9 món chè bổ dưỡng nên thử trong chuyến du lịch Trung Quốc

Khi nhắc tới các món chè Trung Hoa, chúng ta sẽ thấy rằng bất kỳ một món nào cũng đều mang đậm sự khác biệt so với chè Việt Nam. Chúng không chỉ đặc trưng từ mùi vị, chế độ dinh dưỡng mà đến cái tên cũng độc đáo. Đồng thời họ chú trọng vào chè với sự hấp dẫn và thanh mát cho cơ thể hơn là vị ngọt.

Chè mè đen

Đứng đầu trong danh sách các món chè được yêu thích nhất ở Trung Hoa, đó là chè mè đen, với vẻ ngoài giản dị đặc quánh một màu đen thẫm, vẫn luôn đủ sức hấp dẫn đối với mọi thực khách. 

Nguyên liệu nấu món chè này không hề phức tạp với hạt vừng đen nấu cùng bột gạo cho dẻo, vị ngon đến từ chính cái bùi bùi rất nhẹ của hạt vừng chất lượng, còn tươi, không chút ẩm mốc nào.

Chè mè đen đúng chuẩn không quá ngọt, chỉ cần một thoáng đường nhẹ để giữ nguyên hương vị tươi mới của vừng. Chính vì đặc trưng thơm béo mà vẫn thanh tao mà món này phù hợp với khẩu vị của nhiều người, một bát chè nhỏ xíu chẳng có nhiều màu sắc hấp dẫn, nhưng chính cái dáng vẻ dẻo mịn nóng hổi kia đã đủ sức lôi kéo bao nhiêu con người hảo ngọt.

Chè trứng hồng trà

Đây là công thức chè khá lạ lẫm với phong cách truyền thống của ẩm thực Việt, khi dùng nguyên liệu trứng gà, là nguyên liệu vốn chỉ nấu món mặn hay làm bánh, để đưa vào chè. Tuy nhiên, với ẩm thực Trung Hoa thì đó là điều quen thuộc, chẳng hạn như với món chè trứng hồng trà độc đáo này.

Theo quan niệm của người Trung Hoa, món chè này có tác dụng bổ phổi, an thần, giúp thần sắc tươi tắn, thư thái. Như vậy, nó vừa tốt cho sức khỏe, vừa lợi cho sắc đẹp. Tuy nhiên, để có món chè ngon, bạn phải chịu khó bỏ nhiều thời gian và công sức. Trước tiên là công đoạn nấu trà cho ra hết nước cốt bằng cách túm trà vào túi vải, đun riu riu trong nồi nước. Trứng gà luộc, dùng muỗng đập nhè nhẹ bên ngoài cho vỏ trứng nứt ra rồi đem luộc trong nước trà và đường liên tục 2 giờ không mở nắp. Cuối cùng, bóc hết phần vỏ trứng ra, bóc hết phần vỏ bên ngoài rồi lại thả vào nồi.

Món chè khi nấu xong sẽ có màu nâu đen đỏ trông rất bắt mắt, trà và đường thấm sâu vào trứng nên mất hết mùi tanh. Vị béo bùi của trứng hòa quyện với “nước trà” màu đen óng ánh, để lại cảm giác khó quên và lạ lẫm.

Món chè này có thể ăn nóng hoặc lạnh đều ngon và thường có mặt trong nhiều nhà hàng, các bữa tiệc của người Trung Hoa.

Chè hột gà bột năng

Lại có thêm một món chè được chế biến từ trứng gà – Chè hột gà bột năng. Tuy nhiên, chè hột gà củ năng chỉ cốt lấy cho thật khéo phần lòng đỏ tươi béo ngậy, còn phần lòng trắng nấu chín đã được quyện cùng vị ngọt của củ năng, với cái thơm của lá dứa làm át hẳn mùi tanh. Công thức này có thể thay trứng gà bằng trứng cút, chú trọng lòng đỏ là phần giàu dinh dưỡng và không dính chút vị tanh nào. 

Món chè này có hai cách nấu. Cách thứ nhất là đun sôi nước, đường, một ít bột năng để tạo độ sánh, sau đó cho hột gà đánh tan vào để tạo những sợi “vân mây”. Cách nấu này gần giống như kiểu cho hột gà vào súp cua mà chúng ta vẫn thường làm. Có thể du khách nghĩ hột gà nấu kiểu này sẽ không dễ ăn chút nào nhưng thực tế, món chè vẫn rất ngon, đặc biệt thích hợp để ăn nóng. Hơn nữa, nấu món này lại rất nhanh gọn, không tốn nhiều thời gian.

Cách nấu thứ hai có phần kỳ công hơn khi đảm bảo lòng đỏ trứng gà còn vẹn nguyên trong bát chè năng sánh đặc, trông giống như một mặt trời bé con. Lòng trắng thì đã được nấu cùng bột củ năng sánh dẻo. Lúc này, lòng đỏ được cho vào bát rồi mới múc chè đổ vào. Khi ăn, thực khách cứ thế mà khuấy rồi thưởng thức dần, lòng đỏ còn tái thơm béo ngậy.

Chè đu đủ tiềm

Món chè đặc sản này cũng được liệt vào hàng mát, bổ của ẩm thực Trung Hoa truyền thống. Món chè ngọt thanh rất mát, giải độc, nhuận trường và tốt cho da này được nhiều phụ nữ rất thích.

Nguyên liệu chỉ gồm đu đủ chín (vừa chín tới), đường phèn, táo tàu, nấm tuyết nhưng không nấu mà đem hấp cách thủy. Món này trời lạnh thì có thể ăn nóng mà trời nóng thì có thể ăn lạnh, kiểu gì cũng ngon, bổ, hấp dẫn vô cùng.

Chè ỷ

Chè ỷ hay còn gọi là chè Tiều, là một phiên bản của chè trôi nước. Thường thì những viên chè ỷ sẽ bé hơn, bên trong là đủ loại nhân, có cả đậu xanh, đậu đen, đậu đỏ nghiền, đậu phộng. Chè cũng được nấu trong nước đường có gừng thơm ấm, được rắc mè rang vàng thơm khi ăn. Trong ngày cưới, người Hoa cũng nấu món chè này cho cô dâu và chú rể ăn như một lời chúc hạnh phúc vẹn tròn. 

Chè đậu đỏ hạt sen

Đây là món chè được người dân bản xứ gọi là chè may mắn và được dùng nhiều trong ngày cưới. Ý nghĩa của chè đậu đỏ hạt sen như một lời chúc viên mãn đến cuộc sống bình dị đời thường. Hơn nữa, món chè này còn là món ăn làm ấm lòng người nhanh nhất vào thời tiết se lạnh cuối năm.

Để nấu được chè đậu đỏ hạt sen, người ta cần các nguyên liệu gồm: đậu đỏ, hạt sen tươi (đã bỏ tim) và đường phèn. Sau đó, đem đậu đỏ rửa sạch với nước rồi ngâm trong một khoảng thời gian. Khi đã sơ chế xong, họ cho hạt sen và đậu đỏ vào nấu cùng nước. Khi thấy các nguyên liệu trong nồi bắt đầu chín thì thêm đường vào và đánh đều tay để đường nhanh tan, không bị vón cục. Cuối cùng tắt bếp và múc chè đậu đỏ hạt sen ra bát là có thể thưởng thức được rồi.

Chè Sâm bổ lượng

Sâm bổ lượng hay còn gọi là chè sâm bổ lượng, là một món chè ngọt có nguồn gốc Quảng Đông và cũng phổ biến tại Quảng Đông, Hồng Kông, Ma Cao, và Hải Nam. Mặc dù công thức có thể khác nhau, sâm bổ lượng thường có nhãn nhục (cơm trái long nhãn phơi khô), hạt bo bo, hạt sen, phổ tai (một loại rong biển), táo tàu đỏ, hoài sơn (khoai mài) cùng nước, đường phèn và đá bào. 

Công dụng chính của chè sâm bổ lượng chính là thanh nhiệt, an thần, bồi dưỡng cơ thể. Nó cũng là vị thuốc chữa rất nhiều bệnh vì các thành phần trong sâm bổ lượng đều là thuốc quý như nhãn nhục, đại táo, hạt sen, bo bo, tuyết nhĩ, phổ tai, bạch quả.

Đậu hũ hạnh nhân

Chè Trung Quốc thường ăn nóng, nhưng không phải vì thế mà không có những công thức chè lạnh mát lòng mát dạ, hạ nhiệt ngày hè. Thoạt nhìn gần giống như món chè khúc bạch, nhưng đậu hũ hạnh nhân có nguyên liệu đơn giản và bổ dưỡng hơn rất nhiều.

Nếu như viên “đậu hũ” trong khúc bạch có cái ngầy ngậy của kem đánh thì đậu hũ hạnh nhân truyền thống chỉ là thạch nấu sữa cùng chiết xuất hạnh nhân đậm đặc, trên mặt rắc thêm vài lát hạnh nhân tươi giòn giòn.

Món thạch chè này ăn rất mát, mùi hương nồng nàn không “dễ chơi” nhưng quen rồi sẽ nghiện. Người ta tạo ra rất nhiều biến thể cho đậu hũ hạnh nhân, vừa là để thêm màu sắc bắt mắt vừa tăng độ dinh dưỡng, thường thấy nhất là đậu hũ hạnh nhân nấu đu đủ, lê, bạch quả,…

Quy linh cao

Cũng là một loại thạch, Quy linh cao làm người ta liên tưởng tới sương sa sương sáo truyền thống của Việt Nam. Thế nhưng, nguyên liệu chính của Quy linh cao không phải lá, dù cũng có chút bột rau câu để tạo độ đông. Đặc trưng của món này nằm ở hai thành phần chính là thổ phục linh cùng bột mai rùa hộp ba vạch, bên cạnh đó còn có cam thảo cùng nhiều thành phần phức tạp khác không kém gì một công thức thuốc Bắc.

Ngày nay, cao quy linh thường không có bột mai rùa hộp ba vạch do loài này đang bị đe dọa tuyệt chủng, nhưng món thạch chè không vì thế mà mất đi lượng dinh dưỡng dồi dào. Quy linh cao đắng, khó ăn, thường được người lớn tuổi ưa thích hơn. Ngày nay, người ta thường ăn món thạch này với sữa hoặc mật ong để giảm độ đắng. Dù “đỏng đảnh” như vậy nhưng quy linh cao vẫn rất được người Trung Hoa ưa chuộng nhờ công dụng bồi bổ tim gan, thanh nhiệt giải độc cùng hương vị là lạ khó quên.

Nếu đã quen với chè đậu, chè nếp nấu theo kiểu Việt thì hẳn du khách sẽ thấy lạ lẫm và không kém phần thích thú với vài món chè theo phong cách Trung Hoa kể trên. Vậy nên, nếu có dịp du lịch Trung Quốc, du khách hãy nên thử để có những trải nghiệm ẩm thực thú vị nhé!

Sủi Cảo – món ăn đặc trưng của Trung Quốc với rất nhiều ý nghĩa tốt đẹp

Sủi Cảo (hay “bánh tai”, “bánh chẻo”) là món ăn được làm với vỏ bằng bột mì cán mỏng với phần nhân được làm từ thịt hoặc rau trộn lẫn với nhau. Đây được coi là món ăn đặc trưng của Trung Quốc mang nhiều ý nghĩa tinh thần tốt đẹp.

Về nguồn gốc, món Sủi Cảo được cho là phát minh từ thời nhà Hán (25-220 Sau Công Nguyên) bởi Trương Trọng Cảnh – một thầy thuốc vô cùng nổi tiếng thời đó. Sủi Cảo ban đầu có tên là “tai mềm” vì nó được dùng để chưa chứng bệnh “tê buốt tai”.

Trong một lần về nhà vào mùa đông lạnh giá, Trương Trọng Cảnh thấy nhiều người nghèo khổ trên đường, không có áo ấm cũng như đồ ăn, ngoài ra họ còn bị ê buốt tai do lạnh, vì thế, ông liền nghĩ ra một bài thuốc bằng cách hầm thịt cừu, ớt và một số loại cây thuốc giúp làm ấm cơ thể. Ông luộc những chiếc bánh này lên cho vào một bát canh, rồi đưa đến người bệnh. Thời điểm này cũng là dịp Tết Nguyên Đán. Cũng từ đó trở đi người dân nơi đây để chào đón một năm mới cũng như những triệu chứng hồi phục sau buốc tai, mọi người đã dùng công thức của ông để chế biến món ăn này.

Sủi cảo được tạo hình thành nửa vầng trăng với ý nghĩa tượng trưng cho sự may mắn. Nếu kéo dài hai đầu Sủi cảo hình bán nguyệt nối liền với nhau giống như một nén bạc tương trưng cho cuộc sống tiền bạc dư dả, sung túc. Ngoài ra, Sủi cảo còn được người ta in hình bông lúa mì trên vỏ bánh với mong ước một năm trồng trọt bội thu. Bởi thế với người Trung Quốc ăn Sủi cảo vào đầu năm sẽ đem đến nhiều điều may mắn và cuộc sống sung túc hơn.

Cách làm Sủi cảo cũng khá thú vị và mang nhiều ý nghĩa tốt đẹp. Quá trình chuẩn bị cầu kì nhất là băm thịt và rau. Khi băm nhân, dao và thớt chạm vào nhau phát ra tiếng rắn chắc. Theo quan niệm, băm nhân với thời gian càng dài tức là gói sủi cảo càng nhiều, tức là cuộc sống đầm ấm, khá giả.

Bánh được làm từ loại gạo nếp ngon và xay nhuyễn cùng với một chút gừng tươi để tạo hương vị đặc biệt. Bột sau khi nhào nặn được cán mỏng thành những miếng hình tròn rồi cho nhân vào. Khi nước trong nồi sôi, bỏ sủi cảo vừa gói vào nồi rồi lấy vợt quấy đến đáy nồi để cho sủi cảo không bị dính nồi. Trong khi nấu, thường là phải cho thêm 3 lần nước lạnh, vì trong tiếng Trung, từ này đồng âm với “phúc đi rồi lại đến”. Nấu Sủi cảo thường từ 10-20 phút là chín.

Sủi cảo có thể làm được rất nhiều món như hấp, chiên, nấu canh. Đặc biệt, ăn Sủi cảo phải chấm với xì dầu thêm chút gừng và ớt thì mới dậy vị.

Trước kia, Sủi Cảo chủ yếu là món ăn trong ngày Tết, nhất là trong đêm giao thừa. Hàng năm vào đêm giao thừa, các gia đình người Hoa đều nhất định phải ăn Sủi Cảo. Việc ăn món ăn này cũng rất cầu kì, phải theo các bước tuần tự như nghi thức đã có từ lâu đời. Bát thứ nhất là để thờ cúng tổ tiên, tỏ lòng tôn kính cha ông quá cố. Bát thứ hai là để cúng thần thánh trong dân gian (ví như ông Táo). Đến bát thứ ba, cả gia đình mới bắt đầu ăn. Trong khoảng thời gian này, người cao tuổi trong gia đình còn lẩm nhẩm đọc bài vè truyền thống về ý nghĩa của món Sủi Cảo: “Ăn Sủi Cảo cầu được, ước thấy / Một chiếc Sủi Cảo hai đầu nhọn / Bỏ vào nồi thành trăm ngàn chiếc / Thìa vàng múc, bát bạc bưng / Đặt lên bàn thờ cúng tổ tiên / Thần tiên nhìn thấy cũng vui lòng / Quanh năm bốn mùa được bình an”.

Cũng theo tục lệ, khi ăn Sủi Cảo, người Trung Hoa chỉ ăn số chẵn, không ăn số lẻ. Không ai ăn hết những chiếc Sủi Cảo được múc ra bát mình, cũng không ai múc sạch chỗ Sủi Cảo được làm xong từ xoong ra bát mà bao giờ cũng để lại mấy cái (số chẵn) với ngụ ý năm nào của cải cũng dư thừa, gia đình thịnh vượng.

Ngày nay, Sủi Cảo dần dần trở thành món ăn thường nhật của người dân Trung Hoa. Hơn thế, Sủi Cảo còn nhanh chóng vượt ra ngoài biên giới, có mặt ở hầu hết các quốc gia Châu Á và rất nhiều quốc gia khác trên thế giới. Ngoài dịp năm mới, nhiều gia đình cũng chuẩn bị bánh Sủi Cảo cho những dịp đặc biệt khác như: sinh nhật, các dịp lễ Tây như Giáng sinh hoặc Lễ Tạ Ơn. Cả gia đình cùng ăn Sủi Cảo tượng trưng cho sự đoàn tụ. Chủ nhà mời khách ăn bánh để tỏ lòng quý trọng và sự nhiệt tình.

Hi vọng với những thông tin mà chúng tôi vừa cung cấp sẽ giúp du khách hiểu hơn về món Sủi Cảo cũng như ẩm thực Trung Hoa. Đồng hành cùng chúng tôi trong Tour Trung Quốc, du khách sẽ có được nhiều trải nghiệm thú vị hơn khi khám phá nền ẩm thực của vùng đất này!

8 loại thực phẩm quý hiếm và đắt đỏ bậc nhất Trung Quốc

Ẩm thực Trung Hoa là một trong những nền ẩm thực lâu đời và phong phú nhất thế giới. Ngày nay, chúng ta có thể dễ dàng thưởng thức món ngon tại các quán ăn kiểu Hoa, nhưng hiếm ai có cơ hội nếm thử những loại thực phẩm quý hiếm và có giá đắt đỏ bậc nhất của đất nước này.

1. Cá Bahaba taipingensis

Tại Trung Quốc, loài cá này được gọi là Hoàng Thần Ngư (Cá miệng vàng) hoặc Bạch Hoa Ngư. Loài cá quý hiếm này sống trong  môi trường sống tự nhiên là biển mở, vùng biển nông, lòng biển nước bán thủy triều, bờ đá, và cửa sông.

Với giá bán lên đến 3.000.000 NDT/con, cá Bahaba taipingensis xứng đáng là một trong những thực phẩm đắt nhất thế giới của Trung Quốc. Sở dĩ loài cá này có cái giá cắt cổ như vậy là do trong thịt cá có chứa tổng lượng axit amin umami rất lớn, do vậy nó vô cùng tốt cho sức khỏe con người. Thịt cá cũng có hương vị thơm ngon tuyệt vời. 

Hiện tại, loài cá này được liệt vào danh sách động vật được bảo vệ cấp quốc gia (cấp độ 2) tại Trung Quốc. Nếu đánh bắt trái phép, mua bán cá miệng vàng bừa bãi sẽ bị liệt vào hành động phi pháp. Vì vậy, người giàu cũng khó mà nếm được thứ thực phẩm quý giá này.

2. Vi cá mập

Nhắc đến vi cá mập hẳn du khách sẽ nghĩ nó là một món quý tộc chỉ dành cho vua chúa trong các bộ phim lịch sử xa xưa. Thế nhưng, ngoài đời thật, du khách cũng có thể thưởng thức món ăn đó nếu du khách có điều kiện về tài chính. Bởi mức giá của nó lên tới 16.000 USD/kg với loại vi cá mập quý hiếm.

Chế biến vi cá mập khá cầu kì, biến những mảnh vi cá mập thành những sợi cước cá trắng tinh. Vi cá mập có thể nấu vi cá thành súp cùng với các loại khác để bồi bổ cơ thể. Món ăn này cũng được dùng để trị bệnh viêm khớp và cực tốt với những người bệnh, người già cả,…

3. Hasma

Trong nền y học cổ truyền Trung Quốc, có một vật liệu quý được sử dụng từ thời xa xưa, từng là cống phẩm quý hiếm vào thời nhà Minh, nhà Thanh có tên gọi là Hasma hay mỡ lấy từ xung quanh ống dẫn trứng của ếch cỏ Asiatic (loài ếch sống ở các khu rừng ở tỉnh Cát Lâm và Hắc Long Giang). 

Vào mùa hè ấm áp, ếch cỏ Asiatic sẽ cố gắng dành thời gian hấp thụ chất dinh dưỡng để chuẩn bị cho việc ngủ đông. Đặc biệt là những con ếch cái khi đến tuổi sinh sản (khoảng 3 năm tuổi) sẽ phải tích trữ nhiều chất béo hơn để dành cho mùa giao phối vào mùa xuân năm sau. Đây cũng chính là giai đoạn mà người ta sẽ đi bắt những con ếch cái về để thu hoạch Hasma. Quá trình lấy được Hasma cũng không hề đơn giản. Những con ếch cái đủ tuổi khi được bắt về sẽ bị xỏ dây phơi khô tự nhiên khoảng 20-30 ngày cho đến chết và khô lại. Lúc này người ta mới cẩn thận mở bụng ếch ra để bóc tách mô mỡ nằm xung quanh phần ống dẫn trứng của chúng.

Thành phần chính của Hasma chủ yếu là protein, có rất ít chất béo và không chứa cholesterol. Ngoài ra, chúng còn chứa một lượng dồi dào collagen, estrogen, vitamin và những nguyên tố vi lượng khác.

Trong y học cổ truyền, người ta thường dùng Hasma để bồi bổ cho cơ thể, chống lão hóa, đặc biệt là dưỡng nhan sắc cho phụ nữ. Hasma được cho là có thể giúp phụ nữ mang thai tránh rạn da, tăng cường sinh lực, giảm mệt mỏi trong suốt thai kỳ. Chính vì điều này, Hasma được mọi người ví von là “vàng mềm” trong nhân gian, là “nhân sâm động vật” và từ hàng trăm năm nay, chúng trở thành thứ nguyên liệu quý giá trong y học lẫn cuộc sống.

Người Trung Quốc có rất nhiều món ăn độc lạ, đặc biệt là món tráng miệng bổ dưỡng được chế biến từ Hasma. Hasma sau khi ngâm trong nước có thể tăng kích thước đến 100-200 lần. Lúc này người ta sẽ loại bỏ các tạp chất còn sót lại trong đó như máu, ống dẫn trứng… rồi mới đem đi chế biến thành món ăn. Những món tráng miệng nổi tiếng từ Hasma có thể kể đến đu đủ tiềm Hasma, Hasma đường phèn kỷ tử, Hasma táo đỏ hạt sen, Hasma nấu sữa tươi…

Hiện nay, tại Trung Quốc, Hasma được bán với giá rất cao, lên tới 36.000 NDT/kg (tương tương khoảng 124.000.000 VNĐ/kg).

4. Yến sào

Yến sào từ lâu đã là món ăn vô cùng quý hiếm mà chỉ những bậc vua chúa của Trung Quốc mới được thưởng thức. Nó được ví như trứng cá muối của phương Đông. Nó được lấy từ tổ của chim yến cheo leo trên các vách đá, những chiếc tổ này được làm bằng nước dãi của chim yến rất bổ dưỡng. Do việc tìm kiếm nguyên liệu của món yến sào gặp nhiều khó khăn nên mối cân tổ yến có thể có giá lên tới 21.000-28.000NDT (khoảng 69.000.000 – 92.000.000 VNĐ).

5. Trà Đại Hồng Bào

Trà Đại Hồng Bào có giá “đắt hơn vàng” vì được chiết xuất từ cây cổ thụ nằm cheo leo ở lưng chừng núi đá, vô cùng khó lấy trên núi Vũ Di thuộc tỉnh Phúc Kiến. Vũ Di Sơn với phong cảnh hùng vĩ từ nhiều thế kỷ nay đã nổi tiếng với những loại trà quý. Những cơn mưa chảy xuống vách núi đá vôi làm ngập các dòng suối hẹp và thác nước ở đây đã mang theo nguồn dinh dưỡng, khoáng chất phong phú cho những cây trà.

Cây cổ thụ Đại Hồng Bào nằm trong khu Cửu Long Khoa, nằm cheo leo trên vách núi Vũ Di dựng đứng. Cây chè có tuổi đời 350 năm này chỉ có vỏn vẹn 3 thân và 6 gốc. Chúng thậm chí còn được liệt vào danh sách di sản tự nhiên và văn hóa thế giới.

Quốc trà Đại Hồng Bào được chế tạo một cách cực kỳ công phu, lá trà không bao giờ được phép chạm đất, chúng được hái bằng tay từ các bụi trà, làm khô, sàng lọc, phân loại và sấy bằng các phương pháp đặc biệt. Vì vậy, loại trà này không dùng phương pháp làm sạch thông thường như những loại trà phổ thông là rửa qua nước.

Năm 1998, trong lễ hội trà Đại Hồng Bào đầu tiên ở Trung Quốc, có người đã đấu giá 156.800 NDT chỉ để mua 20g loại trà này. Năm 2005, mức giá cho 20g trà đã lên tới 208.000 NDT, tương đương 10.400.000 NDT/kg (khoảng 37.400.000.000 VNĐ).

6. Saffron

Saffron là nhụy của hoa nghệ tây, là một trong những loại gia vị cao cấp và đắt nhất thế giới. Saffron thuộc họ diên vĩ, là loại cây bụi, chỉ cao chừng 20-30cm, có màu tím, nhụy màu đỏ cam. Saffron chỉ cho ra 3-4 hoa/cây, mỗi hoa chỉ có 3 nhuỵ.

Hoa nghệ tây chỉ nở trong một khoản thời gian ngắn trong năm (cuối tháng 10 đến đầu tháng 11 dương lịch). Ngoài ra, quá trình thu hoạch nhụy hoa nghệ tây cũng tốn rất nhiều thời gian và công sức: để thu hoạch được 500g nhụy hoa tươi cần đến khoảng 3.6000 hoa nghệ tây, tương tự để thu nhặt được 200.000 sợi nhụy hoa khô (500g) cần đến 70.000 hoa nghệ tây.

Nhụy hoa nghệ tây có rất nhiều chất đem lại sự công dụng đa dạng cho người dùng như: retinol, axit retinoic, retinal và các carotenoid tiền vitamin A, vitamin (B1, B2, B3, B6, B9, C), khoáng chất (Mangan, Sắt, Kali, Magie).  Bên cạnh các chất chính, trong nhụy hoa nghệ tây còn chứa tới hơn 150 hợp chất dễ bay hơi, ví dụ: Picrocrocin (được coi là hợp chất chính có tác dụng tạo ra hương vị đặc trưng của loại thảo dược này), Safranal (giúp mang lại một mùi thơm đặc biệt cho Saffron), Crocin (có vai trò hỗ trợ tạo nên màu cam đậm cho nhụy hoa nghệ tây, có tác dụng chống oxy hóa mạnh, đồng thời giúp bảo vệ, ngăn ngừa các tổn thương tự to đối với cơ thể)…

Với nhiều công dụng tuyệt vời cho sức khỏe con người và tính “khan hiếm” nên Saffron được mệnh danh là “vàng đỏ” phương Đông. Saffron đắt nhất có giá 40.000 NDT/kg (khoảng 138.000.000 VNĐ).

7. Sâm núi Trường Bạch

Khu vực núi Trường Bạch có bốn mùa rõ rệt, vào mùa không có tuyết bao phủ, lượng mưa vừa đủ, tỷ lệ che phủ rừng trên 90%, tầng đất mùn trong rừng râm mát, ẩm ướt, ánh nắng mặt trời,… tạo điều kiện đầy đủ cho sự phát triển của nhân sâm. Ngoài ra, kỹ thuật trồng trọt và phương pháp quản lý cũng vô cùng phức tạp, vốn đầu tư cũng lớn hơn nhiều so với quy trình trồng nhân sâm thông thường. Do đó, Sâm núi Trường Bạch có chất lượng vượt trội, hàm lượng Saponin cao hơn, hương vị mạnh mẽ và đặc biệt đại bổ cho sức khỏe. Và cũng chính vì vậy mà loại Sâm này chính là cực phẩm trong giới nhân sâm, có giá đắt đỏ hơn gấp trăm lần các loại sâm khác. Trước đây từng có người bán 80g Sâm núi Trường Bạch với giá khoảng 10.000.000 NDT (tương đương khoảng 34,5 tỷ VNĐ). 

Tại Trung Quốc, Sâm núi Trường Bạch được cung cấp 4 lựa chọn là sâm que, sâm cắt lát, sâm núi và sâm tươi cho người dùng có thể lựa chọn tùy nhu cầu thưởng thức và sử dụng của mình. Người dùng có thể linh hoạt sử dụng sâm để ngâm rượu, dùng trong thực phẩm cho các món hầm, pha trà sâm và làm bột sâm. hầm, pha trà sâm và làm bột sâm.

8. Vải Qua Lục

Vải vốn là một loại hoa quả phổ biến được nhiều người yêu thích không chỉ ở Trung Quốc mà ngay tại Việt Nam. Tuy nhiên, vải Qua Lục tại Trung Quốc lại được xem là một trong những loại quả có giá cao nhất thế giới. Đây là một giống vải có xuất xứ từ khu Tăng Thành, Quảng Châu. Quả tròn lẳn, khi chính có màu đỏ tím và một dải màu xanh lục chạy xuyên suốt vỏ, vì vậy được đặt tên là Qua Lục. Khi ăn có vị ngọt thanh đặc biệt.

Hiện nay, giống vải này còn rất ít và hiếm vì vậy giá của nó rất cao. Trong một phiên đấu giá tại Trung Quốc vào năm 2011, có 1kg vải Qua Lục đã được bán với giá lên đến 555.000 NDT (tương đương khoảng gần 2 tỷ VNĐ).

Vậy mới nói, chính những thực phẩm “đắt hơn vàng” này góp phần giúp cho danh tiếng nền ẩm thực Trung Hoa vang xa trên thế giới. Du khách hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi để có cơ hội khám phá nền ẩm thực đặc sắc của vùng đất này nhé!

Không Động – một trong ngũ đại môn phái võ thuật Trung Hoa

“Không Động” được biết tới là môn võ có nguồn gốc từ Trung Quốc, rất nổi tiếng và có ảnh hưởng sâu rộng. Xuất hiện trong tiểu thuyết võ thuật Kim Dung với rất nhiều tuyệt kỹ võ công. Ở ngoài đời, phái Không Động tồn tại với lịch sử võ thuật Trung Hoa cả ngàn năm.

Ở Trung Quốc, có 5 môn phái võ thuật lớn nhất đó là: Thiếu Lâm, Nga Mi, Võ Đang, Côn Lôn và Không Động. Đây cũng là một phần văn hóa Đạo giáo của Trung Quốc. Đặc biệt Không Động là phái võ thuật ra đời sớm nhất. Sở dĩ môn phái này có tên gọi như vậy bởi vì được bắt nguồn từ ngọn núi Không Động nổi tiếng thuộc địa phận thành phố Bình Lương, tỉnh Cam Túc. Từ xa xưa, ngọn núi này đã được mệnh danh là: “Trung Hoa Đạo giáo đệ nhất sơn”.

Phái Không Động hấp thu tinh hoa của nhiều môn phái võ thuật khác của Trung Quốc, rồi tạo ra đặc trưng của mình về thủ pháp, kỹ thuật, hệ thống võ thuật. Phái Không Động chú trọng thực chiến, dùng kỹ năng võ thuật để rèn luyện sức khỏe và gia tăng công lực.

Phái Không Động ra đời từ thời Đường. Chưởng phái đầu tiên là Phi Hồng Tử, người Cam Túc, đã hấp thụ các điệu múa của vùng Đôn Hoàng, hình thành võ công cao thâm, là nền tảng quan trọng của võ thuật phái Không Động. Đến cuối đời Thanh thì phái Không Động đạt độ cực thịnh. Đến thời hiện đại, phái Không Động không còn được nhắc đến nhiều, khiến không ít người nghĩ môn phái này chỉ là sản phẩm tưởng tượng trong tiểu thuyết võ hiệp.

Hiện nay, Không Động vẫn là danh môn chính phái, sử dụng kiếm thuật là chính. Ngoài ra, phái này còn sử dụng rất nhiều binh khí khác, như: đoản binh (đao, côn, chùy), trường binh (giáo, mác, kích, gậy, côn tam khúc), binh khí mềm (phất trần, roi, xích chùy) và kì binh (bánh xe phong hỏa, quạt càn khôn, đũa sắt). Đặc biệt, phái Không Động ưa thích sử dụng những vũ khí nhỏ gọn, dễ mang, dễ cất giấu, khó bị đối thủ phát hiện, nhưng trong giao đấu lại dễ giành chiến thắng bất ngờ như quạt, phất trần, roi,…

Võ thuật phái Không Động thiên về tính nhu, hoa mỹ; bộ tay, bộ chân, thân người thường tạo nên đường cong, đường cánh cung. Võ thuật phái Không Động hấp thu tư tưởng triết học âm dương Thái cực, tấn công, phòng thủ liên hoàn trong vận động. Khi tấn công trong động có tĩnh, tĩnh cực thì sinh động, cương nhu kết hợp. Ngay cả bài võ “Túy bát tiên” trong Thần Quyền Môn vốn nổi tiếng với tính rắn rỏi, cũng chú trọng khéo léo tấn công những bộ phận mềm như mắt, cổ đối phương, tránh dùng lực quá mạnh.

Võ thuật phái Không Động hội tụ cả những tinh túy của văn hóa Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo. Điều đó được thể hiện qua binh khí phái Không Động sử dụng như thuyền trượng, quạt, phất trần…, qua quyền thuật như La Hán Thập Tam Thủ, Phi Long Quyền, Không Động Thái Cực Quyền… Đây cũng là minh chứng cho sự hòa quyện giữa Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo trên núi Không Động.

Cách xưng hô người đứng đầu phái Không Động không giống một số môn phái khác. Người đứng đầu phái Thiếu Lâm gọi là “Trụ Trì”, đa số các môn phái khác như Nga Mi, Võ Đang gọi là “Chưởng môn”, thì với Không Động gọi là “Chưởng phái”. Nguyên nhân là vì phái Không Động bao gồm 8 hệ phái: Phi Long Môn, Truy Hồn Môn, Đoạt Mệnh Môn, Túy Môn, Thần Quyền Môn, Hoa Giá Môn, Kì Binh Môn và Huyền Không Môn. Đây là 8 bộ phận cấu thành phái Không Động, có tổng cộng 118 bài võ với kỹ năng võ thuật từ thấp đến cao, trong đó Huyền Không Môn được coi là báu vật của phái Không Động, thông thường chỉ được truyền thụ cho người được lựa chọn trở thành “Chưởng phái” tu luyện. Đứng đầu 8 hệ phái này là 8 Chưởng môn nhưng giữa họ có quan hệ ngang cấp, chỉ phụ trách quản lý đệ tử trong hệ phái của mình. Người có thân phận cao hơn họ là “Chưởng phái”.

Tiêu chuẩn lựa chọn Chưởng phái Không Động là người đó phải tinh thông 118 bài võ thuộc 8 hệ phái trên, nhưng các bài võ này có phong cách cương, nhu khác nhau, một người rất khó thành thục. Tuy nhiên, nếu không xuất hiện bậc kỳ tài võ học như vậy, thì trong giai đoạn đó phái Không Động không có “Chưởng phái”. Chính vì vậy, phái Không Động đi cùng lịch sử võ thuật Trung Quốc trong suốt hơn 1.000 năm qua, nhưng trên thực tế chỉ có 12 đời Chưởng phái. Chưởng phái đời thứ 12 là Phi Chân Tử (tên thật là Trần Hổ), hiện là Trưởng Đoàn biểu diễn võ thuật núi Không Động, Bình Lương, Cam Túc.

Hiện nay, môn phái Không Động vẫn tiếp tục phát triển, tại khu vực gần chân núi Không Động có Trường võ thuật Không Động, thuộc thành phố Lương Bình, được thành lập năm 1999. Về mặt truyền thụ võ công thì sư phụ (thầy dạy võ) cố gắng dạy đồ đệ, không để món võ công đó thất truyền. Thông thường một sư phụ thu nạp không quá 16 đồ đệ, thời gian truyền thụ thường là 3 năm. Trong số các đồ đệ, họ chọn ra 10 người xuất sắc, truyền thụ võ công cao cấp của phái Không Động, trở thành trợ thủ của Chưởng phái. Và thông thường, người nhập học trước là sư huynh, học sau là sư đệ, chứ không phân huynh, đệ bằng võ công cao, thấp. 

Qua những thông tin trên về võ thuật phái Không Động, hẳn du khách có thể phần nào thấy được đặc điểm diễn biến của nét văn hóa dân tộc Trung Hoa, từ nhận thức tự nhiên, tăng cường sức khỏe đến hoàn thiện bản thân. Nếu du khách có hứng thú với võ thuật phái Không Động và muốn tự mình khám phá nhiều thú vị hơn, đừng quên tham gia Tour Trung Quốc cùng chúng tôi nhé! 

 

Nghi thức “khóc cưới” trong hôn lễ của người Tujia ở Tứ Xuyên, Trung Quốc

“Khóc cưới” hay “khóc gả” là một nghi thức truyền thống trong hôn lễ của người Tujia (Thổ Gia) ở tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc. Dù muốn hay không, cô dâu buộc phải khóc trước ngày lên xe hoa. Với người Tujia, tiếng khóc trước ngày cưới thể hiện sự hiếu thảo, đức hạnh và trí tuệ của cô dâu. Tiếng khóc thay lời tạm biệt cha mẹ, người thân và chúc phúc cho cuộc sống hôn nhân của chính mình.

Nghi lễ khóc trong đám cưới phổ biến nhất là vào đầu thế kỷ 17 và tồn tại cho đến cuối triều đại nhà Thanh năm 1911. Theo lưu truyền, tập tục này bắt nguồn trong giai đoạn Chiến Quốc. Khi đó, công chúa nước Triệu được gả sang làm dâu nước khác. Khi công chúa sắp sửa bước chân về nhà chồng, hoàng hậu đã khóc dưới chân nàng và nói nàng hãy quay trở về sớm nhất có thể. Đây có thể coi là đám cưới “khóc” đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa.

Ngày nay, mặc dù tập tục này không còn phổ biến như xưa nữa những vẫn có rất nhiều gia đình tiếp tục giữ truyền thống này. Trong thực tế, đây là một thủ tục cần thiết trong đám cưới của người Tujia ở tỉnh Tứ Xuyên.

Đối với người Tujia, tiếng khóc biểu lộ cho niềm vui, sự gắn kết và tình yêu sâu sắc. Họ quan niệm việc khóc tập thể sẽ khiến cho bầu không khí đám cưới thêm phần náo nhiệt, đồng thời đẩy lùi những điều xui xẻo qua những lời than thở buồn bã và kéo niềm vui cùng với hạnh phúc tới. Bên cạnh đó, rất nhiều người lại cho rằng, các cô gái khi xưa bị gả về nhà chồng do “bố mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, họ không có quyền lên tiếng hay tự quyết định cuộc đời của mình, vì vậy đã dùng tiếng khóc ai oán để thể hiện nỗi lòng và sự bất mãn với xã hội.

Theo phong tục, cô dâu phải khóc 1 – 3 tháng, hoặc ít nhất 1 tuần trước đám cưới của mình. Cô dâu khóc càng to, càng nhiều thì càng chứng tỏ đó là một người con gái hiếu thảo, có đức hạnh và trí tuệ. Ngược lại, nếu cô dâu không khóc hoặc khóc ít, làng xóm sẽ chê cười, trách mắng, thậm chí còn bị cha mẹ đánh đòn. Người Tujia tin rằng, tiếng khóc càng não nề, cuộc sống hôn nhân của cô dâu càng hạnh phúc. Điểm đặc biệt, cô dâu Tujia không chỉ khóc một mình mà còn có sự tham gia của mẹ, bà ngoại, cô, dì và những người phụ nữ trong làng xóm. Mỗi người đến chào tạm biệt tặng cho cô dâu một món quà và họ cùng nhau khóc. Nếu người đến thăm không khóc sẽ bị coi là bất lịch sự và cô dâu cảm thấy bị coi thường.

Ở mỗi vùng khác nhau ở tỉnh Tứ Xuyên, tập tục này lại được thực hiện khác nhau. Ví dụ như ở miền Tây, phong tục này được gọi là “Zuo Tang” (có nghĩa là ngồi trong phòng lớn). Mỗi cô dâu trước khi cưới một tháng đều được yêu cầu vào ngồi trong một căn phòng và khóc. Trong suốt cả tháng trời ấy, người con gái sắp về nhà chồng hàng đêm đều phải vào căn phòng đó và khóc trong khoảng thời gian một tiếng đồng hồ. Sau đó khoảng 10 ngày mẹ cô sẽ vào và khóc cùng cô. 10 ngày sau là bà và sau đó mấy ngày các dì và các chị gái sẽ cùng nhập bữa tiệc “khóc”. Vào ngày cuối trước khi kết hôn, gia đình cô dâu mời thêm 9 cô gái chưa lấy chồng trong làng đến để khóc cùng, như lời động viên, an ủi đối với cô dâu. Đến nửa đêm, cô dâu khóc cảm ơn và mời những người bạn của mình ăn. 

Khóc không chỉ đơn giản là chảy nước mắt mà còn có cả một bài hát phụ họa có tên “Bài ca than khóc trong đám cưới”. Đây là lời trong một bài thơ được hát lên để làm cho không khí đám cưới được tốt đẹp. Ngoài ra còn một số bài hát khác có chủ đề về sự siêng năng, nghi thức xã giao và lòng hiếu thảo với cha mẹ cũng được hát nhân dịp này. Nội dung của khóc cưới cũng rất đa dạng, gồm khóc tổ tiên, cha mẹ, người thân, khóc chính mình và khóc bà mai. Khóc cưới cũng là tiếng lòng tiếc thương cho số phận bất hạnh của những cô dâu Tujia thời phong kiến.

Ngày nay, tục khóc cưới dần bị mai một và biến mất ở nhiều nơi. Thay vì vài tháng, các cô dâu hiện đại chỉ cần khóc cưới vài tiếng trước khi lên xe hoa. Họ cũng không cần học các khúc ca từ khi còn nhỏ. Đến Tứ Xuyên, du khách có thể gặp những đám cưới truyền thống với tục khóc cưới độc đáo này.

Tục “khóc gả” của người Tujia đã góp phần tạo nên một nét văn hóa rất đặc sắc của Trung Quốc. Nếu du khách muốn khám phá nhiều hơn về đất nước xinh đẹp này thì hãy đặt ngay cho mình một Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! Chúc du khách sẽ có được những hiểu biết bổ ích trong chuyến du lịch này!

Môn thần trong tín ngưỡng dân gian Trung Quốc

Nếu như cửa gỗ là loại cửa đã ăn sâu vào nếp sống văn hóa của người Trung Hoa thì Môn thần – thần giữ cửa là một phần không thể thiếu trong một ngôi nhà. Mặc dù, trong cuộc sống hiện đại, Môn thần đã không còn xuất hiện nhiều, nhưng nó vẫn là một nét đẹp văn hóa trong nếp sống của mỗi người dân Trung Hoa.

Môn Thần là một vị thần thường được người dân đặt ở 2 bên cổng vào một ngôi chùa, nhà ở hay tiệm kinh doanh… để cầu mong thần linh sẽ phù hộ cho gia đình quanh năm được bình an, không bị ma quỷ trêu chọc, và có cuộc sống tốt lành, của cải dồi dào, vận hội phơi phới.

Khởi nguyên của việc thờ Môn thần này xuất phát từ sự sùng bái tự nhiên cách đây hàng nghìn năm của Trung Hoa, lúc con người còn sợ sấm sét, mưa gió, thú dữ, kẻ ác vào nhà, và để ngăn ngừa những điều dữ tới, dân gian đã bài trí, treo dán trước cổng hình tượng của các linh thú, tôn thần có sức mạnh to lớn trấn áp ma tà, khi nhìn vào yêu ma quỷ quái, kẻ trộm đều phải sợ hãi tháo chạy.

Lúc đầu, họ trưng Chu Tước là loài chim giống như sư tử, con rồng song có cánh, phun ra lửa… với niềm tin nó có thể tiêu diệt mọi rắn rết, sói cầy, không cho chúng xâm hại ngôi nhà. Sau này, trong từng thời đại, nảy sinh các thiên thần, thổ thần, nhân thần, các danh tướng có công bảo vệ biên cương – triều đại thì họ lại chuyển sang thờ một người cụ thể được phong thần.

Về thiên thần, mọi nhà thường thờ Thần Đồ và Uất Lũy, hai vị thượng tiên đã xuất hiện từ thời Hoàng Đế. Truyền thuyết kể rằng, trên núi Độ Sóc ở Đông Hải có một cây đào lớn, cành nhánh uốn cong, lá tươi tốt um tùm, vươn dài đến 3.000 dặm. Trên cây có một con gà vàng, phía dưới có hai vị thần tiên, một người tên Thần Đồ, người kia tên Uất Luỹ. Họ đứng dưới gốc cây đào, quan sát hành tung của bách quỷ. Gặp phải ác quỷ nào vô cớ gây hoạ, gây hại cho nhân loại, hai vị thần liền dùng dây thừng trói quỷ lại đưa xuống dưới núi cho hổ ăn thịt. Về sau, mỗi khi gặp lúc trừ tịch năm cũ, mọi người liền đặt hình người được tạc bằng gỗ cây đào, còn vẽ thêm Thần Đồ, Uất Luỹ và hổ để xua đuổi tà ma ác quỷ.

Hai vị thần tiên này có thể hàng phục ma quỷ, hình tượng của họ đương nhiên cũng dữ dằn đáng sợ. Bức hoạ trong Tam giáo nguyên lưu sưu thần đại toàn là tôn dung của hai vị đại thần này. Họ phanh ngực, tay cầm kiếm, tóc dựng đứng như sừng trên đầu, chân mày nhô cao, đỉnh đầu như gò, mày ngang mắt dọc, trong nụ cười nhạt ẩn chứa sát cơ, đúng là hình tượng vị sát thần hung bạo. Có như thế, ác quỷ mới nhìn đã sợ, nghe hơi gió mà chạy. Về sau mọi người không treo hình tượng nữa mà chỉ treo trên cánh cửa một nhánh đào, hoặc dùng bút lông viết ra tôn danh của hai vị thần, hoặc giả viết lên nhành đào mấy câu thần chú. Như vậy, tà ma quỷ quái nhìn thấy liền dừng bước. Trừ tịch hàng năm đều như thế, đó gọi là “tân đào hoán cựu phù”.

Một lần, nhân hai vị đi dự hội Bàn đào trên thiên đình, một bầy quỷ đã thoát ra gây hại. Tiếng khóc của dân chúng vang trời, Thần Đồ – Uất Lũy liền hiện lên và thay vì cứ trừng phạt chúng mãi, các ngài đã cho dân gian một cành đào, dạy họ cách trồng trọt và treo những sợi dây hồng điều lên hoa đặt ở trước cửa, khiến ma quỷ nhìn thấy đã kinh hãi, tưởng thần giáng lâm. Hôm nay, tục này vẫn còn, khi nhà nhà đều trưng cành đào và dây đỏ sặc sỡ đính ba chữ Phúc, Lộc, Thọ. Từ màu đỏ của đào, người ta cũng mặc áo đỏ để lúc nào cũng may mắn, tươi đẹp.

Từ đời Hán, họ còn bắt đầu đặt tượng và dán hình ảnh của Thần Đồ – Uất Lũy lên hai bên cánh cửa bởi dùng hình ảnh tôn thần có lẽ sẽ hay hơn là chỉ dùng hình ảnh hoa đào. Thần Đồ – Uất Lũy hay được thấy cầm một cái roi, dây tiên, cũng thường bưng khay đào và có những đồng nhi để tóc trái đáo đứng cạnh, nhằm tăng thêm sự uy nghi cũng như hiền từ, nhân ái.

Về nhân thần, người ta thường thấy Tần Quỳnh (Tần Thúc Bảo) và Uất Trì Cung (Uất Trì Kính Đức), hai tướng quân oai dũng dưới thời Đường Thái Tông. Đây là hai nhân vật lừng lẫy đã giúp hoàng tử Lý Thế Dân dành được ngôi báu, dẹp loạn trong triều nên ai cũng kính sợ. Tương truyền, Đường Thái Tông (Lý Thế Dân) thường xuyên nằm mơ thấy ma quỷ kêu khóc ném đá vào mình, ngài ngủ không yên giấc. Ngài bèn sai hai vị tướng thân cận và trung thành nhất của mình là Tần Thúc Bảo và Uất Trì Kính Đức hàng đêm đứng canh cho ngài ngủ, cũng từ đó không mơ thấy có ma tà quấy nhiễu nữa. Việc hai ngài canh giữ cho giấc ngủ của vua cũng chính là canh giữ cho giang sơn Đại Đường. Cũng từ ấy, hai ngài được người dân tôn làm môn thần, trường treo dán hình hai ngài ở trước cửa với niềm tin rằng ma mị chẳng thể quấy rối. Tần Thúc Bảo chính là Tả Môn Thần đứng canh ở phía tay trái, Uất Trì Kính Đức là Hữu Môn Thần đứng phía bên tay phải, hai ngài luôn trong tư thế nghiêm nghị, mặt đối mặt, nhằm tập trung ánh nhìn vào người đang đi tới và đi vào giữa cổng, đảm bảo người này luôn được theo dõi. Hình ảnh hai vị thường mặc giáp trụ, cầm vũ khí như đao, kiếm, thương, kích, chùy,… đôi khi còn cưỡi ngựa, hùm báo khoe diễu đầy sự hùng dũng – mạnh mẽ, một vị có sắc mặt đen xì hoặc đỏ rực, một vị lại có mặt trắng toát/ xanh đậm, một vị để râu rậm một vòm, vị kia râu lưa thưa ba chùm, song cả hai đều có mày xếch lên, gương mặt cương nghị hoặc tức giận.

Cùng là tướng quân, song theo quan niệm, tính khí của mỗi vùng, mỗi nhà hay mỗi người khác nhau, hình ảnh của Tần Thúc Bảo và Uất Trì Kính Đức sẽ mang các diện mạo, trang phục, sắc màu riêng, mà thông thường còn thêm nhiều yếu tố thần thoại, tức là đưa thần tiên vào con người thật, như để trên vai hai vị có các dải lụa bay bay như trên thiên đình xuống, và đồng hóa hai vị với tứ đại thiên vương theo tín ngưỡng đạo Lão.

Cũng từ đây, sinh ra văn thần và võ thần cùng là môn thần song thể hiện khác biệt; văn thần luôn có dáng vẻ nho nhã, dịu dàng, mặc triều phục, cầm lệnh bài, thẻ ngọc còn võ thần thì phương phi, quắc thước, vận vũ trang, lăm lăm trên tay đả khí. Song dù là hình hài chi, hai vị này đều có thần thái rất trang nghiêm, uy phong, lộng lẫy với những sắc màu trang phục như đỏ, cam, hồng, vàng… đem tới sự ấm cúng, ấm no, vui vẻ, hoạt bát cùng nhiều năng lượng tích cực trong ngày xuân. Với dáng vẻ lồng lộng ấy, dân gian tin rằng các ngài vừa bảo vệ toàn gia trong tân niên được bình yên, còn chiêu tài, tiến bảo, kích thích bổng lộc, công danh, phú quý.

Cũng có nơi, do cửa cổng chỉ có một cánh nên người ta chỉ dán một vị thần, mà thường là thần Chung Quỳ và Ngụy Trưng. Trong tín ngưỡng bản địa Trung Quốc, Chung Quỳ cai quản thế giới âm ty, chuyên bắt ma, trừng quỷ, những con vật từ cõi u minh lai vãng nhân sinh. Vì thế, ngài được gọi là một trong Tứ đại phúc đức trấn trạch thánh quân hay Khu ma đế vương. Chuyện kể rằng Chung Quỳ vốn là một người rất thông minh, giỏi giang nên đỗ trạng nguyên, song vì dung mạo gớm ghiếc, khó coi nêm không được triều đình trưng dụng. Buồn giận, ngài đã đập đầu vào cổng thành tự vẫn.

Ở địa phủ, thấy ngài nhân hậu – trí dũng, giỏi cả văn lẫn võ, diêm vương đã phong ngài là vua của mọi ma quái và cho cai quản tới 80 nghìn quỷ binh, cùng đó là nhiệm vụ giáng ma trừ yêu tại nhân gian, cứ có một ma tà nào trốn khỏi địa ngục là ông sẽ đi lên trần đuổi bắt. Đến thời Đường Huyền Tông, có một con quỷ bỗng dưng lẻn vào hoàng cung ăn trộm một cây trâm. Trong giấc mơ của mình, vua Đường thấy hiện ra hai con quỷ, một con quỷ bé nhỏ đang đánh cắp một cây trâm ngọc của Dương Quý Phi và một cây sáo ngọc của chính đức vua và bị con quỷ to lớn hơn chộp lấy, nuốt chửng.

Vua khiếp đảm vấn hỏi thì quỷ vương tự xưng là Chung Quỳ, kể lại nguồn cơn như đã thi đỗ ra sao rồi quyên sinh… và giờ nguyện đi bắt ma để phá bỏ mọi ma tà, tai ách cho đời, nói xong biến mất. Tỉnh dậy, ông lập tức cho họa sĩ vẽ lại và làm nên bức tranh Xu điện Chung Quỷ đồ đem treo ở bất cứ đâu, nơi ấy không có tà tính, không có tiếng người than khóc, đau buồn. Dân gian vì vậy thường vẽ Chung Quỳ như một quan nhân, đầu đội mũ ô sa tay cầm kiếm – quạt, tướng mạo rất dữ dằn, trấn giữ tại cửa để ngăn cản mọi điều hắc ám.

Tại miền Nam Trung Quốc, Chung Quỳ cũng hay được thờ với hai vị Huyền Quan và Quan Vũ tạo thành bộ ba trấn địa thánh quân. Từ Tết Nguyên đán cho tới hết rằm tháng Giêng (Tết Nguyên tiêu), mọi nhà ở đây từ nhà dân tới cửa hàng, cửa hiệu đều dán hình ngài ở cửa vì họ tin rằng, đây là lúc ma đói thượng trần, nên ai nấy có đồ ngon, của ngọt đều mang ra dâng cúng tổ tiên, bố thí cô hồn, song để tránh cảnh chen lấn xô đẩy, dành giật… họ cũng nghĩ tới Chung Quỳ như một vị thần trung chính, công minh và sự hiển hiện của thần ngoài trừng ma còn mang đến sự no đủ, thôi đói rét.

Tựu trung, mỗi Môn thần đều được thể hiện rất sặc sỡ, đa dạng, phong phú ngoài cửa, có bao nhiêu lớp cửa thì sẽ dán từng ấy hình tượng thần khác lạ. Riêng với văn thần, còn thấy trong từng phòng, nơi học tập, văn nghệ của gia đình, nhằm đi sâu vào từng khía cạnh đời sống, phù hộ người dân an khang, thịnh vượng.

Văn hóa Trung Hoa có rất nhiều điều thú vị và hấp dẫn đang chờ đón du khách đến tìm hiểu và khám phá. Vậy còn chần chờ gì nữa mà du khách không book ngay cho mình một Tour Trung Quốc để có được những trải nghiệm tuyệt vời khi đặt chân đến vùng đất rộng lớn này!

Kẹo đường thổi – “tác phẩm nghệ thuật” trong ẩm thực Trung Hoa

Khám phá văn hóa truyền thống của một vùng đất nào đó, du khách sẽ phát hiện ra đôi lúc món ăn không chỉ để thưởng thức mà đó còn là một nghệ thuật. Và đến Trung Quốc, du khách cũng sẽ thích thú với một văn hóa làm kẹo có từ lâu đời đặc sắc mang tên “Kẹo đường thổi”. 

Kẹo đường thổi là một loại hình nghệ thuật dân gian của người Trung Hoa xưa. Loại hình nghệ thuật này có tên gọi gốc là “những hình nhân kẹo” với lịch sử hơn 600 năm. Những phần kẹo được làm từ một loại đường nóng và có độ dẻo mịn. Điểm đặc biệt ở đây là món không được chế biến theo kiểu thông thường mà người thợ phải thổi để tạo hình cho chúng.

Được biết, Kẹo đường thổi xuất hiện từ thời nhà Minh. Vào thời này, người Trung Quốc thường nấu chảy đường, sau đó đổ vào khuôn để tạo nên những hình nhân kẹo nhằm phục vụ cho việc cúng bái trong tôn giáo. Đến thời nhà Thanh, những chiếc kẹo trở nên phổ biến hơn với người dân và người ta đã bắt đầu làm và bán chúng trên đường phố. Và dần Kẹo đường thổi trở thành một nghệ thuật dân gian mang tính truyền thống. 

Chỉ với một nguyên liệu duy nhất là mạch nha hoặc đường nấu chảy thôi mà những nghệ nhân cũng đã khéo léo thổi, kéo, nặn chúng thành những miếng kẹo mang hình dáng sinh động, tạo niềm vui cho biết bao khách hàng nhỏ của mình.

Kẹo đường thổi có kết cấu của những cục đường có độ dẻo mịn là nhờ người thợ nhào chúng rất kĩ và qua nhiều lần. Kỹ thuật làm loại kẹo đường thổi rất đa dạng, mỗi người bán kẹo có thể có cách làm khác nhau để tạo nét riêng cho những sản phẩm của mình. Nhưng cơ bản nhất vẫn là đun mạch nha đến khi đạt được một kết cấu đặc và dẻo như đất sét. Sau đó, nghệ nhân sẽ dùng tay ngắt ra một ít mạch nha từ hỗn hợp trên theo kích thước của nhân vật họ muốn nặn. Rồi bằng cách tài tình của mình, các nghệ nhân thổi hơi vào bên trong viên mạch nha qua “chiếc đuôi” để làm cho viên kẹo phồng lên. Chỉ một lát sau, cục đường lúc nãy đã dần phình to ra như quả bóng. Để tạo hình thì nghệ nhân sẽ vừa nắn vừa thổi. Như thế mà từ từ những phần kẹo mang hình dáng theo yêu cầu sẽ được hoàn thành. Sau khi đã đạt được kích thước hợp lý thì họ sẽ dùng một que tre có phủ đường để cắm vào phần kẹo và cắt bỏ sợi đường dư. Cuối cùng, người thợ tô vẽ thêm vài màu sắc để tạo thành sản phẩm hoàn chỉnh.

Tác phẩm hoàn thành sẽ là những phần kẹo trông như quả bóng nhưng lại ngọt ngào và xinh xắn. Cái hay ở đây chính là sự khéo léo của những người nghệ nhân, làm sao điều chỉnh được lượng khí cũng như nắn nót tạo hình sao cho thật đẹp. Người mua có thể yêu cầu bất kì kiểu dáng nào để người thợ làm ra, nhưng thường là các con vật, hồ lô,…

Kẹo đường thổi ngày xưa là niềm vui của những đứa trẻ ở Trung Quốc. Khi có một hàng kẹo được bày ra là cả đám tụm lại chăm chú theo dõi những đôi tay thoăn thoắt hô biến ra nào là con rồng, con ngựa, con thỏ hay bông hoa,… Và dần chúng đã trở thành một nghệ thuật dân gian mang tính truyền thống. Tuy nhiên, ngày nay, văn hóa này dường như đã mai một và rất khó để tìm thấy ở Trung Quốc. Nhưng đây lại là một phần ký ức tuổi thơ của biêt bao người dân Trung Hoa. Món quà tuy nhỏ bé, đơn giản nhưng chứa đựng trong đó nhiều tâm huyết của những nghệ nhân, niềm vui của các em nhỏ và kỷ niệm ấu thơ của nhiều người.

Văn hóa Trung Hoa có rất nhiều điều thú vị và hấp dẫn đang chờ đón du khách đến tìm hiểu và khám phá. Vậy còn chần chờ gì nữa mà du khách không book ngay cho mình một Tour Trung Quốc để có được những trải nghiệm tuyệt vời khi đặt chân đến vùng đất rộng lớn này!

Thạch giun biển – món ăn với hình dáng kinh dị, nhưng ai ăn thử cũng “nghiện”

Thông thường khi nhắc đến thạch, chúng ta sẽ nghĩ đến những món tráng miệng ngọt, thơm, được làm từ các loại trái cây, sữa, đường, kem… Tuy nhiên, phiên bản thạch “mặn” có tên là “Thạch giun biển” ở Trung Quốc đã đem đến sự khác biệt lớn. 

Ở thành phố Hạ Môn của Trung Quốc có một món ăn vặt truyền thống, người dân khuyến khích nên thử và được giới thiệu là có nguyên liệu và kết cấu lạ lẫm, đặc biệt màu sắc lẫn hương vị thơm ngon, đó là món “Thạch giun biển”. Tuy nhiên, khi nghe cái tên của nó, không ít khách du lịch nước ngoài phải kinh sợ. 

Theo lịch sử địa phương, món thạch giun biển đã có từ lâu, gắn liền với sự sáng tạo của quân lính trong thời chiến ngày xưa. Người ta kể rằng, món này có liên quan tới Thích Kế Quang. Vào thời nhà Minh, khi quân Nhật xâm chiếm bờ biển phía đông nam Trung Quốc. Thích Kế Quang dẫn đầu đoàn quân liều mình đánh trả quân Nhật, nhưng vì thiếu lương thực nên họ buộc phải đi bắt hải sản ở bãi triều (một vùng đất ngập nước ven biển). Khi đi bắt ốc, quân lính vô tình bắt được một loài giun biển có hình dáng đặc biệt, họ đã nấu riêng loại giun này và tạo ra món ăn như bây giờ.

Loại giun biển được nhắc đến trong món thạch này thuộc bộ Sphaerocarpus, có tên khoa học là Leucocephalus serrata. Giun biển dài khoảng 1-2cm, sau khi luộc chín, gelatin chứa trong cơ thể giun sẽ hòa tan trong nước, đợi nó nguội sẽ trở thành món thạch trong suốt. Nhìn miếng thạch giun biển như rau câu, nhưng khi ăn vào lại có vị hoàn toàn khác hẳn, mặn mặn, béo béo, vị rất ngon.

Sau khi đánh bắt ở các bãi triều, giun biển được ngâm muối để nhả hết cát và chất bẩn. Sau khi luộc lên, người ta thường cho giun vào những khuôn nhỏ để làm thạch. Khi nguội, những viên thạch được tách khỏi khuôn.

Thạch giun biển trong suốt nhìn thấy rõ từng con giun bên trong, khi ăn rất giòn, dẻo. Lần đầu ăn, có lẽ không ít người choáng váng không dám nhìn chứ đừng nói là ăn thử. Thế nhưng, cứ thử “liều”, du khách sẽ cảm nhận được vị ngon của nó và dần chuyển sang sự thích thú.

Nếu có dịp du lịch Trung Quốc và ghé thăm vùng đất Hạ Môn xinh đẹp, du khách đừng bỏ qua cơ hội thưởng thức món thạch độc đáo này nhé!

Bún chuột gạo – món ăn nghe “đáng sợ” nhưng rất lại rất ngon ở Trung Quốc

Là một đất nước rộng lớn và đông dân, Trung Quốc sở hữu nền ẩm thực vô cùng phong phú và đa dạng. Mỗi vùng miền lại có những đặc trưng ẩm thực riêng. Bên cạnh những món ăn thơm ngon, hấp dẫn từ hình thức đến chất lượng thì ẩm thực Trung Quốc cũng có nhiều món ăn trông có vẻ “đáng sợ”, điển hình như món Bún chuột gạo. 

Bún chuột gạo, một đặc sản nức tiếng nhưng cũng gây rất nhiều tranh cãi ở tỉnh Mê Châu. Món ăn này có cái tên nghe rất lạ, thậm chí dù sau khi nhìn thấy cũng chưa chắc dám thưởng thức. Thế nhưng nhiều khi “nhắm mắt làm liều” ăn thử lại thấy nó rất ngon, hoàn toàn trái ngược với tên món ăn hay vẻ bề ngoài.

Bún chuột gạo, cái tên nghe khó hiểu này khiến nhiều người nghĩ rằng đây là một loại thực phẩm được làm bằng thứ gì đó có liên quan tới chuột. Thế nhưng, trên thực tế, nó là một loại mì ống ở Châu Mỹ hay còn được gọi là bún ở Trung Quốc. Không biết từ bao giờ nó đã trở thành một đặc sản địa phương, bởi một phần vẻ ngoài của nó trông giống như đuôi của con chuột. Có lẽ vì thế mà nhiều người đặt tên là “bún chuột gạo”.

Đừng vội đánh giá thấp loại bún này, nó rất nổi tiếng ở địa phương và nhiều người khẳng định là có hương vị tuyệt vời. Khác với những loại bún thông thường dài và mảnh, bún chuột gạo cũng được làm từ bột gạo nhưng nó dai hơn. Nước dùng khi ăn cùng với loại bún này cũng đa dạng và tùy vào từng quán mà có hương vị đặc trưng riêng.

Bún chuột gạo thường được người dân ăn nhiều nhất vào mùa hè và có thể tìm mua thấy quanh năm. Một số khách du lịch khi đến Mê Châu lần đầu tiên đều được gợi ý là nên ăn thử món này đầu tiên, nhưng sau khi nghe tên thì họ lại cảm thấy phân vân và hiểu nhầm. Tuy nhiên, khi đã ăn thử thì nó thực sự rất ngon và đáng để thưởng thức.

Ở Trung Quốc còn rất nhiều món ăn “độc lạ”. Nếu du khách muốn khám phá nhiều hơn về nền ẩm thực Trung Hoa cũng như những món ăn nổi tiếng của đất nước này thì hãy book tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! Chúc du khách có một chuyến du lịch thú vị và vui vẻ!

Lianzi Mantou – loại bánh có hình dáng rất đặc biệt ở Sơn Đông, Trung Quốc

Sơn Đông đang là điểm du lịch thu hút đối với nhiều bạn bè quốc tế. Ngoài được tham quan và khám phá những thắng cảnh đẹp, du khách còn được thưởng thức các món ăn đặc sản Sơn Đông vô cùng đa dạng và hấp dẫn, điển hình như món bánh Lianzi Mantou. Loại bánh này có hình dáng rất đặc biệt, mùi vị rất ngon và là đặc sản nức tiếng tỉnh Sơn Đông.

Bánh Lianzi Mantou (bánh hấp ký) đã có lịch sử hơn 100 năm, xuất hiện từ thời Càn Long Đế của nhà Thanh. Vào mỗi dịp năm mới, người dân sẽ làm món này để cầu chúc cho con cái trở thành quan chức.

Loại bánh này có màu trắng, hình dáng bóng bẩy, vị ngọt thanh, mùi rất thơm, mềm tan trong miệng, hàm lượng dinh dưỡng rất cao nên phù hợp với mọi lứa tuổi. Nó sử dụng lúa mì chất lượng cao, thêm men, muối soda, nhào nhiều lần rồi cắt thành từng đoạn, tạo hình bằng tay. Nó được quấn vào một xiên tre rồi cho vào nồi hấp, đầu nhọn, ở giữa phình to, chỉ cần hấp 20 phút là có thể ăn được. Cách làm về cơ bản không khác gì màn thầu, nhưng kích thước của nó có thể lên tới 20cm, đường kính 3,5cm.

Tại Quảng Đông, thương hiệu bánh Lianzi Mantou của ông Trần Diễm Cường nổi tiếng khắp nơi. Ông Trần có hơn 20 năm với nghề làm bánh này, bánh của ông có mùi vị rất riêng, khó nơi nào sánh bằng. Ông là người thứ 5 thừa kế truyền thống này của gia đình, phần lớn bánh ông làm đều là thủ công, nhưng ông sắp sửa chuyển đổi sản xuất để gia tăng số lượng bánh làm ra. Ông cho biết, loại bánh này rất được ưa chuộng, trung bình mỗi ngày bán khoảng 7 tấn, đó thực sự là một con số rất khủng. Bánh Lianzi Mantou của ông Trần Diễm Cường đã đăng ký thành công “Di sản văn hóa phi vật thể Đức Châu”, đạt danh hiệu “Thương hiệu lâu đời Đức Châu” và được công nhận là “món ăn nhẹ nổi tiếng nhất Sơn Đông”.

Trong hành du lịch Trung Quốc, du khách hãy nhớ ghé thăm vùng đất Sơn Đông xinh đẹp dể thưởng thức món bánh Lianzi Mantou nức tiếng này nhé! Chắc chắn đó là một trải nghiệm ẩm thực mà du khách khó lòng quên được!