Hiếu Trang Duệ Hoàng hậu dù bị mù nhưng vẫn được hoàng đế sủng ái cả đời

Nhắc đến vị trí mẫu nghi thiên hạ, người ta thường nghĩ ngay tới những người phụ nữ sắc nước hương trời mới có thể được Hoàng đế sủng ái, hết mực yêu chiều. Tuy nhiên, Hiếu Trang Duệ Hoàng hậu lại là một ngoại lệ. Mặc dù bà bị mù một bên mắt, tàn phế một chân nhưng vẫn được Hoàng đế Minh Anh Tông yêu thương trân trọng cả đời.

Hiếu Trang Duệ Hoàng hậu hay Tiền Hoàng hậu (02/8/1426 – 15/7/1468) là Hoàng hậu duy nhất của Minh Anh Tông Chu Kỳ Trấn và là đích mẫu của Minh Hiến Tông Chu Kiến Thâm.

Hiếu Trang Duệ Hoàng hậu mang họ Tiền, nguyên quán ở vùng Hải Châu. Tuy ghi chép gia cảnh hàn vi, nhưng “hàn vi” của nhà quan trường so với nhà bình dân học vụ thì cũng rất khác biệt. Ông cố nội là Tiền Chỉnh, phục vụ Minh Thành Tổ khi còn là Yên vương, nhậm “Yên Sơn hộ vệ Phó thiên hộ”, ông nội Tiền Thông làm quan đến “Kim Ngô Hữu vệ Chỉ huy sứ”, cha bà là Đô đốc đồng tri Tiền Quý, một tước quan võ hàng Chính nhị phẩm, từng nhiều lần cùng Thành Tổ và Minh Tuyên Tông tòng giá Bắc chinh. Vào thời điểm Tiền thị trưởng thành thì Tiền Quý đã là “Trung phủ Đô đốc đồng tri”.

Mùa xuân năm Chính Thống thứ 7 (1442), Tiền thị thông qua tuyển mỹ nhập cung, được Trương Thái hoàng Thái hậu chọn làm Hoàng hậu. Khi đó, Minh Anh Tông 15 tuổi, còn Tiền thị 16 tuổi.

Minh Anh Tông là Hoàng đế đầu tiên của nhà Minh đăng cơ khi tuổi còn nhỏ, khi chỉ vừa 9 tuổi. Do vậy, vị thê tử nguyên phối của ông chính là Hoàng hậu chính thức đầu tiên, không phải do sách phong từ vị trí Thái tử phi hay Vương phi hoặc tần phi. Bà nội của Anh Tông, Trương Thái hoàng Thái hậu là một người phụ nữ kiệt xuất, khi bà giúp chồng Minh Nhân Tông Chu Cao Sí giữ vững vị trí Thái tử, phò trợ con trai Minh Tuyên Tông và giờ là cháu trai. Từ vị trí của mình, bà biết rõ vị trí Hoàng hậu có ảnh hưởng đến thế nào đối với Hoàng đế, vì vậy việc tuyển chọn cháu dâu do đó cũng rất tỉ mỉ.

Tiền thị khi đó so với những mỹ nhân tham gia tuyển cùng không phải có xuất thân quá nổi bật hay vẻ đẹp sắc nước hương trời, tuy nhiên, Trương Thái hoàng Thái hậu đã cảm nhận được nhân phẩm xuất chúng của bà.

Minh Anh Tông có được người vợ thông tuệ, hết mực nết na thì rất vui sướng. Hai người sống những ngày tháng tân hôn vô cùng hạnh phúc và vui vẻ.

Một lần, Minh Anh Tông chợt để ý rằng gia tộc của Hoàng hậu đều chỉ giữ những chức quan khá tầm thường, không quan trọng. Thế nên, ông muốn cất nhắc, phong tước một số người trong gia tộc Tiền thị để Hoàng hậu được nở mày nở mặt. Thế nhưng khi nhà vua đề cập việc này với Hoàng hậu thì bà ngay lập tức từ chối. Bà nói rằng, trong gia tộc, chưa ai có công lao, đóng góp to lớn trong triều đình hoặc có tài năng xuất chúng để xứng đáng được phong tước cả. Về sau, nhà vua cũng nhắc lại việc này thêm vài lần nữa và lần nào Hoàng hậu cũng một mực khước từ, qua đó mà Minh Anh Tông càng hiểu thêm về tấm lòng và tính cách công bằng, chính trực của bà. Bà cũng rất thông cảm chuyện nạp phi, nên không bao giờ ngăn cản Minh Anh Tông sủng hạnh phi tử, do vậy số con cái của Anh Tông khai chi tán diệp cũng không tệ. Tình cảm Đế – Hậu từ đó mà càng trở nên sâu nặng, thắm thiết.

Chỉ có một điều đáng tiếc, đó là dù Minh Anh Tông hết mực sủng ái và rất mong chờ, nhưng Tiền Hoàng hậu vẫn không thể sinh cho ông một vị Hoàng tử nào, trong khi các phi tần khác đều liên tục sinh nở. Nhà Vua ngày đêm mong ngóng, không phải vì muốn có Đích tử mà sợ rằng nếu truyền ngôi vị cho Hoàng thứ tử, thì sinh mẫu sẽ lạm quyền, ức hiếp Tiền Hoàng hậu.

Năm Chính Thống thứ 14 (1449), xảy ra Sự biến Thổ Mộc bảo. Lúc đó, Minh Anh Tông thân chinh cầm quân xuất trận để bảo vệ bờ cõi trước sự xâm lược của các bộ lạc Mông Cổ. Ông để cho em trai Chu Kỳ Ngọc ở lại trấn thủ kinh thành. Thái giám Vương Chấn khi ấy ngang nhiên mượn danh Hoàng đế chỉ huy quân đội tùy tiện, phong tỏa hết thảy những thông tin bất lợi với Minh Anh Tông khiến quân nhà Minh liên tiếp bại trận, thương vong vô số.

Mãi cho đến khi thấy tình hình chiến sự trở nên vô cùng bất lợi, Vương Chấn bèn tìm cách thoát li khỏi nhà vua, thế nhưng trên đường tẩu thoát, hắn bị quân Mông Cổ bắt được và giết chết. Về phần Minh Anh Tông, ông bị bắt giữ làm con tin.

Ngày 18/8, tin tức Minh Anh Tông bị bắt lan đến kinh thành. Trong triều chấn động, Tôn Thái hậu mệnh Thành vương Chu Kỳ Ngọc giám quốc, lại huy động các quan công khanh vơ vét tài sản để chuộc Hoàng đế. Tiền Hoàng hậu bán hết tài sản riêng, cốt để mong chuộc được Minh Anh Tông. Nhưng Khả Hãn Mông Cổ là Dã Tiên lại thấy có thể lấy Minh Anh Tông uy hiếp nhà Minh, vừa có thể mượn sức nhà Minh hoàn thành việc thống nhất Mông Cổ, lại có thể uy hiếp đến Bắc Kinh. Trước tình thế đó, ngày 6/9, Tôn Thái hậu gấp gáp khuyên mời Thành vương Chu Kỳ Ngọc lên ngôi, tức Minh Đại Tông, còn Minh Anh Tông trở thành Thái thượng hoàng nhằm ổn định tình hình, tổ chức đánh trả quân Mông Cổ.

Nhận được hung tin chồng bị bắt làm tù binh, anh trai Tiền Khâm và em trai Tiền Chung cũng tử trận, Tiền Hoàng hậu đau đớn đến độ chỉ muốn chết đi. Điều duy nhất mà Tiền hậu có thể làm đó là ngày ngày quỳ gối dập đầu trước Phật, thành tâm khẩn cầu hi vọng trượng phu có thể bình an trở về. Suốt một thời gian dài cầu khấn, mùa đông với cái lạnh cắt da cắt thịt đã khiến tình hình sức khỏe của Tiền Hoàng hậu suy giảm đến mức không thể tự đứng dậy được. Không ngừng quỳ lạy bất kể ngày đêm, không ngừng khóc thương người chồng đang bị bắt, vậy nên một chân bà đã bị thương nặng dẫn đến tàn phế, một bên mắt cũng đã bị mù. Năm đó, bà mới chỉ 24 tuổi.

Có lẽ tấm lòng son sắt, kiên trinh của Tiền Hoàng hậu đã lay động trời xanh nên Minh Anh Tông cuối cùng cũng được quân Mông Cổ trao trả cho nhà Minh. Năm đầu Cảnh Thái (1450), ngày 3/8, Minh Anh Tông từ Mạc Bắc trở về kinh, được tôn làm Thái thượng hoàng và bị giam lỏng ở Nam Cung. Gặp lại Tiền thị, Minh Anh Tông không khỏi xót xa. Bà giờ đã tàn phế, dung mạo tiều tụy nhưng tấm chân tình của bà vô cùng đáng quý. Lúc này, Tiền Hoàng hậu dọn đến Nam Cung để sống cùng trượng phu của mình, thậm chí phải có lúc bán đồ thêu để có tiền sinh sống qua ngày.

7 năm sau (tháng Giêng, năm Cảnh Thái thứ 8 – 1457), Minh Đại Tông bạo bệnh qua đời. Ngày 17 tháng Giêng, Minh Anh Tông lần nữa lại lên làm hoàng đế.

Hoàng đế phục vị, vì vậy cần sắc phong một vị Hoàng hậu mới. Mọi người đều nghĩ Chu Quý phi, người đã sinh ra trưởng tử Chu Kiến Thâm sẽ ngồi lên ngôi vị Hoàng hậu. Thành thật mà nói, so với Tiền thị tàn tật, không sinh cho nhà vua một đứa con nào thì Quý phi Chu thị có ưu thế hơn hẳn: không những có nhan sắc mà lại sinh cho nhà vua đến 3 Hoàng tử, trong đó con trai của Chu Quý phi là Chu Kiến Thâm đã được phong làm Hoàng thái tử. Bản thân Chu Quý phi sinh hạ Hoàng thái tử nên cũng nôn nóng muốn trở thành Hoàng hậu. Nhìn thấu được dã tâm của Chu thị, Anh Tông vẫn kiên quyết giữ Tiền thị làm Hoàng hậu. Với ông, tình nghĩa sâu nặng và tấm lòng sắt son của Tiền thị vượt lên trên tất thảy những tính toán thông thường. Dù rằng bà không có con nhưng sự trân quý của nhà vua dành cho bà chưa khi nào suy chuyển. Chu Quý phi tham vọng cũng vì thế tiêu tan.

Tháng 12, năm Thiên Thuận thứ 8 (1464), Minh Anh Tông đã mắc bệnh nặng. Đến ngày 6 tháng Giêng, đã không thể thượng triều, phải truyền Thái tử đến Văn Hoa điện xử lý quốc sự. Ngày 16 tháng ấy, Minh Anh Tông trước mặt bá quan công bố di chiếu, rồi băng hà. Di chiếu cho Hoàng thái tử Chu Kiến Thâm kế vị, tức Minh Hiến Tông.

Minh Anh Tông từ trước đã không vừa mắt Chu Quý phi, nhưng vì địa vị của Thái tử mà bỏ qua không so đo, cũng một phần vì không nghĩ mình sẽ qua đời sớm. Vào lúc này, Minh Anh Tông sợ mình băng hà thì Chu phi sẽ gây khó dễ Tiền Hoàng hậu, nên trước khi lâm chung đã nói với Thái tử: “Hoàng hậu danh vị đã định, phải tẫn hiếu thiên niên”. Nhưng Minh Anh Tông chính là không yên tâm Chu phi sẽ tác oai tác oái, khiến Thái tử sợ mẹ mà làm bậy, bèn quyết định kéo tay Đại học sĩ Lý Hiền mà dặn dò: “Sau khi Tiền hoàng hậu thiên thu, phải cùng Trẫm hợp táng!”. Đại học sĩ Lý Hiền khóc không thành tiếng, cũng lấy lời này viết lên di chiếu.

Năm Thành Hóa nguyên niên (1465), tháng 3, tức 2 tháng sau khi Minh Anh Tông băng hà, triều thần tôn Tiền Hoàng hậu là Hoàng Thái hậu, gọi là Từ Ý Hoàng Thái hậu, còn Chu Quý phi cũng được tôn là Hoàng Thái hậu nhưng không có tôn hiệu.

Ngày 26 tháng 6 (âm lịch), năm Thành Hóa thứ 4 (1468), Tiền Thái hậu qua đời, thọ 42 tuổi. Theo di chiếu cũng như quy tắc đích – thứ, Tiền Thái hậu là người duy nhất có thể “hợp song táng” cùng Minh Anh Tông vào Dụ lăng.

Nhưng quyền lợi đáng có này của Tiền Thái hậu khiến Chu Thái hậu tức giận, yêu cầu Minh Hiến Tông xây chỗ khác mà an táng Tiền Thái hậu, chỉ một mình Chu Thái hậu tương lai có thể hợp táng với Anh Tông. Hiến Tông răm rắp nghe theo mẹ đẻ, tìm đủ loại lý do để không theo di chiếu của Tiên hoàng. Sự việc này khiến hơn 99 đại thần, đứng đầu là Đại học sĩ Bành Thời liền thượng tấu về chuyện phải hợp táng Tiền Thái hậu cùng Minh Anh Tông như di chiếu. Chu Thái hậu biết tin này cực kỳ phẫn nộ. Đối với hành động trắng trợn quái ác của Chu Thái hậu, Chấp sự trung Ngụy Nguyên cùng đồng liêu hơn 39 người, Ngự sử Khang Doãn Thiều cùng đồng liêu hơn 41 người quyết định đòi lại công đạo cho Tiền Thái hậu, ngay khi hạ triều liền ở ngoài Văn Hoa điện quỳ khóc. Bắt đầu một chiến dịch đình công trong triều đình để buộc Chu Thái hậu đồng ý việc hợp táng của Tiền Thái hậu. Đó là tháng 6 âm lịch, trời Bắc Kinh nắng hạ, quần thần 99 người quỳ từ giờ Tỵ (tức 9 giờ đến 11 giờ buổi sáng) đến giờ Thân (tức khoảng 5 giờ chiều), khóc lóc thảm thiết bao trùm toàn bộ hậu cung. Chu Thái hậu nhiều lần bắt Hiến Tông buộc quần thần thoái lui, nhưng họ kiêng quyết: “Không có ý chỉ hợp táng Tiền Thái hậu thì không dám lui”. Chu Thái hậu không ngờ một Tiền thị tàn phế lại có thể khiến các đại thần đồng lòng đòi công đạo, nên cảm thấy ức chế nhưng vẫn không còn cách nào khác gật đầu việc hợp táng của Tiền Thái hậu.

Tháng 7 năm đó, Minh Hiến Tông chính thức dâng thụy hiệu cho Tiền Thái hậu, là Hiếu Trang Hiến Mục Hoằng Huệ Hiển Nhân Cung Thiên Khâm Thánh Duệ Hoàng hậu. Tháng 9 năm đó, Tiền Thái hậu được hợp táng cùng Minh Anh Tông, đưa vào địa lăng bên trái.

Dù cuối cùng Tiền Thái hậu đã được đưa vào Dụ lăng hợp táng với Minh Anh Tông, song Chu Thái hậu vẫn uất ức. Do khi xây dựng Dụ lăng không có dự lưu việc sẽ an táng thêm 1 Hoàng hậu nữa, nên không thiết kế thích hợp cho trường hợp đồng táng “Nhất đế Nhị hậu”. Để hợp táng Tiền Thái hậu, và tương lai là Chu Thái hậu, triều đình lại lần nữa thi công, đào thông một đường hầm từ phần mộ Tiền Thái hậu đến phần mộ của Anh Tông.

Chu Thái hậu lúc này mua chuộc thái giám làm việc đào mộ, không chỉ khiến đường hầm đi chệch so với mộ của Minh Anh Tông mười mấy trượng, mà giữa đường còn lấy đất đá chèn ngăn lại. Còn phần mộ tương lai của Chu Thái hậu thì thẳng tắp đến mộ của Anh Tông, lối mộ cũng rộng rãi thoáng đãng. Ngoài ra, mỗi dịp có hiến tế trong Phụng Tiên điện, Chu Thái hậu còn không cho phép bày bức họa của Tiền Thái hậu cùng thần vị. Đến sau khi Chu Thái hậu qua đời vào thời Minh Hiếu Tông, Hoàng đế theo lệ mở Dụ lăng để đưa bà nội của mình vào, thì kinh ngạc phát hiện sự tình mà bà nội mình làm năm xưa.

Biết sự việc đã rồi, Minh Hiếu Tông đã có ý cho sửa lại đường thông, triệu tập các Đại học sĩ bàn nghị một cuộc họp rất lớn, muốn vì Tiền Thái hậu mà khai thông đường hầm. Nhưng những vị Âm dương sư và các quan viên của Khâm thiên giám không tán đồng vì ảnh hưởng phong thủy, sự việc bèn thôi. Đường thông của Tiền Thái hậu mãi mãi bị ngăn lấp, không thông được với mộ phần của Minh Anh Tông.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về lịch sử triều đại của một đất nước đông dân nhất thế giới này. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn, hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! Chúc du khách có một chuyến đi vui vẻ và thú vị!

Shui Zhu Yu – Món canh cá tràn ngập ớt và dầu mỡ của ẩm thực Tứ Xuyên, Trung Quốc

Ẩm thực Tứ Xuyên từ lâu đã nổi tiếng với các món ăn cay xé lưỡi bởi sử dụng những loại gia vị đặc trưng như hạt tiêu Tứ Xuyên kết hợp cùng với ớt đỏ cay nồng. Đặc biệt, ngoài món lẩu cay lừng danh thì một trong những món cay nổi tiếng khác của Tứ Xuyên đó chính là “Shui Zhu Yu” – món canh cá tràn ngập ớt và dầu mỡ.

Ở Tứ Xuyên, Shui Zhu Yu có lịch sử ra đời từ rất sớm, thậm chí đến nay người dân cũng không rõ món ăn này đã xuất hiện từ khi nào. Thế nhưng, từ những năm 1990 thì món Shui Zhu Yu đã trở thành món ăn cực nổi tiếng hơn hẳn nhiều món ngon khác ở Tứ Xuyên.

Shui Zhu Yu có nghĩa là “cá nấu trong nước”, tuy nhiên khi thưởng thức món này thì du khách sẽ nhận ra phần nước dùng này không hẳn là nước mà thực chất lại được sử dụng rất nhiều dầu thực vật. Đó là lý do tại sao nồi cá Shui Zhu Yu lúc nào cũng trông đẹp mắt và hấp dẫn không thể tả. 

Điểm nhấn quan trọng của món ăn này là cá và phần nước dùng được nấu từ dầu thực vật, hạt tiêu Tứ Xuyên, cải thảo, tỏi, hồi, gừng khô và tất nhiên sẽ có rất nhiều ớt đỏ tươi bên trong.

Với phần nguyên liệu cá thì có thể sử dụng từ nhiều loại cá chứ không hẳn chỉ riêng một loại cá nào. Cá có thể được cắt lát cho dễ ăn nhưng cũng có khi được để nguyên cả con. Đôi khi, người ta còn sử dụng nguyên liệu thịt heo, thịt bò để thay thế cho cá. Tuy vậy, Shui Zhu Yu nấu từ cá sẽ cho vị ngọt thanh hơn cả.

Mặc dù Shui Zhu Yu đã được công nhận là món ngon nổi tiếng ở Tứ Xuyên nói riêng và Trung Quốc nói chung, thế nhưng đây sẽ là một trở ngại lớn đối với những ai không ăn cay được. Món ăn này cay đến mức thậm chí nhiều người còn kháo nhau rằng, chỉ cần bạn thưởng thức được món Shui Zhu Yu này là bạn đã đủ trình độ thưởng thức tất cả các món cay khác ở Tứ Xuyên.

Bởi thành phần gây cay của món Shui Zhu Yu không chỉ có ớt đỏ mà điểm nhấn ở đây chính là tiêu hạt Tứ Xuyên Majiao có màu xanh hoặc Huajiao có màu đỏ tươi. Hai loại tiêu này đẳng cấp đến mức không chỉ tạo vị cay xé mà còn gây tê cả đầu lưỡi khi thưởng thức. Đối với những người thưởng thức quen món Shui Zhu Yu thì chính vị càng cay của tiêu mới càng khiến họ hài lòng.

Nước dùng thì cay xé lưỡi nhưng phần cá lại rất thanh đạm, đây là sự kết hợp hoàn hảo tuyệt vời của món ăn Shui Zhu Yu. Nếu có dịp du lịch Trung Quốc và ghé thăm vùng đất Tứ Xuyên, du khách đừng bỏ qua cơ hội thưởng thức món Shui Zhu Yu trứ danh này nhé! Chắc chắn du khách sẽ phải “ghiền” ngay sau đó.

Tào Đằng – hoạn quan duy nhất trong lịch sử Trung Hoa được truy tôn là Hoàng đế

Hoạn quan là một chức quan trong nội đình, không có quyền can dự chính sự. Nhưng do là người thân cận Hoàng đế, được tin dùng nên nhiều Hoạn quan đã nắm luôn đại quyền chính trị, lũng đoạn triều cương, song không có ai dám nhòm ngó ngôi thiên tử. Thế nhưng, trong lịch sử 3.000 năm của Trung Hoa vẫn có một người đường đường chính chính được truy phong làm Hoàng đế, đó là Cao Hoàng Đế Tào Đằng.

Tào Đằng, tự Quý Hưng, người Tiêu Bái, là một hoạn quan nổi tiếng thời Đông Hán. Tào Đằng là con thứ 3 của Tào Tiết, từ nhỏ đã bị đẩy vào cung làm hoạn quan. Tào Đằng chính thức nhập cung làm Hoạn quan thời vua Hán An Đế (107-126). Không chỉ là một trong những Hoạn quan phục vụ nhiều đời Vua nhất (tổng cộng qua 5 triều đại) trong lịch sử Trung Hoa, Tào Đằng còn được chính sử ghi nhận như một vị đại thần có nhiều công lao thời Đông Hán.

Lúc bấy giờ, Tào Đằng vào cung để làm người hầu cho Thái tử (sau này là Hán Thuận Đế) đọc sách. Tào Đằng làm việc cẩn thận chu đáo nên rất được Thái tử yêu quý, sau đó cùng kết đôi với con gái nhà họ Ngô và nhận con nhà Hạ Hầu làm con nuôi – tức là Tào Tung, cha của Tào Tháo.

Sau khi Hán Thuận Đế lên ngôi, Tào Đằng được nhận chức Trung thường thị. Làm việc hơn 30 năm đều rất cẩn thận nên được hoàng đế rất ưu ái. Rồi khi Hán Thuận Đế băng hà, con trai mới vừa đầy 2 tuổi kế vị, chưa đầy một 1 sau đã bị chết. Sau những cuộc tranh giành ngai vị trong hoàng tộc, các vị đại thần đều muốn lập Lưu Toán lên ngôi nhưng Đại tướng quân là Lương Ký không chấp nhận và lập con của Bột Hải Hiếu Vương là Lưu Tán lên ngôi.

Hoàng đế Lưu Tán tuy nhỏ tuổi nhưng khá thông minh, nhiều việc đã làm cho Lương Ký lo sợ, nên cuối cùng y tìm cách đầu độc chết vị hoàng đế lên ngôi chưa đầy 1 năm này. Tới lúc này các đại thần càng tăng áp lực để đưa Thanh Hà vương Lưu Toán lên ngôi, Lương Ký thì muốn lập em rể của mình là Lưu Trí, nhưng thấy thái độ của các đại thần nên vẫn loay hoay chưa biết nên làm thế nào.

Thanh Hà Vương Lưu Toán tuy là người cẩn trọng, đại thần trong triều đều ủng hộ thế nhưng khi Tào Đằng và một số hoạn quan khác đến gặp Lưu Toán thì lại bị y coi thường là lũ hoạn quan ái nam ái nữ. Điều này làm cho bọn Tào Đằng vừa uất hận vừa sợ hãi nên không muốn Lưu Toán lên ngôi.

Tào Đằng liền cùng các hoạn quan khác tới nhà Lương Ký để khuyên nhủ rằng: “Tướng quân lâu nay vẫn làm hoàng thân quốc thích quản lý triều chính, quan hệ trong triều phức tạp, không thiếu những sai sót. Thanh Hà vương lại là người nghiêm minh, nếu như lên ngôi thì việc tướng quân gặp nạn chỉ là chuyện sớm muộn mà thôi. Chẳng bằng lập Lưu Trí lên ngôi, như thế có thể bảo vệ được vinh hoa phú quý”.

Lương Ký quả đã nghe theo lời kiến nghị của Tào Đằng, lập Lưu Trí lên ngôi – tức Hán Hoàn đế (146-167). Tào Đằng nhờ thế mà được phong đến tận chức Đại trường thu, tước Phí Đình Hầu.

Trong thời gian phục vụ trong cung, Tào Đằng đã tiến cử nhiều nhân sĩ cho triều đình nhà Đông Hán như: Ngu Phóng ở Trần Lưu, Biên Thiều, Diên Cố ở Nam Dương, Trương Ôn, Trương Miễn ở Hoằng Nông, Đường Khê ở Đồi Xuyên Đích… Ngay cả Chủng Cáo – một người từng nghi oan Tào Đằng nhận hối lộ sau đó cũng được ông đánh giá cao năng lực – làm tới chức Tư đồ.

Về cơ bản, Tào Đằng không chỉ là một Hoạn quan tuyệt đối trung thành qua các đời vua mà còn là người nhân đức, lại kết giao rộng rãi, có ơn tiến cử với nhiều nhân sĩ trong triều Đông Hán và được người đương thời rất kính phục. Đấy là những thứ mà phàm kẻ là Hoạn quan hiếm khi có được.

Nhưng Hoạn quan tốt, trong lịch sử Trung Quốc cũng đâu phải là hiếm nên việc Tào Đằng được truy tôn Hoàng đế hàng chục năm sau khi mất dĩ nhiên không can hệ tới tài năng hay đức độ của ông lúc còn sống. Tào Đằng là Hoạn quan duy nhất xưa nay có được tước hiệu cao quý này là bởi những thành công chính trị tột bậc đời con cháu ông.

Sau khi Tào Đằng chết, con nuôi là Tào Tung kế thừa tước vị. Những năm cuối thời Hoàng đế, Tào Tung được phong làm Tư lệ hiệu úy, đến khi Hán Linh Đế lên ngôi, lại thăng chức Đại tư nông, Đại hồng lô, quản lý các việc lễ nghi và tài chính trong nước, chức thuộc hàng cửu khanh. Cuối thời Đông Hán còn có chế độ dùng tiền để mua chức, Tào Tung không vừa ý với chức Đại hồng lô của mình, bỏ ra tiền vạn để mua cho mình chức Thái Úy – đứng đầu Tam công. Có thể nói Tào Tung đã đạt đến đỉnh điểm trong con đường chính trị của mình.

Về sau, khi thấy thế cuộc hỗn loạn, Tào Tung từ quan mà trở về Lạc Dương. Khi Đổng Trác tiếm quyền, Lạc Dương trở thành một nơi hỗn loạn, Tào Tung đem gia quyến về huyện Hoa ở Thái Sơn tránh nạn. Về sau lại đưa con là Tào Đức cùng vợ trở về đại bản doanh của Tào Tháo ở Duyễn Châu. Nhưng mới đi tới Từ Châu thì Trương Khải, người được giao nhiệm vụ hộ tống Tào Tung, không cưỡng nổi sự quyến rũ của vàng bạc châu báu của họ Tào nên đã sai binh lính giết chết y, cướp đi tài sản và chạy về Hoài Nam. Tào Tháo sau đó đã hai lần phát động binh mã đánh Từ Châu để trả thù cho cha của mình.

Dưới sự chỉ huy của Tào Tháo, thế lực của Ngụy càng ngày càng hùng mạnh, cho tới khi Tào Tháo chết (năm Kiến An thứ 25, tức năm 220), Vương thế tử Tào Phi kế nghiệp chức Thừa tướng nhà Hán, nhận danh hiệu Ngụy vương. Tháng 10/220, Tào Phi ép Hán Hiến Đế Lưu Hiệp nhường lại ngôi vị, tự xưng là Ngụy Đế, trở thành vị Hoàng đế đầu tiên của Tào Ngụy.

Tháng 5/226, Văn Hoàng Đế Tào Phi bệnh tình nguy kịch, trước khi chết đã hạ chiếu lập con trai mình là Bình nguyên vương Tào Duệ làm Hoàng Thái tử. Tào Duệ sau đó chính thức lên ngôi, lấy hiệu Minh Hoàng Đế, trị vì nhà Tào Ngụy từ 226 đến 239, tổng 11 năm.

Tào Duệ sau khi lên ngôi đã truy tôn Tào Đằng thụy hiệu “Cao Hoàng Đế”, đời sau thường gọi là “Ngụy Cao Đế”. Sau đó nhà Tây Tấn thay Ngụy song danh hiệu này vẫn được giữ. Chính vì vậy, hoạn quan Tào Đằng trở thành một trong năm hoàng đế của vương triều Tào Ngụy và cũng là hoạn quan duy nhất trong lịch sử Trung Hoa được phong là Hoàng đế.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về lịch sử triều đại của một đất nước đông dân nhất thế giới này. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn, hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! Chúc du khách có một chuyến đi vui vẻ và thú vị!

Nét tinh túy của ẩm thực Tứ Xuyên, Trung Quốc

Ẩm thực Tứ Xuyên là một trong 4 hệ ẩm thực lớn của nền ẩm thực Trung Hoa. Ẩm thực ở nơi dây mang trong mình những nét tinh túy riêng, đặc trưng mà không vùng nào có được.

Tứ Xuyên là một tỉnh nằm ở Tây Nam của Trung Quốc. Đây chính là một trong những trung tâm kinh tế trọng yếu của miền Tây Trung Quốc. Ngoài ra, Tứ Xuyên còn là nơi định cư của rất nhiều dân tộc thiểu số như người Tạng, người Di và người Khương. Chính điều này góp phần tạo nên sự phân hóa về văn hóa sâu sắc ở Tứ Xuyên.

Là một trong 3 thành phố có khí hậu nóng nhất và là trung tâm kinh tế, Tứ Xuyên nổi tiếng với nền ẩm thực dồi dào nguyên liệu và thực phẩm thuộc loại tươi ngon bậc nhất.

Ẩm thực Tứ Xuyên gồm hai trường phái: Thành Đô và Trùng Khánh. Các món ăn Tứ Xuyên đặc biệt chú trọng về sắc, hương, vị, và hình; nhất là có khá nhiều vị và nồng đậm gồm: tê, cay, mặn, ngọt, chua, đắng, thơm, trộn lẫn khéo léo, biến hóa linh hoạt, đã pha chế ra mấy chục vị phức hợp rất độc đáo như: tê cay, chua cay, dầu đỏ, dầu trắng… Nhiều khẩu vị lại khéo chế biến, nên đã được xếp hàng đầu trong các món ăn ở trong và ngoài nước, được gọi là “mỗi món một khác, trăm món trăm vị”. 

Phương pháp nấu của các món ăn Tứ Xuyên là khéo dựa vào các điểu kiện nhiên liệu, khí hậu và thực khách, vận dụng linh hoạt tình hình cụ thể, trong cách nấu ăn có hơn 30 phương pháp gồm: xào, rán, chiên, kho, ướp, nộm, muối,…

Theo đà sản xuất phát triển và kinh tế phồn vinh, các món ăn Tứ Xuyên trên cơ sở vốn có, đã hấp thu sở trường của các món ăn Nam Bắc, cũng như ưu điểm của các bữa tiệc quan chức và nhà buôn, hình thành đặc điểm món ăn miền bắc nấu theo kiểu Tứ Xuyên, món ăn miền nam mang hương vị Tứ Xuyên, nên mới được gọi là “Thực tại Trung Quốc, vị tại Tứ Xuyên”.

Các món ăn Tứ Xuyên rất coi trọng về thay đổi mùi vị, phân biệt rõ đậm nhạt, nặng nhẹ. Món ăn Tứ Xuyên không thể tách rời với ớt, hoa tiêu và hạt tiêu. Có khá nhiều cách sử dụng ớt và rất linh hoạt, khi thì dùng làm nguyên liệu chính, khi thì chỉ dùng làm phối liệu, nhưng phần lớn là dùng làm gia vị. Món ăn Tứ Xuyên cũng có khá nhiều kiểu cách đổi mùi vị, vừa phù hợp với từng khẩu vị của người ăn, cũng thích hợp với mỗi mùa khí hậu khác nhau như: mùa đông và mùa xuân khí hậu rét mướt thì dùng vị ớt nhiều hơn. Còn mùa hạ và mùa thu khí hậu nóng bức thì vị ớt phải giảm đi ba phần. Một đặc điểm lớn nhất của món ăn Tứ Xuyên là khéo điều chỉnh mùi vị, khẩu vị có nồng có nhạt, trong nhạt có nồng, nồng nhưng không ngấy, nhạt nhưng không bạc. Do đó, món ăn Tứ Xuyên không những lắm vị và nồng hậu, mà còn có sở trường về mặt thanh, tươi, đạm, nhã, khiến người ăn đều tấm tắc khen ngợi và thật khó quên.

Dưới đây là 18 món ăn nổi tiếng nhất (không theo thứ tự) mà du khách có thể thưởng thức nếu dịp nào đó đến Tứ Xuyên. Những đầu bếp Tứ Xuyên thật xuất sắc trong việc kết hợp các món gia vị nóng, cay, mặn, chua và đậm đà để tạo ra những hương vị đáng ngạc nhiên.

Lẩu Tứ Xuyên (Ma La Huo Guo)

Nổi tiếng với các món ăn cay, Tứ Xuyên là địa chỉ du lịch tuyệt vời dành cho các tín đồ ẩm thực thích vị cay nồng nàn của các món ăn. Tứ Xuyên cũng là quê nhà của món lẩu cùng tên rất được lòng thực khách.

Món ăn dân gian này bắt nguồn tại các bến cảng vùng Trường Giang vào đầu triều Thanh. Nó nhanh chóng được các thuyền viên yêu thích bởi sự tiện lợi, dễ làm và khả năng làm ấm cơ thể hiệu quả.

Nồi lẩu Tứ Xuyên thường được phục vụ trong loại nồi hai ngăn. Một ngăn có chứa nhiều gia vị cay nóng, ngăn còn lại thì không cay để phù hợp với khẩu vị của khách và trung hoà bớt vị cay. Tuy nhiên, cũng có những nồi lẩu có đến 9 ngăn.

Có hai loại lẩu Tứ Xuyên nổi tiếng là lẩu Thành Đô và lẩu Trùng Khánh. Hai loại lẩu này rất khó phân biệt vì cách chế biến và nguyên liệu như nhau, nhưng lẩu Trùng Khánh cay nồng và đậm đà hơn. Những du khách không quen ăn cay sẽ không tài nào nếm nổi phần nước lẩu cay chảy nước mắt của nồi lẩu Trùng Khánh.

Tuy lẩu Tứ Xuyên cay là thế nhưng lại không hề gây nhiệt cơ thể bởi được chế biến với 89 nguyên liệu khác nhau, giúp người ăn cảm thấy vị cay nhưng không gây ảnh hưởng tới sức khỏe dạ dày.

Lẩu xiên (Chuan chuan xiang)

Món ăn này thực chất là một biến thể của món lẩu truyền thống trứ danh của Tứ Xuyên. Mặc dù sinh sau đẻ muộn nhưng lại rất được thực khách yêu thích. Khác với lẩu truyền thống, các thành phần ăn kèm được xiên vào que, từ rau củ cho đến các loại thịt sau đó được nhúng vào sốt ăn kèm nấu trong nồi đất hoặc sắt, giúp cho việc thưởng thức món ăn dễ dàng hơn.

Cá nhúng trong dầu ớt (Shui zhu yu)

Khi cơn sốt các món ăn Tứ Xuyên làm mưa làm gió vào cuối những năm 1990 thì món Shui zhu yu đã trở thành trung tâm của mọi loại ẩm thực.

Shui zhu yu có nghĩa là “cá nấu trong nước”, tuy nhiên khi thưởng thức món này thì du khách sẽ nhận ra phần nước dùng này không hẳn là nước mà thực chất lại được sử dụng rất nhiều dầu thực vật. Đó là lý do vì sao nồi cá Shui zhu yu lúc nào cũng trông đẹp mắt và hấp dẫn không thể tả.

Nguyên liệu phổ biến làm nên món Shui zhu yu này là cá và phần nước dùng được nấu từ dầu thực vật, hạt tiêu Tứ Xuyên, cải thảo, tỏi, hồi, gừng khô và tất nhiên sẽ có rất nhiều ớt đỏ tươi bên trong. Phần nguyên liệu cá ở đây có thể sử dụng từ nhiều loại cá chứ không hẳn chỉ riêng một loại cá nào. Cá có thể được cắt lát cho dễ ăn nhưng cũng có khi được để nguyên cả con. Đặc biệt, ngoài cá ra thì đôi khi nhiều quán ăn ở Tứ Xuyên còn sử dụng nguyên liệu thịt heo, thịt bò để thay thế, tuy nhiên du khách nhất định phải thử món Shui zhu yu nấu từ cá bởi khi được nấu từ cá thì vị ngọt thanh của món ăn chắc chắn sẽ khiến du khách hài lòng hơn hẳn.

Đậu phụ Mapo (Mapo Doufu)

Đậu phụ Mapo là một trong những món ăn nổi tiếng của Tứ Xuyên được lưu truyền cách đây hàng trăm năm. “Mapo” là cái tên được lấy theo người sáng lập ra món ăn. Chuyện kể rằng, vào thời nhà Thanh, có một cặp vợ chồng nọ mở quán bán thức ăn. Và một trong những món đặc sản của quán chính là đậu phụ sốt cay mà ai ghé quán cũng muốn một lần nếm thử. Lúc này, người vợ cũng là đầu bếp chính của nhà hàng nhưng không biết do nguyên nhân gì mà mặt bà có rất nhiều mụn rỗ nên mọi người quen gọi là Mapo (“ma” trong tiếng Trung có nghĩa là mụn rỗ, “po” có nghĩa là người đàn bà). Dần dần, cái tên mới này cũng gắn liền với món ăn mà bà làm ra, ai cũng quen gọi là đậu phụ Mapo và tương truyền cho đến ngày nay.

Nguyên liệu chính làm nên món đậu phụ Mapo không thể bỏ qua đậu phụ non. Đậu phụ trắng được cắt ra thành từng miếng vuông nhỏ rồi xào chung với thịt (heo hoặc bò) băm nhỏ. Ngoài ra, một gia vị không thể thiếu là tương đậu, một loại tương được ủ lên men trong thời gian dài. Đặc biệt, trong món ăn này không thể thiếu đi các gia vị cay đặc trưng từ ớt và tiêu. Đặc biệt, đậu phụ trắng lại được cho nhiều ớt đỏ, hai màu sắc tương phản nhau càng khiến cho món đậu phụ Mapo thêm nổi bật và đẹp mắt hơn.

Mặc dù được làm từ đậu phụ trắng khá nhạt nhẽo nhưng do món ăn này kết hợp hài hòa các nguyên liệu khác như thịt băm và nhiều loại gia vị cay nồng nên không chỉ vô cùng hấp dẫn mà hương vị món ăn còn rất tinh tế. Đậu phụ mềm và có vị hơi beo béo kết hợp với vị ngọt của thịt, vị cay của ớt tiêu lại thêm vị chua, hăng của đậu tương khiến món đậu phụ Mapo rất dễ đi vào lòng người và làm hài lòng mọi thực khách mới nếm qua lần đầu tiên.

Gà xào ớt đậu phộng (Gongbao Jiding)

Gongbao Jiding là món ăn cực kỳ phổ biến trong ẩm thực Tứ Xuyên. Món ăn hấp dẫn này gồm gà chặt thành miếng nhỏ nấu với ớt, đậu phộng nên có vị cay đặc trưng. Thêm một chút nước sốt vị ngọt và chua nhẹ, chút tiêu, món ăn này sẽ làm hài lòng hầu hết các khẩu vị.

Món Gongbao Jiding rất được ưa chuộng tại các nhà hàng của người Hoa trên thế giới. Hiện nay ngoài thịt gà, người ta còn sáng tạo ra nhiều món ăn bằng các loại thịt khác như thịt heo, thịt bò và thậm chí cả các loại hải sản; tuy nhiên món ăn với nguyên liệu thịt gà vẫn luôn được nhiều người yêu thích nhất.

Gà nguội với nước sốt cay (Liang Ban Ji)

Liang Ban Ji là một món ăn hòa quyện giữa lạnh và nóng. Món ăn nổi tiếng này được chế biến từ thịt gà luộc được tẩm gia vị cay, rất đơn giản nhưng lại vô cùng hấp dẫn.

Không có công thức cố định, gà thường được chặt nhỏ và một loại nước sốt đặc biệt gồm giấm, đường, nước tương, dầu ớt, dầu vừng và rắc lên tiêu Tứ Xuyên. Đậu phộng rang hoặc hạt vừng và hành lá cắt lát được thêm vào như là bước trang trí cuối cùng.

Vịt hun khói trà (Zhang Cha Ya)

Ngoài các món gà trứ danh, ẩm thực Tứ Xuyên còn nổi tiếng với các món được chế biến từ vịt, chẳng hạn như Vịt hun khói trà (Zhang Cha Ya). 

Người đầu bếp Tứ Xuyên cần thời gian vài ngày để hoàn thành món này. Con vịt sẽ được ướp và hun khói bằng lá trà để hấp thụ những hương vị tươi mới. Sau đó là công đoạn hấp và chiên giòn nhưng không quá lâu. Nếu du khách muốn đổi khẩu vị các món ăn Tứ Xuyên cay nồng sang đồ ít gia vị hơn thì Zhang Cha Ya là một lựa chọn tuyệt vời.

Thịt heo nấu hai lần (Hui Guo Rou)

Sở dĩ món ăn này được đặt tên như vậy vì những miếng thịt ba chỉ béo ngậy lần đầu tiên được luộc lên, sau đó đem chiên trong chảo với các loại gia vị và tỏi tây. Đây là một món ăn Tứ Xuyên ít cay và khiến cho thịt có hương vị ngon ngọt.

Không còn gì tuyệt vời bằng khi thưởng thức những miếng thịt thơm ngon này kèm với cơm trắng và có lẽ là thêm một ít nước súp, một bữa ăn hấp dẫn đã hoàn tất.

Lưỡi và lòng bò (Fu Qi Fei Pian)

Fu Qi Fei Pian là một món ăn lạnh với thịt bò, lòng, gân, sách bò trộn với nước sốt cay. Món ăn này kèm rau mùi, lạc, vừng ở trên.

Cặp vợ chồng phát minh ra món ăn này được cho rằng đã có được một cuộc hôn nhân hài hòa nên món ăn còn được đặt tên là “miếng phổi vợ chồng” dịch đúng nghĩa theo tiếng Trung Quốc.

Mì Dan Dan (Dan Dan Mian)

Nhắc đến ẩm thực Tứ Xuyên mà bỏ qua món mì Dan Dan thì là một thiếu sót lớn. Cái tên “Dan Dan” còn có nghĩa là gánh, bắt nguồn từ những người bán rong gánh mì rao khắp phố phường. Đến năm 2013, mì Dan Dan trở thành một trong 10 món mì nổi tiếng nhất Trung Quốc.

Nguyên liệu của mì Dan Dan vô cùng đơn giản bao gồm mì trứng, thịt xay, tỏi tươi, rau mùi, đậu phộng rang cùng loại sốt cay đặc trưng của người Tứ Xuyên. Đầu tiên, phần sốt thịt sẽ được cho xuống cuối bát, tiếp đến là phần mì trứng tươi đã được chần nóng, và cuối cùng là nêm nếm gia vị, rắc hành lá, mùi và đậu phộng rang lên trên bề mặt. Khi ăn, khách sẽ dùng đũa để trộn món mì lên và thưởng thức.

Gia vị bí mật của món ăn này là hạt cải muối (Yacai) và ớt chưng chuẩn Tứ Xuyên. Hạt cải muối là một trong những loại thực phẩm phổ biến nhất Tứ Xuyên, những hộ gia đình thường muối cả hũ to để ăn dần quanh năm. Ớt chưng Tứ Xuyên cũng là loại gia vị được làm khá cầu kỳ từ nhiều loại gia vị khác nhau như ớt, lá nguyệt quế, hồi, thảo quả, nhục đậu khấu, đinh hương… Ớt chưng Tứ Xuyên có hương vị khá phức tạp và chúng chính là bí quyết để đem đến vị cay tê và tạo nên mùi thơm đặc trưng cho mọi món ăn ở vùng đất này.

Mì Choushou

Mì Choushou là một trong những món ăn nổi tiếng về độ cay và ngon của ẩm thực Tứ Xuyên nói riêng và ẩm thực Trung Quốc nói chung. Điểm đặc biệt ở món mì này không chỉ là gia vị “siêu cay”, mà còn ở độ đặc biệt của hoành thánh, khi ăn, du khách sẽ cảm nhận được độ “cực mỏng” của lớp vỏ hoành thánh, kết hợp với nước dùng được ninh từ các loại thịt gia cầm, rồi thêm các loại gia vị khác cho món ăn dậy mùi thơm đặc trưng.

Mì khoai lang chua cay (Suan La Fen)

Suan La Fen không chỉ phổ biến ở Tứ Xuyên mà còn được ưa chuộng rộng rãi ở khắp nơi trên toàn Trung Quốc. Món ăn có phần thanh đạm này đặc trưng bởi vị cay nóng và chua hòa quyện với vị ngọt của sợi mì tươi và màu đỏ bắt mắt của ớt sa tế tạo cảm giác vừa ngon mắt vừa ngon miệng.

Thành phần chính của Suan La Fen là tinh bột khoai lang và đậu Hà Lan. Sau khi trộn hai loại bột này theo tỷ lệ nhất định, người ta sẽ làm sợi mì bằng cách rây bột lỏng vào nước sôi, kích cỡ của sợi mì sẽ phụ thuộc vào đường kính của những lỗ nhỏ trên rây.

Gia vị chính tạo nên đặc trưng của món mì này chính là dầu ớt, hạt tiêu Tứ Xuyên và giấm có tác dụng làm dậy hương vị món ăn và kích thích vị giác. 

Miến cuộn rong biển sốt Tứ Xuyên

Miến cuộn rong biển bề ngoài ăn giòn rụm nghe thích tai. Bên trong xúc xích cắn mềm, bùi, có chút béo ngậy vừa đủ, phần miến mềm dai, đậm vị sốt cay Tứ Xuyên. Món ăn này cực kì thích hợp với những tín đồ “hảo cay”.

Chân vịt cay

Chân vịt cay là một trong những những món ăn vặt thích hợp cho du khách bởi hương vị đậm đà và cảm giác giòn dai thích thú khi thưởng thức.

Bên ngoài mang màu vàng óng ả, tự nhiên từ màu dầu điều phi lên, trông rất bắt mắt và cuốn hút người ăn về phần nhìn. Không những vậy, ăn còn ngon và vui miệng, cực kì thích hợp cho những cuộc tụ tập nhâm nhi, tâm tình cùng bạn bè.

Sủi cảo sốt cay (Zhong shui jiao)

Zhong shui jiao là há cảo thịt heo nhỏ ngập trong nước tương ngọt, tỏi nghiền và dầu ớt. Được đặt tên theo một quầy ăn vỉa hè địa phương, món há cảo này đã trở thành một trong những món ăn vặt nổi tiếng nhất Tứ Xuyên.

Mala Liangfen

Một món ăn nhẹ đơn giản nhưng rất được ưa chuộng tại Tứ Xuyên vào mùa hè chính là món thạch đậu được phủ một lớp dầu ớt cùng với nước tương, giấm và tỏi. Sở dĩ món ăn này được yêu thích chính bởi vị thanh mát và ngọt dịu hòa quyện với vị cay nồng đặc trưng của ẩm thực Tứ Xuyên cực phù hợp với khí hậu ẩm và có phần ngột ngạt của vùng đất này.

Cà tím vị cá (Yu xiang qie zi)

Món cà tím vị cá có thể khiến cho người không thích ăn cà tím trở nên yêu thích loại thực phẩm này, thậm chí có thể “gây nghiện”. Ẩm thực Trung Hoa có rất nhiều cách chế biến cà tím, tạo nên một món ăn ngon tuyệt mà du khách chắc chắn phải thay đổi những định kiến của mình. Ở vùng Tứ Xuyên, món ăn hấp dẫn này được làm từ ớt ngâm chua, sốt chua ngọt vị cá nấu cùng cà tím.

Rau xanh theo mùa (Shi ling shu cai)

Các món ăn cay cay Tứ Xuyên thường được mọi người chú ý đến nhưng bữa ăn sẽ không hoàn chỉnh nếu thiếu đi các món ăn nhẹ – đặc biệt là rau theo mùa.

Tỉnh Tứ Xuyên từ lâu đã nổi tiếng là một vùng đất màu mỡ trong sự phong phú tuyệt vời của sản phẩm tươi sạch. Ví dụ như cải dầu hoặc cải xoong Trung Quốc, một loại rau trộn salad có vị chua đặc biệt.

Khi đặt chân tới Tứ Xuyên trong hành trình du lịch Trung Quốc, du khách hãy nhớ thưởng thức qua các món ăn thơm ngon mà chúng tôi đã vừa giới thiệu trên đây nhé! Nhâm nhi, thưởng thức những món ăn tại mảnh đất này, du khách sẽ cảm nhận được hương vị bùng nổ trong miệng. Đặc biệt với những món ăn ở Tứ Xuyên – nét đặc biệt trong văn hóa ẩm thực Trung Hoa, chắc chắn sẽ khiến du khách phải chảy nước mắt khi ăn những món ăn này.

Những nét thú vị trong nghi thức chào hỏi của người Trung Hoa

Lễ nghi được xem là nét đặc trưng và quan trọng nhất của người Trung Hoa. Trong đó, lễ nghi sẽ tạo ra một xã hội hài hòa, giúp mọi người tôn trọng lẫn nhau. Chính vì vậy, nghi thức chào hỏi là một văn hóa tốt đẹp, đã ăn sâu vào máu thịt của con người nơi đây. 

Nếu như ở phương Tây dùng ôm hôn hoặc bắt tay khi chào hỏi, lúc gặp gỡ nhau, thì người phương Đông lại có cách chào hỏi nhau rất khác biệt. Kỳ thực, từ trước đến nay, bắt tay hay ôm hôn không phải là truyền thống của phương Đông nói chung và Trung Hoa nói riêng. Chúng ta đều biết Trung Quốc có lịch sử lâu đời, được xem là “lễ
nghi chi bang”, còn có câu: “Trung Quốc hữu lễ nghi chi đại, cố xưng Hạ” (Trung Quốc có lễ nghi to lớn, nên gọi Hạ – chữ Hạ trong Hoa Hạ).

Trong thực tế, từ khi có “Chu lễ” của Chu Công, cổ nhân Trung Quốc đã cố một hệ thống quy phạm những phương thức chào hỏi khi gặp nhau, có nghi lễ ngang hàng, hoặc nghi lễ của vãn bối với trưởng bối, còn có hoàn lễ của trưởng bối dành cho vãn bối. Những lễ nghi này đều không có tiếp xúc, phóng khoáng mà đẹp mắt, đơn giản mà hàm súc.

Khi gặp nhau, người Trung Hoa thường cúi đầu chào (Cúc cung), hai tay đặt áp vào hai bên đùi, thân trên hơi nghiêng về phía trước. Tư thế này thường thể hiện sự tôn trọng với người đối diện mình. Người Trung Hoa quan niệm, cúi người càng thấp, càng thể hiện được sự tôn trọng với người kia. Nếu gặp người lớn tuổi hay những người có chức vị cao hơn mình mà không cúi chào, sẽ bị coi là không có văn hóa.

Khi gặp những vị giáo sư, thầy giáo hay những học giả, phải nhanh chóng đi tới đứng đối diện với họ và chắp tay hành lễ (Củng thủ). Tư thế này thường dùng để biểu đạt sự biết ơn, chúc mừng, xin lỗi, hay phổ biến nhất là biểu thị cầu xin người khác giúp đỡ.

Khi chắp tay, người nam thường dùng lòng bàn tay trái nắm lấy nắm tay phải. Còn đối với nữ thì ngược lại, dùng lòng bàn tay phải ôm lấy nắm tay trái. 

Lễ nghi chào hỏi phổ biến dành cho người tập võ là “ôm quyền”, bởi người tập võ, toàn thân mặc giáp, tay cầm binh khí, không tiện khom người cúi chào. 

Khi ôm quyền, bàn tay trái (hoặc tay phải) duỗi thẳng, tay còn lại nắm chặt lại, lòng bàn tay đặt sát với nắm tay. Người xưa quan niệm, tay trái là văn, tay phải là võ, ý nghĩa là văn võ song toàn. Do đó lễ nghi ôm quyền thường dùng tả chưởng hữu quyền (tay trái thẳng, tay phải nắm), biểu thị hữu hảo, ẩn giấu tài năng. Ngược lại, tả quyền hữu chưởng (tay trái nắm, tay phải thẳng) lại mang tính công kích

Với nữ giới Trung Hoa, người ta sẽ dùng một phương thức chào hỏi rất độc đáo và đẹp mắt, đó là “Vạn phúc”. Nữ nhi thời xưa thường nói: “Vạn phúc” vấn an, đồng thời hai tay đặt chồng lên nhau và đặt ở trước bụng, đầu gối hơi khom lại để hành lễ.

Nghi thức chào hỏi này bắt đầu thịnh hành từ thời Đại Tống, nhưng hiện nay chúng ít được sử dụng trong xã hội hiện đại.

Trong văn hóa Trung Hoa cũng tồn tại nghi thức “Tác ấp” (Vòng tay thi lễ). Đây là cách gọi chung của lễ nghi cổ xưa được thực hiện khi người ta gặp nhau. Nó đã trở thành tập tục từ khoảng 3.000 năm trước đây, vào thời Tây Chu.

Thời sơ khai, lễ nghi này được phân thành thổ ấp, thì ấp, thiên ấp. Thổ ấp là hai tai ôm ở phía trước, khi hành lễ hai tay hơi đưa về phía dưới. Hiện tại thường sử dụng khi trưởng bối gặp vãn bối, thượng cấp gặp hạ cấp. Thì ấp là hai tay ôm đẩy về phía trước, hiện tại thường sử dụng giữa hai người ngang hàng. Thiên ấp là hai tay ôm ở phía trước,
hơi đẩy lên phía trên, hiện tại thường sử dụng khi vãn bối gặp trưởng bối.

Khi hành lễ, người nam tay trái để phía ngoài, người nữ tay phải để phía ngoài, cúi đầu khom người về phía trước thể hiện sự khiêm nhường.

Cổ nhân rất coi trọng thi lễ chào hỏi, cho rằng đây là hành vi thể hiện tâm thành kính, do đó mới có câu: “Ấp nhượng nhi thiên hạ trị”.

Trong Phật gia, người ta sẽ áp dụng nghi lễ “Hợp thập”. Hòa thượng thường hợp thập để chào người đối diện. Tất nhiên không chỉ dùng để chào hỏi, mà còn dùng để cầu nguyện, khi gặp bậc tôn giả hoặc Phật thì cũng sử dụng nghi lễ này.

Trong truyền thống của Yoga hoặc một số khu vực ở Nam Á cũng thường dùng nghi lễ này. Cách thực hiện là hai tay chắp nhẹ vào nhau, đặt nghiêm chỉnh trước ngực, ngón tay nhẹ nhàng đặt cùng nhau, tạo ra khoảng không ở giữa hai bàn tay. Cẳng tay thả lỏng, khuỷu tay hướng ra hai bên gần như thành một đường thẳng.

Trên đây là một vài lễ nghi chào hỏi, không chỉ an toàn, lịch sự, mà cũng phù hợp với nhiều hoàn cảnh khác nhau. Quan trọng hơn, những lễ nghi này có thể thể hiện nội tâm tôn kính và khiêm nhường. Mọi người khi thực hiện vẫn có thể đảm bảo cự ly xã giao, đồng thời cũng nhắc nhở bản thân không quên sự chân thành và kính trọng lẫn nhau!

Văn hóa Trung Hoa quả thật có rất nhiều nét đặc sắc, là “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về vùng đất giàu truyền thống này. Nếu du khách muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn thì hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! Chúc du khách có một chuyến đi vui vẻ và thú vị!

11 món ăn đặc sản làm nên danh tiếng ẩm thực Nam Kinh

Thành phố Nam Kinh ở Trung Quốc nổi tiếng với nhiều danh lam thắng cảnh, bên cạnh đó ẩm thực của vùng đất này cũng là điều thu hút khách du lịch mỗi khi tới đây. 

Từng là thủ đô của một số triều đại ở Trung Quốc, Nam Kinh có một bối cảnh ẩm thực đa dạng như chính lịch sử của thành phố. Điều đặc biệt, các món ngon nổi tiếng của thành phố không phải là món chính, mà là những món ăn đường phố thơm ngon, hấp dẫn. Dưới đây là một số món ăn đặc sản nổi bật nhất mà du khách nên thử khi đặt chân đến Nam Kinh:

1. Vịt Jinling (Vịt muối)

Một trong những món ăn được yêu thích nhất của Nam Kinh là vịt Jinling. Mặc dù có thể vịt muối Nam Kinh có thể không nổi tiếng bằng vịt quay Bắc Kinh nhưng chắc chắn sức hấp dẫn là khó chối từ.

Để có món vịt Jinling chuẩn bị, người đầu bếp phải tiến hành nhiều công đoạn chế biến. Sau khi sơ chế sạch sẽ, cánh và chân của vịt được làm sạch được lấy ra. Cơ thể đã lột bỏ thực quản và khí quản, phần thân vịt được ngâm trong nước để được làm sạch thêm một lần nữa cho ráo nước.

Gia vị và công thức nấu ăn thường khác nhau, nhưng một cách ướp hương liệu đơn giản là dùng hạt tiêu tẩm ướp bên ngoài thân vịt, đồng thời bên trong cũng được nhồi các hạt tiêu. Sau đó, vịt được nấu trong nồi chừng 1-2 giờ vào mùa hè, khoảng 4 giờ vào mùa đông, rồi treo để khô tại một nơi thoáng gió.

Nước dùng gồm gừng, hành tây, hoa hồi được chuẩn bị xong. Đầu bếp đảm bảo rằng toàn bộ con vịt được ngâm hoàn toàn trong nước dùng và đun sôi trong một khoảng thời gian chừng 20 phút hoặc tối đa tới 45 phút. Cuối cùng, thịt vịt được cắt thành dải và được bày biện lên đĩa.

Vịt muối thường được người dân Nam Kinh ăn vào khoảng tháng 9, gần thời điểm Trung thu. Món ăn này thường được phục vụ như một món khai vị hoặc như một món ăn nhẹ để đi kèm với rượu. Không giống như tên gọi, vịt muối không có vị mặn mà được ướp và thường có mùi thơm từ hoa osmanthus ngọt. Osmanthus ngọt có mùi thơm tương tự như một quả cam ngọt nhưng rất nhẹ và không quá mạnh, được sử dụng trong các món ngon và trà nổi tiếng khác ở Trung Quốc. 

2. Súp huyết vịt

Tên của món ăn này nghe có vẻ kỳ lạ, chắc hẳn du khách sẽ rất thắc mắc, tự hỏi làm thế nào huyết và súp lại được kết hợp. Thật ra, người Trung Hoa ăn máu vịt, ngỗng và gà nhưng theo một cách độc đáo. Họ thu thập máu của một con vịt hoặc ngỗng mới bị giết và khuấy, sau đó đậy kín và làm lạnh cho đến khi sẵn sàng để sử dụng.

Súp huyết vịt có vị cay, được nêm muối, hạt tiêu và gia vị tinh tế. Đun nhỏ lửa trong vài phút và phục vụ với trứng, mì và Caraway – một loài thực vật thuộc họ hoa tán. 

3. Bánh vừng mỡ vịt

Ở Nam Kinh, mỡ vịt được dùng để làm một loại bánh đặc biệt – Bánh vừng mỡ vịt. Món ăn vặt truyền thống này thường được ăn vào bữa sáng.

Bánh được thoa một lớp mỡ vịt khiến bánh có hương vị thơm ngon cùng lớp vừng hấp dẫn. Bánh được nướng theo từng mẻ, được bán ở Phu Tử Miếu, một quần thể đền Khổng Tử nằm bên bờ sông Tần Hoài. Đây cũng là khu chợ mua sắm và ăn uống nổi tiếng.

4. Tangbao (Bánh bao súp)

Bánh bao là món ăn phổ biến của người Trung Hoa nói chung và Nam Kinh nói riêng. Ở Nam Kinh, Tangbao được chế biến theo hương vị đặc trưng chỉ có nơi này mới có.

Tangbao có lớp vỏ mỏng nhẹ, bên trong là phần nhân, trông giống như một “túi thịt” ngộ nghĩnh. Du khách hãy cắn một miếng nhỏ phần trên, uống nước dùng, nhúng phần còn lại vào giấm và thưởng thức hương vị đậm đà của thịt heo cùng nước sốt, hương vị chắc chắn sẽ không thể quên được!

5. Bánh bao thịt bò áp chảo

Với màu vàng đậm của Niurou Guotie, bánh bao chiên đầy thịt bò băm, mô phỏng cả màu sắc và hình dạng của các thỏi vàng từ Trung Quốc. Lớp vỏ giòn rụm, thịt bò thơm lừng cùng với hành tây và súp hấp, không có gì lạ khi bánh bao thịt bò áp chảo là niềm tự hào của Nam Kinh.

Thưởng thức chiếc bánh bao thịt bò áp chảo, thực khách sẽ rất thỏa mãn với cảm giác vị giác tương phản: bên ngoài giòn, trong khi bên trong thì ẩm và mềm. Để có trải nghiệm hoàn chỉnh, bánh nên được ăn kèm với súp thịt bò hoặc Niurou Fensi Tang có hương vị đầy đủ. Độ mặn phù hợp của bánh cũng khiến nó tuyệt vời hơn khi kết hợp cùng với một lý bia lạnh.

6. Bánh bao thịt bò chiên

Bánh bao thịt bò chiên được xem là một trong 3 báu vật của khu vực Qinhuai – Nam Kinh và được biết đến là một món ăn nhẹ truyền thống nổi tiếng của thành phố. Món bánh bao này có thể rất phổ biến khắp Trung Quốc và thậm chí tại Việt Nam cũng sẽ tìm thấy, nhưng ở Nam Kinh du khách sẽ được thưởng thức bánh với một hương vị đạt chuẩn và thơm ngon nhất.

Món bánh này được làm với phần vỏ bánh là bột mì, nhân bên trong là thịt bò băm nhỏ trộn với gừng thái hạt lựu và hành lá. Bánh sẽ được gói thành hình trăng khuyết và chiên lên cho tới khi vàng giòn. Khi thưởng thức, thực khách sẽ cảm nhận được phần vỏ bánh giòn ngon và phần nhân mềm, đậm vị bên trong. Bánh bao thịt bò chiên thường đặc ăn kèm với xì dầu hoặc một loại thức chấm đặc trưng.

7. Xíu mại trứng

Đây là loại xíu mại ngon và đắt nhất ở Nam Kinh. Món ăn này có cách làm và cách trình bày tinh tế, đẹp mắt. Cách làm xíu mại trứng là sử dụng vỏ bánh mỏng để bọc phần nhân có thể là tôm tươi, thịt heo, cá. Có thể khẳng định rằng, sự kết hợp hoàn hảo này rất được lòng thực khách, ngay cả những người khó tính nhất. Khi thưởng thức, du khách sẽ có cảm giác như đang thưởng thức trứng tráng vị hải sản, hương vị rất đặc biệt. 

8. Cá kèo chua ngọt

Cá kèo chua ngọt được coi là món ăn tinh túy của ẩm thực Nam Kinh. Việc chuẩn bị món ăn này đòi hỏi kỹ năng tinh tế và sự khéo léo trong khâu chế biến. Con cá được tách xương và thịt được cắt theo mô hình lưới, để lại đầu và đuôi. Sau đó cho vào chảo. Các thành phần như tôm, các loại hạt và nấm được thêm vào để đun sôi nước sốt chua ngọt và đổ lên cá, tạo ra một âm thanh mê hoặc và mùi hương khó cưỡng. 

9. Đậu phụ Gansi

Gansi, hay còn gọi là đậu phụ xắt nhuyễn, là một loại thực phẩm Nam Kinh được luộc trong nước dùng gà cùng với rất nhiều món ngon như: giăm bông, măng và tôm bóc vỏ. Các lát đậu phụ cứng, có thể mỏng đến 1mm, hấp thụ hương vị thịt của nước dùng mang đến cảm giác ngon miệng, đậm đà.

10. Chè nếp đậu đỏ

Chè nếp đậu đỏ – món tráng miệng ngọt ngào được lòng của rất nhiều thực khách. Món chè này được nấu với phần nếp bọc nhiều loại nhân khác nhau bên trong. Phần nếp sẽ được vò thành từng viên tròn nhỏ, nấu chín đến khi mềm cùng với đậu đỏ. Món chè nếp đậu đỏ thưởng thức khi còn nóng là ngon nhất, nhưng thực khách cũng có thể ăn kèm với đá nếu muốn. 

11. Bánh mận

Tại Nam Kinh, bánh mận là một món ăn đường phố phổ biến, được nhiều người đánh giá cao bởi hương vị thơm ngon, đặc biệt.

Bánh mận có nguồn gốc từ thời nhà Minh, được tìm thấy ở vùng Giang Nam, phía nam của hạ lưu sông Dương Tử. Món bánh này được nướng trong một cái khuôn hình hoa mận được sắp theo hình lục giác và chứa rất nhiều nguyên liệu khác nhau như thịt heo băm nhỏ, trái cây sấy. 

Không phải chế biến kỳ công hay sử dụng nguyên liệu đặc biệt, nhưng các món ăn đặc sản Nam Kinh kể trên đều mang đến một hương vị tuyệt vời khó quên. Book Tour Trung Quốc của chúng tôi, nhất định hãy tìm và thưởng thức những món ngon khó quên này của thành phố Nam Kinh nhé!

Ẩm thực Phúc Kiến với các món ăn đầy đủ sắc, hương và vị

Trung Quốc là quốc gia có nền văn hóa đặc sắc. Trong nền văn hóa ấy là một nền văn hóa ẩm thực hết sức phong phú. Khác với những quốc gia khác, nền văn hóa ẩm thực Trung Hoa có sự phân chia theo trường phái, mỗi trường phái đặc trưng cho những nét đặc sắc văn hóa ẩm thực riêng của từng vùng miền. Hôm nay, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về trường phái ẩm thực Phúc Kiến.

Phúc Kiến là một tỉnh của Trung Quốc, giáp với Chiết Giang, Giang Tây và Quảng Đông. Cái tên “Phúc Kiến” xuất phát từ sự kết hợp hai thành Phúc Châu và Kiến Châu trên vùng đất này. Lịch sử của Phúc Kiến bắt đầu từ khoảng thiên niên kỷ thứ 6 TCN. Trải qua nhiều biến cố, đến nay, Phúc Kiến thuộc khu kinh tế Bờ tây Eo biển của Trung Quốc. Bề dày lịch sử góp phần tạo nên nền văn hóa ẩm thực Phúc Kiến đa sắc màu.

Về mặt địa lý, Phúc Kiến nằm ở vùng ven biển phía Đông Nam Trung Quốc. Nơi đây có nhiều vịnh và bán đảo. Địa hình ở Phúc Kiến chủ yếu là đồi núi. Khí hậu ở Phúc Kiến thuộc loại cận nhiệt đới ẩm gió mùa. Điều này đã tạo thuận lợi để ngành nông nghiệp phát triển mạnh mẽ. Nhờ đó, nông sản ở Phúc Kiến đa dạng và phong phú vô cùng. Ngoài ra, ở Phúc Kiến cũng có hệ sinh thái phong phú với khu vực rừng thường xanh lá rộng cận nhiệt, rừng mưa nhiệt đới. Địa hình và khí hậu tác động không nhỏ tới đặc trưng ẩm thực Phúc Kiến.

Cũng do sở hữu nhiều vịnh và bán đảo nên Phúc Kiến nổi tiếng với hải sản. Đặc biệt, ở Phúc Kiến có rất hiều loài cá lạ làm nên những món ăn độc đáo. Ngoài ra, Phúc Kiến sở hữu rừng núi trù phú đem lại rất nhiều sản vật quý hiếm.

Hương vị đặc trưng trong các món ăn của Phúc Kiến chủ yếu là vị ngọt, chua, mặn, thơm. Đặc biệt, người Phúc Kiến rất coi trọng màu sắc của món ăn. Các món ăn ở đây chủ yếu có màu sắc tươi sáng, bắt mắt vô cùng. 

Các món ăn của Phúc Kiến bao gồm các món ăn đến từ Phúc Châu, Tuyền Châu và Hạ Môn. Trong đó, chủ yếu là món từ Phúc Châu. Đầu bếp ở Phúc Kiến rất coi trọng về kỹ thuật nấu nướng. Ngoài ra, việc sử dụng thành thạo dụng cụ làm bếp trong chế biến là yêu cầu bắt buộc với người đầu bếp. Người Phúc Kiến cho rằng, kỹ thuật chuyên nghiệp sẽ mang đến độ ngon đặc biệt cho món ăn.

Phúc Kiến có rất nhiều món ăn ngon và nổi tiếng. Có thể kể ra như: Mì xào, Xôi Phúc Kiến, Phật nhảy tường, Súp cá viên, Vịt hầm, Tôm Kim Sa, Chả giò, Bánh Pía chà bông,…

Mì xào Phúc Kiến

Mì xào Phúc Kiến là một món ăn khá phổ biến trong ẩm thực Trung Hoa nói chung và ẩm thực Phúc Kiến nói riêng. Món ăn này luôn để lại ấn tượng khó quên, bởi hương vị đặc trưng đối với bất cứ ai có dịp nếm thử. Món mì xào này xuất hiện từ những năm của thế kỷ 19 và đã phải trải qua một hành trình khá dài mới đến được đỉnh cao của sự phổ biến như hiện tại.

Điểm đặc trưng đầu tiên mà món mì xào này mang lại đó chính là những sợi mì dai ngon. Sợi mì được làm từ trứng, vàng óng nhìn rất đẹp mắt. Sợi mì đặc biệt có chút vàng và dai ngon, có vị béo kết hợp cùng các loại nguyên liệu khác như: giá, hẹ, thịt ba chỉ, mực tươi, tôm đất, trứng, một vài bông cải và ớt chuông sẽ tạo nên những món ăn ngon khó cưỡng. Gia vị dùng trong món mì xào Phúc Kiến có chút muối, tỏi, dầu hào, nước tương, tương ớt, một chút bột bắp, một ít nước dùng (nấu từ đầu tôm, nghêu và ít cá khô).

Công đoạn để chế biến ra món ăn đặc sắc không quá khó. Đầu tiên là ngâm mì để mì sạch và mềm hơn, sau đó đổ nước dùng vào mì và nấu trong vài phút. Tiếp đó cho hải sản vào và bắt đầu đảo đều lên. Công đoạn nấu cuối cùng đó là cho những nguyên liệu khác và gia vị vào rồi đảo cho đến khi trong chảo gần cạn nước, cũng có thể thêm ít bột bắp để làm nước nước thật sánh. Vậy là món ăn này đã được nấu chín, và bây giờ chỉ cần bày ra đĩa, trang trí một chút và thưởng thức món ăn mà thôi. Mì xào Phúc Kiến được dọn lên ăn nóng cùng chút tương ớt và chanh.

Du khách sẽ thấy mình dễ dàng bị hấp dẫn ngay từ khi mì đang được xào với mùi thơm ngào ngạt. Chính từ sự hấp dẫn thú vị của nó mà du khách sẽ bị mê hoặc ngay từ lần thưởng thức đầu tiên. 

Xôi Phúc Kiến

Nếu đến Phúc Kiến, du khách sẽ được giới thiệu và nếm thử món xôi đặc trưng của người dân nơi đây, như một niềm tự hào của địa phương. 

Xôi Phúc Kiến là loại xôi mặn được chế biến từ rất nhiều nguyên liệu kết hợp lại tạo nên một hương vị tuy đậm đà nhưng vẫn dân dã và rất dễ ăn. Món xôi mặn có mùi vị thơm ngon này rất thích hợp cho các buổi tiệc, hay họp mặt gia đình.

Cách nấu xôi Phúc Kiến cũng khá đơn giản, nếp trắng ngon được vo sạch và ngâm nước trong khoảng 4 tiếng đồng hồ. Phi thơm hành tím và xào sơ phần nguyên liệu gồm có nấm mèo, lạp xưởng và tôm khô. Sau đó trộn đều phần nguyên liệu này với gạo nếp đã nở và bắt đầu hấp. Hấp xôi trong khoảng 40 phút thì mở nắp, xới đều xôi bên trong và cho thêm chút nước tương, thêm vào các loại gia vị như đường, muối và hấp thêm 10 phút cho thấm gia vị. Vậy là món xôi thơm ngon này đã được hoàn thành. Món xôi này sẽ hấp dẫn thực khách ngay từ lần đầu thưởng thức. 

Phật nhảy tường

Phật nhảy tường (hoặc Phật khiêu tường – Fo tiao qiang) là một trong những món ngon danh tiếng trong danh sách ẩm thực Phúc Kiến với lịch sử tồn tại hơn 200 năm.

Phật nhảy tường thực chất là súp vi cá của người Phúc Kiến. Đây là một món ăn bổ dưỡng do một vị bếp trưởng nổi tiếng đồng thời cũng là chủ nhà hàng Tụ Xuân Viên ở Phúc Châu, Phúc Kiến là Trịnh Thuần Phát sáng chế vào thời nhà Thanh. Kể từ khi món ăn được tạo ra, nó được xếp vào hàng “cao lương mỹ vị” trong ẩm thực Trung Hoa, bởi mùi vị đa dạng, hương vị đa dạng mà tinh tế đến nỗi dân gian truyền hai câu thơ ngụ ý đến người tu hành cũng có thể bị “cám dỗ”: “Đàm khải huân hương phiêu tứ lân / Phật văn khí thiền khiêu tường lai” (tạm dịch: Mở nắp vung, mùi hương thơm lừng bay khắp xóm / Phật ngửi được, liền bỏ thiền nhảy tường sang).

Món “cao lương mỹ vị” này không chỉ nổi tiếng vì thơm ngon mà còn nổi tiếng bởi sự đa dạng của các nguyên liệu cũng như quá trình chế biến cầu kỳ, phức tạp. Các nguyên liệu chính để chế biến ra món ăn danh tiếng này gồm tới 18 loại, chủ yếu là sơn hào hải vị như: hải sâm, vây cá mập, bào ngư, nhân sâm, gân hươu, da cá, sò điệp,… cùng các nguyên liệu khác nọa: trứng cút, thịt gà, gân heo, nấm hương, khoai môn, hạt dẻ, táo đỏ. Mỗi loại đều được hấp riêng trong một hũ sau đó cho chung vào một thố bằng đất sét nhỏ miệng, thêm rượu Thiệu Hưng để dậy mùi thơm. Ngoài ra, đầu bếp còn phải cho thêm tới 30 thành phần và 12 gia vị khác như quế, gừng, lát,… thiếu một nguyên liệu cũng có thể khiến món ăn kém hấp dẫn. Sau đó, đầu bếp đậy kín thố đất cẩn thận bằng lá sen, hầm trên lửa nhỏ từ 5 – 6 tiếng. Trong quá trình hầm phải hạn chế để mùi thơm thoát ra. Tới khi mở ra chỉ thấy nước dùng màu nâu sánh đậm, nguyên liệu bên trong cho dù hầm rất nhiều giờ vẫn giữ được hình dáng vốn có. 

Ngoài độ ngon khó cưỡng, món ăn độc đáo này còn rất bổ dưỡng. Nhiều tài liệu cho thấy, món “Phật nhảy tường” có tác dụng tăng trí nhớ, tăng thể lực, tăng cường hệ miễn dịch, chống lão hóa, chống viêm. Bên cạnh đó, nhiều người cho rằng món ăn còn giúp đàn ông tăng cường sinh lực, tráng dương bổ thận.

Vịt hầm

Vịt hầm là món ăn ngon khá độc đáo của ẩm thực Phúc Kiến. Sở dĩ món ăn này trở nên khác biệt so với nhiều nơi vì vịt được chế biến theo phong cách ẩm thực của riêng Phúc Kiến, ít dầu mỡ và không giòn như vịt quay Bắc Kinh nên không tạo cảm giác ngấy cho thực khách.

Vịt được chặt thành từng khúc rồi hầm cùng với các loại gia vị đặc biệt và nước sốt cho nhừ và thấm đều sẽ không còn mùi tanh đặc trưng. Khi chín, thịt mềm với hương thơm khá hấp dẫn, được ăn cùng nước sốt và nước tương pha hành, tỏi, thêm chút rau gém và dưa leo tạo nên một hương vị rất lạ.

Món ăn này đặc trưng cho phong cách ẩm thực vùng Phúc Kiến với vị ngọt và sự hài hòa về màu sắc. Đặc biệt, món này không được làm sẵn, chỉ khi thực khách đặt thì đầu bếp mới thực hiện, nên món ăn lúc nào cũng thơm ngon bởi sự tươi mới.

Súp cá viên

Phúc Kiến nổi tiếng với nhiều món ăn từ hải sản và món Súp cá là một đặc sản nằm trong số đó. Cá sau khi tách xương thì được băm nhuyễn, ướp thêm muối, nước gừng rồi nặn thành viên vừa ăn. Xương cá được dùng để ninh lấy nước. Món ăn này giữ được vị ngọt của cá mà lại không bị tanh. Những viên cá tròn vo, mềm, hương vị đậm đà. Món ăn này rất thích hợp để ăn cùng với lẩu. 

Tôm kim sa

Ngoài món Súp cá viên, ẩm thực Phúc Kiến còn mê hoặc thực khách gần xa bởi một món ăn từ hải sản, đó là tôm kim sa.

Món ăn này được chế biến rất đơn giản nhưng hương vị của nó thì khỏi phải chê vào đâu. Tôm sú sau khi được lực chọn kĩ càng sẽ được đem đi làm sạch. Ướp tôm với các loại gia vị đặc trưng. Sau đó lăn qua một hỗn hợp lòng đỏ trứng vịt muối nghiền nhuyễn. Đem tôm này đổ vào chảo chiên giòn lên cho tới khi lớp bột bên ngoài ngả màu vàng óng. Món này ăn cùng nước chấm làm từ me. Vị mặn của trứng vịt muối, vị ngọt thanh của thịt tôm cùng vị chua của mắm me tạo nên món ăn ít nơi nào có.

Chả giò

Tại Phúc Kiến, Chả giò thường xuất hiện trên bàn ăn của nhiều gia đình, nhiều nhà hàng cũng chọn chả giò làm món khai vị. Chả giò ở Phúc Kiến có hình dạng to hơn cá viên chiên một chút, và được chiên vàng giòn hấp dẫn. Hương vị hoà quyện của xá xíu kết hợp với phần nhân bên trong tạo nên đặc trưng của món ăn. Du khách hãy nếm thử món ăn này khi có dịp đến với Phúc Kiến nhé!

Chân, cổ, cánh vịt cay

Đây là một trong những món ngon Phúc Kiến – món ăn vặt, đồ nhắm lý tưởng với mọi người. Vịt được ướp cùng hoa hồi, quế chi, các loại thảo quả cùng cách hầm truyền thống cổ truyền Trung Quốc mà thịt vịt vừa thẫm vị, vừa giữ được độ mềm của thịt mà vỏ lại giòn giòn cay cay. 

Bánh Pía chà bông

Một đặc sản nổi tiếng trong những món ngon Phúc Kiến, bánh Pía chà bông với lớp vỏ xốp ngọt dịu, nhân chà bông mặn mặn rất cuốn miệng. Đây là món ăn nhẹ mà không thể thiếu trong gia đình ở nơi đây. Vị mặn ngọt hoà quyện với nhau tạo nên sức hấp dẫn và ngon miệng của món ăn vặt này.

Nó không chỉ là món ăn nhẹ hấp dẫn mà mua về làm quà cho gia đình bạn bè và người thân cùng thử chút đặc sản nơi đây cũng là một gợi ý rất tuyệt vời.

Ẩm thực Phúc Kiến với các món ăn đầy đủ sắc, hương và vị đã hấp dẫn du khách chưa nào? Cùng du lịch Trung Quốc và ghé thăm vùng đất Phúc Kiến xinh đẹp để có cơ hội thưởng thức nền ẩm thực độc đáo ở nơi đây nhé! Chúc du khách có một chuyến đi vui vẻ và nhiều điều thú vị!

11 Nhạc cụ cổ truyền Trung Quốc

Trung Quốc có nền văn hóa đa dạng và lâu đời. Do đó, từ xa xưa nhạc cụ của Trung Quốc đã rất đa dạng và gắn liền với cuộc sống của con người.

Những nhạc cụ cổ truyền Trung Quốc bao gồm rất nhiều loại khác nhau, từ nhạc cụ dây, hơi hay gõ. Chúng được chia làm 8 loại nhạc cụ dựa trên chất liệu, tạo nên 8 loại âm sắc cho dàn nhạc, được gọi là “bát âm” (八音). 8 loại này bao gồm: kim (nhạc cụ bằng kim loại), thạch (bằng đá), thổ (bằng đất nung), ti (Nghĩa là nhạc cụ có dây; trước đây làm bằng tơ, sau đó dùng dây bằng thép), trúc (bằng tre, trúc), bào (bầu), cách (da), và mộc (gỗ). Dù vậy, vẫn có những nhạc cụ khác không được xếp vào các loại trên.

1. Đàn Tỳ Bà

Vào thời nổi tiếng tột đỉnh khoảng 1.300 năm về trước, Đàn Tỳ Bà là một nhạc cụ không thể thiếu trong cung điện triều đại nhà Đường. Thật vậy, qua hàng ngàn năm nay, Đàn Tỳ Bà ngự trị như “vua” của nhạc cụ Trung Hoa. 

Bức tranh tường cổ xưa trong các hang động Đôn Hoàng dọc theo Con Đường Tơ Lụa mô tả nhạc cụ này trong tay của các tiên nữ. Âm nhạc tuyệt trần được khảy từ những ngón tay thanh tao của họ trôi dạt xuống trần gian như hoa vẫy cánh.

Hình dạng của Đàn Tỳ Bà đối ứng với tam tài (Thiên, Địa, Nhân), ngũ hành (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) và tứ quý (bốn mùa). Chiều dài của nó là 3 thước 5 tấc (khoảng trên dưới 1m), 3 thước tượng trưng cho tam tài, 5 tấc thể hiện ngũ hành, 4 sợi dây đàn lại thể hiện cho tứ quý. 

Đàn Tỳ Bà được chế tác bằng gỗ cây ngô đồng. Cần đàn và thùng đàn liền nhau có dáng như hình quả lê bổ đôi. Mặt đàn bằng gỗ nhẹ, xốp, để mộc. Phía mặt cuối thân đàn có một bộ phận để mắc dây gọi là ngựa đàn. Âm thanh của đàn Tỳ Bà trong sáng, vui tươi, thể hiện tính chất tươi sáng và trữ tình.

Kỹ thuật gảy Đàn Tỳ Bà có độ khó khá cao với hai kỹ thuật cơ bản nhất: “Tỳ” (búng ra ngoài) và “bà” (khảy vào trong). Trên thực tế, dù vậy, hàng chục kỹ thuật (lướt – glissando), rung – vibrato), khảy – pizzicato, và luyến ngắt – portamento) được sử dụng thường xuyên, tạo cho nó trở thành một trong những nhạc cụ cổ đại khó nhất. Thân bằng gỗ của Đàn Tỳ Bà cũng có thể được gõ vào, và dây của nó được xoắn lại để tạo ra âm thanh như tiếng cymbal. 

2. Cổ Cầm

Cổ Cầm còn được gọi là dao cầm, ngọc cầm, tơ đồng hoặc thất huyền cầm, là một nhạc cụ truyền thống của tộc người Hán, đã có lịch sử hơn 3.000 năm.

Loại nhạc cụ này thuộc bộ dây dạng gảy gồm có 7 dây đàn. Cổ cầm có âm vực rộng, âm sắc sâu lắng và tiếng vọng ngân dài. Cổ cầm không chỉ đơn giản là một loại nhạc cụ dùng để biểu diễn những khúc nhạc đi vào lòng người mà âm nhạc của cổ cầm tạo một sự yên tĩnh cao thâm, diễn tấu thanh tâm, có thể thông thấu đến trời đất.

3. Đàn Cổ Tranh

Đàn Cổ Tranh còn có tên là Đàn Thập Lục, đây là một nhạc cụ dân tộc cổ đại được sinh ra và lớn lên gắn liền với nền văn hóa lâu đời Trung Hoa, có lịch sử hơn 2.500 năm. Đàn truyền thống có 16 dây nên nó có tên gọi là Thập Lục.

Đàn Cổ Tranh thường được làm bằng gỗ cây phượng. Cấu tạo của đàn gồm một hộp âm thanh hình chữ nhật và một bề mặt trong một đường cong với chuỗi chặt chẽ, đó là một bộ có 13 dây trong triều đại nhà Đường và sau đó tăng lên 16. Ngày nay, có một số loại Đàn Cổ Tranh hiện đại có đến 21 dây. Âm sắc đàn cổ tranh trong trẻo, sáng sủa thể hiện tốt các điệu nhạc vui tươi.

4. Đàn Nhị Hồ

Đàn Nhị Hồ là một trong những loại nhạc cụ thuộc bộ dây (nhạc cụ gảy) chủ yếu của Trung Hoa, đã có lịch sử hơn 4.000 năm.

Âm sắc thuộc loại âm vực trung cao, tiếng đàn êm ái du dương, cảm xúc mãnh liệt bi tráng, là một loại nhạc cụ có thể đại biểu cho lịch sử đầy biến động và tình cảm tinh tế nồng nàn của dân tộc Trung Hoa. Âm chất thường mang cảm xúc trầm lắng và bi thương.

Đàn Nhị Hồ chỉ có hai sợi dây, một sợi là sợi ngoài, một sợi là sợi trong. Sự cọ sát giữa hai sợi dây đàn có độ dày khác nhau được buộc vào trục đàn tạo nên độ rung và phát ra âm thanh. Đối với những người mới học Đàn Nhị Hồ thì hai vấn đề hóc búa là nắm vững âm chuẩn và kỹ thuật nhấn dây đàn, đặc biệt là khi chuyển từ vị trí âm vực thấp thành vị trí âm vực cao lại càng khó khống chế hơn.

5. Nguyệt Cầm

Nguyệt Cầm (Đàn Nguyệt) cũng là loại nhạc cụ thuộc bộ dây (nhạc cụ gảy). Loại đàn này có hộp đàn hình tròn như mặt trăng nên mới có tên là “Đàn Nguyệt”. Theo sách xưa, đàn nguyên thủy có 4 dây, sau rút lại còn 2 dây. Nó là một nhạc cụ quan trọng trong dàn nhạc Kinh Kịch Bắc Kinh, thường đảm nhận vai trò là nhạc cụ giai điệu chính thay cho phần dây cung.

Loại đàn này rất phổ biến dùng để độc tấu, hòa tấu với nhiều kỹ thuật chơi độc đáo như luân chỉ (vê), đàn khiêu (gảy),… Âm sắc Đàn Nguyệt tươi sáng, rộn ràng, tình cảm, đa dạng trong diễn tả các trạng thái cảm xúc âm nhạc.

6. Tần cầm

Tần Cầm là nhạc khí dây gảy, có tên gọi khác là Đàn Hoa Mai. Đàn xuất phát từ thời nhà Tần nên đàn mới có tên gọi là “Tần Cầm”. Đàn ra đời vào năm 223 TCN và chưa biết ai chế tác ra nó. Tần Cầm thường diễn tấu theo hình thức độc tấu hay hoà tấu trong các buổi lễ lớn của cung đình Trung Hoa. Nó cũng là nhạc cụ đệm hát trong Kinh Kịch hay các bài dân ca Trung Quốc. 

Tần Cầm với hộp đàn hình hoa mai sáu cánh hoặc hình lục giác, đường kính 28cm. Mặt đàn và đáy đàn làm bằng gỗ nhẹ, xốp, để mộc. Thành đàn dày 6cm, làm bằng gỗ cứng. Cần đàn dài 70cm, trên mặt đàn có 17 phím bấm. Phím đàn được gắn dựa theo thang âm 7 cung chia đều. Tần Cầm có 3 hoặc 4 trục gỗ và số dây cũng tương ứng. Dây đàn là nilon bọc thép, nó được lên cách nhau một quãng 4 hoặc quãng 5: Do – Fa – Do1 hoặc Do – Sol – Do1. 

Khi diễn tấu, nhạc công sẽ gảy Tần Cầm bằng tay không, ít khi chơi đàn với móng gảy làm từ nhựa tạo ra âm sắc trong trẻo, tươi sáng.

Các kỹ thuật chơi Tần Cầm gồm luân chỉ (vê ngón), luân chỉ hòa khiêu (gảy và vê ngón), “tỳ”, đẩy những ngón tay của bàn tay phải từ phải sang trái và có thể sử dụng một hoặc vài ngón tay theo cách đó để đánh cùng lúc nhằm cho việc tạo đa âm (ngón bật), đánh chập nhanh bằng bốn ngón tay gọi là “tảo”. Kết hợp giữa vê và đánh chập gọi là “tảo luân”.

7. Đàn Không Hầu

Đàn Không Hầu hay Đàn Không là loại đàn gảy cổ xưa của Trung Quốc đã có lịch sử hơn 2.000 năm. Ngoài sử dụng trong giàn nhạc cung đình ra, đàn Không Hầu còn lưu truyền rộng rãi trong dân gian. Thế nhưng, cây đàn cổ xưa này từ sau thế kỷ 14 đã không còn lưu hành nữa, và dần dần không còn tồn tại nữa, mọi người chỉ có thể xem hình dáng một số đàn Không hầu từ trên bích họa và chạm nổi.

Đàn Không Hầu lưu hành vào thời cổ Trung Quốc chủ yếu là đàn nằm và đàn đứng. Đàn Không Hầu có hai hàng dây, mỗi hàng 36 dây, mỗi dây đều do trụ hình chữ nhân đỡ trên hộp đàn. Do hai hàng dây đàn đồng âm với nhau, khi gảy bản nhạc có giai điệu nhanh và âm rộng, rất tiện lợi, nó có thể gảy cùng lúc bằng hai tay, lại có thể dạo và đệm nhạc trong tầm âm vừa, là điều mà các lọai nhạc cụ khác khó mà so sánh được.

8. Huyên (Sáo huân)

Huyên là một trong những loại nhạc cụ từ thời cổ xưa, đã tồn tại khoảng 7.000 năm về trước. Tương truyền, cội nguồn của Huyên là công cụ của người đi săn có tên là “Đá Sao sa”. Ngày xưa, người ta thường thường buộc hòn đá hoặc hòn đất lên một sợi dây rồi ném chim ném thú, có hòn đá bên trong rỗng, khi ném gió lùa vào có thể phát ra âm thanh. Mọi người cảm thấy thú vị liềm đem thổi chơi. Sau này, mọi người thấy thú vị, bèn lấy quả bóng đó thổi chơi, sau đó dần dần nó trở thành một nhạc cụ.

Khoảng 4.000 đến 5.000 năm trước, Huyên đã phát triển từ có 1 lỗ âm thành có 2 lỗ âm, có thể thổi ra 3 âm điệu. Đến thời Xuân Thu, Huyên đã có 6 lỗ âm, có thể thổi ra 7 âm điệu hoàn chỉnh. Âm thanh của nó rất đơn giản mà độc đáo. Lúc đầu, Huyên phần lớn được làm từ đá và xương, sau đó dần dần phát triển thành làm bằng gốm. Huyên đã đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử nghệ thuật nguyên thủy trên thế giới.

9. Địch Tử (Sáo trúc)

Địch Tử được sử dụng trong âm nhạc dân gian, opera, dàn nhạc quốc gia, dàn nhạc giao hưởng và âm nhạc hiện đại. Nó thường được chia thành khúc địch phía nam và bang địch phía bắc, ngày xưa chữ “Địch” trong tiếng Hán cổ có nghĩa là “Rửa sạch sẽ”, vì tiếng sáo rất trong rất thanh. Sáo chủ yếu được làm bằng trúc, cũng có sáo làm bằng gỗ, ngọc bích hoặc các vật liệu khác.

10. Tiêu

Tiêu là một nhạc cụ thổi rất xa xưa của Trung Hoa cổ đại và xuất hiện trong nhiều tác phẩm văn học kinh điển. Trong đó Kim Dung có nhắc đến tiêu qua 2 câu thơ của “Đông Tà” Hoàng Dược Sư:

“Đào hoa ảnh lạc phi thần kiếm

Bích hải triều sinh án ngọc tiêu”.

Tiêu thường có dạng ống trụ tròn như sáo trúc, nhưng khi sử dụng lại để theo phương dọc và thổi dọc theo thân ống. Nó có âm sắc trang nhã, mộc mạc, phù hợp để diễn tả những giai điệu trữ tình, những tình cảm sâu sắc. Hai loại tiêu phổ biến nhất là C và D (tức tiêu đô và tiêu rê), các loại tiêu trầm hơn thường không phổ biến bằng vì khó sử dụng hơn: lỗ bấm cách nhau xa hơn, thổi tốn nhiều hơi…

11. Biên chuông (chuông nhạc)

Biên chuông là nhạc cụ gõ có quy mô lớn của người Hán cổ đại Trung Hoa bao gồm một bộ chuông chùm bằng đồng. Biên chuông còn là một nhạc cụ quan trọng trong nhạc cung đình và nhạc lễ Trung Hoa từ thời cổ đại. Biên chuông được phát triển nhất trong thời đại Tây Chu. Trung Hoa là quốc gia đầu tiên sản xuất và sử dụng loại hình nhạc cụ này.

Trên đây là một số trong những nhạc cụ được sử dụng ở thời Trung Quốc cổ đại và một số nhạc cụ vẫn còn đang được sử dụng cho đến ngày nay. Các nhạc cụ này đã góp phần làm sống lại nhiều truyền thống và văn hóa của Trung Hoa. Nếu du khách là người yêu thích âm nhạc và có hứng thú khám phá các loại nhạc cụ độc đáo, hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! 

23 món ăn mỹ vị của ẩm thực Quảng Châu, Trung Quốc

Tại Trung Quốc, Quảng Châu là vùng đất có lịch sử lâu đời về ẩm thực. Ẩm thực của thành phố này là sự kết hợp hài hòa giữa hương vị của các món ăn truyền thống vùng Quảng Đông và nét ẩm thực tinh tế phương Tây. Người Quảng Châu rất chú ý đến màu sắc, hương vị và cách trình bày, đặc biệt là trong các món ăn nhẹ hay đồ ăn vặt.

Các món ăn Quảng Châu không ngừng hấp thu tinh hoa của các trường phái ẩm thực lớn ở Trung Quốc. Nguyên liệu trong món ăn chính là ngũ cốc, hoa quả với các loại rau, cá, thịt tươi mới, tất cả đều được chọn lựa rất tỉ mỉ và hơi cầu kỳ. Món ăn ở đây có đặc điểm thanh đạm là chính và rất chú trọng đến độ lửa, màu sắc, hương vị và hình dạng bề ngoài.

Đã đến Quảng Châu, du khách sẽ không thể bỏ qua việc thưởng thức 23 món ăn mỹ vị sau đây:

1. China Winter Melon

China Winter Melon là một món súp thường được ăn trong mùa hè ở Quảng Châu. Tên này xuất phát từ loại dưa mùa đông được chạm khắc độc đáo và sử dụng như một cái bát sau khi đã đun sôi và nhúng vào nước lạnh để duy trì hình dạng. Các thành phần súp có thể bao gồm giăm bông, cua, hàu, ếch, thịt gà và một chút dưa ngọt ngào.

2. Cháo Tingzai (Tingzai congee)

Tingzai congee, có nghĩa là món cháo trên thuyền. Cái tên này cũng chỉ ra nguồn gốc của món ăn: Vào thời xa xưa, món cháo này được phục vụ cho những người vạn đò ở vùng ngoại ô phía tây Quảng Châu. Vì cuộc sống bận rộn, họ chỉ có thể chuẩn bị và ăn món cháo này ở trên chính con thuyền của mình.

Cháo Tingzai sử dụng tôm hoặc cá tươi làm nguyên liệu chính, được chế biến cùng với sứa, đậu phộng chiên, trứng, hành lá và gừng. Một bát cháo Tingzai được chuẩn bị tốt phải mềm và ngọt, và chứa một hương vị đậm đặc của tất cả các thành phần được thêm vào.

Ngày nay, cháo Tingzai có thể được tìm thấy trong nhiều nhà hàng ở Quảng Châu, từ các quán ăn ven đường cho đến các nhà hàng khách sạn sang trọng, nhưng nó không còn được phục vụ trên những con thuyền của người vạn đò nữa.

3. Cháo thập cẩm

Nghe qua món ăn chẳng có gì đặc biệt, thế nhưng phải đến tận nơi một hàng cháo thập cẩm ở Quảng Châu mới nhận ra cái sự cầu kì và lý do mà du khách nhất định phải nếm thử món ăn này.

Cháo thập cẩm được nấu riêng từng tô, khi khách đến gọi món, người bán sẽ múc cháo từ nồi lớn vào từng nồi nhỏ, cho thịt heo, tim, gan, cật heo… vào nồi nhỏ, đun cho sôi cháo và chín thịt rồi đổ ra bát. Do chế biến theo kiểu thủ công thế này nên mỗi bát cháo khi dọn ra đều có độ nóng hoàn hảo, từng thìa cháo ngọt lịm, các loại thịt dùng kèm đều ở độ vừa chín tới nên giữ nguyên độ vị ngọt và độ tươi.

Cháo thập cẩm khi dọn ra hay được ăn kèm với rau, đây có thể xem là một nét lạ trong việc thưởng thức cháo của người Quảng Châu, nhưng không thể phủ nhận rằng việc dùng cháo với rau làm món ăn này ngon và bớt ngấy hơn.

4. Lẩu cháo

Nhắc đến món ăn ngon, độc đáo ở Quảng Châu thì không thể không nhắc tới món Lẩu cháo cực hấp dẫn. Món này không cầu kì như lẩu nhưng cũng không quá đơn giản như cháo. Lẩu cháo vẫn là nước dùng ninh từ gà có gừng tươi cùng các loại gia vị nhưng lạ là có gạo được ninh nhừ, trắng đục, sánh và ngọt hơn nước lẩu thường.

Khi thưởng thức lẩu cháo, thực khách cũng sẽ cảm nhận được hương vị đặc trưng của lẩu Trung Quốc, bởi trong lẩu cháo có các nguyên liệu: nấm Đông Cô, thảo quả, hạt ý dĩ, hải sâm, táo tàu, ngân nhĩ, sâm non. Những thứ này hầu hết là những nguyên liệu phổ biến được dùng để chế biến thành món Lẩu.

Với món chảo lẩu, người Quảng Châu sẽ sử dụng loại gạo tẻ thường, hạt dài và trắng muốt. Nấu gạo này phải khoảng 30 phút cho gạo mềm ra rồi mới bỏ vào ninh nhỏ lửa. Như thế gạo mới nở bung, thật nhừ và thơm.

5. Long Hu Dou

Có lẽ đây là đặc sản Quảng Châu đáng sợ nhất (ít nhất là với người nước ngoài). Món ăn này được gọi là “Long tranh Hổ đấu”, vì nó được làm từ thịt rắn và thịt mèo hoang, giống như cả rồng và hổ. Gà đen có thể được thêm vào, cho món ăn thêm một thành phần của “phượng hoàng”. Tất cả được nấu trong một món súp với nấm mùa đông và chà là.

6. Gà Taiye

Tên món “Taiye Chicken” xuất phát từ Thị trưởng của một thành phố Quảng Châu cổ đại vào thời nhà Thanh, khi ông được cho là người đã phát minh ra món ăn này. Thịt gà được luộc chín khoảng 90% trong một món súp mặn đặc biệt sau đó hun khói với lá trà đen và mật ong. Sau đó, món ăn được làm lạnh, cắt lát và nấu tiếp trong một số món súp đặc biệt với mật ong để tăng thêm vị mặn và ngọt.

7. Gà trắng

Gà trắng là một món ăn cực kỳ đơn giản nhưng tươi ngon trong ẩm thực Quảng Châu. Gà đơn giản được luộc không thêm gia vị hoặc hương vị trong 15 phút. Bí quyết là sử dụng một con gà hữu cơ địa phương với hương vị tự nhiên của nó. Sau khi hoàn thành, dầu đậu phộng, gừng và hành lá được thêm vào chỉ để tạo ra một mùi vị rất nhẹ. Thịt gà thơm,mềm, ngọt sẽ khiến thực khách mê mẩn.

8. Kao Ru Zhu

Kao Ru Zhu (Heo sữa quay) là một món ăn ngon và thường góp mặt trong các bữa tiệc tại Quảng Châu trong hơn 1.400 năm qua. Theo ghi chép, heo sữa quay là món chính trong bữa tiệc nổi tiếng mang tên Mãn Hán toàn tịch, tức tiệc triều đình Hán Thanh, do vua Khang Hi tổ chức, với các món ăn cả Mãn và Hán.

Theo các đầu bếp Quảng Châu, chế biến heo sữa quay rất khó. Phải mất tới 3 năm học nghề mới có thể làm được. Tuy nhiên, cách chế biến món heo sữa quay có thể tóm tắt ngắn gọn như sau: Chọn một con heo sữa nặng khoảng 5kg. Nhúng vào nước lạnh và xẻ bụng làm đôi. Lọc tách bỏ xương. Nhồi gia vị vào trong con heo và ướp trong khoảng nửa tiếng, sau đó treo lên cho ráo nước. Nhồi tiếp gia vị vào trong con heo và để thêm 20 phút. Dội nước sôi bên ngoài cho tới khi da và thịt săn chắc lại. Xiên heo vào que và mang đi quay. Món ăn được coi là hoàn chỉnh là heo sữa có màu vàng đẹp mắt cũng như kết cấu da giòn, thịt mềm và ngọt thơm.

9. Ngỗng quay

Nếu du khách đã từng nghe hoặc từng thử qua món vịt quay Bắc Kinh trứ danh, thì ngỗng quay ở Quảng Châu cũng rất đáng để thử. Món ăn này được làm bằng cách quay nguyên con ngỗng đã được tẩm ướp gia vị trong lò than ở nhiệt độ cao. Ngỗng quay đạt chất lượng cao sẽ có màu đỏ với lớp da giòn rụm, lớp thịt ngon ngọt, béo ngậy, mềm và mọng nước. Những lát ngỗng quay có thể được ăn kèm với nước sốt mận. Những miếng thịt ngỗng quay vàng ươm, thơm phức, ngọt thơm, béo ngậy cùng loại nước sốt chua chua ắt hẳn sẽ chinh phục khẩu vị của bất kỳ thực khách nào.

10. Đầu vịt sốt ngũ vị

Đầu vịt những tưởng là phần xương xẩu, khó ăn, ấy vậy mà ở Quảng Châu nó lại là món ăn rất được ưa chuộng. Cái ngon của đầu vịt chính là những kẽ thịt ngọt ở phần xương xẩu ấy và các phần như óc, lưỡi… Tất cả đều có vị hấp dẫn khó tả.

Để chế biến món này, người đầu bếp phải chiên đầu vịt trong chảo dầu với nhiều gừng cho chín. Sau đó, xóc đầu vịt với hỗn hợp nước tương và nhiều loại thảo mộc, trái cây. Đầu vịt sốt ngũ vị rất kích thích vị giác bởi độ mặn, cay, chua, ngọt hòa quyện.

11. Mì hoành thánh

Các món ăn làm từ bột không phải là điển hình của ẩm thực Quảng Châu, nhưng mì hoành thánh thì lại khá được ưa chuộng ở đây. Tương truyền, trong một lần vi hành, vua Càn Long bị lạc đường và tìm được một quán nhỏ. Rủi thay, thức ăn lại hết, chủ quán vét vội còn ít bột mì, tôm và vài quả trứng. Ông ta liền nhanh tay nhào bột và chế biến ra một món ăn chưa có bao giờ. Vua Càn Long ăn hết sạch và cảm động mà đặt tên cho món ăn như vậy.

Một bát mì hoành thánh thường bao gồm 2 phần chính là vằn thắn và sợi mì, được đựng trong một bát nước dùng nóng hổi và được trang trí cùng hẹ, trứng và hành lá xắt nhỏ. Bên trong lớp vỏ mỏng của hoành thánh, phần nhân là hỗn hợp tôm, thịt heo và trứng, hoặc thậm chí là một con tôm hoàn chỉnh. Sợi mì được làm từ bột mì và trứng và được ép bằng tre, vì vậy chúng có thường có màu vàng, khá dai và trơn. Phần nước dùng được nấu với xương heo hoặc cá, nhưng công thức chi tiết thì mỗi nhà hàng giữ bí mật riêng. 

12. Mì gạo Henfen

Mì gạo có một lịch sử lâu đời ở Trung Quốc và mì gạo Henfen cũng không phải là ngoại lệ. Là món ăn nhẹ nổi tiếng nhất ở Quảng Châu, mì gạo Henfen còn có tên khác là Shahe, được đặt tên theo ngôi làng nơi đầu tiên sáng tạo ra nó, thị trấn Shahe, hiện là một phần của quận Thiên Hà ở Quảng Châu.

Mì gạo Henfen có màu trắng, mỏng và hương vị trơn. Chúng thường được xào với thịt (thịt bò trong hầu hết các dịp) và rau, nấu với lát cá và rau cùng với súp, hoặc ăn lạnh với nước trái cây hoặc rau. 

13. Sò điệp nướng phô mai

Sò điệp cắt bỏ phần lưỡi (có màu đỏ nhạt), rửa sạch, cho vào nồi nước sôi, chần qua, sau đó ướp sò với một chút mì chính, 3 thìa cà phê dầu ăn, và hành khô băm nhỏ. Sau đó xếp thịt sò vào vỏ của nó (mỗi vỏ khoảng 3-4 con) cho vào lò nướng. Khi thấy sò ngả màu vàng, có mùi thơm ta nhấc ra và cho lên bề mặt một lá pho mai rồi lại cho vào lò nướng tiếp cho đến khi thấy mùi thơm, pho mai chảy ra và ngả màu vàng là được. Người Quảng Châu thường ăn chúng khi còn nóng và dùng làm món chính trong bữa ăn.

14. Bánh cuốn

Bánh cuốn là món ăn lâu đời và được cả nền ẩm thực Trung Hoa ưa chuộng. Tại Quảng Châu, bánh cuốn xuất hiện từ lề đường, xe đẩy cho đến nhà hàng sang trọng. Đây cũng món ăn sáng hay ăn khuya quen thuộc của người Quảng Châu, bởi ít tinh bột, nhẹ bụng.

Phần quan trọng nhất của bánh cuốn là phần nhân bánh rất đa dạng, khi thì thịt bò, thịt gà, tôm,… đa số sẽ được xào sơ với gia vị cho đậm đà. Bánh cuốn có rất nhiều cách ăn và cách chế biến, nhưng tựu chung vẫn phải đảm bảo vỏ bánh mỏng, dai mềm vừa đủ, nhân đậm vị, nước sốt mặn mòi. Một phần bánh cuốn ngon nhất định phải còn nóng hổi, bởi thế nên nhiều nhà hàng khi dọn ra cho khách vẫn đặt bánh trong chõ tre, khi ra đến bàn thì mở vung và khói tỏa ra nghi ngút. Cắn vào miếng bánh như vậy, thực khách sẽ cảm thấy được cái thơm ngọt của bột gạo, vị mặn mòi của nhân. 

15. Phở cuốn hấp

Phở cuốn hấp có nguồn gốc ở Quảng Châu và đã trở lên phổ biến từ rất lâu. Vào khoảng một thế kỷ trước, món ăn này còn được bán rong trên bằng tiếng rao của những người bán bán phở cuốn hấp trên đường phố Quảng Châu.

Phở cuốn hấp với phần nhân được cuộn lại trong một lá phở mỏng. Phần lá phở được làm làm từ bột gạo xay nhuyễn và hấp chín trên những tấm vải mỏng, song chúng không được cắt thành sợi mà được tách thành từng lá phở mỏng lấp lánh. Sau đó, những người đầu bếp sẽ gói phần nhân chứa đầy thịt heo, thịt bò, tôm hoặc các nguyên liệu khác trong lá phở và cuộn lại. Khi ăn, người ta đổ ngập nước tương ngọt lên các cuốn phở cuốn hấp sáng lấp lánh. Chính vì thế, món ăn này có hương vị khá đậm đà, độc đáo.

Ở Quảng Châu, phở cuốn hấp là một món ăn giản dị rất phổ biến. Nó được phục vụ ở khắp mọi nơi, từ các nhà hàng khiêm tốn đến bữa sáng tự chọn được phục vụ trong khách sạn.

16. Dim Sum

Dim Sum là món ăn khá nổi tiếng của Quảng Châu, món ăn này bao gồm những phần ăn nhỏ với các món như bánh chiên, bánh hấp, cháo rắn và thường dùng với trà. Dimsum có nhiều tại Trung Quốc, nhưng món ăn này ở Quảng Châu đặc biệt hơn ở chỗ người ta sử dụng bột gạo và rau có tại địa phương chứ không sử dụng bột mì như nhiều nơi. Hương vị đa dạng và hấp dẫn của món ăn, khiến nhiều người thích thú.

17. Bánh Yujiao

Món bánh này có hình dáng như một chiếc tổ ong với hình khối bầu dục, bao bên ngoài là vỏ khoai môn giòn tan. Vỏ khoai môn làm bằng cách bào khoai ra thành dạng sợi thật nhuyễn rồi bao lấy nhân, thế nên sau khi chiên, vỏ ngoài có dáng vẻ xù xì lỗ rỗ, cắn vào giòn tan rất hấp dẫn. Nhân bánh là hỗn hợp thịt heo, tôm, nấm mèo đen và trứng. Chiếc bánh ngon phải đảm bảo được sự giòn tan ở phần vỏ bánh nhưng trong thì mềm bùi đúng kiểu khoai môn, phần nhân thịt đậm đà, chín tới. 

18. Bánh trứng

Bánh trứng thực sự được biết đến lần đầu tiên tại Quảng Châu vào những năm 1920 trong Chiến tranh thuốc phiện đầu tiên. Đây được coi như là sự hợp nhất giữa văn hóa phương Tây và Trung Quốc, phong cách và công thức bánh trứng đã thay đổi trong nhiều thập kỷ.

19. Bánh Pantang

Xuất phát từ cái tên của ngôi làng nơi sản xuất hạt dẻ nước tốt nhất, Pantang chắc hẳn sẽ là món ăn độc đáo chinh phục mọi thực khách. Cách làm bánh hạt dẻ nước khá đơn giản, chỉ cần trộn bột hạt dẻ với nước đường và hấp chín. Pantang thường được cắt thành lát hình vuông và hấp hoặc chiên trước khi phục vụ.

Món bánh này khá mềm, song vẫn giữ được hình dạng của nó khi thưởng thức. Bánh thường có màu nâu vàng, vị trơn, tươi và ngon, đậm đà hương vị hạt dẻ. Đôi khi, bánh còn có hạt dẻ xắt nhỏ nhúng vào từng kiếng vuông. Nếu du khách muốn có trải nghiệm tốt nhất với món ăn này tại Quảng Châu, hãy thưởng thức Pantang vào một buổi sáng nhé!

20. Jiang Zhuang Nai

Đây là một món tráng miệng được làm từ sữa và nước gừng. Cái tên “Jiang Zhuang Nai” trong tiếng Trung có nghĩa là sự hòa quyện giữa gừng và sữa ở dạng thạch. Sữa gừng Shawan là một món ăn nhẹ nổi tiếng của quận Panyu với lịch sử hơn 100 năm. Gừng trong y học Trung Hoa là một vị thuốc rất tốt cho dạ dày, lá lách và cũng có chức năng trừ phong, giải cảm lạnh. Kết hợp với sữa trâu giàu dinh dưỡng, sữa gừng mang nhiều lợi ích cho sức khỏe. Món ăn nhẹ này phù hợp uống vào những ngày đông lạnh giá, có tác dụng bồi bổ cơ thể, làm ấm tức thì.

21. Sữa trứng 2 lớp

Tương tự như bánh Pudding hoặc bánh Flan, sữa trứng hai lớp là một món tráng miệng rất đơn giản nhưng ngọt ngào, được làm từ sữa tươi, đường và lòng trắng trứng. Tại Quảng Châu, sữa trứng hai lớp là món tráng miệng được ưa chuộng nhất đối với các cô gái trẻ, và nó cũng là một món ăn ngon, bổ dưỡng và dễ tiêu hóa cho mọi người khác. Một bát sữa trứng có mùi thơm và hương vị tinh tế.

Đúng như tên gọi của nó, món tráng miệng này có hai lớp: Sữa được đun kĩ với một lớp đường và bên trên là hỗn hợp sữa và lòng trắng trứng. Sữa trứng 2 lớp khá mềm, có vị thơm ngọt, mềm mịn, dinh dưỡng phong phú và có hiệu quả trong việc chăm sóc da, bổ phổi. Khi thưởng thức, thực khách có thể thêm trái cây, hạt sen, nho khô hoặc đậu đỏ để ăn kèm. 

22. Quy phục linh

Quy phục linh hay còn gọi là quy linh cao, là một món ăn đặc sắc của người dân Quảng Châu. Đây là món ăn dược thiện, thành phần nguyên liệu bao gồm: bột mai rùa, thổ phục linh và một số loại thảo dược khác như: vỏ quế, cam thảo, trần bì, bồ công anh, sanh địa,… Có thể dùng quy phục linh với trái cây như một món tráng miệng, ăn vừa mát vừa lạnh rất ngon. Đây còn là món ăn giúp thanh nhiệt, tiêu mụn, dưỡng nhan nhuận trường và có tính giải độc.

23. Kem dừa Shunnj

Shunji là một thương hiệu kem lâu đời ở Quảng Châu. Trong đó, món nổi tiếng nhất là kem dừa, được phát minh đầu tiên bởi một nhà cung cấp có tên Lv Shun vào những năm 1920 bằng cách sử dụng nước dừa, sữa trâu tươi, trứng và đường trắng. Món kem này không chỉ bắt mắt mà còn mang mùi dừa tươi vô cùng đậm đà với hương vị riêng biệt. Nhiều vị khách vinh dự và nguyên thủ quốc gia từ nước ngoài khi đến đây đã thử thưởng thức món kem này và thực sự thích thú khi nếm thử nó.

“Muốn ăn ngon thì đến Quảng Châu” – quả thực, Quảng Châu không chỉ là thiên đường mua sắm, mà còn là thủ đô của ẩm thực Trung Hoa. Các món ăn ở đây chính là sự kết hợp hoàn hảo giữa hương vị truyền thống và hiện đại thông qua quá trình hội nhập của thành phố. Nếu có dịp du lịch Trung Quốc và ghé thăm Quảng Châu, du khách đừng quên thưởng thức những món ăn đặc sản của vùng đất sôi động này nhé! Chắc chắn đây sẽ là một trải nghiệm thú vị mà du khách lòng quên được!

Hoàng đế Khang Hy từng khiến hàng ngàn cung nữ phải bỏ mạng

Khang Hy là vị vua thứ 4 của nhà Thanh. Ông được đánh giá là một minh quân thông minh lỗi lạc giúp vương triều hưng thịnh. Ông cũng là người đã tìm ra phương pháp trị bệnh đậu mùa, nhưng để có được kết quả đó, hàng nghìn cung nữ đã phải bỏ mạng.

Thanh Thánh Tổ (4/5/1654 – 20/12/1722), Hãn hiệu “Ân Hách A Mộc Cổ Lãng hãn”, Tây Tạng tôn vị “Văn Thù Hoàng đế”, là vị hoàng đế thứ tư của nhà Thanh và cũng là một trong những vị vua có thời gian cai trị lâu nhất trong lịch sử Trung Hoa (tại vị trong 61 năm – từ năm 1661 đến năm 1722). Trong thời gian trị vì, ông dùng niên hiệu “Khang Hy”, nên thường được gọi là Khang Hy Đế.

Trong lịch sử nhà Thanh, Khang Hy được đánh giá là vị hoàng đế tài ba lỗi lạc nhất, là người đã thiết lập sự thịnh trị kéo dài 134 năm của nhà Thanh sau một loạt các cuộc chiến tranh và những chính sách tích cực khiến dòng họ Ái Tân Giác La giữ vững ngôi vị hoàng đế Trung nguyên. Ông được đánh giá là một trong những vị hoàng đế vĩ đại nhất lịch sử Trung Quốc và được xưng tụng là “Khang Hy Đại đế”. Dưới thời cai trị của ông, Đế quốc Đại Thanh đã hoàn thành thống nhất và kiểm soát toàn bộ lãnh thổ Trung Hoa, Mãn Châu, Đài Loan, nhiều phần của vùng Cận Đông nước Nga, bảo hộ Mông Cổ và Triều Tiên.

Ngoài những thành công về mặt chính trị, Khang Hy Đế còn có những đóng góp về mặt y học, được người đời sau ca ngợi. Điển hình như việc tìm ra phương pháp trị bệnh đậu mùa, nhưng để có được kết quả đó, hàng nghìn cung nữ đã phải chết thảm.

Vào thời kỳ Khang Hy, đậu mùa là một căn bệnh nguy hiểm chết người, người nào mắc bệnh này coi như cầm chắc cái chết trong tay. Căn bệnh này được phát hiện vào thời nhà Tấn và cho đến nhà Thanh cũng chưa có ai có thể tìm ra được phương pháp điều trị bệnh.

Nhưng, trước khi đánh bại nhà Minh, tiến vào Trung nguyên, người Mãn Thanh chưa từng mắc chứng bệnh này. Chỉ đến khi nhập quan, người Mãn Thanh mới mắc bệnh đậu mùa, chính vì thế họ luôn cho rằng chính người Hán đã lây căn bệnh độc hại này cho họ, nên vô cùng căm hận. Người Mãn Thanh đã đuổi hết những nhà có người bị bệnh đậu mùa ra khỏi kinh thành. 

Khang Hy Đế lúc nhỏ cũng từng bị đậu mùa, nhưng do không bị quá nặng nên vẫn sống sót nhưng vào lúc đó, mọi người lại không nghĩ như vậy. Khi đó, Thuận Trị Đế cho rằng Khang Hy mắc đậu mùa mà không chết, chứng tỏ số mệnh của ông là số đại quý, nên đã quyết định lập ông là người kế vị.

Sau khi Khang Hy kế vị, do nhiều người Mãn Thanh mắc bệnh đậu mùa, nên ông muốn tìm ra phương thuốc hiệu quả giúp cứu sống nhiều người. Vì vậy, ông ra lệnh cho các thái y trong cung tìm kiếm cách chữa khỏi căn bệnh này.

Về sau, Hoàng đế Khang Hy biết đến phương pháp “lấy độc trị độc” trong điều trị bệnh tật và cho rằng cách này có thể chữa tận gốc bệnh đậu mùa. Vậy nên, ông quyết định giao cho thái y dùng phương pháp tàn khốc trên để trị bệnh đậu mùa. Thái y chọn các cung nữ từ 16 đến 50 tuổi, nhốt bọn họ lại trong một căn phòng, sau đó dùng phương pháp lây nhiễm bệnh đậu mùa, nhưng chỉ có 13 người cung nữ bị nhiễm bệnh. 

Khang Hy Đế lại ra lệnh đưa 13 người cung nữ đến một nơi khác, bắt đầu dùng một loại thuốc độc đưa vào cơ thể của họ nhưng cuối cùng 13 người cung nữ kia cũng mất mạng. Khang Hy Đế vẫn không bỏ cuộc và tiếp tục sử dụng biện pháp trên. 3 năm sau, Khang Hy Đế mới phát hiện ra loại thuốc để điều trị bệnh đậu mùa. Trong thời gian 3 năm đó, có hàng ngàn cung nữ bỏ mạng, họ đều vừa bị bệnh đầu mùa vừa bị nhiễm chất độc vào trong người nên đã mất mạng. Điều đáng nói là những cung nữ đó đều là người Hán.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về lịch sử triều đại của một đất nước đông dân nhất thế giới này. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn thì hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! Chúc du khách có một chuyến đi vui vẻ và thú vị!