những xiên kẹo hồ lô này. Những người bán rong mang trên mình những cây cột bằng rơm có cắm rất nhiều xiên hồ lô, rong ruổi trên những chiếc xe đạp, những chiếc xe bốn bánh, mang những sắc màu sặc sỡ đi khắp nơi trong thành phố. Tiếng rao chính là thứ âm thanh tạo ra sự khác biệt lớn nhất giữa những người bán rong kẹo hồ lô này với những người bán rong khác.

Theo nhiều tài liệu ghi lại, kẹo hồ lô ra đời cách đây hơn 800 năm, bắt đầu từ đời nhà Tống (960-1279). Lúc này, một trong những phi tần của Hoàng đế Tống Quang Tông (1147-1200) bị mắc một căn bệnh nan y khó chữa mà nhiều thái y giỏi trong triều đình phải bỏ cuộc. Thế nhưng, lúc này trong dân gian xuất hiện một vị thần y đã mang đến phương thuốc khá lạ để chữa bệnh cho nàng phi tần này. Phương thuốc này chỉ đơn giản là sử dụng những quả táo gai nhúng vào nước đường đun nóng và cho người bệnh ăn từ 5-10 viên trước mỗi bữa ăn. Chỉ sau 2 tuần, quả nhiên phương thuốc này đã phát huy tác dụng kỳ diệu trước sự ngỡ ngàng của thái y và các vị quan trong triều. Từ đó, phương thuốc này được lan truyền rộng rãi và kẹo hồ lô bắt đầu phổ biến trong dân gian như một món ăn vặt vừa ngon miệng vừa tốt cho sức khỏe.

Ban đầu, những xiên kẹo hồ lô chỉ xiên 2 quả táo gai, một quả nhỏ ở trên và một quả to ở dưới. Điều này khiến cho cây kẹo trong giống những quả hồ lô và cái tên “kẹo hồ lô” cũng bắt nguồn từ đây. Dần về sau này, người Trung Quốc bắt đầu cho thêm các viên kẹo vào que xiên, mỗi xiên có thể lên đến 8-10 viên nên trông càng hấp dẫn hơn.

Ở mỗi xiên kẹo, ngoài những trái táo gai, người ta còn thêm vào những thành phần khác như quả quất vàng, hạt dẻ nước hay hạt chà là để làm nhân kẹo. Phần vỏ bọc ngoài cũng sử dụng nhiều loại hoa quả như trái Kiwi, dâu tây, dứa, nho khô và cả Chocolate nữa. 

Cách làm kẹo hồ lô cũng khá đơn giản. Đầu tiên là việc rửa, tách hạt và xâu những quả táo gai đã tách hạt vào que tre. Tiếp theo là nhúng những que táo gai vào trong nước đường đun nóng (thắng đường cho đến khi kéo được thành sợi). Công đoạn cuối cùng là để nguội để tạo thành một lớp vỏ cứng và giòn. Một số thành phần khác như khoai lang hay hạt dẻ nước sẽ được hấp trước khi đem làm kẹo hồ lô. Để làm cho những viên kẹo được tròn đẹp, những quả táo gai sẽ được nhồi thêm đậu xanh hoặc những loại nhân khác.

Để có được những xiên kẹo chất lượng thì yếu tố nhiệt độ là vô cùng quan trọng. Nếu nhiệt độ thắng đường quá thấp, viên kẹo sẽ bị dính. Còn nếu quá cao thì lớp vỏ ngoài của kẹo sẽ trông tối màu và mùi vị cũng giảm hấp dẫn đi phần nào. Nếu nhiệt độ thắng đường quá thấp, viên kẹo sẽ bị dính. Còn nếu quá cao thì lớp vỏ ngoài của kẹo sẽ trông tối màu và mùi vị cũng giảm hấp dẫn đi phần nào.

Bên cạnh vị ngọt thanh khó cưỡng, những viên kẹo hồ lô còn thu hút mọi người bởi màu sắc đỏ óng bắt mắt và điểm thêm vài “nguyên liệu hiện đại” (Kiwi, dâu tây, dứa, nho khô,…) càng khiến xiên kẹo trở nên đầy màu sắc và càng bắt mắt gấp bội. 

Theo quan niệm của người Trung Quốc, màu đỏ tượng trưng cho sự may mắn, tốt lành, bởi vậy họ ăn kẹo hồ lô cũng có tác dụng xua đuổi vận xui và mang lại may mắn, tốt đẹp cho người ăn. Ngoài ra, hình ảnh những viên kẹo tròn trịa, căng đầy và đỏ rực còn tượng trưng cho sự viên mãn, đầy đủ, sung túc.

Mặc dù, kẹo hồ lô là món ăn vặt có mặt quanh năm ở Trung Quốc, thế nhưng với ý nghĩa đầy tốt đẹp nêu trên đã khiến cho kẹo hồ lô được bán rầm rộ ở Trung Quốc vào dịp đầu năm mới. Người Trung Quốc còn có thói quen mua kẹo hồ lô tặng các trẻ nhỏ với ý nghĩa mong các bé khỏe mạnh và gặp nhiều may mắn. Đặc biệt, ngày mùng 9/1 hàng năm còn được chọn làm ngày lễ hội kẹo hồ lô ở Thanh Đảo. Lễ hội kẹo hồ lô thường kéo dài cả tuần và thu hút rất nhiều khách du lịch trong nước lẫn ngoài nước kéo đến tham gia.

Những xiên kẹo hồ lô không chỉ gắn liền với tuổi thơ của người dân Trung Quốc mà nó cũng xuất hiện nhiều trong nghệ thuật. Người Trung Quốc đã sáng tác bài hát về những viên kẹo ngọt và có hẳn một bộ phim truyền hình dài tập do nữ diễn viên nổi tiếng Từ Cầm Ca Oa đóng vai chính mang tên Kẹo Hồ Lô. Viên kẹo xuất hiện nhiều nhất trong các bộ phim cổ trang càng tăng thêm vị thế đặc biệt của nó trong truyền thống của người Trung Hoa. Những du khách đến với thành phố lịch sử này cũng muốn nếm thử món kẹo lạ miệng này với một cảm giác thích thú đặc biệt.

Kẹo hồ lô là một món ăn đặc sắc mà chỉ ở Trung Quốc mới có và nó đã trở thành biểu tượng văn hóa của đất nước này. Bởi vậy, thưởng thức những xiên kẹo hồ lô trong hành trình du lịch Trung Quốc cũng chính là cách du khách khám phá và trải nghiệm về nền văn hoá đặc sắc ấy.

Minh hôn (Đám cưới ma) – hủ tục ghê rợn của Trung Hoa xưa

Tập tục “minh hôn” hay còn gọi là Âm hôn (đám cưới ma) xuất phát từ việc có những người chết yểu sau khi đã đính hôn, khi đó mọi người nghĩ rằng phải hoàn thành hôn sự cho họ nếu không gia đình trên cõi trần sẽ lục đục không yên. Khi tiến hành nghi thức minh hôn, cần tìm những đối tượng khác giới (đã chết) để hợp táng.

Tập tục này được cho là xuất hiện từ thế kỷ 17 trước công nguyên. Theo sách “Tam Quốc chí – Ngụy chí – Bỉnh Nguyên chí”, năm Kiến An thứ 13, ghi lại điển tích Tào Xung, con trai Tào Tháo không may chết sớm. Tào Tháo đau khổ, day dứt vì chưa cưới được vợ cho con khi còn sống nên muốn tìm một tiểu thư gia đình quyền quý đã chết để làm lễ cưới với Tào Xung. Một thời gian sau, nghe nói nhà họ Chân có con gái chết yểu, Tào Tháo liền đến nói chuyện. Hai gia đình chọn ngày lành tháng tốt tổ chức “đám cưới ma” như thật, sau đó hợp táng cho “đôi vợ chồng mới cưới”.

Minh hôn phát triển mạnh nhất vào thời nhà Tống. Theo ghi chép trong “Tạc mộng lục”, những nam nữ thanh niên chưa kết hôn không may chết sớm thì cha mẹ bắt buộc phải tổ chức minh hôn cho họ. Một số lý do được đưa ra cho việc tổ chức minh hôn là người xưa tin vào phong thủy mồ mả. Họ cho rằng những ngôi mộ cô độc sẽ ảnh hưởng đến sự hưng thịnh của đời sau. Đối với người xưa, minh hôn là cách hóa giải vận hạn cho đời sau. Tuy nhiên, phong tục này đã chính thức bị cấm từ sau năm 1949. Song tập tục cổ hủ này dường như vẫn còn tồn tại chui lủi ở một số vùng quê hẻo lánh. Chủ yếu là vùng nông thôn các tỉnh Thiểm Tây, Sơn Tây, Hồ Nam, Hồ Bắc và Quảng Đông vẫn thường diễn ra.

Hủ tục này đối với phụ nữ, người Trung Quốc quan niệm con gái không phải con mình, thế nên khi con gái của họ chết đi mà vẫn còn độc thân thì sẽ không có ai thờ phụng, thương con nên gia đình đó sẽ tìm đến người đã khuất khác cùng trường hợp để làm minh hôn và sau đó nhà trai sẽ lo việc nhang khói cho con gái mình. Cũng có trường hợp những cô gái đã qua tuổi kết hôn nhưng vẫn chưa ai rước, gia đình sợ người ta cười chê nên các cô gái như vậy phải chịu cưới một người đã khuất, rồi dọn qua bên nhà trai ở và đảm nhận vai trò như một người con dâu thực sự. Còn đối với đàn ông, minh hôn là khi họ chết đi mà vẫn độc thân, sang thế giới bên kia họ vẫn cô đơn vì vậy họ sẽ “bắt” một thành viên trong gia đình mình cùng sang cõi âm để bầu bạn. Phong tục xưa cũng cho rằng những thanh niên trẻ qua đời đột ngột khi đã có hôn ước trước đó, thì gia đình phải tổ chức đám cưới ma, nếu không vong hồn của họ sẽ quấy phá gia đình. Đặc biệt, những thanh niên trẻ đã có hôn ước nhưng không may đột ngột qua đời thì người nhà phải tổ chức “đám cưới ma”, nếu không linh hồn của họ sẽ quấy nhiễu khiến gia đình gặp nhiều xui xẻo.

Trong văn hóa Trung Quốc, em trai không thể kết hôn trước khi anh trai. Trong trường hợp người anh trai đã qua đời thì gia đình phải làm “đám cưới ma” cho anh trai trước rồi mới tổ chức lễ cưới cho người em để tránh vong linh của người anh không hài lòng, khiến gia đình lục đục.

Một số nhà khác vì lý do muốn sở hữu tài sản nên cưới vợ cho con trai đã chết, khi cưới được vợ trên danh nghĩa, nhà chồng tìm một người cháu trai nhỏ tuổi để làm con nuôi của người đã chết nhằm kế thừa tài sản và lo hương khói tổ tiên.

Để tổ chức minh hôn, đầu tiên, cha mẹ bắt buộc phải nhờ “quỷ mai mối” đi dạm hỏi cưới xin, sau đó tiến hành xem quẻ. Nếu quẻ đồng ý cho cưới thì hồn ma của đôi nam nữ sẽ được may áo cưới rồi cử hành hôn lễ, sau đó chôn cất hai người cùng một mộ.

Các nghi thức tổ chức minh hôn tương tự như một đám cưới bình thường. Trong minh hôn, nhà trai cũng phải tặng lễ vật cho nhà gái, mọi đồ ăn thức uống đều là thật, chỉ có duy nhất quần áo và trang sức là đồ vàng mã được đốt sau lễ âm hôn để cô dâu hưởng dưới suối vàng. Trong khi đốt vàng mã, nhà trai sẽ đứng quây xung quanh, đánh trống thổi kèn.

Trong nghi thức minh hôn, nếu cả cô dâu và chú rể đã qua đời thì họ sẽ được đại diện bằng hình nhân, đặt trên bàn thờ. Nếu chú rể còn sống kết hôn với một cô dâu “ma”, thì thay vì để 2 hình nhân người ta chỉ để một bức ảnh cô dâu. Chú rể sẽ đeo găng tay màu đen thay vì màu trắng trong đám cưới thông thường. 

Nhiều gia đình đã dùng hình nhân cô dâu y như thật tổ chức đám cưới. Tuy nhiên, một số nơi lại cho rằng “minh hôn” nhất định phải là người thật. Thi thể nữ đào lên từ mộ đã chôn cất, được tắm rửa, cho mặc quần áo cô dâu và tổ chức đám cưới. Sau đó cả hai được chôn cất cùng nhau.

Một đám cưới bình thường, những người thân trong gia đình thường tặng quà cho cặp vợ chồng mới cưới như đồ trang sức, tủ lạnh, bàn trang điểm, tiền mặt… Trong đám cưới ma những đồ vật này sẽ được thay bằng vàng mã sau đó sẽ được đốt cùng hình nhân cô dâu chú rể để đảm bảo họ có thể sống thoải mái ở thế giới bên kia.

Trong thời gian làm lễ, các hình nhân sẽ được đối xử, trò chuyện như với người còn sống. Sau này, hai gia đình sẽ chọn ngày lành tháng tốt để tiến hành bốc mộ. Cô gái sẽ được chôn cạnh chàng trai mà mình được gả cưới.

Sau nghi lễ minh hôn, hai bên gia đình thông gia với “cô dâu, chú rể” sẽ trở nên gắn bó với nhau hơn, đặc biệt là trong các dịp lễ Tết, hội hè.

Trung Quốc thời xa xưa có khá nhiều hủ tục đáng sợ khiến nhiều người tò mò như tục lệ bó chân gót sen, tục lệ một vợ nhiều chồng… Thực hiện một chuyến du lịch Trung Quốc, du khách sẽ có cơ hội khám phá về những phong tục kỳ lạ này.

Tục bó chân – nét truyền thống của phụ nữ Trung Hoa xưa

Từng là biểu tượng của sắc đẹp và sự quyền quý, những bàn chân nhỏ xíu do bị bó chặt của phụ nữ Trung Quốc xưa được gọi bằng những cái tên mỹ miều như “gót hoa” hay “gót huệ”. Họ quan niệm rằng, việc bị bó chân sẽ khiến họ đi không vững vàng, giống như những cành sen đong đưa trong gió.

Tục bó chân xuất hiện vào thời nhà Tống do nền Nho giáo Trung Quốc bị nghiêm khắc và khô khan hóa nhưng phổ biến nhất vào thời nhà Thanh. Có nhiều giả thuyết về xuất xứ của tục bó chân. Một trong những giả thuyết được nhắc đến nhiều là câu chuyện về một cung phi của Hán Thành Đế tên là Triệu Phi Yến. Nàng đã quấn những dải lụa quanh bàn chân và nhảy múa. Hán Thành Đế vì rất ấn tượng với dáng điệu của Triệu Phi Yến khi nhảy múa trên đôi chân bó gọn nên gọi nó là “Kim Liên Tam Thốn” (Gót Sen Ba Tấc) và ra lệnh cho những cung phi khác cũng bắt chước theo. Một câu chuyện tương tự cũng được nhắc đến trong các tài liệu không chính thức, nhân vật chính lại là nàng Giáng Phi sống ở thời Nam Bắc Triều. Tuy rất khác nhau về tên nhân vật nhưng các câu chuyện trên cho thấy một điểm chung, tục bó chân bắt nguồn trong giới thượng lưu. Việc bó chân sau đó đã trở nên thịnh hành trong giới nữ thuộc mọi tầng lớp của xã hội Trung Quốc và dần trở thành một tập tục.

Tục bó chân vẫn tồn tại ở Trung Quốc cho đến tận thế kỷ 20. Những người cai trị thuộc tộc Mãn châu triều đại nhà Thanh (1644-1912) không chấp nhận tập tục này vì nó quá hủ tục lạc hậu nhưng mà không mấy thành công trong việc ngăn chặn nó. Trong những năm cuối của thế kỷ 19, những học giả cải cách và các nhà truyền giáo Tây phương bắt đầu lên tiếng phản đối tập tục gây đau đớn thể xác này, tuy nhiên phải đợi đến những năm 1920 thì mới bắt đầu có sự thay đổi về phía nhận thức của dân chúng khi một số trí thức tân tiến tách tục này ra khỏi giá trị thẩm mỹ và đạo đức. Năm 1928, Quốc dân đảng người Hán tuyên bố kế hoạch xóa bỏ tập tục bó chân, yêu cầu tất cả thiếu nữ dưới 15 tuổi phải để bàn chân phát triển tự nhiên, song cũng không thu được hiệu quả đáng kể.

Sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập năm 1949, tục bó chân bị nghiêm cấm, và đến cuối thập niên 1960 thì tục này về cơ bản đã chấm dứt. Ngày nay, người ta chỉ còn thấy những chứng tích ít ỏi của tập tục này trên bàn chân của một số bà cụ già.

Để có được đôi “gót sen” hoàn hảo, người mẹ hoặc người bà trong gia đình sẽ bắt đầu bó chân con gái, cháu gái họ khi đứa trẻ 2-5 tuổi – khoảng thời gian xương bàn chân chưa phát triển hoàn thiện. Đầu tiên, chân của các bé gái được ngâm trong nước ấm pha thảo dược và máu động vật ấm. Nó có tác dụng nhằm ngăn ngừa sự hoại tử. Sau đó tất cả móng chân sẽ bị cắt càng sâu càng tốt để ngăn chặn sự phát triển của chân và sự nhiễm trùng sau đó. Để chuẩn bị tinh thần cho cô gái những gì sẽ xảy đến tiếp theo, bàn chân sẽ được xoa bóp nhẹ nhàng. Những dải băng bằng lụa hoặc cotton dài khoảng 3m và rộng 5cm đã được chuẩn bị sẵn và cũng được ngâm vào hỗn hợp dược thảo và máu động vật tương tự. Từng ngón chân sau đó sẽ bị bẻ quặp, ép vào lòng bàn chân và cuốn gọn vào trong những dải băng ướt này, nén thật chặt đến kiệt nước, kéo giật mạnh về phía gót chân. Đôi khi người ta còn tạo ra những vết cắt sâu ở lòng bàn chân để công việc này được dễ dàng.

Trình tự này sẽ được lặp lại 2 ngày một lần, với một lần bó chân mới. Mỗi lần bó lại, dải băng lại được thắt chặt hơn nữa làm cho quá trình bó chân càng ngày càng đau đớn. Không những thế, người xưa còn đánh thật mạnh vào lòng bàn chân của các bé gái, làm vỡ nát các xương. Khi vải được quấn lại, cô gái còn bị buộc phải đi lại trên nền nhà để bàn chân biến dạng hơn nữa.

Quá trình bó chân thường kéo dài trong 2 năm và nó đau đớn đến mức có người đã nói rằng: “Người con gái bó chân phải khóc hàng xô nước mắt”. Sau 2 năm, bàn chân sẽ giữ nguyên hình dạng trong suốt cuộc đời sau đó. Những biến chứng thường gặp là bàn chân bị sưng, chảy mủ và thậm chí còn bị hoại tử do nhiễm trùng. Móng chân sẽ mọc dài ra, đâm vào thịt làm rữa thịt, đôi khi làm rụng cả ngón chân. Và đôi khi xương bàn chân mọc theo hướng đâm thẳng về phía gót chân. Khi trưởng thành, người bó chân có thể gặp nguy hiểm với những vấn đề về sức khỏe. Những phụ nữ lớn tuổi thì có nguy cơ cao bị gãy xương chậu và các xương khác khi ngã, họ cũng khó mà đứng dậy được khi đang ngồi.

Như đã nói, bó chân là một quá trình đau đớn tột cùng lẫn thể chất và tinh thần, thế nhưng nó như một nghĩa vụ mà xã hội phong kiến quy định đối với người phụ nữ để trở thành mẹ cũng như tiếp tục duy trì nòi giống. Hủ tục này cũng nhằm ràng buộc phụ nữ trở nên lệ thuộc vào người đàn ông. Điều này nghe có vẻ vô lý nhưng có một sự thật khoa học ẩn sau đó không phải ai cũng biết. Với bàn chân bị bó chặt, khi bước đi người phụ nữ phải nhón từng bước rất nhỏ, dịch chuyển phần lớn lực bước chân lên những bó cơ ở đùi để tránh bị ngã. Hậu quả là các cơ đùi và cơ ở vùng hông sẽ trở nên co chặt một cách khác thường. Cứ như thế, theo thời gian, các cơ xung quanh cơ quan sinh dục nữ cũng ngày càng trở nên săn chắc. Điều này mang đến nhiều khoái cảm hơn cho người chồng trong sinh hoạt vợ chồng. Ngoài ra, việc dồn lực vào bắp đùi và vùng hông còn tạo cho người phụ nữ vóc dáng hấp dẫn hơn nhiều trong mắt người chồng.

Bên cạnh đó, người xưa tin bó chân còn là phương pháp để gắn kết phụ nữ với gia đình. Lý do là bởi với bàn chân bó chặt đau đớn, phụ nữ sẽ ít đi lại hơn, từ đó sẽ ở nhà chăm sóc chồng con một cách chu toàn.

Những bàn chân nhỏ xíu khi trải qua quá trình bó chân còn là một tiêu chuẩn về cái đẹp để kiếm được tấm chồng. Trong xã hội phong kiến Trung Hoa, những cô gái trẻ thường được nói rằng họ sẽ không tìm được chồng trừ khi chân phải được bó, vì không ai muốn một cô dâu với đôi bàn chân to và thô kệch. Những phụ nữ có bàn chân tự nhiên thường bị chế giễu trong các câu hát dân gian.

Cho đến ngày nay, có rất nhiều người đã tranh cãi về tập tục bó chân của người phụ nữ Trung Hoa xưa. Nhưng dù thế nào đi nữa, xét về phương diện xã hội học, tục lệ này cũng phản ánh rõ rệt quyền lực của người đàn ông trong xã hội phong kiến cùng với tư tưởng trọng nam khinh nữ nặng nề của Trung Quốc thời xưa, nó kéo dài cả hàng thế kỉ và thậm chí còn có ảnh hưởng rất lớn đến tận ngày nay.

Ngoài tục lệ bó chân, Trung Quốc thời xa xưa có khá nhiều hủ tục đáng sợ khiến nhiều người tò mò như tục lệ một vợ nhiều chồng, minh hôn… Thực hiện chuyến du lịch Trung Quốc, du khách sẽ có cơ hội khám phá về những phong tục kỳ lạ này.

Xao xuyến với vẻ ngoài long lanh và dịu dàng của Bánh quế hoa

Ẩm thực Trung Hoa rất đa dạng, ngoài món Dimsum trứ danh còn có nhiều loại bánh, món điểm tâm hấp dẫn. Trong thế giới phong phú của bánh Trung Quốc, bánh quế hoa là một loại bánh đặc biệt bởi hương vị hấp dẫn cũng như vẻ ngoài long lanh và dịu dàng. Bánh quế hoa được ướp hoa đặc biệt của các mỹ nữ cung đình xưa.

Bánh quế hoa thường xuất hiện trong những buổi tiệc cung đình hay trong bữa ăn của gia đình quý tộc thời xưa của đất nước Trung Hoa. Các cung tần mỹ nữ trong cung hay dùng loại bánh này như một món quà vặt. Loại bánh này cũng thường được các cung nữ dâng lên quý phi vào tiết trời thu mát mẻ, khi mùa hoa quế nở rộ.

Bánh quế hoa bắt đầu xuất hiện từ những năm cuối của triều Minh (1368-1644), tính đến nay món bánh này đã có tuổi đời gần 400 năm. Khi đó, một người bán hàng rong có tên Lưu Cát Tường đã ngửi được mùi thơm nồng của hoa quế từ thư phòng một vị trạng nguyên bay đến. Vì thấy mùi thơm khá đặc biệt, người này chợt nghĩ cách nhặt hoa quế ở đây, đem lọc để khử nước đắng rồi mang hoa đi ướp với mật đường. Sau khi đã được ướp, mật hoa này được trộn cùng một số nguyên liệu như bột nếp, bột gạo, dầu cải, đường… rồi mang hấp và để khuôn đem đi bán. Về sau, để phù hợp với khẩu vị nhiều người, món bánh quế hoa có thể được “biến tấu” với nhiều công thức và nguyên liệu khác nhau.

Theo thời gian, món bánh này được nâng tầm khi thay thế bột nếp bằng bột củ năng, bột sắn và bột thạch dẻo để biến thành món tráng miệng trong suốt, khoe được vẻ đẹp của hoa. Thêm vào đó mật hoa được thay thế bằng các loại quế hoa khô (quế tứ quý – vàng nhạt, đan quế – đỏ cam, kim quế – vàng tươi, ngân quế – vàng nhạt) và một vài hạt kỷ tử đỏ để chiếc bánh trở nên đẹp và tao nhã hơn, phù hợp làm món điểm tâm trong cho các cung tần, mỹ nữ.

Khi ăn một chiếc bánh quế hoa, người ăn sẽ cảm nhận được rõ nhất là vị thơm nồng của hoa quế, điểm xuyết vào đó là chút ngọt thanh của được phèn, đường mật. Bánh quế hoa truyền thống tuy không quá nổi bật về vẻ bên ngoài thế nhưng lại hấp dẫn nhờ vào hương vị đặc biệt của mình. Bánh xốp nhưng không khô, ngọt thanh chứ không gắt, thế nên dù có ăn nhiều một chút cũng không hề gây ngán cho người thưởng thức.

Trong Đông y, hoa quế là một loại dược liệu rất tốt cho sức khoẻ. Hoa quế có vị cay ấm nên thường có tác dụng làm giảm đau bụng kinh, đẹp da, trị mụn… bên cạnh đó, khi được dùng chung với mật ong, loai thảo dược này còn giúp sáng da, đen tóc và trở thành món ăn được nhiều phi tần, mỹ nữ thời xưa yêu thích.

Bánh quế hoa phổ biến nhất là vào mùa thu, khi tiết trời dần mát mẻ và cũng là mùa hoa quế nở rộ. Du lịch Trung Quốc, nhâm nhi bánh quế hoa với trà thì còn tuyệt vời gì bằng!

Quyền lực thật sự của các vị Hoàng hậu Trung Hoa cổ đại

Khi xem qua các bộ phim về cuộc sống hậu cung Trung Hoa, hẳn nhiều người tin rằng Hoàng hậu không có nhiều quyền lực và dễ dàng bị các phi tần khác lật đổ. Tuy nhiên, trong thực tế, dù ở triều đại nào, Hoàng hậu đều có một quyền lực rất lớn, không một phi tần nào dám đối đầu.

Hoàng hậu là danh hiệu dành cho chính thê của Hoàng đế, do Hoàng đế sắc phong. Hoàng hậu nắm giữ địa vị cao quý nhất trong số tất cả những người vợ của Hoàng đế, là người duy nhất được cử hành nghi thức đại hôn với Hoàng đế và được tất cả triều thần công nhận, được lão bá tánh biết đến. Chỉ xét như thế thì các phi tần không thể so sánh được.

Về phục sức, Hoàng hậu có thể mặc quần áo và sử dụng trang sức có màu vàng sáng như Hoàng đế. Những đãi ngộ cũng cao hơn các phi tần trong hậu cung. Chẳng hạn như trong lịch sử Thanh triều, Hoàng hậu mỗi năm được hưởng 1.000 lượng bạc; trong khi đó, Hoàng Quý phi được hưởng 800 lượng bạc mỗi năm; Quý phi thì được cấp phát 600 lượng bạc làm bổng lộc; Phi được nhận 300 lượng bạc/năm; Những phi tử mang Tần vị thường được cấp phát 200 lượng bạc mỗi năm;… Chưa kể, các nhu yếu phẩm phục vụ cho cuộc sống hàng ngày của Hoàng hậu cũng hơn hẳn so với các phi tần khác.

Trong các triều đại, Hoàng hậu chính là mẫu nghi thiên hạ, đóng vai trò quan trọng trong các nghi lễ. Do đó, trong nhiều dịp trọng đại, Hoàng hậu buộc phải xuất hiện bên cạnh Hoàng đế. Được tham dự điển lễ cúng tế là một sự vinh dự của Hoàng hậu mà không có phi tử nào được thay thế.

Trong hậu cung nhà Thanh, cũng chỉ có mỗi Hoàng hậu mới có đặc quyền ngủ qua đêm với Hoàng đế. Theo quy định, từ 30 Tết đến mùng 2 tháng Giêng, Hoàng hậu có thể ngủ cùng giường với Hoàng đế và đặc quyền này không một vị phi tần nào có thể cướp đi được. Và chính vì thế, xác suất Hoàng hậu mang thai rất cao, đây cũng là một lợi thế rất lớn mà vị phi tần nào cũng mong muốn.

Trong nội bộ hậu cung, Hoàng hậu luôn có một quyền lực rất lớn. Hoàng hậu phụ trách các phần thưởng phạt ở hậu cung. Lời nói của Hoàng hậu ở hậu cung giống như mệnh lệnh của Hoàng đế. Một khi các phi tần hậu cung phạm lỗi, Hoàng hậu sẽ dựa vào quy định của tổ tiên để lại mà thẳng tay trừng phạt nữ nhân đó.

Mọi chi tiêu của từng phi tần đều được Hoàng hậu nắm rõ. Thậm chí đến chuyện thăng chức, giáng chức của một người cũng nằm trong tầm kiểm soát của Hoàng hậu. Có một câu chuyện thế này để thấy rõ rằng quyền lực của Hoàng hậu cũng có những quyền hạn mà ngay cả đến Hoàng đế cũng có quyền can thiệp: có một vị phi tần được Hoàng đế cực kỳ sủng ái, và cũng chính vì lưu luyến vị phi tần đó mà Hoàng đế đã bỏ lỡ buổi thượng triều. Sau khi Hoàng hậu biết chuyện đã ngay lập tức cho người xử tử phi tần kia. Lúc đấy, Hoàng đế dù đau lòng cũng không có quyền can thiệp.

Trong lịch sử Trung Hoa cổ đại, Hoàng hậu không chỉ phụ trách các vấn đề ở hậu cung mà còn có thể ảnh hưởng đến tình hình chính trị và các chính sách lớn nhỏ của đất nước. 

Trên tiền triều, không một triều thần nào dám đắc tội với Hoàng hậu. Bởi Hoàng hậu cũng có thể ảnh hưởng đến những thay đổi chính trị, thậm chí là bổ nhiệm các chức quan trong triều.

Hoàng hậu cũng có thể thay mặt Hoàng đế để quản lý triều chính. Chẳng hạn như Võ Tắc Thiên, khi còn là Hoàng hậu đã giúp Hoàng đế phê duyệt tấu chương.

Ngoài ra, Hoàng hậu còn có thể tự thăng chức cho bản thân mình. Khi Hoàng đế qua đời, các phi tần sẽ không còn được sống an yên trong hậu cung nữa: Sẽ bị bồi táng (chôn cùng) Hoàng đế, tống vào lãnh cung hoặc đưa khỏi hoàng cung. Tuy nhiên, với tư cách là Hoàng hậu, họ sẽ có được may mắn hơn những nữ nhân hậu cung khác, có thể thăng chức cho bản thân và tiếp tục cuộc sống vinh hoa phú quý trong hoàng cung. Ví dụ như trong triều đại nhà Thanh, sau khi Hoàng đế Hàm Phong mất, một vị hoàng hậu tự thăng cấp cho mình và một vị phi tần khác thành Thái hậu, đó là Từ An Thái hậu và Từ Hi Thái hậu. Trong các nghi thức triều đình, Từ An Thái hậu cao hơn Từ Hi Thái hậu 1 bậc.

Từ đó có thể thấy rằng, địa vị của Hoàng hậu hoàn toàn cách xa với phi tần trong hậu cung, quyền lực chỉ đứng sau Hoàng đế, không phi tần nào dám khiêu khích và tất cả hậu cung luôn phải dè chừng.

Hậu cung Trung Hoa cổ đại luôn có những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện ấy lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về vùng đất “đặc biệt” này. Hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc để tự mình khám phá được nhiều điều thú vị hơn nhé!

Tết Thanh Minh – ngày lễ quan trọng của người Trung Quốc

Trung Quốc được biết đến là một trong những đất nước có nền văn hóa lịch sử lâu đời và có nhiều di tích lịch sử nổi tiếng. Không chỉ vậy đất nước này còn có những lễ hội truyền thống rất đặc sắc thu hút khách du lịch gần xa, trong đó nổi bật là Tết Thanh Minh.

“Thanh Minh” (清明) có nghĩa là trong sáng. Trong năm, Thanh Minh chính là 1 trong 24 tiết khí trong năm thường rơi vào khoảng trước hoặc sau ngày 5/4 dương lịch, sau Đông chí 108 ngày. Tên gọi “Tiết Thanh Minh” có lẽ xuất phát từ thời điểm vào mùa đông đã kết thúc, lúc này tiết trời đã bắt đầu ấm áp, bầu trời trong xanh, khí hậu ấm áp, cỏ non xanh rờn, tràn đầy hương sắc mùa xuân. Đồng thời, đến Tiết Thanh Minh lại đúng vào thời điểm mùa cấy vụ xuân.

Người Trung Hoa quan niệm rằng, nguồn gốc Tết Thanh Minh bắt nguồn ngày tế lễ của vua chúa thời cổ. Say này dân gan học theo và từ đó xuất hiện tập tục tảo mộ để tưởng nhớ công ơn tổ tiên. Theo truyền thuyết, vua Đại Vũ trị thủy thành công vào đúng vào dịp mùa xuân tới, trời đất trong lành, không khí ấm áp, trăm hoa đua nở, nhân dân liền tổ chức hoạt động chúc mừng và gọi là Tết Thanh Minh.

Từ xa xưa, Tết Thanh Minh đã trở thành ngày lễ ý nghĩa thiêng liêng đi sâu tiềm thức người dân Trung Quốc. Đây không chỉ là thời điểm phù hợp cho vụ mùa mới mà còn là tập tục đầu xuân quan trọng, là sự kết hợp nỗi buồn và hi vọng.

Tại Trung Quốc, trong những ngày lễ tâm linh này, hoạt động chính là tảo mộ. Công việc chính của tảo mộ là sửa sang các ngôi mộ của tổ tiên cho được sạch sẽ. Nhân ngày Thanh minh, người ta mang theo xẻng, cuốc để đắp lại nấm mồ cho đầy đặn, rẫy hết cỏ dại và những cây hoang mọc trùm lên mộ cũng như tránh không để cho các loài động vật hoang dã như rắn, chuột đào hang, làm tổ mà theo suy nghĩ của họ là có thể phạm tới linh hồn người đã khuất. Sau đó, người tảo mộ bày thức ăn, hoa quả ra cúng, thắp vài nén hương, đốt vàng mã hoặc đặt thêm bó hoa cho linh hồn người đã khuất.

Trong ngày Thanh Minh, khu nghĩa địa trở nên đông đúc và nhộn nhịp. Các cụ già thì lo khấn vái tổ tiên nơi phần mộ. Trẻ em cũng được theo cha mẹ hay ông bà đi tảo mộ, trước là để biết dần những ngôi mộ của gia tiên, sau là để tập cho chúng sự kính trọng tổ tiên qua tục viếng mộ. Những người quanh năm đi làm ăn xa cũng thường trở về vào dịp này (có thể sớm hơn một, hai ngày vì nhiều lý do khác nhau) để tảo mộ gia tiên và sum họp với gia đình. Bên cạnh những ngôi mộ được trông nom, chăm sóc cẩn thận, còn có những ngôi mộ vô chủ, không người thăm viếng. Những người đi viếng mộ thường cũng cắm cho các ngôi mộ này một nén hương.

Với những cơ quan, đoàn thể sẽ đi tảo mộ cho các liệt sĩ tại nghĩa trang. Đó chính là lý do những ngày Thanh Minh thì các nghĩa trang lại có rất nhiều những vòng hoa, bó hoa hay cành tùng, cành bách. Điều này thể hiện lòng biết ơn, tôn kính đến các vị liệt sĩ đã hi sinh thân mình bảo vệ tổ quốc.

Tết Thanh Minh người dân Trung Quốc còn có tập tục cắm một cành liễu trước nhà, cành liễu sống rất khỏe, khi cành liễu xanh tức là trời sẽ mưa bụi, khi cành liễu khô tức là trời nắng, nên người dân dùng liễu để dự báo thời tiết. Ngoài ra, tương truyền Tết Thanh Minh cũng có ma quỷ ra nhiều, nên dùng cành liễu để trừ tà.

Tết Thanh Minh không chỉ có ý nghĩa tảo mộ ông bà tổ tiên, những người đã khuất, hướng về cội nguồn, đây đồng thời cũng là ngày hội du xuân. Những ngày này nhiều gia đình lại hân hoan, háo hức tham gia các hoạt động văn hóa, để kết nối tình yêu thương giữa những người với nhau, tăng thêm tình yêu thương đối với những người trong cuộc sống.

Người Trung Quốc thường hay có thói quen tham dự các trò chơi thể thao như đá banh da – một hoạt động vui chơi được ưa chuộng thời kỳ Trung Quốc cổ đại. Ai nấy cũng có thể chơi được, không phân biệt giới tính nam nữ, thường dân hay vua chúa. 

Song hành với bộ môn đá banh da, người Trung Hoa còn hưởng ứng nhiệt tình với loại hình thả diều. Không kể ngày hay đêm, người dân tha hồ thả những chiếc diều trên bầu trời, mang tới sự cảm nhận thật tuyệt vời và dễ chịu biết bao. Những chiếc lồng đèn nhỏ được gắn vào dây diều, đem thả trên bầu trời tựa xa xa như những ngôi sao sáng lấp lánh, tỏa ra một sức hút hấp dẫn làm xao xuyến bao con tim lữ khách và người dân.

Trước đây, nam nữ thanh niên cũng nhân dịp này để du xuân nên mới có tên gọi “hội đạp thanh”. “Đạp” là dẫm lên, “thanh” là màu xanh, ý nói cỏ. “Đạp thanh” còn gọi là “xuân du”, là khi mùa xuân đã về, cây cối đâm chồi nảy lộc, người người rủ nhau đi ngắm cảnh sắc mùa xuân. Trong thời cổ còn có tập tục đi chơi xuân hái rau dại, tập tục này đến nay không còn nữa. Trong thời gian trước và sau Thanh Minh là các cô gái, phụ nữ đi chơi xuân, hái rau dại tươi và non về gói sủi cảo, gói bánh rất thơm ngon với mùi vị khác thường. Có một số phụ nữ còn thích gài bông hoa rau khúc màu trắng trên đầu.

Tết Thanh minh cũng là thời gian để trồng cây, vì tỷ lệ sống sót của những cây non vào thời gian này rất cao và lớn nhanh sau đó. Trước kia, Tết thanh Minh có tên “ngày hội trồng cây mùa xuân”, nhưng từ năm 1979, đã được đặt vào ngày 12/3 dương lịch.

Ngoài lễ viếng mộ tổ tiên và các hoạt động vui chơi giả trí, thưởng thức những món ăn truyền thống cũng là một phần không thể thiếu trong Tết Thanh Minh. Vào dịp này, người Trung Hoa nói chung, người Giang Nam nói riêng thường có tục ăn bánh Thanh Đoàn Tử. Để làm được loại bánh này, người ta ép lấy nước một lại cỏ mọng có tên là “Tương mạch thảo”, sau đó trộn với bột nếp đã xay nhuyễn thành một thứ bột ướt mịn. Nhân bánh là bột đậu xanh trộn đường. Đặt một viên nhân bánh và một miếng mỡ lợn nhỏ vào vỏ bột, vê tròn rồi xếp vào lồng hấp, hấp cách thủy đến chín. Khi lấy bánh ra khỏi lồng hấp, người ta lấy dầu thực vật quét đều lên khắp bề mặt bánh, khi đó bánh mới hoàn thành. Thanh đoàn tử có màu xanh bóng như ngọc, vị mềm, thơm, ăn vào thấy ngọt mà bùi, béo mà không ngấy. Người Giang Nam dùng thứ bánh này để cúng tổ tiên nên Thanh Đoàn Tử không chỉ là một món ăn mà đã trở thành phong tục ẩm thực của vùng đất này.

Ăn bánh Cuộn Thừng cũng là phong tục truyền thống vào Tết Thanh Minh của người Trung Quốc. Thứ bánh này được chiên trong mỡ, vị giòn, thơm. Thời xưa tục cấm lửa vào tết Hàn thực không được phổ biến rộng rãi tại Trung Quốc nhưng tục ăn bánh cuộn thừng lại được người dân rất ưa chuộng. Ngày nay bánh cuộn thừng có sự khác biệt giữa hai miền nam bắc. Bánh miền bắc thường to, dùng bột mì làm nguyên liệu chính. Bánh miền nam nhỏ và tinh xảo hơn, đa phần dùng bột gạo để làm. Bánh cuộn thừng cũng xuất hiện trong các vùng dân tộc thiểu số, vị ngon khác lạ, trong đó bánh cuộn thừng của tộc Duy Ngô Nhĩ, Đông Hương và dân tộc Hồi ở Ninh Hạ là nổi tiếng nhất.

Dịp Tết Thanh minh cũng trùng với mùa ốc nên người Trung Quốc có câu nói: “Thanh minh ăn ốc, không cần ăn ngỗng”. Chưa vào mùa sinh sản nên ốc dịp này béo, ăn rất ngọt. Ốc có nhiều cách chế biến, có thể xào với hành, gừng, rượu nấu, xì dầu và đường trắng hoặc khêu lấy thịt để hấp, trộn hay chần tái đều rất ngon.

Ngoài các món ăn trên, vào dịp Tết Thanh Minh, người Trung Quốc còn có tục ăn trứng gà, bánh bông lan, bánh kẹp, bánh chưng, bánh dày… Các món ăn muôn hình muôn vẻ mà giàu chất dinh dưỡng.

Tiết Thanh Minh được người dân Trung Quốc xem rất quan trọng trong các ngày lễ của năm. Du lịch Trung Quốc vào dịp Tiết Thanh Minh, du khách có cơ hội chiêm ngưỡng, trải nghiệm và tận hưởng những điều khác biệt tạo nên nét văn hóa đặc trưng cho miền đất này.