“Hành khúc nghĩa dũng quân” – Quốc ca của đất nước Trung Quốc

“Hành khúc nghĩa dũng quân” (義勇軍進行曲) là Quốc ca của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được nhà thơ và soạn giả ca kịch Điền Hán viết lời và Niếp Nhĩ phổ nhạc vào khoảng giữa giai đoạn Chiến tranh Trung – Nhật (1937-1945). Bài này thuộc thể loại hành khúc.

Điền Hán viết “Hành khúc nghĩa dũng quân” vào năm 1934 cho một vở kịch ông soạn cũng vào năm đó. Theo dân gian thì ông viết lời bài này trên một mẩu giấy thuốc lá sau khi bị bắt tại Thượng Hải và bị đưa vào nhà lao Quốc Dân Đảng năm 1935. Bài hát này sau khi được sửa lại đôi chút đã trở thành bài hát chủ đề trong bộ phim Phong vân nhi nữ do Công ty Điện ảnh Điện Thông Thượng Hải dàn dựng vào năm 1935. Bộ phim này thuật lại câu chuyện một nhà thơ tên là Tân Bạch Hoa đại diện cho tầng lớp trí thức của nước Trung Hoa cũ, đã gác lại ngòi bút sáng tác của mình, cầm súng xung phong ra mặt trận chống Nhật, xông pha trước quân thù. “Hành khúc nghĩa dũng quân” xuất hiện ở phần đầu và phần cuối của bộ phim này đã để lại ấn tượng sâu sắc cho đông đảo khán giả hồi đó. Không bao lâu nó liền trở thành chiến ca nổi tiếng của Trung Quốc trong thời kỳ kháng chiến chống Nhật. Bài hát này cũng được Pathé thuộc tập đoàn EMI phát hành trong một đĩa hát vào năm 1935.

Bài này lần đầu tiên được dùng làm Quốc ca là trong một hội thảo quốc tế tổ chức tại Praha, Tiệp Khắc tháng 2/1949. Vào thời gian đó Bắc Kinh vừa lọt vào tầm kiểm soát của những người cộng sản Trung Quốc. Lúc đó nổ ra một tranh luận xung quanh câu: “Đất nước Trung Hoa đã gặp lúc hiểm nguy”. Nhà sử học Quách Mạt Nhược liền đổi câu trên thành: “Dân tộc Trung Quốc đã đến hồi giải phóng”.

Người đầu tiên nêu đề nghị lấy bài “Hành khúc nghĩa dũng quân” làm Quốc ca của nước Trung Hoa mới là Từ Bi Hồng, một họa sĩ nổi tiếng của Trung Quốc. Tháng 6/1949, hội nghị trù bị thành lập nước Trung hoa mới của Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân (gọi tắt là Chính Hiệp) Trung Quốc thảo luận việc quyết định quốc ca, nhiều đại biểu đưa ra ý kiến của mình, một số đại biểu bày tỏ nên kết nạp đề nghị của họa sĩ Từ Bi Hồng lấy bài “Hành khúc nghĩa dũng quân” làm Quốc ca, nhưng hội nghị chưa đưa ra quyết định cuối cùng. Ngày 2/9/1949, Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai,… đã đến nghe ý kiến của các đại biểu, ngày 25/9/1949, tại Trung Nam Hải, Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai lại tổ chức buổi tọa đàm hiệp thương về vấn đề quyết định Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, cách tính năm và thủ đô của nước Trung Hoa mới, mời nhân sĩ các đảng phái và nhân sĩ giới văn hóa tham gia. Tổ 6 của hội nghị trù bị Chính Hiệp quyết định đề án lấy “Hành khúc nghĩa dũng quân” làm Quốc ca và chính thức trình lên Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc xét duyệt.

Ngày 27/9/1949, toàn thể đại biểu của hội nghị Chính Hiệp nhất trí thông qua, trước khi xét định Quốc ca của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, lấy bài “Hành khúc nghĩa dũng quân” làm Quốc ca. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều ý kiến không đồng ý đối với câu thứ ba. Khi đó Chu Ân Lai đưa ra đánh giá cuối cùng: “Trước mắt chúng ta vẫn còn kẻ thù đế quốc. Chúng ta càng tiến, kẻ thù sẽ càng tìm cách tấn công và phá hoại chúng ta. Liệu có thể nói là chúng ta sẽ không còn nguy hiểm không?”. Quan điểm này được Mao Trạch Đông tán thành và vào ngày 27/9/1949, bài này trở thành Quốc ca tạm thời, chỉ vài ngày trước khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập. Đến kỳ họp thứ nhất Quốc hội Trung Quốc khóa 5 vào năm 1978, lại thông qua việc chính thức lấy bài “Hành khúc nghĩa dũng quân” làm Quốc ca.

Trong thời kỳ Cách mạng văn hóa, Điền Hán bị bắt giam, và cũng vì thế mà bài “Hành khúc nghĩa dũng quân” cũng bị cấm hát. Thế là trong giai đoạn đó, bài “Đông phương hồng” được chọn làm Quốc ca không chính thức.

“Hành khúc nghĩa dũng quân” được Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc Trung Quốc khôi phục lại vào năm 1978, nhưng với lời khác hẳn; tuy vậy, lời ca mới không được thông dụng lắm và thậm chí gây nhầm lẫn. Vào ngày 4/12/1982, Đại hội Đại biểu Nhân dân Trung Quốc thống nhất chọn lại bản gốc năm 1935 của Điền Hán làm Quốc ca chính thức. Điểm nổi bật trong lời hiện nay là không đề cập đến Đảng Cộng sản Trung Quốc lẫn Mao Trạch Đông và việc quay lại lời ca cũ đánh dấu sự đi xuống của Hoa Quốc Phong và tệ sùng bái cá nhân đối với Mao cũng như uy thế đi lên của Đặng Tiểu Bình.

Đại hội Đại biểu Nhân dân Trung Quốc công nhận bài này là Quốc ca chính thức của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trong bản sửa đổi năm 2004 của Hiến pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Phần Quốc ca được đề cập ngay sau phần nói về Quốc kỳ.

Vậy là du khách đã biết được thêm về Quốc ca của Trung Quốc. Hãy đăng ký tham gia tour du lịch Trung Quốc để có cơ hội khám phá nhiều hơn về những nét đặc trưng trong văn hóa của đất nước xinh đẹp này nhé!

Những điều thú vị về Quốc kỳ Trung Quốc

Trung Quốc là một quốc gia có nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Mỗi khi nhắc tới đất nước này, người ta có thể dễ dàng nhắc tới những biểu tượng đặc trưng, chẳng hạn như Quốc kỳ – “Ngũ Tinh Hồng Kỳ”. 

Lịch sử Quốc kỳ Trung Hoa

Cũng như Quốc ca, lịch sử Quốc kỳ của Trung Quốc cũng không dài. Cho mãi đến cuối thời Mãn Thanh mới bắt đầu công bố lá Quốc kỳ chính thức và mang ý nghĩa thực tế lúc bấy giờ. Tài liệu ghi lại rằng, lá Quốc kỳ đầu tiên được chính thức xác định của Trung Quốc cũng có liên quan đến vị trọng thần triều đình nhà Thanh Lý Hồng Chương.

Sau cuộc chiến tranh Nha Phiến năm 1840, các nước Phương Tây xâm lược Trung Quốc, trong các hoạt động ngoại giao đàm phán, ký điều ước, thông thương, cử quan chức ngoại giao,… với các nước phương Tây, Lý Hồng Chương thấy phía các nước đó đều treo quốc kỳ trang nghiêm của nước họ, vậy mà phía Trung Quốc lại không có quốc kỳ để treo, ông ta cảm thấy mất đi vẻ “Uy nghi của triều đình”. Thế là ông ta liền tâu lên Từ Hy Thái hậu. Bà Từ Hy liền lệnh cho Lý Hồng Chương bố trí cho người thiết kế đồ án Quốc kỳ. Sau đó Lý Hồng Chương dâng lên phương án các đồ án của Quốc kỳ gồm: cờ Bát quái, cờ Hoàng long, cờ Kỳ lân và cờ Hổ báo để Từ Hy Thái hậu lựa chọn. Năm 1862, Từ Hy Thái hậu quyết định sử dụng cờ mang đồ án Hoàng Long làm Quốc kỳ của triều đình nhà Thanh. Hình con rồng màu vàng chính là tượng trưng cho Hoàng đế nhà Thanh, lấy hình con rồng vàng làm Quốc kỳ mang ý nghĩa là “Trẫm chính là quốc gia”.

Ngày 10/01/1912, triều đình nhà Thanh bị lật đổ, cờ Hoàng Long cũng đã bị Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc đổi thành cờ Thanh Thiên Bạch Nhật (do Lục Hạo Đông thiết kế vào năm 1895). Cờ Thanh Thiên Bạch Nhật có một mặt trời với 12 tia sáng trên nền màu xanh lam. 12 tia sáng ấy đại diện cho 12 tháng và 12 canh giờ, mỗi canh giờ tương ứng với 2 giờ hiện đại và tượng trưng cho tinh thần phát triển. Về sau, Tôn Trung Sơn còn thêm nền đỏ trên lá cờ để nhắc nhớ đời sau về sự hi sinh của các chiến sĩ cách mạng. Và sau đó, lá cờ nền đỏ với hình chữ nhật xanh lam có hình mặt trời màu trắng ở góc trái trên cùng được chọn làm quốc kỳ Trung Hoa Dân Quốc (từ ngày 17/12/1928).

Trong thời kỳ Xô Viết năm 1931, lá cờ là một đế màu đỏ với một quả địa cầu ở trung tâm. Quả địa cầu có một cái liềm và một cái búa đen nằm bên trong. Trên đỉnh địa cầu có một ngôi sao vàng và vòng nguyệt quế xuất hiện ở hai bên trái và phải.

Quốc kỳ Trung Quốc sau đó đã được thay đổi vào năm 1934 để bao gồm lưỡi liềm và búa xuất hiện ở bên trái của lá cờ màu đỏ. Ở phía bên phải của lá cờ có một biểu tượng nói rằng “Cộng sản Trung Quốc”. Quốc kỳ Đài Loan từng được Quốc dân Đảng Quốc dân đảng (KMT) treo ở Trung Quốc. Sau năm 1949, lá cờ của Đảng Cộng sản dưới thời Mao Trạch Đông đã trở thành lá cờ tồn tại lâu hơn tất cả.

Hiện nay, Quốc kỳ chính thức của Trung Quốc là một lá cờ màu đỏ với 5 ngôi sao vàng, trong đó một ngôi sao lớn hơn được bao quanh bởi 4 ngôi sao nhỏ.

Đôi khi Quốc kỳ này được gọi là “Ngũ Tinh Hồng Kỳ”. Người thiết kế lá cờ đỏ năm sao là Zeng Liansong. Trước khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Hội nghị Trù bị của Hội nghị Chính trị Hiệp thương Mới đã yêu cầu toàn quốc dự thảo quốc kỳ. Trong số vài ngàn bản dự thảo đã lựa chọn ra được đồ án Quốc kỳ là lá cờ đỏ năm sao do Zeng Liansong thiết kế. Ngày 27/9/1949, Hội nghị Toàn thể lần Thứ Nhất của Hội nghị Chính trị Hiệp thương Toàn quốc đã thông qua quyết nghị: Quốc kỳ của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là lá cờ năm sao nền đỏ. Lá cờ này chính thức được kéo lên lần đầu tiên tại Quảng trường Thiên An Môn Bắc Kinh trong buổi lễ tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Hình dạng Quốc kỳ Trung Hoa

Không quá đơn giản như các Quốc kỳ chỉ bao gồm những sọc màu như Quốc kỳ Đức hay quốc kỳ Ba Lan, nhưng cũng không quá cầu kỳ như Quốc kỳ Hàn Quốc và Quốc kỳ Mỹ, Quốc kỳ của Trung Quốc được thiệt kế một các phức tạp vừa phải.

Quốc kỳ của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là lá cờ đỏ có năm ngôi sao. Lá cờ đỏ năm ngôi sao nom trang nghiêm mà giản dị. Nền cờ màu đỏ, hình chữ nhật, tỷ lệ giữa chiều dài và chiều cao là 3:2, năm ngôi sao năm cánh màu vàng được đặt ở góc trên bên trái, trong đó có một ngôi sao to hơn, bốn ngôi sao nhỏ hơn được trải thành vòng cung ở bên phải ngôi sao lớn, ngôi sao nào cũng có một góc chiếu thẳng vào trung tâm điểm của ngôi sao lớn.

Nền màu đỏ tượng trưng cho máu của các chiến sĩ cách mạng đã hi sinh tính mạng vì độc lập của dân tộc. Màu đỏ cũng là màu đại diện cho chủ nghĩa cộng sản, cho cách mạng.

Ngôi sao có màu vàng tượng trưng cho chiến thắng, cho ánh sáng. Tuy nhiên, việc không công bố chính thức ý nghĩa của 5 ngôi sao nên điều này vẫn là điều bí ẩn và khiến mọi người hoài nghi, đồn đoán các giả thuyết.

– 5 ngôi sao tượng trưng cho sự đoàn kết của nhân dân cách mạng đại đoàn kết dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Hoa. Trong đó, 4 ngôi sao nhỏ tượng trưng cho lực lượng của cách mạng bao gồm: giai cấp công nhân, nông dân, tiểu tư sản thành thị và tư sản dân tộc đứng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Hoa là ngôi sao lớn.

– Ngôi sao lớn tượng trưng cho Trung Quốc, 4 ngôi sao nhỏ tượng trưng cho Đông di, Tây Nhung, Nam Man, Bắc Địch.

– 5 ngôi sao tượng trưng cho 5 dân tộc lớn ở Trung Quốc, ngôi sao lớn là Hán, 4 ngôi sao nhỏ là Hồi, Mông, Tạng, Mãn.

– 5 ngôi sao lớn tượng trưng cho đại lục, 4 ngôi sao nhỏ tượng trưng cho 4 khu tự trị.

Toàn bộ lá cờ thể hiện sự vững lòng vượt qua mọi kẻ thù của nhân dân Trung quốc, đương nhiên là dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản.

Quốc kỳ Trung Quốc tượng trưng cho uy quyền và sự tôn nghiêm, thể hiện truyền thống và ý tưởng của quốc gia qua màu sắc và hình dáng đặc trưng riêng. Thông qua sự tìm hiểu về Quốc Kỳ của đất nước xinh đẹp này, du khách hãy đăng ký tham gia tour Trung Quốc để có cơ hội tìm hiểu nhiều hơn về nền văn hóa này nhé!

Vịt quay Bắc Kinh – Món ăn quý tộc, biểu tượng của ẩm thực Trung Quốc

Bắc Kinh là một địa điểm nổi tiếng tại Trung Quốc. Nhắc tới Bắc Kinh, người ta sẽ nghĩ ngay tới Vạn Lý Trường Thành, Tử Cấm Thành,…. Và đặc biệt có một món ăn gắn liền với tên địa danh, nổi tiếng trong nền ẩm thực Trung Hoa từ trước đến nay, đó là vịt quay Bắc Kinh trứ danh. Món ăn nổi tiếng với lớp da vịt giòn tan nơi đầu lưỡi, thịt vịt thấm đẫm gia vị và nước chấm đậm đà hương vị.

Vịt quay Bắc Kinh có lịch sử lâu đời khoảng 600 năm và được công nhận là di sản ẩm thực. Theo các tài liệu ghi lại, món vịt quay có nguồn gốc xuất xừ từ thời Nam – Bắc Triều (420-589) của Trung Quốc. Tuy nhiên, mãi tới thời nhà Nguyên (1271-1368), món ăn này mới được triều đình và nhà vua công nhận lần đầu, được giới thiệu trong cuốn sách có 1330 món ăn do chuyên gia ẩm thực Hu Sihui biên soạn. Công thức làm món vịt quay của ông Hu lúc đó rất phức tạp vì vịt phải được bỏ trong dạ dày một con cừu để quay.

Điều thú vị là vịt quay đặt theo tên Bắc Kinh (Peking duck trong tiếng Anh, với từ Peking là cách phát âm cũ của tên thành phố này), nhưng nguồn gốc của món ăn này lại là Nam Kinh, kinh đô cũ của Trung Quốc, nằm ở tỉnh Giang Tô. Vào thời nhà Minh, triều đình dời đô ra Bắc Kinh nhờ thế món vịt quay cũng được đem tới kinh đô mới.

Về sau, món ăn này đã trở thành một trong những món ăn chính của nhà Vua. Vào triều đại nhà Thanh, vịt quay Bắc Kinh lan sang giới quý tộc, nơi món ăn được ca ngợi nhiều trong các tác phẩm của các học giả và nhà thơ. Sau đó, vịt quay có mặt trong thực đơn của một nhà hàng nổi tiếng tại Bắc Kinh vào năm 1416 và được nhiều người yêu thích, mong muốn tới nhà hàng để thưởng thức đặc sản thơm ngon này. Từ đó, vịt quay được xem là đặc trưng cho nền ẩm thực của Bắc Kinh nói riêng, ẩm thực Trung Quốc nói chung.

Ai đã từng ăn vịt quay Bắc Kinh đều rất hài lòng, bởi lớp da vịt giòn tan, thịt vịt bên trong vẫn giữ nguyên độ mềm và ngọt như thịt luộc. Ăn không cảm giác béo, nhai lâu lại thấy thịt dai nhưng không bở, ăn rất vừa miệng. Để có được điều này, trước tiên phụ thuộc vào loại vịt được sử dụng để chế biến. Thường thì người ta sẽ chọn những con vịt được lấy ở Nam Kinh. Vào tháng 9 khi lúa chín vàng cũng là thời điểm vịt ngon nhất mập nhưng lại không nhiều mỡ, da căng và không bị trầy xước, mỗi con vịt nặng từ 3-4kg. Vịt được nuôi trong môi trường tự do trong 45 ngày, sau đó chúng được cho ăn trong 15 đến 20 ngày.

Sau khi lựa chọn được những con vịt ngon nhất, các đầu bếp sẽ làm sạch và bơm không khí dưới da vịt để tách bỏ lớp mỡ béo. Sau đó, vịt được quết lớp đường mạch nha và gia vị giấm đỏ, đường, muối và ngũ vị hương. Công đoạn này được các đầu bếp lặp đi lặp lại nhiều lần cho đến khi gia vị đã ngấm hết vào da vịt. Công đoạn này được các đầu bếp lặp đi lặp lại nhiều lần cho đến khi gia vị đã ngấm hết vào da vịt.

Không chỉ cầu kỳ trong quá trình tẩm ướp mà quá trình quay vịt cũng là một phần mang tầm quan trọng. Loại củi dùng để nướng món vịt này thường là loại gỗ lấy từ cây long não hoặc cây ăn trái. Mùi thơm của gỗ sẽ làm tăng thêm hương vị cho món thịt này. Khi nướng món ăn này, các đầu bếp phải xoay vịt theo bốn phía để ức, lưng và hai cánh được chín vàng đều. Để thịt bên trong được chín mềm người ta sẽ cho một ít nước vào bên trong bụng vịt, nước sôi sẽ giúp hầm bên trong của vịt, giúp cho vịt mau chín hơn. Một con vịt quay ngon sẽ có lớp da giòn màu nâu bánh mật, giòn giòn, béo béo nhưng lại không quá ngán, nhưng bên trong thịt lại mềm thơm dễ chịu.

Vịt quay Bắc Kinh nếu muốn ngon không thể thiếu nước chấm. Thực khách sẽ được trải nghiệm 2 loại nước chấm hoàn toàn khác nhau và mang đến những hương vị khác nhau nhưng sự thơm ngon, hấp dẫn thì vẫn không thay đổi. Một là nước chấm cổ truyền với đậu xị (đỗ tương hay đậu nành đã ủ lên men nghiền ra trộn với tỏi). Loại thứ hai là nước chấm hiện đại được chế biến bằng cách pha tỏi nghiền, chút dầu mè và chút nước tương xì dầu lỏng. Loại nước chấm nào cũng ngon và hợp với khẩu vị đa số thực khách. 

Vịt quay Bắc Kinh được các nhà khoa học đánh giá là có lợi cho sức khỏe bởi vịt được nuôi bằng thức ăn thiên nhiên và cách chế biến rất khoa học, được quay cách xa ngọn lửa nên không bị ám khói. Đặc biệt nguyên liệu mang lại màu đỏ tươi cho món vịt quay được chiết xuất từ gạo lên men giúp cải thiện sức khỏe, giảm nguy cơ đau tim và bởi thế được coi như một thảo dược.

Khi đặt chân đến Bắc Kinh, du khách có thể bắt gặp món ăn này ở rất nhiều nơi từ nhà hàng cao cấp đến bình dân. Tại những nơi đây, du khách sẽ được thưởng thức món ăn này một cách đúng điệu với nhiều cách ăn khác nhau. Món vịt ăn đúng cách phải được đầu bếp cắt thành những lát mỏng, một số nhà hàng sẽ phục vụ món vịt với phần da và thịt riêng biệt, còn phần xương thì dùng để nấu súp.

Cách phổ biến nhất là ăn với một loại bánh bột mì gọi là “bạc bỉnh”. Đầu tiên, trải miếng bánh bạc bỉnh này lên đĩa rồi quệt lên một chút nước tương trên mặt bánh, sau đó ta để vào đó một miếng da vịt rồi cuốn lại chung với một cọng hành hương sống ngắn chẻ hơi toe hai đầu. Về loại bánh ăn kèm thì ngoài thứ bạc bỉnh thì tùy nơi có thể thay bằng loại bánh mè, hay bánh màn thầu.

Một số thực khách có thể ăn kèm với hành tây, tỏi, dưa chuột hoặc cà rốt. Ăn vịt quay với những loại rau củ như vậy không những làm tăng hương vị của món ăn mà còn có tác dụng làm tăng hàm lượng vitamin C được hấp thụ vào cơ thể, giúp tiêu hoá rất tốt.

Có một số vị khách thì lại thích ăn những miếng da vịt được quay giòn vừa thơm vừa ngậy, và chấm với những viên đường nhỏ. Đây là cách ăn yêu thích của những cô gái hoặc các trẻ em.

Dư vị của món vịt Bắc Kinh sẽ đọng lại mãi sau mỗi lần ăn, vì vậy nếu có cơ hội du lịch Trung Quốc, du khách hãy một lần đến những nhà hàng vịt quay Bắc Kinh chuyên nghiệp để thưởng thức món ăn nức tiếng này nhé! 

Đậu phụ Mapo – món ăn nổi tiếng của Tứ Xuyên, Trung Quốc

Nói về các món ngon của nền ẩm thực Trung Hoa, có lẽ không bao giờ thiếu được các món ăn chế biến từ đậu hũ, trong đó có món đậu phụ Mapo. Món ăn này độc đáo từ cách chế biến, cho đến tên gọi và tồn tại hàng thế kỷ vẫn giữ nguyên độ cay nồng cùng màu đỏ đặc trưng không phai nhạt.

Đậu phụ Mapo là một trong những món ăn nổi tiếng có nguồn gốc từ Tứ Xuyên được lưu truyền cách đây hàng trăm năm. 

Theo chuyện kể trong quyển sách “Phù dung thoại cựu lục” thì món ăn này xuất hiện vào thời vua Đồng Trị nhà Thanh, cụ thể là vào năm 1874. Tương truyền vào thời đó, một người đàn bà tên là Trần Lưu Thị, còn được gọi thân mật là Trần Ma Bà (người đàn bà họ Trần – Chen với khuôn mặt có nhiều mụn rỗ). Sở dĩ có cái tên “Ma Bà” thế này là vì Bà Trần từ nhỏ đã bị bệnh tật tai ương mà để lại sẹo rỗ trên mặt. Sau này người ta gọi mãi thành quen. Bà có một quán cơm với bảng hiệu “Trần Hưng Thịnh phạn phô” ở Thành Đô. Và món đậu phụ Mapo là do bà sáng tạo ra. 

Sách xưa kể lại rằng lúc đầu, bà Trần mở một quán ăn nhỏ ở Thành Đô để buôn bán kiếm sống. Tuy nhiên, có nhiều ngày, lượng đậu hũ còn dư lại khá nhiều vì hương vị món ăn này có phần đơn giản và nhạt nên cũng chẳng mấy ai gọi. Mà Tứ Xuyên lại vốn khu vực dồi dào nguyên liệu và sở hữu thực phẩm cay nóng thuộc loại tươi ngon bậc nhất cả nước. Chính vì vậy, để xử lý số lượng đậu dư thừa nhiều trong kho thực phẩm, bà nhanh trí nghĩ ra cách kết hợp nó với các nguyên liệu và gia vị có sẵn nhằm đổi mới món ăn. Từ đó làm ra một công thức chế biến đậu hoàn toàn khác biệt với các kiểu nấu đơn giản có sẵn.

Với công thức và cách chế biến độc đáo đó đã mau chóng đem lại tiếng tăm cho nhà hàng nhỏ của bà Trần. Món đậu hũ của bà không chỉ nổi danh khắp trong vùng lúc bấy giờ mà còn chinh phục cả những thực khách khắp nơi đến từ vùng miền khác của Trung Quốc. Đâu đâu cũng vậy, hễ nhắc đến Tứ Xuyên, Thành Đô là người ta lại gọi tên món đậu phụ Mapo (“ma” trong tiếng Trung có nghĩa là mụn rỗ, “po” có nghĩa là người đàn bà, Mapo có nghĩa là: “Món đậu của người đàn bà mặt rỗ”). 

Danh tiếng của món đậu phụ Mapo vang dội tới mức đi vào thơ ca, được nhắc đến trong thi tập “Cẩm Thành Trúc Chi Từ Bách Vịnh” như sau: “Ma bà đậu hũ thượng truyện danh / Đậu hũ hồng lai vị tối tinh / Vạn phúc kiều biên liêm ảnh động / Hợp cô xuân tửu túy tiên sinh”.

Vì đâu mà món Mapo lại trở nên cuốn hút đến vậy? Có lẽ bí quyết lớn nhất nằm ở sự kết hợp hài hòa các nguyên liệu tươi ngon và thấm đẫm hương vị đậm đà của vùng đất Tứ Xuyên.

Nguyên liệu chính làm nên món đậu phụ Mapo không thể bỏ qua đậu phụ non Tứ Xuyên. Miếng đậu phụ trắng sau khi qua nhiều công đoạn chế biến từ đậu nành nên rất mềm mịn và thơm. Đậu phụ trắng được cắt ra thành từng miếng vuông nhỏ rồi xào chung với thịt băm nhỏ (thịt heo hay bò).

Ngoài ra, một gia vị không thể thiếu là tương đậu Tứ Xuyên, một loại tương được ủ lên men trong thời gian dài. Chính loại tương này đã khiến cho món đậu phụ Tứ Xuyên có hương vị đặc trưng riêng và rất khác biệt.

Mapo cũng không thể thiếu đi các gia vị cay đặc trưng. Để làm nên món đậu phụ Mapo đúng cách, người ta phải sử dụng rất nhiều ớt và tiêu nên món ăn sau khi chế biến xong thì dậy mùi cay nồng rất hấp dẫn. Đặc biệt, đậu phụ trắng lại được cho nhiều ớt đỏ, hai màu sắc tương phản nhau càng khiến cho món đậu phụ Mapo thêm nổi bật và đẹp mắt hơn.

Một nét tinh túy của món ăn này là đậu phụ tuy mềm dễ vỡ nhưng người nấu phải khéo léo làm sao để đậu không bị nát. Do đó, khi chế biến phải rất cẩn thận từ công đoạn cắt nhỏ và đảo các nguyên liệu. Đặc biệt nhất là phải dùng loại chảo to và rộng thì mới đủ không gian đảo thức ăn để đậu phụ vẫn còn nguyên vẹn sau khi hoàn thành.

Mặc dù được làm từ đậu phụ trắng khá nhạt nhẽo nhưng do món ăn này kết hợp hài hòa các nguyên liệu khác như thịt băm và nhiều loại gia vị cay nồng nên không chỉ vô cùng hấp dẫn mà hương vị món ăn còn rất tinh tế. Đậu phụ mềm và có vị hơi beo béo kết hợp với vị ngọt của thịt, vị cay của ớt tiêu lại thêm vị chua, hăng của đậu tương khiến món Mapo rất dễ đi vào lòng người và làm hài lòng mọi thực khách mới nếm qua lần đầu tiên.

Món đậu phụ Mapo đậm đà, cay nóng thoảng chút chua và mặn rất thích hợp khi ăn kèm với cơm trắng. Chỉ cần xúc vào thìa hay muỗng một ít đậu phụ mới xào xong còn nóng hổi rồi cho lên bát cơm trắng, du khách sẽ cảm nhận được trọn vẹn vị ngon của món ăn. Có thể nói cơm trắng là sự kết hợp hoàn hảo nhất với món đậu phụ cay này, nhất là nếu du khách thưởng thức vào những ngày đông lạnh lẽo nghe gió rít ngoài cửa thì càng thêm ấm lòng đấy!

Du lịch Trung Quốc, chắn hẳn ai đã đặt chân đến Thành Đô nói riêng và Tứ Xuyên nói chung cũng đều muốn được thưởng thức món ăn vô cùng hấp dẫn và kích thích vị giác đến từng cái chạm đũa này. Chắc chắc hương vị cay nồng, thấm đẫm từ ớt và hoa tiêu của món đậu phụ Mapo trứ danh sẽ giúp du khách có được một chuyến trải nghiệm ẩm thực trọn vẹn với đủ các cung bậc từ cay xè, cay nồng đến mặn mà đậm đà thoảng chút chua ngọt vô cùng hài hòa.

Gà Kung Pao – món ăn cay nồng đặc trưng của ẩm thực Tứ Xuyên, Trung Quốc

Gà Kung Pao (宫保鸡丁) có nguồn gốc từ tỉnh Tứ Xuyên của đất nước Trung Quốc. Không chỉ được yêu thích bởi mùi vị thơm ngon khó cưỡng, gà Kung Pao còn nổi tiếng với vị cay nồng và thơm béo đặc trưng của ẩm thực Tứ Xuyên.

Gà Kung Pao hiểu đơn giản là thịt gà cắt nhỏ xào cùng ớt, đậu phộng, rưới nước sốt. Trông có vẻ đơn giản, thế nhưng khi dọn ra đĩa, món ăn này lại có màu sắc vô cùng hấp dẫn khiến nhiều người “ứa nước miếng” ngay. 

Món ăn này được người dân Trung Quốc chế biến rất công phu. Các nguyên liệu cần có gồm: thịt gà (thông thường người ta sẽ sử dụng phần đùi gà để không quá nhiều mỡ nhưng cũng không bị khô sau khi xào); dầu chiên; Đậu phộng rang; ớt đỏ khô; tỏi băm nhỏ; gừng tươi băm nhỏ; hành lá thái nhỏ; nguyên liệu cho gia vị ướp (nước tương, rượu gạo, bột bắp); nguyên liệu cho phần nước sốt (giấm đen Trung Quốc, nước tương, dầu mè, đường trắng, tương đen, bột bắp).

Sau khi có đầy đủ nguyên liệu thì bắt đầu vào công đoạn chế biến. Trước hết, thịt gà đùi sau khi được lọc bỏ xương và da thì sẽ được thái thành những miếng vuông vừa ăn. Sau đó cho các thành phần gia vị ướp đã chuẩn bị vào một cái bát (tô) rồi cho thịt gà vào. Để nguyên cho thịt gà ngấm gia vị. Trong thời gian chờ thịt ngấm thì làm tiếp những thành phần còn lại của món ăn.

Tiếp đó cho tất cả các nguyên liệu đã chuẩn bị cho phần nước sốt vào một cái bát khác và khuấy đều cho đến khi bột bắp và đường tan. Để hỗn hợp sang một bên.

Bước tiếp theo là đun nóng dầu trong chảo ở nhiệt độ cao rồi cho ớt vào một vài giây cho ớt chuyển màu đỏ sậm hơn một chút, rồi cho thịt gà và gia vị ướp đã chuẩn bị vào xào cho đến khi thịt gà chín. Trong lúc này thêm tỏi, gừng và phần trắng của hành lá vào xào khoảng 2 phút, tiếp đó rưới nước sốt vào và khuấy cho đến khi sốt sánh lại. Giảm bớt nhiệt nấu và cho đậu phộng vào khuấy cùng. Chờ cho món gà hơi sôi một chút thì có thể tắt bếp và rắc hành lá đã thái nhỏ vào.

Vậy là đã có một đĩa gà Kung Pao hấp dẫn. Món ăn khi còn nóng có mùi thơm khó cưỡng, khi được dọn ra đĩa trông rất hấp dẫn với nhiều màu sắc bắt mắt. Nhưng trên hết, hương vị đậm đà trong từng thớ thịt được ướp kỹ, cùng món nước sốt cay xé lưỡi đặc trưng mới là điểm cộng của món ăn. Nó khiến thực khách “mê ly” và nhanh chóng bị nghiện cái cảm giác toát mồ hôi, khi thưởng thức món gà Kung Pao huyền thoại.

Hiện nay, ngoài thịt gà, một số nhà hàng đã có thêm biến tấu món ăn này với thịt heo, thịt bò hoặc các loại hải sản, nhưng theo đánh giá chung thì thịt gà là sự kết hợp hài hoà và ngon hơn cả.

Là món ăn nổi tiếng, món gà Kung Pao hiện đã được phục vụ tại nhiều nhà hàng món Hoa tại các quốc gia khác trên thế giới và được nhiều thực khách khắp nơi ưa chuộng.

Món gà Kung Pao được ca ngợi như một tinh hoa của ẩm thực của người Trung Quốc. Món ăn độc đáo này cũng là một trong những yếu tố đầy thú vị, góp phần lôi cuốn du khách trong hành trình khám phá ẩm thực đa dạng của đất nước này. Vậy nên, du khách đừng bỏ lở cơ hội “thử thách” vị giác với món gà Kung Pao nổi tiếng này nếu có dịp du lịch Trung Quốc nhé!