Nhấm nháp hương vị Trà Bơ giữa đất trời thảo nguyên Tây Tạng

Tây Tạng – một vùng đất thanh bình và người dân ở đây sống rất hài hòa với thiên nhiên. Thêm vào đó đây cũng chính là nơi có nền văn hóa vô cùng độc đáo. Nó là sự kết tinh những gì tuyệt vời nhất của văn hóa Ấn, Hoa,… Trong đó không thể không nhắc tới văn hóa uống trà. Và đó cũng chính là lý do khến Trà Bơ trở nên phổ biến.

Trà Bơ hay còn được biết đến là trà Po Cha. Đây là loại trà được uống nhiều nhất, nói theo cách khác, loại thức uống này là “quốc hồn quốc tuý” của vùng đất Tây Tạng.

Người ta nói rằng người Tây Tạng uống tới 60 tách trà nhỏ mỗi ngày để bổ sung dưỡng chất và nước. Với du khách nước ngoài, ngụm trà bơ đầu tiên có thể không hợp vị lắm, nhưng đó là cửa ngõ đầu tiên giúp du khách chạm tới nền văn hoá đặc trưng riêng biệt của Tây Tạng. Người Tạng thường thưởng trà cùng với “Tsampa” – một thức ăn từ bột mạch nha, hai thức cung cấp đầy đủ chất bổ dưỡng để người Tây Tạng có thể sống quanh năm.

Với người Tây Tạng, trà là người bạn kéo họ ra khỏi những cơn ngái ngủ, là người bạn vực dậy sự tỉnh táo, sự bình yên và là lời chào buổi sớm mỗi khi bình minh thức giấc. Đến Tây Tạng, du khách nhận ra không buổi sáng nào nơi đây trôi đi mà không mang theo chút hương vị thơm nồng của trà ngọt và cũng không bữa ăn đầy đủ nào thiếu trà cả, và thường là Trà Bơ.

Để lý giải tại sao món Trà Bơ lại nổi tiếng và được người dân Tây Tạng yêu thích bởi nhiều lý do. Nhưng lý do quan trọng nhất là họ sinh ra ở vùng đất với điều kiện vô cùng khó khăn và khắc nghiệt. Và nhiệt độ lúc nào cũng thấp hơn nhiều vùng khác. Vì thế, bên cạnh quần áo để có thể giữ ấm thì họ cũng cần chú ý về năng lượng từ thực phẩm. Và họ cần có các thức uống đặc biệt để có thể bổ sung năng lượng. Trà Bơ chính là món có thể bổ sung năng lượng và để ấm người.

Với khách du lịch Tây Tạng đến từ khắp nơi trên thế giới thì loại trà này có hương vị béo béo, thơm thơm mà lại mằn mặn kỳ lạ. Đây là một món quà quý giá mà người Tây Tạng thiết đãi với du khách, thể hiện sự hiếu khách của họ. Bất kể du khách là ai, hay đến từ đâu, chỉ cần ghé thăm một ngôi nhà nào đó trên thảo nguyên cao xanh này, du khách đều nhận được một cốc Trà Bơ ấm nóng từ những người dân thiện khách Tây Tạng. Người dân nơi đây còn thường đun bếp trà ngay trong gian nhà, vừa giữ lửa cho căm nhà ấm áp, vừa giúp hương thơm của trà len lỏi vào không gian.

Là thứ đồ uống cơ bản của người Tây Tạng, Trà Bơ tiêu biểu cho đời sống và văn hoá truyền thống địa phương. Vì thế, ấm và cốc uống trà trở thành những đồ vật không thể thiếu trong cuộc sống ở Tây Tạng. Đồ vật dùng để uống Trà Bơ đủ loại làm bằng mọi chất liệu khác nhau phản ánh mức sống khác nhau của các gia đình. Ấm pha trà làm bằng sứ là một trong những món đồ phổ biến nhất trong các gia đình Tây Tạng, trong khi ấm mạ đồng, đặc biệt là ấm làm bằng đồng, có thể chỉ có trong các gia đình có kinh tế ổn định và địa vị xã hội nhất định. Còn những ấm pha trà bơ huyền thoại làm bằng vàng hoặc bạc này, chúng được coi là những tác phẩm nghệ thuật hơn là những vật dụng đời sống cần thiết, thường được những người quyền quý thời cổ sử dụng.

Để chế biến Trà Bơ, người Tây Tạng sẽ đun trà đen Pu-erh (loại trà được chế biến từ lá các cây trà lâu năm, hoang dại hay từ các dãy núi) với nước sôi trong thời gian khá lâu so với những loại trà thông thường khác. Sau khoảng một tiếng đun trà, họ cho bơ bò, sữa bò và chút muối hồng Himalaya vào, rồi dùng bình trà Chandong để hòa tan trà, sữa cùng với bơ. Loại bơ để dùng với trà, được người dân bọc vải hoặc dùng dạ dày bò Yak để bảo quản chuẩn vị đúng hương.

Thử một lần nhấm nháp Trà Bơ, du khách sẽ cảm nhận được nhiều tầng hương vị đặc biệt của nó. Những ngụm trà bơ đầu tiên dễ khiến cho người chưa quen cảm thấy khó chịu, bởi hương vị kết hợp giữa 3 loại trà, bơ, muối này không hợp với nhiều người. Tuy nhiên sau ngụm thứ 2, thứ 3 sự khó chịu này sẽ giảm dần, đến ngụm thứ 5, thứ 6 thì đã có nhiều người bị món trà này chinh phục. Thậm chí nhiều du khách thập phương sau khi trở về vẫn còn nhớ mãi về món trà gây nghiện này, bởi trong không gian giá rét dường như không có thứ gì nhâm nhi phù hợp hơn Trà Bơ cả.

Để phân tích cụ thể thì Trà Bơ có nhiều tầng hương, vị đan xen khá lạ lùng trong sự hài hòa cần thiết, đủ để chinh phục những người thưởng trà khó tính nhất. Chẳng hạn như ban đầu vị mặn của muối, đậm đà béo ngậy của bơ sẽ lấn át trong ngụm trà đầu tiên, hương vị của trà lúc này chưa được bộc lộ rõ. Nhưng sau đó, hương vị của trà đen mới bắt đầu tấn công vào vị giác, đầu lưỡi chúng ta cảm nhận được chút chát chát, thanh thanh. Cuối cùng khi ngụm trà qua đi thì sẽ lưu lại chút ấm áp, ngòn ngọt nơi gốc lưỡi người uống – mùi vị của loại sữa bò được vắt từ sáng sớm tinh mơ trên cao nguyên Tây Tạng. 

Đến với Tây Tạng, du khách sẽ không phải lo lắng về việc tìm một quán nhỏ để ghé vào dừng chân. Tại Lhasa, những quán trà nhỏ lớn có ở từng ngõ ngách, và họ thường bán cả Trà Bơ và trà ngọt. Chỉ 1 USD thôi, du khách sẽ có một chai trà ngọt và có thể dùng được cho cả buổi chiều.

Phố Barkhor, một địa điểm có nhiều quán trà ngọt nhất, cho du khách cái nhìn toàn cảnh về văn hoá trà ngọt. Các quán trà ngọt ở phố Barkhor thường dành cho người Tây Tạng và du khách sẽ rất khó bắt gặp người Hán nào gần đây. Cầm những tràng Hạt cầu Phật trên tay, người dân ở đây lưu lại trong quán trà rất lâu, miệng lẩm nhẩm đọc những câu chú ngữ cầu Phật.

Khách du lịch có thể chia sẻ buổi sum họp vui vẻ của các gia đình Tây Tạng. Các thành viên cả già lẫn trẻ trong gia đình pha trò, thỉnh thoảng lại nhấp một ngụm trà ngọt trong suốt buổi chiều. Vài cư sĩ phật giáo Tây Tạng có lẽ sẽ làm tăng sự mê hoặc tín ngưỡng trong câu chuyện thần bí của họ. Dường như thời gian trôi qua quá nhanh trước khi du khách kịp nhận ra.

Ghé thăm vùng đất Tây Tạng trong hành trình du lịch Trung Quốc sẽ là cơ hội để du khách nhấm nháp hương vị đặc biệt của món Trà Bơ. Hít hà hương thơm đậm vị ngầy ngầy, trầm ngâm thưởng vị giữa không gian yên bình của đất trời Tây Tạng lạnh giá, thực sự là một trải nghiệm tuyệt vời không thể nào quên!

Rộn ràng Tết Losar của người dân Tây Tạng ở Trung Quốc

Nếu như người Việt Nam có Tết Nguyên Đán là Tết cổ truyền, thì người dân ở Tây Tạng – một khu tự trị của Trung Quốc, cũng có ngày tết riêng của họ, đó là Tết Losar. Đây là ngày lễ quan trọng nhất trong năm của người Tây Tạng, thể hiện đầy đủ nhất những nét văn hóa và tín ngưỡng độc đáo của họ. 

“Losar” là một từ tiếng Tạng có nghĩa là “năm mới”. Losar được tính bằng ngày mùng 1 (ngày đầu tiên) của tháng đầu tiên trong lịch Tây Tạng, khi mặt trăng bắt đầu quỹ đạo mới quanh Trái đất. Thường thì Losar sẽ rơi vào tháng 2 hoặc tháng 3 dương lịch hằng năm. 

Lễ hội Losar xuất hiện trước khi Phật giáo du nhập vào Tây Tạng, còn gọi là thời kỳ Tiền Phật giáo. Lúc đó, vào mùa đông người ta đều tổ chức một lễ hội tôn giáo mà trong đó hương trầm được đốt lên để dâng lên các vị thần thánh. Sau đó, khi Phật giáo xuất hiện, nó đã tác động sâu rộng tới văn hóa của người Tây Tạng, từ đó nghệ thuật, văn học và âm nhạc của người Tây Tạng đều phản ánh những quan điểm của Phật giáo. Cũng từ đó, lễ hội này đã phát triển thành một lễ hội Phật giáo được tổ chức hàng năm, mà theo sử sách ghi lại thì bắt đầu xuất hiện vào giai đoạn cai trị của Pude Gungyal – vị vua thứ 9 của Tây Tạng. Nó diễn ra vào thời điểm ra hoa của cây mơ ở vùng Lhokha Yarla Shampo. Đây cũng là thời điểm mà nông nghiệp, tưới tiêu, nghề rèn sắt và xây dựng cầu cống đã phát triển ở Tây Tạng. Những lễ hội chào đón các sự kiện này được coi như là những tiền đề của Tết Losar. Về sau lễ hội này đã trở thành Tết Losar đón năm mới âm lịch của người Tây Tạng như ngày nay.

Tết Losar sẽ được diễn ra trong 15 ngày (trong đó có 3 ngày chính) với những nghi lễ cổ đại diện cho cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, bằng cách tụng kinh, đi qua ngọn đuốc. Lễ Losar đặc trưng bởi những điệu nhảy, âm nhạc và tinh thần lạc quan của người Tây Tạng.

Trước khi đến Tết khoảng 1 tháng, người Tây Tạng đã bắt đầu dọn dẹp, trang hoàng nhà cửa, thay cờ cũ bằng những lá cờ mới nhiều màu sắc, may quần áo mới cho các thành viên trong gia đình. Họ sẽ dùng bột trắng vẽ lên tường những biểu tượng của may mắn ví dụ như hình chiếc ô (biểu tượng cho sự bảo vệ, che chắn khỏi ánh nắng mặt trời), hai con cá vàng (biểu tượng của phú quý), vỏ ốc (biểu tượng cho sự vang vọng của những giáo lý nhà Phật), hoa sen (biểu tượng cho sự vươn tới cái đẹp và sự cao quý của con người), ngọn cờ chiến thắng (biểu tượng cho chiến thắng của Đức Phật trước con quỷ Mara), bánh xe pháp luân (biểu tượng Phật giáo của Bát Chính Đạo – tức là 8 con đường đúng đắn), nút trường cửu (tượng trưng cho sự kết nối vô tận của vạn vật).

Thời điểm cuối năm được coi là một dịp đặc biệt để người Tây Tạng nói lời tạm biệt với năm cũ và đón chào năm mới, nên dù Tết Losar có 3 ngày chính nhưng người ta sẽ bắt đầu ăn mừng từ ngày 29 của tháng 12 âm lịch. Đêm 29/12 được coi là đêm giao thừa và không thể thiếu món súp Guthuk. Người ta sẽ nặn ra những viên tròn bằng bột, bên trong có chứa 9 biểu tượng của may mắn khác nhau, bao gồm ớt, sợi bông, một miếng gỗ nhỏ, than đá, đường, sợi len, giấy, sỏi và đậu sống bên trong. Mỗi người sẽ chọn một viên và nhân bên trong nó sẽ nói lên tính cách và vận mệnh của họ trong năm mới. Ví dụ nếu họ chọn được viên bánh có ớt, điều đó có nghĩa là họ là người sôi nổi, thích nói chuyện. Nếu là len thì nó tượng trưng cho lòng tốt còn than đá biểu tượng cho sự bủn xỉn. Nếu họ chọn được những nguyên liệu màu trắng bên trong, ví dụ như muối thì đây cũng là một dấu hiệu tốt.

Ngày chính của Tết Losar bắt đầu (Mồng 1 Tết hay còn gọi là “Lama Losar”), lúc này các thành viên trong gia đình đều sẽ dậy sớm, mặc những bộ quần áo mới và đẹp nhất. Các bà mẹ sẽ nấu một nồi rượu lúa mạch (Changkol) và chờ mặt trời lên. Trong thời gian này, họ sẽ cùng nhau ăn Droma Dresil – một món cơm thập cẩm gồm gạo, bơ, nho khô, đường. Khi bình minh ló rạng, người phụ nữ cao tuổi nhất nhà sẽ mang một chiếc gầu ra con sông gần nhà để lấy về gầu nước đầu tiên trong năm mới. Theo quan niệm của người Tây Tạng, đây là lúc nước đạt được độ tinh khiết nhất. Sau đó, các thành viên trong gia đình cùng quây quần bên nhau, trao cho nhau câu chúc năm mới truyền thống là Tashi Delek và cùng uống rượu lúa mạch. Người ta sẽ để hạt lúa mạch mọc mầm và bánh lúa mạch Tsampa cùng những hạt ngũ cốc khác lên bàn thờ để cầu mong một năm mới được mùa.

Ngày thứ hai của Tết Losar có tên “Gyalpo Losar” – còn có tên là “ngày Tết Losar của nhà vua”, có mục đích tôn vinh Đạt Lai Lạt Ma – thủ lĩnh tinh thần của người Tây Tạng cùng các lãnh đạo của cộng đồng. Trước đây nó là ngày để các vị vua tặng quà cho dân chúng trong các lễ hội. Trong ngày này sẽ có những màn múa hát, biểu diễn đặc sắc chỉ có duy nhất một lần trong năm. Người dân cũng uống rượu lúa mạch Chang và cùng nhau ca hát, nhảy múa. Trong các gia đình, vào buổi tối, người ta sẽ mang những cây đuốc và đi khắp nhà, vừa đi vừa la hét để xua đuổi quỷ dữ ra khỏi nhà.

Cũng trong ngày này, người ta mới bắt đầu việc đi thăm họ hàng và bạn bè, cùng nhau ăn uống, múa hát. Trẻ em được tặng quà và tiền mừng tuổi. 

Mồng 3 Tết (Choe-kyong Losar), người dân tổ chức cúng tế những vị thần bảo hộ các Lạt Ma. Họ treo cờ sặc sỡ trên đồi, núi và nóc nhà, đốt lá cây bách xù và đốt hương dâng lên thần thánh. Họ hát và tung những nhúm bột kiều mạch lên trời, đồng thời khấn “Ki-ki So-so Lha Gyalo!”, có nghĩa là “Cầu xin hạnh phúc và cầu các vị thần linh chiến thắng!”.

Sau 3 ngày chính, người dân Tây Tạng lại tiếp tục ăn uống và tiệc tùng mừng năm mới đến tận 12 ngày tiếp theo, tức là tới rằm tháng Giêng.

Năm mới chỉ kết thúc với sự kiện lễ Chunga Choepa hay còn gọi là Lễ hội Đèn Bơ, trong đó người ta sẽ tạo ra những tác phẩm điêu khắc từ bơ sữa bò Yak. Đây là một hoạt động mang tính thiêng liêng với người Tây Tạng, và các thầy tu trước khi tham gia phải thực hiện những nghi lễ để thanh tẩy cơ thể. Sau lễ hội, những tác phẩm nghệ thuật này sẽ được đặt ở các tu viện.

Du khách có cảm thấy hào hứng với Tết Losar của người dân Tây Tạng không? Nếu câu trả lời là có thì còn chần chờ gì nữa mà du khách không book một tour Trung Quốc để cùng hòa mình trong một “cái” tết Losar đặc sắc và vui nhộn?

Mì khô nóng – món đặc sản “gây nghiện” của Vũ Hán, Trung Quốc

Thành phố Vũ Hán là thủ phủ của tỉnh Hồ Bắc, nơi được xưng tụng là “Chicago của phương Đông”. Không chỉ là một trong những thành phố thu hút khách du lịch nhiều nhất ở Trung Quốc, Vũ Hán còn là địa danh có vô số các món ăn đặc sản địa phương nằm trong top 10 nền ẩm thực Trung Quốc, điển hình như món mì khô nóng.

Tại Vũ Hán, món mì khô nóng xuất hiện vào những năm đầu thập niên 1930. Khi đó tại bến cảng Hán Khẩu, có một người đàn ông tên Bao Li điều hành quầy bán thức ăn nhỏ chuyên bán các món phở và mì đậu. Quầy đồ ăn nhỏ của anh lúc nào cũng đông khách đến mua, chính vì vậy trong một buổi chiều quá bận rộn, anh này đã vô tình đổ dầu mè lên một chảo mì lớn đã được nấu chín. Thay vì bỏ đi, anh liền nhanh trí thêm vào một chút hẹ và nêm nếm gia vị vừa miệng, sau đó đem trộn đều và đem ra phục vụ thực khách. Vậy là món ăn tưởng chừng như “sai lầm” này lại khiến nhiều người yêu thích và nhanh chóng trở thành một món ăn đặc sản của Vũ Hán. Rồi dần dần, những người bản địa di cư đã mang theo văn hóa ẩm thực địa phương và mở các cửa hàng mì khô nóng ở bất cứ nơi nào mà họ định cư, khiến món mì này trở nên nổi tiếng khắp đất nước Trung Quốc.

Để có được một tô mì khô nóng ngon “đúng chuẩn”, sợi mì để làm món này phải là mì tươi và được làm từ sáng sớm. Khi khách đến quán và gọi món, người đầu bếp sẽ mang sợi mì đi trụng nước sôi sau đó phủ lên đó nước sốt đậu nành và vừng cay rồi thêm vào một số món ăn kèm như đậu dài ngâm hay củ cải ngâm cay. Khi trộn mì, lượng nước sốt phải vừa đủ để tráng mì, giúp mì dù nóng nhưng vẫn khô vừa đủ.

Một bát mì khô nóng hoàn hảo là khi sợi mì phải có độ mềm vừa phải và vẫn giữ được độ dai. Sau khi trộn mì với một chút dầu mè, gia vị và thêm vào một chút rượu tự nấu của địa phương, bát mì khô nóng sẽ dậy mùi vô cùng hấp dẫn.

Vào năm 2013, trang Daily Mail nổi tiếng đã từng xếp món mì khô nóng của Vũ Hán vào một trong 5 món mì hàng đầu của nền ẩm thực phong phú phương Đông. Người Vũ Hán yêu mì khô nóng như cách người Việt yêu phở, người Nhật mê mì Ramen hay người Mỹ chẳng thể thiếu món bánh mì kẹp vào mỗi sáng. Mì khô nóng thường được chọn làm món ăn ưa thích trong ngày. 

Ngày nay, mọi người đều có thể dễ dàng tự chế biến món mì khô nóng này ở nhà. Tuy nhiên, người dân Vũ Hán vẫn giữ thói quen ăn ở những quán ven đường. Thưởng thức một bát mì khô nóng hay những món ăn đường phố Trung Quốc, tám chuyện sôi nổi cùng gia đình, bạn bè hay những người bán hàng rong dường như gắn liền với văn hóa truyền thống của người dân Vũ Hán. Ở Vũ Hán, bất kể ở đâu có món ăn đường phố, ở đó có tiệc.

Nếu có cơ hội ghé thăm thành phố Vũ Hán trong hành trình du lịch Trung Quốc, đừng quên thưởng thức một bát mì khô nóng đậm đà nhé! Chắc chắn hương vị đặc biệt của món đặc sản Vũ Hán này khiến du khách phải “ngây ngất” đấy!

Kẹo râu rồng – món tráng miệng ngọt ngào của người Trung Hoa

Trung Quốc có nền ẩm thực vô cùng phát triển, đặc biệt là ẩm thực đường phố. Chỉ riêng các loại bánh kẹo của đường phố Trung Quốc cũng đã vô cùng đa dạng, nào kẹo hồ lô, bánh quẩy, bánh hành chiên… Và nếu là một người mê mẩn những món ngọt của Trung Quốc, kẹo râu rồng, một món ăn đường phố phổ biến tại đây luôn là sự lựa chọn thú vị dành cho du khách.

Trước đây, kẹo râu rồng (龍鬚糖) vốn nổi tiếng là một món tráng miệng ngọt ngào được thịnh hành trong hoàng cung và luôn nằm trong danh sách các món ăn được nhà vua yêu thích. Tương truyền, vào thời nhà Hán, món kẹo này chỉ có Vua mới được ăn. Mỗi khi nhà vua thưởng thức thì những sợi kẹo dính quanh miệng mình và những đại thần đều trêu đùa nhà vua mới mọc thêm râu. Từ đó, cái tên “kẹo râu rồng” được sử dụng để gọi món kẹo này cho tới bây giờ.

Nếu như từ khi mới ra đời, kẹo râu rồng chỉ được lưu hành trong cung cấm và phục vụ tầng lớp quý tộc, thì cho đến năm 1911, sau sự sụp đổ của chế độ nhà Thanh, món kẹo này đã dần vượt qua Tử Cấm Thành và phổ biến hơn trong tầng lớp bình dân. Cứ như vậy, kẹo râu rồng trở thành một phần của ẩm thực đường phố cho đến ngày nay.

Kẹo râu rồng không chỉ đơn thuần là một món tráng miệng mà còn là cả một nghệ thuật thủ công truyền thống của Trung Hoa. Bởi vậy mà dù đã trải qua một thời gian dài tồn tại trong lịch sử nhưng nó vẫn luôn là món kẹo được yêu thích.

Để làm kẹo râu rồng, người ta chỉ cần những nguyên liệu khá đơn giản bao gồm: đường mật maltose (mạch nha), bột, lạc rang,… nhưng bí quyết làm nên món này mới chính là trọng điểm thu hút nhiều sự quan tâm của các thực khách. Để có được những chiếc kẹo hấp dẫn này, người ta sẽ phải làm qua rất nhiều công đoạn tỉ mỉ và cực kì khéo léo.

Đầu tiên, người đầu bếp phải thắng đường cho đặc dính lại rồi nặn thành từng khoanh tròn với độ lớn vừa phải. Sau đó họ sẽ bắt đầu kéo giãn kẹo trong bột khô để có thể tạo ra những sợi chỉ dễ dàng mà không bị dính vào nhau.

Công đoạn công phu nhất trong việc làm kẹo này chính là việc gấp và kéo sợi. Việc quấn đôi vòng kẹo hay kéo sợi được thực hiện lặp đi lặp lại rất nhiều lần. Thậm chí có nơi người thợ làm kẹo còn cho biết quy trình quấn đôi vòng kẹo này vượt quá cả 16.000 vòng. Biết được số lượt vòng kẹo phải gấp đôi thì chắc chắn du khách sẽ không còn ngạc nhiên khi thấy các thớ kẹo bắt đầu tơi ra như sợi chỉ mảnh mai.

Sau khi kẹo tơi ra thì người ta chỉ việc cắt kẹo thành từng khúc vừa phải rồi cho hỗn hợp đậu phộng nghiền, mè, đường hoặc dừa vào rồi dùng nĩa/tay để se kẹo lại như một cái kén trắng.

Màu sắc phổ biến nhất của kẹo râu rồng chủ yếu là màu trắng, thế nhưng ngày nay, để những viên kẹo bắt mắt và hợp sở thích của nhiều người hơn, người ta thường làm ra những viên kẹo đủ màu sắc như hồng, xanh, nâu, vàng… Khi thưởng thức và chỉ cần cắn một miếng nhỏ thôi, thực khách cũng sẽ cảm nhận kẹo tan ra ngay khi chạm vào đầu lưỡi, tan tỏa vị ngọt ngào của mạch nha kèm theo nhân đậm đà trong miệng.

Kẹo râu rồng trông tưởng chừng rất đơn điệu nhưng thật ra lại thu hút người qua lại bởi không chỉ các công đoạn thực hiện đẹp mắt và công phu mà đây còn là món ăn vặt khá ngon miệng, hợp khẩu vị của nhiều người, nhất là đối với người hảo ngọt.

Nếu có dịp du lịch Trung Quốc, kẹo râu rồng là một món ăn đường phố mà du khách nhất định phải thưởng thức. Vừa nhìn những người thợ khéo léo tạo ra chiếc kẹo tỉ mỉ vừa cắn một miếng “ngọt ngào” sẽ là trải nghiệm vô cùng thú vị dành cho du khách đấy!

Nỗi oan của Vạn Lịch Đế khi nhận danh hiệu “hoàng đế lười nhất lịch sử” Trung Hoa

Trong số các vị Hoàng đế nhà Minh, Hoàng đế Vạn Lịch là một vị vua khá nổi trội, ông có thời gian trị vì lâu nhất triều đại – dài tới 48 năm. Thế nhưng trong 48 năm đó, Hoàng đế Vạn Lịch không lâm triều tới 28 năm liên tiếp – 28 năm không quan tâm chính sự, bởi vậy, ông bị đánh giá là vị Hoàng đế lười nhác nhất trong lịch sử. 

Minh Thần Tông (4/9/1563 – 18/8/1620) hay Vạn Lịch Đế, là vị hoàng đế thứ 14 của nhà Minh trong lịch sử Trung Quốc. Ông trị vì trong 48 năm, lâu dài nhất trong các vị Hoàng đế nhà Minh và triều đại của ông cũng chứng kiến sự suy tàn dần dần của nhà Minh.

Ông có tên thật là Chu Dực Quân, là con trai thứ ba của Minh Mục Tông Chu Tái Hậu, mẹ là Hiếu Định Hoàng hậu Lý thị, người Thông Châu, vào hầu Mục Tông khi còn là Dụ vương với thân phận thị nữ của Hiếu An Hoàng hậu.

Năm 1568, 2 năm sau khi Minh Mục Tông lên ngôi, Chu Dực Quân được phong làm Hoàng thái tử. Năm 1572, ngày 5/7, Minh Mục Tông băng hà. Thái tử Chu Dực Quân mới chưa đầy 10 tuổi được lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Vạn Lịch, Từ Thánh Hoàng Thái hậu dạy bảo và phụ chính.

Vạn Lịch lên ngôi khi chỉ 10 tuổi, mới là đứa trẻ chưa hiểu chuyện thế gian. Tuy vậy, vị vua trẻ vẫn ngày ngày cần mẫn thiết triều, học tập, giải quyết chính sự. Trong thời gian đầu lên ngôi, Vạn Lịch được sử sách đánh giá là rất siêng năng, trực tiếp xử lý hầu hết các công việc trong triều và rất được lòng quần thần.

Thế nhưng vào giữa thời kỳ cai trị, Hoàng đế Vạn Lịch bất ngờ trở nên “lười biếng”. Ông đã ngừng thiết triều trong suốt 28 năm, dường như không màng chính sự nữa. Tuy nhiên, điều bất ngờ là trong 28 năm này, xã hội vẫn yên ổn, nội chiến và ngoại chiến vẫn toàn thắng. Điển hình như bên trong, có Chiến dịch Ninh Hạ dẹp yên cuộc nổi loạn của người Mông Cổ; bên ngoài, có Chiến tranh Nhật Bản – Triều Tiên (1592-1598) đánh lại Nhật Bản.

Có nhiều suy đoán khác nhau về lý do vua Vạn Lịch không lâm triều và bị quy kết là lười nhác. 

Suốt cuộc đời Hoàng đế Vạn Lịch có được ba trợ thủ đắc lực, đó là Từ Thánh Hoàng Thái hậu, Phùng Bảo và Trương Cư Chính.

Từ Thánh Hoàng Thái hậu có lòng yêu thương nhân từ độ lượng của người mẹ, Hoàng đế Vạn Lịch vô cùng kính trọng bà. Có đôi lúc bà cũng sẽ tham gia việc chính trị, giúp đỡ Vạn Lịch. Phùng Bảo được Vạn Lịch gọi là “Đại Bảo”, là trợ thủ đắc lực của Hoàng đế, cũng là một người bạn đồng hành từ nhỏ đến lớn của ông.

Người có ảnh hưởng lớn nhất đến Vạn Lịch là Trương Cư Chính. Trương Cư Chính đã làm vô cùng tốt vai trò người thầy nghiêm khắc bậc nhất của Hoàng đế Vạn Lịch.

Sau khi Vạn Lịch lên ngôi, có hơn phân nửa việc chính sự được Trương Cư Chính và ông cùng xử lý. Chính thứ quan hệ vua tôi hài hoà này đã mang tới thời kỳ xã hội ổn định, kinh tế phát triển kéo dài mười năm mang tên “Vạn Lịch trung hưng”.

Vạn Lịch dựa dẫm rất nhiều vào Trương Cư Chính, đến mức sau khi Trương Cư Chính qua đời, ông không biết phải nghe theo ai, bắt đầu bỏ bê triều chính. Đây là một nguyên nhân, nhưng không phải là nguyên nhân chủ yếu nhất.

Đồn đoán phổ biến nhất là nhà vua vì thất vọng về các quan văn nhà Minh quá mưu cầu tư lợi nên cố tình tránh mặt các quan. Đa số quan văn nhà Minh đều mưu cầu tư lợi. Thái độ của phần lớn trong số đó khi ấy là: Chỉ cần đứng đúng vị trí trong những việc phải trái rõ ràng, ngày thường nhận một chút lợi lộc sẽ chẳng ảnh hưởng gì lớn. Điều quan trọng là quyền lực của đám quan văn rất lớn. Việc họ phản đối Vạn Lịch lập con thứ ba làm Thái tử đã trở thành giọt nước tràn ly. Từ đó về sau, Vạn Lịch không còn cùng làm việc với quan văn nữa. Thật ra, thay vì nói Vạn Lịch bỏ bê triều chính, nên nói ông tránh mặt đám quan văn mới phải.

Không lâm triều là để không thấy sẽ khỏi phải phiền lòng, không có nghĩa là Vạn Lịch không màng chính sự. Ngược lại, điều này còn nâng cao hiệu suất hành chính ở một mức độ nhất định, Hoàng đế Vạn Lịch có thể chuyên tâm xử lý quốc sự hơn. 

Theo các sách sử, vị hoàng đế này chưa một lần nào chính thức xác nhận về lý do mình không thiết triều, trước những lời phàn nàn của quần thần, ông chỉ đơn giản trả lời là mình không được khỏe. Thời điểm ấy người ta vẫn chưa tin lời ông, các đại thần trong triều thì đinh ninh đây là lời biện hộ vô căn cứ của “vị vua lười biếng”.

Phải tới 400 năm sau, hậu thế mới tìm ra lý do không thiết triều của vị hoàng đế nhà Minh khi khai quật lăng mộ của ông. Vào năm 1955, nhóm khảo cổ dẫn đầu bởi nhà sử học Quách Mạt Nhược đã khai quật khu lăng mộ Định Lăng của Hoàng đế Vạn Lịch và cải tạo thành một bảo tàng ngầm dưới lòng đất. Lăng mộ này dù không lớn nhưng thiết kế vô cùng cẩn mật, phải mất hơn 1 năm đoàn khảo cổ mới tìm được lối vào. Theo số liệu công bố, vật tùy táng bên trong có tới hơn 3.000 văn vật gồm rất nhiều đá quý, trân châu cùng nhiều vật phẩm và tơ lụa.

Khi mở nắp quan tài, bí ẩn lớn nhất về vị vua thứ 13 của nhà Minh đã dần được tiết lộ. Bản khôi phục hài cốt của Hoàng đế Vạn Lịch cho thấy hai chân của ông có độ dài không đồng đều, chân phải dài hơn chân trái một chút khiến việc đi lại rất bất tiện.

Dị tật chân bất cân xứng xuất hiện do Vạn Lịch mắc chứng teo cơ khá trầm trọng, điều này trực tiếp lý giải nguyên nhân ông không thể ngồi lâu trên ghế rồng.

Trình độ y học thời đó còn kém phát triển, bệnh tình của vua không thể chữa khỏi, dáng đi cũng vì bệnh mà kém uy nghiêm nên Vạn Lịch đã chọn cách ẩn mình sau màn trướng để giải quyết chính sự.

Vị vua vẫn siêng năng vì nước vì dân dù không được người đời nhìn thấy, vậy mới hiểu thiên tử cũng có những nỗi khổ thật không thể chia sẻ cùng ai! 

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất kỳ khách du lịch nước ngoài nào. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn thì hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc nhé!

“Bật mí” những điều thú vị về Long bào của các vị Hoàng đế Trung Hoa xưa

Trong triều đại phong kiến, Hoàng đế được xem là bậc chí tôn, cao cao tại thượng. Mọi đồ dùng mà nhà vua sử dụng đều là những đồ quý giá, độc đáo, được thiết kế riêng từ chất liệu, màu sắc đến họa tiết và bất cứ ai cũng không được phép dùng những màu sắc, chất liệu họa tiết đó. Biểu hiện rõ nhất của sự phân biệt này phải kể đến trang phục của hoàng đế Trung Hoa hay còn được gọi là Long bào.

“Long” có nghĩa là rồng. “Bào” có nghĩa là y phục, quần áo. Trong xã hội phong kiến thì rồng biểu tượng cho chân mệnh thiên tử, nên dùng để chỉ nhà vua hay còn gọi là Thiên tử (con trời). Thời phong kiến những đồ vật có hình rồng chỉ có vua mới được dùng. Như vậy, long bào là từ dùng để chỉ quần áo có thêu hình rồng cho hoàng đế mặc.

Trên chiếc long bào có những chi tiết cần phải chú ý như hoa văn 9 con rồng trên cả vạt trước và vạt sau áo. Trước thời nhà Đường, nhiều người có thể mặc áo có dạng tương tự long bào nhưng không được thêu hình rồng. Nhưng sau thời nhà Đường, người bình thường không chỉ không được phép thêu hình rồng lên quần áo mà ngay cả áo kiểu dáng long bào cũng không được mặc. Đường Cao Tổ còn quy định, màu vàng là màu của đế vương, chỉ được dùng bởi vương thất. Từ đó về sau, màu vàng đã trở thành màu sắc đặc trưng dùng riêng cho hoàng tộc. Hầu như long bào của các thế hệ sau đó đều lấy màu vàng sáng làm chủ đạo.

Long bào của Tần Thủy Hoàng có màu đen

Chúng ta vẫn thường thấy rằng những bộ quần áo mà vua Tần Thủy Hoàng mặc thường có màu đen, đến thời Hán Văn Đế áo long bào chuyển sang màu vàng; áo long bào thời Tấn, Tống, Minh thì có màu đỏ… Du khách có biết tại sao lại có chuyện như vậy không?

Dưới thời nhà Tần, các học thuyết về ngũ hành rất phát triển, vua Tần cho rằng cơ nghiệp của nhà Tần gắn liền với yếu tố nước trong ngũ hành. Nước sau khi dập lửa sẽ để lại những vết tro tàn màu đen, chính vì vậy mà Tần Thủy Hoàng chọn màu đen nhằm ngụ ý, cơ nghiệp nhà Tần mệnh nước sẽ dập tắt được ngọn lửa thôn tính của các nước, không cho họ cơ hội bùng cháy. Sau khi Tần Thủy Hoàng qua đời, nhà Tần nhanh chóng bị lật đổ, nhà Hán được thành lập thay thế vị trí của nhà Tần. Chính vì vậy mà các vua triều đại sau cho rằng không nên chọn màu đen, sẽ không may mắn đi theo vết xe đổ của nhà Tần. Sau này, các vua phong kiến đều chọn màu vàng, là màu của kim loại quý. Chọn màu vàng ngụ ý mong đất nước của mình sẽ được phồn thịnh, nhiều vàng, nhiều của.

Long bào với chất liệu, hình vẽ hoa mỹ, cầu kì và tinh tế

Long bào là trang phục của bậc đế vương thời cổ đại, hoa văn thêu trên long bào nằm ở vị trí nào đều có quy định rõ ràng, thậm chí có những hoa văn hoặc màu sắc chỉ được phép sử dụng trên trang phục của đế vương, vì đây là biểu tượng vương quyền tối cao.

Những chất liệu làm long bào đều phải lựa chọn chất liệu tốt nhất, mềm mại, thoải mái như lụa, tơ, gấm… thường sẽ là những vải thượng hạng chọn từ những cống phẩm của các nước tiến cống. Hầu hết long bào sẽ có màu vàng, thêu hoạt tiết hình rồng bằng chỉ vàng, chỉ bạc – loại chỉ quý hiếm ở thời phong kiến.

Hoa văn chủ yếu trên long bào là văn rồng, ngoài ra còn có văn phụng, văn mẫu đơn phú quý, văn ngọc tỉ, ở quanh văn rồng còn có văn mây ngũ sắc, văn dơi đỏ, văn thập nhị chương (nhật, nguyệt, tinh thần, sơn, long, hoa trùng, tông di, tảo, hỏa, phấn mễ, phủ, phất) tượng trưng cho điều lành. Dĩ nhiên những hoa văn này có ý nghĩa sâu xa, mây ngũ sắc là hoa văn trang trí thường thấy, tượng trưng cho may mắn; văn dơi màu đỏ là tượng trưng cho “phúc lớn”, cũng là hoa văn trang trí không thể thiếu trên long bào.

Nói riêng về văn rồng, thì trong một số tài liệu có mô tả như thế này: chín con rồng trên long bào có bốn con chính long thêu ở trước, lưng và hai vai. Vạt trước và sau long bào thì mỗi vạt có hai con hành long, như vậy nhìn từ trước hay sau đều thấy năm con rồng, hàm ý sự tôn quý (cửu ngũ). Nhưng tính ra tổng cộng mới chỉ có tám con rồng, còn một con ở đâu? Thật ra con rồng cuối cùng này thêu bên trong vạt trước, muốn trông thấy phải vén vạt áo lên mới được. Tất nhiên, việc thiết kế văn rồng trong mỗi triều đại cũng có sự đổi khác.

Ngoài chín con rồng ở trên thì văn rồng còn thể hiện trong những hình rồng nhỏ ở cổ áo, eo và cổ tay áo. Còn vô số đường uốn lượn dưới long bào gọi là “chân nước”. Trên chân nước thêu rất nhiều gợn sóng cuồn cuộn, còn báu vật đá dựng đứng gọi là “hải thủy giang nhai”, không chỉ tượng trưng cho may mắn bất tận mà còn hàm nghĩa “thống nhất giang sơn”, “mãi mãi thái bình”.

Người xưa gọi ngôi vị hoàng đế là “Cửu ngũ chí tôn”. Trong “Dịch kinh – Càn Long – Cửu ngũ” có ghi: “Rồng bay trên trời, phúc cho bậc đại nhân khi nhìn thấy”. Số chín là số dương, trong Dịch kinh biểu thị bằng một vạch liền (─); số năm là hào vị thứ năm trong quái tượng tính từ dưới lên. Khổng Dĩnh Đạt ghi trong “Ngũ kinh chính nghĩa” rằng: “Lời cửu ngũ, dương khí mạnh ngút trời, vì rồng ở trên trời. Hiện tượng này ví như thánh nhân có đức rồng, bay cao ở ngôi vị trên trời”. Chính vì thế, sau này “cửu ngũ” dùng để ví ngôi vua. Cũng từ văn hóa Đạo gia như vậy mà long bào có thêu chín con rồng, tượng trưng cho hoàng đế.

Ngoài ra, một biểu tượng khác trên chiếc áo long bào là hình ảnh một con dơi đỏ – từ đồng âm của một nhân vật mang ý nghĩa là “ngập trong trận đại hồng thuỷ của sự may mắn”.

Áo lót bên trong cũng có hình ảnh của đại dương và núi non, vì theo quan niệm của người Trung Hoa, hoàng đế là thiên tử, là người có quyền lớn nhất thế gian.

Tay áo dài và cổ áo rời, nặng

Mặc dù người Mãn Châu từ vùng Đông Bắc tái chiếm và đóng đô ở Bắc Kinh từ tay nhà Minh vào năm 1644 nhưng nếu xét về các khía cạnh văn hoá, phong tục tập quán và lễ nghi, người Mãn Châu phải học rất nhiều từ đất nước phát triển như Trung Hoa. Họ không những nể phục Trung Hoa bởi thể chế chính trị mà còn khâm phục bởi những lễ nghi, văn hoá, phong tục tập quán và thậm chí tôn giáo của người dân nơi đây. Sau khi xâm chiếm, dù người Mãn Châu rất khâm phục văn hoá Trung Hoa, nhưng họ vẫn luôn tự hào về cội nguồn của chính mình. Do đó, việc du nhập những bộ y phục là một trong những yếu tố quan trọng nhất khi người Mãn Châu chuyển đến vùng đất này. Chúng được làm từ da động vật và có hình dạng của con thú ấy để tận dụng tối đa việc sử dụng nguyên liệu thô.

Y phục hoàng tộc của người Trung Hoa với tay áo hình móng ngựa cùng cổ áo rời và nặng được bắt nguồn từ truyền thống của người Mãn Châu. Kể từ khi người Mãn Châu sinh sống bằng việc săn bắn ở vùng Đông Bắc, họ phải tìm cách để chống chọi với cái lạnh thấu xương ở vùng đất này. Do đó, họ mặc những bộ y phục có tay áo dài để che hết phần tay, và cổ áo rời, nặng được dùng để tránh rét trong những chuyến đi dài.

Nhưng sau này, tay áo dài trở nên vướng víu trong cuộc sống thường nhật. Vì thế, triều đình đã quyết định cuốn tay áo lên, và chỉ thả tay áo xuống khi giao thiệp với một người lạ nào đó. Truyền thống này xuất phát từ hoàng tộc triều đình và dần dần trở thành nếp sống của tất cả mọi người.

Mỗi chiếc long bào được dùng cho từng dịp khác nhau

Các tủ quần áo hoàng gia trong thời nhà Thanh đều là những chiếc áo choàng và áo long bào. Nhiều long bào được dùng cho những dịp lễ lớn trong triều đình, y phục đi du ngoạn, y phục vào những ngày thời tiết xấu và thậm chí những bộ y phục dùng khi ăn và ra ngoài trời.

Tuỳ vào tình hình thời tiết mà sẽ có áo lót bên trong hay không và sẽ làm bằng những chất liệu khác nhau như lụa, da thuộc hay vải sợi. Màu sắc được chọn phải phù hợp với màu sắc hoàng gia. Một trong những màu sắc dành riêng cho hoàng đế là vàng tươi, đỏ, xanh và xanh sáng.

Màu vàng thường được sử dụng trong các buổi lễ. Những màu sắc còn lại được dùng trong những ngày lễ ở ba ngôi đền lớn: Long bào xanh ở Đền Cung đình, long bào đỏ ở Đền Mặt trời và long bào xanh sáng ở Đền Mặt trăng. Với mỗi chiếc áo long bào, hoàng đế cũng sẽ đeo đai và mũ phù hợp.

Những chiếc áo long bào được dùng trong những dịp hết sức đặc biệt thường có hoạ tiết con rồng vàng. Thông thường, hoàng đế chỉ mặc bộ y phục này vào những ngày lễ trọng đại.

Quá trình làm long bào rất phức tạp, rất nhiều thủ pháp

Trang phục của Hoàng đế ngày xưa đều do những người thợ có chuyên môn cao phụ trách, triều đình cũng sẽ phái người đến theo dõi và đốc thúc. Ngay cả khi có rất nhiều người cùng làm thì cũng cần đến vài năm để hoàn thiện một chiếc long bào. Thời nhà Thanh, có hơn 2.000 người chịu trách nhiệm làm long bào cho Hoàng đế, họ phải làm cả ngày lẫn đêm, có khi mất đến hơn 2,5 năm để hoàn thành. 

Kiểu mẫu và đường nếp phải nhận được sự chấp thuận của hoàng đế và các vị đại thần trong triều đình trước khi được phép hoàn thành. Sau đó, kiểu mẫu sẽ được chuyển giao đến các thợ làm lụa. Sau khi vải đã hoàn tất, một thợ thủ công sẽ cắt vải và sẽ chuyển đến một thợ may tiếp theo để hoàn tất phần thô của chiếc áo long bào. Sau cùng, chiếc áo sẽ được thêu thêm nhiều hoạ tiết cầu kì.

Chỉ những loại chỉ thượng hạng mới được sử dụng để thêu long bào và thậm chí còn phải làm từ vàng thật. Hoàng đế sẽ thuê 500 thợ thủ công và thợ thêu để khâu áo và 40 thợ khác để thêu chỉ vàng lên áo.

Chế tác long bào là một công việc đầy rủi ro nhưng lại có thu nhập cao. Và vì được trả công rất cao nên nếu xuất hiện một lỗi nhỏ trên long bào thì sẽ bị xử phạt nghiêm trọng. Nếu sai sót tương đối lớn, dẫn đến long bào bị hỏng thì có khả năng sẽ bị xử tội chết. Vì thế, người phụ trách chế tác long bào luôn phải cẩn thận, dồn hết sức vào trang phục trân quý trước mặt.

Một điều đặc biệt nữa là gần như tất cả long bào thời cổ đại đều không được giặt giũ. Một phần là vì người xưa ít chú ý đến vấn đề vệ sinh. Mặt khác, vì trên long bào có những họa tiết thêu rồng dễ bị biến dạng sau khi giặt. Hơn nữa, ngay cả khi trang phục bị bẩn hoặc có mùi lạ thì hầu hết người thời đấy sẽ sử dụng hương huân (xông hương) để khử. Dùng nước để giặt quần áo chỉ là hành động mà người nghèo mới làm.

Vậy thì câu hỏi được đặt ra là, nếu long bào thời cổ đại về cơ bản không bao giờ được giặt giũ thì làm sao Hoàng đế có thể chịu được mùi lạ khi mặc? Câu trả lời sẽ tiết lộ khả năng tài chính của hoàng gia.

Bởi vì phải mất nhiều năm mới sản xuất ra được một chiếc long bào nên nhiều người đã nghĩ Hoàng đế không có bao nhiêu long bào cả, họ sẽ mặc một chiếc long bào nhiều lần. Nhưng trên thực tế, với nỗ lực của hàng nghìn người tham gia quá trình chế tác ngày đêm, số lượng long bào chuyển đến hoàng cung mỗi năm rất lớn. Hoàng đế hoàn toàn có thể thay đổi long bào liên tục, thậm chí có người chỉ mặc long bào một lần duy nhất.

Vả lại, không phải lúc nào các Hoàng đế đều mặc long bào, họ chỉ mặc vào những dịp đặc biệt đã định. Những ngày bình thường, họ sẽ mặc thường phục. Nhưng trong lịch sử cũng có một số vị Hoàng đế tiết kiệm, khi trên long bào xuất hiện mùi lạ, cung nữ sẽ sử dụng hương để xông chiếc long bào đấy.

Lịch sử – đất nước – con người Trung Hoa quả thật có rất nhiều điều thú vị đáng để quan tâm phải không du khách? Hãy đặt tour Trung Quốc của chúng tôi để tự mình khám phá nhiều hơn về vùng đất rộng lớn này nhé!

9 loại nước sốt – “linh hồn” của ẩm thực Trung Hoa

Trung Quốc là một quốc gia rộng lớn với nền ẩm thực vô cùng phong phú. Nơi đây có rất nhiều món ăn ngon đã làm hài lòng du khách mỗi bữa ăn. Các món ăn này sở dĩ cuốn hút du khách cũng bởi được nêm nếm hoặc dùng kèm với các loại nước sốt thơm ngon.

Một bữa ăn “thô” – nghĩa là chỉ có thức ăn mà không có bất kì loại sốt hoặc nước chấm nào ăn kèm – sẽ có mùi vị món ăn giảm hẳn độ ngon. Hẳn ai trong chúng ta cũng từng xuýt xoa, gắp không ngưng đũa khi dùng các món ăn có vị sốt hấp dẫn. Có thể nói, nước sốt là linh hồn của các món ăn giúp kích thích vị giác của thực khách một cách tinh tế, khiến người dùng đắm chìm trong hương vị của món ăn.

Có thể nói, nước sốt là linh hồn của các món ăn, giúp món ăn vừa đậm đà lại vừa bắt mắt. Nước sốt khá đa dụng. Bên cạnh công dụng thổi bùng hương vị món xào, nước sốt còn dùng để trộn với mì ăn ngay hoặc chấm Dimsum thay thế nước tương đều để lại hậu vị đặc biệt.

Nói về sốt tại châu Á, nền ẩm thực Trung Hoa gần như được xếp lên hàng đầu vì sự phối hợp đầy sáng tạo các nguyên liệu với nhau để chế biến ra rất nhiều loại sốt làm phong phú món ăn. Trong số đó, 13 vị sốt tiêu biểu được ưa chuộng hiện nay chính là: Xì dầu, Sốt sa tế, Sốt tiêu đen, Sốt dầu mè, Sốt dầu hàu, Sốt tương đen, Sốt mận, Sốt XO, và Sốt Jim Bang.

Xì dầu

Xì dầu hay còn gọi là nước tương được bắt nguồn từ phương pháp ủ lên men truyền thống của Trung Quốc từ nhiều năm về trước. Nếu du khách có xem bộ phim “Bão táp gia tộc” của TVB – một bộ phim nói về cách nấu xì dầu của Trung Quốc thời xưa thì du khách sẽ hình dung được sự công phu của mỗi lu ủ xì dầu.

Với người Hoa, xì dầu không chỉ được sử dụng trong các món ăn nấu chín mà còn được dùng để tạo hương vị thơm ngon cho thực phẩm tươi sống. Tại đa số các nhà hàng Trung Hoa đều dùng xì dầu thay cho gia vị khi chế biến món cơm rang giúp món cơm tỏa mùi thơm đặc trưng và trở nên vô cùng hấp dẫn. Một bí quyết trong phong cách nấu ăn của người Hoa là họ thường dùng xì dầu nhạt để tạo hương vị và xì dầu đậm để tạo màu cho món ăn.

Sốt sa tế

Trung hoa vốn nổi tiếng đặc sản ớt, đây cũng chính là lý do mà sốt sa tế được mệnh danh là “linh hồn” của ẩm thực Trung Hoa. Vị cay ấm nóng của sốt sa tế khiến người dùng cảm thấy khoan khoái khi thưởng thức bữa ăn, đặc biệt là vào những ngày thời tiết se lạnh.

Làm từ ớt và muối, với tỏi và gia vị khác, người Hoa có thể dùng loại sốt này để tẩm ướp tất cả các món thịt, cá để tăng thêm hương vị cay nồng cho món ăn. Bởi vậy, sốt sa tế rất kích thích vị giác.

Sốt tiêu đen

Vừa nồng vị, vừa ấm nóng – sốt tiêu đen được xếp vào danh sách top 3 loại sốt được yêu thích nhất hiện nay. Khác với sốt sa tế, vị cay the nhè nhẹ của sốt tiêu đen khiến người dùng cảm thấy khoan khoái khi thưởng thức bữa ăn. Khi dùng bữa, người ăn dù có thưởng thức món nhiều dầu mỡ cũng không thấy ngấy vì có vị tiêu điều tiết hương vị ở mức vừa đủ.

Sốt tiêu đen the nồng không ngừng kích thích vị giác vì chứa nhiều gia vị giúp “dậy mùi” món ăn: tiêu đen, bơ lạt, hành tím, dầu hào thượng hạng.

Sốt dầu mè

Chỉ cần một lượng nhỏ “dầu bóng tối” này cũng đủ khiến món ăn trở nên hấp dẫn hơn với mùi hương đầy mê hoặc. Sốt dầu mè được làm từ hạt mè rang rồi ép lấy dầu.

Trong ẩm thực Trung Hoa, dầu mè thường để thêm hương vị cho nước sốt, nước chấm và các món nấu chín. Tuy vậy, dầu mè nói chung không được sử dụng như một loại dầu ăn, vì hương vị mạnh hơn các loại dầu khác như dầu đậu nành, dầu đậu phộng, khi chiên xào bằng dầu mè sẽ làm át mùi của những nguyên liệu khác.

Sốt dầu hàu

Dầu hàu là một loại nước sốt sền sệt màu nâu, có vị ngọt, ban đầu được chiết xuất từ những con hàu nhưng ngày nay được làm theo kiểu công nghiệp với các nguyên liệu khác như muối, đường, nước, chất điều hương vị, hương hàu tổng hợp… Dầu hàu có công dụng chính là làm gia vị để chế biến món ăn, giúp món ăn tăng hương, tăng vị và trở nên hấp dẫn hơn.

Dầu hàu ra đời từ năm 1888 ở Quảng Đông, do một người tên là Lee Kam Sheung làm ra sau khi người này vô tình để quên một nồi hàu nấu chín trong nước muối. Lee Kam Sheung thấy rằng mặc dù nồi hàu có mùi khét nhưng hương vị lên men lại rất đặc biệt. Sau này, Lee thành lập công ty chuyên sản xuất dầu hào và nước sốt gia vị, trở thành doanh nhân và phát triển thương hiệu ra toàn thế giới, chính vì vậy dầu hào mới phổ biến như hiện nay.

Sốt tương đen

Sốt tương đen hay Hoisin là tên gọi để chỉ loại sốt có màu nâu sậm, hơi quánh đặc, vị ngọt nhẹ và cay the. Loại nước sốt này được làm từ nước, đường, đậu tương, giấm trắng, gạo, muối ăn, bột mì, tỏi và ớt, cùng một số chất tạo màu và chất bảo quản. Tuy tên trong tiếng Trung của tương đen là “hải tiên tương” nghĩa là “nước tương cá biển”, nhưng trong thành phần của tương đen không có hải sản. Trong ẩm thực Trung Hoa, tương đen được dùng cho các món vịt quay Bắc Kinh, nem rán, và xá xíu. 

Sốt mận

Sốt mận có lẽ là món sốt độc đáo nhất trong số những loại vừa kể trên. Ở Trung Quốc, nước sốt mận với vị ngọt và chua được sử dụng trong các công thức nấu ăn hoặc làm sốt chấm đều ngon.

Sốt XO

Sốt XO được biết đến là một loại tương sò điệp, thơm ngậy vị hải sản. Tên gọi XO có nguồn gốc từ một loại rượu lâu năm được người dân Hồng Kông sử dụng trong các bữa ăn, tiệc liên hoan. Người Hồng Kông cũng quen dùng từ XO để chỉ chất lượng cao, xa xỉ, thượng hạng. Sốt XO được làm từ các loại nguyên liệu thượng hạng như: sò điệp, thịt heo muối, giăm bông thượng hạng, cá muối nguyên con, dầu nành, dầu ớt, dầu mè.

Sốt Jim Bang

Sốt Jim Bang là một trong những loại sốt nổi tiếng nhất Trung Hoa, xuất hiện trong nhiều món ăn, đặc biệt là hải sản. Hương vị đậm đà của nước sốt hòa quyện vào từng thớ thịt, làm tăng thêm vị ngọt và tươi của hải sản, khiến cho thực khách không thể cưỡng lại.

9 loại nước sốt kể trên đều có nhiều thú vị mang hơi hướng ẩm thực Trung Hoa rõ rệt. Nó không chỉ ngon đối với người dân địa phương mà ngày nay đã tiến ra ngoài biên giới để chinh phục những thực khách quốc tế. Nếu có dịp du lịch Trung Quốc, du khách đừng quên tìm mua những loại nước sốt để các món ăn thêm thơm ngon nhé!

13 lễ hội và sự kiện văn hoá đặc sắc nhất Thượng Hải, Trung Quốc

Thượng Hải của Trung Quốc là một điểm đến ưa thích của rất nhiều khách du lịch trên thế giới. Khi đến đây, du khách sẽ có những trải nghiệm tuyệt vời và đáng nhớ. Đặc biệt, Thượng Hải được biết đến là thành phố sở hữu những lễ hội tuyệt vời và vui tươi, nhộn nhịp nhất.

Lễ Giáng sinh

Giáng sinh mặc dù không phải ngày lễ chính thức của Trung Quốc nhưng điều đó không ngăn được người dân Thượng Hải tận hưởng một mùa Noel rực rỡ chẳng kém thành phố nào trên khắp thế giới.

Từng con phố nới đây vốn đã đẹp bởi những ngôi nhà đầy màu sắc, nay càng thêm thu hút bởi ánh đèn lung linh, kim tuyến lấp lánh, ngay cả những hàng cây bên đường cũng được khoác lên mình tấm áo rực rỡ nhất.

Một trong những cách tuyệt vời để đón lễ Giáng sinh ở Thượng Hải là ghé thăm các khu chợ đông đúc và nhộn nhịp với nhiều hoạt động giải trí miễn phí thú vị. Không gian lung linh tại đây sẽ khiến du khách ngỡ như mình đang lạc vào những khu chợ Giáng sinh ở Đức hoặc Hà Lan.

Tết Nguyên đán

Cũng giống như ở Việt Nam, tết Nguyên đán cũng là ngày lễ lớn nhất trong năm, mang đậm nét văn hóa Trung Hoa. Vào dịp này, Thượng Hải là một trong những nơi tuyệt vời nhất để đón tết.

Đến đây, du khách sẽ trải nghiệm không khí tết xưa giữa một không gian hiện đại khi mà ai ai cũng chọn trang trí nhà cửa bằng những câu đối đỏ, đèn lồng đỏ và đốt pháo để cầu một năm mới vui vẻ, an lành và hạnh phúc.

Nếu ghé Thượng Hải vào dịp tết cổ truyền, du khách sẽ được thưởng thức các loại bánh truyền thống, trong đó bánh tổ (Nian Gao) là đáng thử nhất bởi nó tượng trưng cho sự ấm cúng và gắn kết gia đình.

Cùng với việc xem đồ trang trí và pháo hoa, tại lễ hội lớn nhất Thượng Hải này, du khách còn được chiêm ngưỡng những màn múa lân, múa rồng tưng bừng trên khắp con phố.

Lễ hội đèn lồng

Lễ hội đèn lồng được tổ chức tại vườn Yu Yuan đến nay đã 20 năm tuổi. Lễ hội này thường được người dân Thượng Hải tổ chức trong tiết thu khi thời tiết chuyển giao giữa mùa hè và mùa thu. Mang phong cách nghệ thuật kết hợp giữa truyền thống và hiện đại nên sự kiện này thu hút rất đông đảo giới trẻ và người cao tuổi tới chiêm ngưỡng.

Khi đêm rằm đến, khắp phố phường, quảng trường, công viên ở Thượng Hải đều sẽ được trang trí bằng những chiếc đèn lồng rực rỡ đủ màu bao gồm đèn hoa đăng, đèn hình người, đèn lâu đài, đèn bức tường, đèn con vật để tạo thành những mô hình đẹp mắt trang trí cho cảnh quan công cộng. Không khí đêm rằm náo nhiệt chẳng thua gì giờ phút đón chào năm mới của Tết Nguyên Đán.

Trong lễ hội đèn lồng, người dân Thượng Hải nói riêng và Trung Quốc nói chung thường có tục thả đèn trời. Bởi hình dáng giống chiếc mũ khổng lồ của Khổng Minh nên họ gọi đó là đèn Khổng Minh. Đèn được làm bằng giấy với một lỗ nhỏ ở đáy, người ta sẽ viết ước nguyện lên đó và thả chiếc đèn nhỏ bay lên trời. Như vậy hạnh phúc và may mắn sẽ tới trong cả năm. Mang phong cách nghệ thuật kết hợp giữa truyền thống và hiện đại nên sự kiện này thu hút rất đông đảo giới trẻ và người cao tuổi tới chiêm ngưỡng.

Liên hoan Văn học Quốc tế

Liên hoan Văn học Quốc tế là lễ hội sách lớn nhất tại Trung Quốc nói chung và Thượng Hải nói riêng, sẽ mang đến cơ hội cho rất nhiều bạn trẻ được ngắm thần tượng của mình ngay trong khoảng cách gần. Sự kiện văn hoá này kéo dài tới 1 tuần, thường tổ chức tại nhà hàng Bund. Không chỉ là cuộc gặp gỡ giữa các tác giả nổi tiếng mà còn là nơi tương tác giữa các nhà văn Trung Quốc và quốc tế, mang đến cơ hội giao lưu, học hỏi cho tất cả các nhà văn.

Lễ hội này thường diễn vào tháng 3 hàng năm. Nếu muốn trải nghiệm hãy thử một lần ghé Thượng Hải vào thời điểm này. Không chỉ gặp các tác giả nổi tiếng bạn còn có thể sở hữu những cuốn sách có chữ ký của tác giả mình yêu thích. Đây là điều không dễ dàng.

Hội chợ đền Longhua

Hội chợ đền Longhua là một trong những lễ hội truyền thống lớn nhất của thành phố Thượng Hải vào tháng 4 hàng năm. Với lịch sử hơn 400 năm, hội chợ này là nơi du khách có thể xem các buổi biểu diễn về văn hóa dân gian, các điệu múa truyền thống, các nghi lễ ban phước và nhiều hơn thế nữa.

Ngoài việc dùng thử các món ăn địa phương và xem các màn biểu diễn tung hứng hay đi cà kheo, du khách cũng có thể tham gia vào màn trình diễn võ thuật hoặc tham gia tour du lịch với hướng dẫn viên địa phương. Địa điểm của lễ hội này, đền Longhua, là một trong những đền Phật giáo nổi tiếng nhất trong thành phố – và nó cũng là đền cổ nhất. Hơn nữa, khu vực này có rất nhiều cây đào thường nở hoa cùng thời điểm với lễ hội.

Lễ hội Văn hoá trà Quốc tế

Diễn ra vào tháng 4 hoặc tháng 5 với thời gian tổ chức trong 4 ngày, lễ hội Văn hoá trà Quốc tế là một sự kiện lớn dành cho những người hâm mộ trà. Lễ hội này được bắt đầu từ những năm 1990 và đã phát triển thành một trong những lễ hội hàng đầu ở Thượng Hải. Tham gia vào lễ hội, bên cạnh những người yêu thích và buôn bán trà nổi tiếng còn có hàng ngàn du khách đến để tìm hiểu kiến thức về thức uống này.

Tham gia lễ hội này du khách sẽ tìm thấy rất nhiều loại trà hảo hạng, thưởng thức trà và cả cơ hội xem các phong tục như nhảy trà. Để có chuyến đi thú vị nhất, lời khuyên dành cho du khách là ghé qua quán trà Song Nguyên ở quận Zhabei. Tại đây, ngoài việc trải nghiệm các nghi lễ trà thanh lịch, du khách còn có cơ hội thưởng thức các món ăn dựa trên trà, các món tráng miệng, các buổi biểu diễn và đặc biệt là vở opera về lịch sử của trà.

Lễ hội hoa anh đào

Từ giữa tháng 3 đến tháng 5, những cánh hoa anh đào đua nhau khoe sắc trên các nẻo đường, góc phố khắp đất nước Trung Quốc. Mặc dù mỗi vùng đất khoác lên mình một vẻ đẹp nhẹ nhàng, riêng biệt nhưng sắc hồng hoa anh đào ở Thượng Hải thường ghi được dấu ấn trong lòng du khách hơn cả.

Nếu như ở Nhật Bản, người ta thường tổ chức lễ hội Hanami mỗi khi hoa anh đào bung nở thì vào thời điểm này, các công viên ở thành phố Thượng Hải cũng tràn ngập sắc hồng với lễ hội hoa đào hằng năm. Lễ hội này thường bắt đầu vào cuối tháng 3 hoặc đầu tháng 4 tùy thuộc vào thời điểm hoa nở rộ nhất. Du khách có thể dễ dàng tìm thấy hoa anh đào tại bất cứ con đường nào của Thượng Hải và ngửi thấy mùi thơm nhẹ, vấn vương của loài hoa này. Thông thường lễ hội này sẽ được tổ chức kèm những buổi biểu diễn trực tiếp.

Với hơn 10.000 cây anh đào, Công viên Gucun là địa chỉ lý tưởng nếu du khách muốn hòa mình vào lễ hội hoa anh đào lớn nhất Thượng Hải. Vào dịp tháng 4 hàng năm, hàng ngàn du khách đổ về đây tham quan và chụp ảnh. Ngoài ra, du khách có thể đến trường Đại học Đồng Tế tọa lạc ở đông bắc thành phố Thượng Hải, trong cả khuôn viên của trường những gốc cây anh đào lâu năm, tán cây phủ rộng và nở bung rực rỡ. Ngôi trường này nổi tiếng với con đường hoa anh đào.

Liên hoan Phim Quốc tế 

Là một liên hoan tập trung những bộ phim hay nhất, mang ý nghĩa nhân văn nhất của những tên tuổi lớn đến từ Hollywood. Liên hoan phim Thượng Hải thu hút rất nhiều các ngôi sao lớn nhỏ từ khắp nơi trên thế giới. Du khách có thể có cơ hội ngắm nhìn những thần tượng của mình ở cự ly gần.

Sự kiện này mang tới hơn 500 bộ phim từ khắp nơi trên thế giới với giải thưởng xứng đáng, cao quý dành cho những bộ phim hay nhất. Liên hoan phim này đã dần trở thành liên hoan phim lớn nhất Đông Á.

Lễ hội thuyền rồng

Nhắc đến các lễ hội và sự kiện văn hoá của Thượng Hải không thể không nhắc tới lễ hội thuyền rồng. Đây được đánh giá là một trong những lễ hội nổi tiếng và thú vị bậc nhất của nơi đây. Khi tới Thượng Hải vào tháng 6, chắc chắn du khách sẽ có những trải nghiệm tuyệt vời và đáng nhớ.

Lễ hội Thuyền rồng của Thượng Hải thu hút rất nhiều ngôi sao và đông đảo người dân. Lễ hội này sẽ là cuộc đua thuyền gỗ đầy màu sắc và sôi động. Du khách sẽ được chứng kiến những cảnh đua thuyền gay cấn đến nghẹt thở cùng với đó là sự cổ vũ của đông đảo người dân nơi đây. Chắc chắn du khách sẽ có những giây phút thư giãn, vui vẻ với không khí đầy sôi động này.

Liên hoan truyền hình

Được thành lập vào năm 1986, Liên hoan truyền hình đã được tổ chức thành công trong hơn 20 năm vào tháng 6 hàng năm. Đây hiện là một trong những liên hoan truyền hình Trung Quốc có ảnh hưởng nhất, thúc đẩy sự phát triển của ngành truyền hình trong nước và tăng cường giao lưu và hợp tác giữa giới truyền hình Trung Quốc và nước ngoài. Cuộc thi và giới thiệu chương trình truyền hình quốc tế Magnolia Award là một điểm nhấn nổi bật của sự kiện này. Một số lượng lớn các chương trình truyền hình chất lượng tập trung tại đây để cạnh tranh cho những vị trí và giải thưởng xứng đáng. Diễn đàn truyền hình Magnolia là một hoạt động quan trọng khác, tập trung vào các chủ đề và tin tức nóng hổi của ngành công nghiệp truyền hình.

Photofairs Thượng Hải

Ra mắt vào năm 2013, lễ hội này trở thành điểm đến quen thuộc của rất nhiều nhiếp ảnh gia thuộc khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Với hơn 50 phòng trưng bày trên 16 quốc gia, các nhà nhiếp ảnh có thể mang tới những tác phẩm ưng ý nhất để chia sẻ tới tất cả mọi người.

Không chỉ vậy các du khách khi tới đây sẽ được thưởng thức những tác phẩm mang đậm tính nghệ thuật và mãn nhãn với những tác phẩm đó. Du khách sẽ có cơ hội nhìn thế giới dưới góc độ nhiếp ảnh và những bức ảnh ấn tượng về thế giới. Chắc chắn rằng du khách sẽ cảm thấy mãn nhãn và bất ngờ với những bức ảnh từ khắp mọi nơi trên thế giới được quy tụ tại nơi đây.

Nếu muốn thưởng thức lễ hội này thì tháng 9 hàng năm là một lựa chọn thích hợp dành cho du khách. Đi vào thời điểm này du khách sẽ có cơ hội thưởng thức thêm nhiều lễ hội khác đầy sôi động tại Thượng Hải.

Liên hoan Nghệ thuật Quốc tế

Bắt đầu từ năm 1999, đây là một hoạt động văn hóa nghệ thuật cấp cao ở Trung Quốc. Nó trưng bày nghệ thuật truyền thống Trung Quốc cũng như những thành tựu văn hóa rực rỡ từ các quốc gia trên thế giới, nhằm tăng cường giao lưu giữa văn hóa nghệ thuật Trung Quốc và nước ngoài. Trong sự kiện này, du khách có thể xem nhiều buổi biểu diễn âm nhạc, khiêu vũ và kịch, hoặc tham dự các triển lãm văn hóa nghệ thuật cũng như các hội chợ thương mại. Có những tuần văn hóa được tổ chức để giới thiệu văn hóa đặc sắc trong văn hóa của một thành phố trong nước, tỉnh, khu vực hoặc nước ngoài. Ví dụ, Tuần lễ Văn hóa Singapore và Tuần lễ Văn hóa Thanh Hải được tổ chức vào năm 2007 và Tuần lễ Văn hóa Mexico được tổ chức vào năm 2006. 

Lễ hội du lịch

Đây là lễ hội lớn nhất trong số các lễ hội và sự kiện văn hoá được tổ chức trong thành phố Thượng Hải. Lễ hội này thường bắt đầu từ giữa tháng 9 đến đầu tháng 10 hàng năm. Được thành lập vào năm 1990, nó thu hút cả người dân địa phương và du khách bằng cách trưng bày các sản phẩm và hoạt động du lịch đầy màu sắc của thành phố liên quan đến tham quan, giải trí, ăn uống, mua sắm và triển lãm. Ngoài ra còn có phong tục dân gian, ẩm thực, nghệ thuật, thời trang và văn hóa từ nhiều quốc gia khác để thưởng thức. Du khách có thể đến đây và tham gia những sự kiện độc đáo của lễ hội này:

Lễ diễu hành khai mạc: Nó bắt đầu tại đường Huaihai ở trung tâm vào khoảng 19:30 ngày khai mạc. Cùng với màn trình diễn tuyệt vời của các nghệ sĩ và các nhóm vũ công đến từ các quốc gia trên thế giới với trang phục đầy màu sắc bắt đầu từ đây và diễu hành trên các đường phố chính của thành phố, bao gồm Đường Huangpi, Đường Nam Trùng Khánh và Đường Maoming. 

Lễ khai mạc Lễ hội: được tổ chức tại Quảng trường Thế kỷ trên Phố đi bộ Nam Kinh vào khoảng 21:00 giờ ngày khai mạc với sự xuất hiện của nhiều ngôi sao nhạc pop và các nghệ sĩ truyền thống Trung Quốc tham gia lễ hội này.

Cuộc diễu hành trên tàu sông Hoàng Phố: Được diễn ra trên hơn 20 tàu du lịch được trang trí tinh xảo trên sông Hoàng Phố. Những con tàu cùng với ánh đèn nhiều màu sắc, trang phục và pháo hoa hứa hẹn đem đến một đêm đáng nhớ cho khách du lịch. Du khách có thể đặt tàu du lịch và tham gia các bữa tiệc thú vị được tổ chức tại đây, hoặc đơn giản là thưởng thức cảnh đêm quyến rũ của thành phố trên Bến Thượng Hải.

Để có một chuyến du lịch thú vị tới thành phố Thượng Hải hòa mình vào không khí vui nhộn và chiêm ngưỡng khung cảnh tuyệt đẹp của những lễ hội, du khách hãy đặt ngay cho mình một tour Trung Quốc nhé! Chúc các du khách có một chuyến đi vui vẻ và thú vị!

Đôn Di Hoàng Quý phi – vị phi tử cả đời không có con nhưng được cả 3 hoàng đế sủng ái

Thời xưa, không con cái được coi là một trong những tội đại bất hiếu và không được coi trọng. Thế nhưng, với Đôn Di Hoàng Quý phi trong thời nhà Thanh thì lại là một trường hợp ngoại lệ. Cả đời bà không có nổi mụn con nhưng vẫn được cả ba vị hoàng đế là Khang Hi, Ung Chính, Càn Long yêu mến, chăm sóc chu đáo. 

Theo sử sách ghi chép, Đôn Di Hoàng Quý phi là một phi tần của Thanh Thánh Tổ Khang Hi Đế. Bà sinh vào ngày 16 tháng 10 (âm lịch) năm Khang Hi thứ 22, họ Qua Nhĩ Giai thị, thuộc Hoàng kỳ Mãn Châu. Họ này giàu có, phú quý, đứng đầu trong bát đại gia tộc thời nhà Thanh. Cha là Tam phẩm Hiệp lĩnh Dụ Mãn. 

Khi Qua Nhĩ Giai thị 17 tuổi, liền nhập cung tham gia tuyển tú. Nhờ gia thế hiển hách, dung mạo xuất chúng lại trổ hết tài năng, Qua Nhĩ Giai thị thuận lợi trở thành phi tử (Thứ phi) của Khang Hi Đế. 

Một số bản thoại có chép, Qua Nhĩ Giai thị rất xinh đẹp, vẻ đẹp của nàng không lộng lẫy kiêu sa nhưng vô cùng mềm mại, ngọt ngào, nhìn một lần là nhớ mãi. Cùng với xuất thân rất cao, nàng được Khang Hi rất coi trọng. Năm Khang Hi thứ 39 (1700), tháng 12, Qua Nhĩ Giai thị được sách phong Hòa tần, cùng lúc với Lương tần Vệ thị. Vừa vào cung đã được phong làm Hòa tần. Phong vị như vậy, đối với một phi tử mới nhập cung, thực sự khiến nhiều người ghen tị đỏ mắt. Xét về điểm này thì so với Vệ thị sinh được Bát a ca Dận Tự mới phong Tần, quả là có khác biệt.

Vậy nguyên nhân do đâu mà Qua Nhĩ Giai thị lại đắc sủng khi tuổi còn rất trẻ như vậy? Tương truyền Khang Hi đế có lần nằm mộng trông thấy một thiếu nữ ôm phượng cưỡi rồng ở Ninh Cổ Tháp. Thiếu nữ trong mộng có nụ cười duyên dáng, đôi mắt long lanh, xinh đẹp động lòng người. Sau giấc mộng Khang Hi vội sai người đi khắp nơi để tìm thì trông thấy Qua Nhĩ Giai thị ôm một con gà trống, nở nụ cười đẹp tựa hoa hồng bên sông Mẫu Đơn. Thế nên ngay khi nhập cung Qua Nhĩ Giai thị đã được Khang Hi sủng ái hết lòng. Tuy truyền thuyết này vẫn chưa rõ thực hư, nhưng sự sủng ái Khang Hi dành cho Qua Nhĩ Giai thị là điều không thể nghi ngờ.

Một năm sau khi phong Tần, Qua Nhĩ Giai thị sinh càng được sủng ái, liền nhanh chóng có thai và hạ sinh Hoàng thập bát nữ vào ngày 18 tháng 10 (âm lịch) năm 1701. Đáng tiếc, công chúa sau sinh còn chưa kịp đặt tên đã mệnh yểu qua đời. Bất hạnh hơn, vì quá đau thương, hơn nữa sinh con thân thể bị hao tổn, đời này Hòa tần không thể có con nữa.

Khang Hi Đế thấy nàng trẻ tuổi như vậy đã bị tổn thương nặng nề cả về thể chất lẫn tinh thần, vì vậy lại càng cực kỳ thương yêu, chiều chuộng nàng. Mặc dù sau Hòa tần vẫn không thể sinh con, Khang Hi vẫn không lạnh nhạt, quan tâm đầy đủ, thậm chí còn tấn phong nàng làm Hòa phi (tháng 4 năm 1718).

Từ khi nhập cung cho đến khi trở thành Hoà Phi, cuộc sống bà của không có tranh đấu, rất an nhàn. Thực tế, lúc đó, các hoàng tử tranh quyền đoạt vị, rất dễ liên lụy đến mẫu thân của mình. Hòa phi địa vị khá cao nhưng không con cái, cho nên đối với các phi tần khác, nàng không có uy hiếp, đối với các hoàng tử lại càng không có bất kỳ cản trở nào, cuộc sống ở nơi hậu cung của Hòa phi cực kỳ an nhàn. 

Năm Khang Hi thứ 61 (1722), Khang Hi Đế băng hà, thời điểm này, Hòa phi vừa 40 tuổi. Đến khi Ung Chính kế vị, đối với Hòa phi cũng cực kỳ tôn kính, tôn phong bà làm Hoàng khảo Quý phi. Kỳ lạ ở chỗ, Ung Chính đối với mẹ đẻ quan hệ không quá thân thiết, trái lại đối với Hoàng khảo Quý phi lại vô cùng yêu thương, tình như mẹ con ruột thịt.

Tính cách của Hoàng khảo Quý phi ôn hòa lại sảng khoái, hoàng đế Ung Chính có tâm sự trong lòng đều có thể tìm nàng để giải tỏa. Nói cách khác, Ung Chính rất tín nhiệm bà.

Sau, Ung Chính lại hạ lệnh, đưa hoàng tử Hoằng Lịch (hoàng đế Càn Long sau này) đến cho Hoàng khảo Quý phi nuôi dưỡng. Cũng nhờ vậy mà tình cảm của Càn Long và Hoàng khảo Quý phi cũng vô cùng gắn bó, thân thiết.

Thời điểm Càn Long lên ngôi, vì nhớ ơn dưỡng dục thời ấu thơ nên ông cũng quý trọng, hiếu thuận với Hoàng khảo Quý phi chẳng khác nào bà nội thực sự của mình. Cho rằng thế là không đủ, Càn Long phong tôn bà làm Ôn Huệ Quý Thái phi, và sau đó là Ôn Huệ Hoàng Quý Thái phi. Lúc này, trong hậu cung, bà có bối phận cao không ai sánh nổi.

Cứ như thế, Ôn Huệ Hoàng Quý Thái phi sống an nhàn sung túc cho đến lúc qua đời vào năm Càn Long thứ 33, thọ 86 tuổi. Mệnh tận, bà ở trong tẩm cung An Tường mà rời khỏi nhân thế. Kim quan của bà tạm quàn tại Cát An sở, Càn Long Đế đích thân đến tưới rượu. Cùng năm, hoàng đế làm lễ dâng thụy hiệu cho Ôn Huệ Hoàng Quý Thái phi là Đôn Di Hoàng Quý phi, tiến hành an táng vào Hoàng Quý phi viên tẩm trong Cảnh lăng.

Các sử gia cho rằng, mặc dù Đôn Di Hoàng Quý phi không con không cái, nhưng nhờ xinh đẹp lại tài đức, nhận được sự yêu thương, kính trọng của cả 3 vị hoàng đế nổi tiếng. Nàng cũng trở thành một trong những phi tần sống thọ nhất, sung sướng nhất, suốt đời bình an, trôi chảy, thực sự làm cho người khác ước ao.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất kỳ khách du lịch nước ngoài nào. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn thì hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc nhé!

Bạc Cơ – Thái hoàng Thái hậu đầu tiên của Trung Hoa với cuộc đời “an phận”

Mặc dù là Thái hoàng Thái hậu đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa, Bạc Cơ lại hầu như bị xem nhẹ cả đời, cho dù được tiên đoán là có thể sinh Thiên tử thì cũng không được người khác để tâm. Ngay cả khi đã trở thành thiếp của Hoàng đế, bà vẫn gần như bị bỏ quên. 

Bạc Cơ (? – 155 TCN), còn được gọi là Bạc phu nhân, là một phi tần của Hán Cao Tổ Lưu Bang, Hoàng đế sáng lập ra nhà Hán. Trước khi trở thành tần phi của Lưu Bang, bà là một thiếp thất của Ngụy Vương Báo. Sau khi con trai Hán Văn Đế lên ngôi, bà trở thành Hoàng Thái hậu. Sau khi cháu nội Hán Cảnh Đế lên ngôi, bà trở thành Thái hoàng Thái hậu, là Thái hoàng Thái hậu đầu tiên của nhà Hán và trong lịch sử Trung Quốc.

Theo sử sách ghi lại, cha của Bạc Cơ là người đất Ngô huyện, quận Cối Kê, mẹ là Ngụy Ổn, họ hàng tông thất Ngụy vương. Cha bà Bạc Công mất sớm, mai táng ở Sơn Âm.

Khi Trần Thắng khởi nghĩa chống nhà Tần, các chư hầu tự lập để hưởng ứng, trong đó có nước Ngụy. Bạc Cơ được mẹ đưa vào cung hầu hạ Ngụy Vương Báo. Trong số thê thiếp của Ngụy Vương Báo, Bạc Cơ xinh đẹp nhất nên nhanh chóng trở thành ái thiếp của ông. Sau, Ngụy Vương Báo chết, bà được Hán vương Lưu Bang đưa về hậu cung.

Về sau khi Hán vương xưng Hoàng đế, tức Hán Cao Tổ, bà ở lại Trường An cùng Hán Cao Tổ. Tuy có nhan sắc nhưng suốt một năm trời, Bạc Cơ không hề được sủng hạnh. Cùng nhập cung với bà có Quản phu nhân và Triệu Tử Nhi, từng ước hẹn ai có sủng hạnh thì sẽ không quên những người còn lại. Thế nhưng, cả Quản thị và Triệu thị đều được sủng hạnh trước, bỏ mặc Bạc Cơ.

Hán Cao Tổ năm thứ 4 (203 TCN), Hán Cao Tổ ngồi ở Cao Linh đài tại Hà Nam thành cung, có Quản phu nhân cùng Triệu thị bầu bạn. Đương khi đó cả hai đang gièm giễu việc ước hẹn với Bạc Cơ năm xưa, Hán Cao Tổ nghe thế bèn hỏi, cảm thấy thương xót Bạc Cơ nên tối đó cho triệu hạnh bà. Đêm đó, Bạc Cơ nhỏ to với Hán Cao Tổ rằng: “Đêm trước, thiếp thân mơ thấy có một con thương long (苍龙; rồng xanh) ở trên bụng”. Hán Cao Tổ cao hứng nói: “Đây là điềm lành!”. Đêm đó sau khi lâm hạnh, Bạc Cơ mang thai và sinh ra Lưu Hằng, hoàng tử thứ 4 trong số các hoàng tử của Hán Cao Tổ. Năm Hán Cao Tổ thứ 11 (196 TCN), khi Lưu Hằng được 8 tuổi, Hán Cao Tổ phong làm Đại vương. Nhưng cũng từ đó trở đi, Lưu Bang lại lạnh nhạt với bà, hai người rất ít có dịp gặp mặt nhau. 

Tuy rằng sinh hạ được Hoàng tử, nhưng Bạc Cơ không vì thế mà đòi hỏi Hoàng đế sủng hạnh, hết thảy đều để thuận theo tự nhiên. Bà lặng lẽ nuôi dưỡng con trai, đối xử lương thiện với mọi người. Cho dù là với những người có địa vị thấp nhất trong cung, bà cũng vô cùng lễ nhượng.

Lúc ấy, người được sủng ái nhất trong cung là Thích phu nhân, một người giỏi về múa. Người này nhận được nhiều ân sủng nhất nên ỷ sủng sinh kiêu, những người thị thiếp khác cũng a dua hùa theo phe bà, khiến Lữ hoàng hậu gai mắt. Sau khi Hán Cao Tổ băng hà, Thái tử Lưu Doanh con trai của Lữ hậu lên ngôi, hiệu là Hán Huệ đế.

Lữ thị trở thành Hoàng Thái hậu bắt đầu chèn ép những phi tần từng được tiên đế sủng ái, cấm họ ra ngoài cung cũng như cấm họ về đất phong của con trai họ, đặc biệt là Thích phu nhân người mà Lữ Thái hậu ghét nhất. Năm 194 TCN, Thích phu nhân bị Lữ Thái hậu ra lệnh giết rất tàn bạo: bị chặt tứ chi, bị khoét hai mắt, bị cắt mũi và tai, bị cạo hết tóc, bị chuốc thuốc câm khiến bà không nói được, bị chết trong đau đớn. Sau đó Lữ Thái hậu còn bức hại nhiều Hoàng tử con của Cao Tổ như Lưu Như Ý, Lưu Hiển, Lưu Khôi.

Còn Bạc Cơ vốn không được sủng, địa vị không cao. Thậm chí cho đến tận lúc Lưu Bang mất, Bạc Cơ cũng không được phong làm Phu nhân, chỉ làm thiếp. Hơn nữa, Bạc Cơ cũng không có tâm tranh đấu giành giật, không uy hiếp bất kỳ ai cho nên không bị Lữ Thái Hậu ganh ghét, đố kỵ. Bạc Cơ vì muốn né tránh mọi mâu thuẫn nên đã cầu xin được ra khỏi cung và về đất phong của con trai Lưu Hằng, được Thái hậu chấp thuận cho xuất cung, nhờ thế mà bình an yên ổn. Ở đất phong của con trai, tức Đại quốc, Bạc Cơ trở thành Đại Vương Thái hậu, sống hưởng phước con cháu đầy đàn.

Sau khi Hán Huệ đế và Lữ Thái hậu lần lượt qua đời, các quan trong triều lật đổ sự thống trị của gia tộc họ Lữ, bàn bạc xem nên đưa người con trai nào của Hán Cao Tổ lên ngôi, và cân nhắc đến cả vấn đề mẫu tộc của Tân đế không nên quá quyền lực để tránh tình trạng ngoại thích tiếm quyền tiếp tục tái diễn như thời Lữ Thái hậu, suy xét một hồi thì họ thấy Đại vương Lưu Hằng, con trai của Bạc Cơ là người phù hợp nhất.

Lưu Hằng lên ngôi, lấy hiệu Hán Văn đế, tôn phong mẫu thân làm Hoàng Thái hậu. Bạc Thái hậu chọn một đứa cháu trong gia tộc gả làm chính thất cho đứa cháu nội của bà, tức Thái tử Lưu Khải. Hán Văn đế băng hà, Thái tử Lưu Khải lên ngôi, lấy hiệu Hán Cảnh đế, tôn phong tổ mẫu làm Thái Hoàng Thái hậu. Bạc Cơ là người đầu tiên được phong làm Thái Hoàng Thái hậu trong lịch sử Trung Quốc.

Năm 155 TCN, Bạc Cơ qua đời. Thời nhà Hán chỉ có chính thất Hoàng hậu mới được phép hợp táng cùng Hoàng đế, còn phi tần thì không được và dù vị phi tần đó có là sinh mẫu của Hoàng đế thì sau khi qua đời cũng không được truy phong làm Hoàng hậu. Thế nên Bạc Cơ chỉ được gọi là Bạc Thái hậu hoặc Văn đế Thái hậu, được an táng ở Bạc lăng, thuộc Bá lăng – nơi chôn cất của người con trai bà là Hán Văn đế. Đến thời Hán Quang Vũ đế Lưu Tú, Bạc Cơ được truy tôn làm Cao Hoàng hậu, được hợp táng cùng Hán Cao Tổ trong Trường lăng, còn mộ của Lữ Thái hậu bị dời khỏi Trường lăng.

Hậu cung Trung Hoa xưa luôn có những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện ấy lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về vùng đất “đặc biệt” này. Hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc để tự mình khám phá được nhiều điều thú vị hơn nhé!