“Say lòng” ẩm thực Hạ Môn, Trung Quốc

Từng được biết đến với cái tên Amoy, Hạ Môn đã giao dịch châu Âu từ thế kỷ 16 và sau này trở thành một cảng hiệp ước. Ngày nay, hòn đảo nổi tiếng là “thiên đường” của những tín đồ ăn uống, những món ăn đặc sắc, đa dạng khiến nhiều khách du lịch phải lưu luyến không quên sau khi thưởng ẩm thực nơi đây. 

Ẩm thực Hạ Môn là đại diện chính của món ăn Phúc Kiến nổi tiếng khắp Trung Quốc. Bên cạnh các món ăn Hạ Môn, thực phẩm của các bộ phận khác của đất nước cũng có thể được tìm thấy ở đây, làm cho Hạ Môn là một điểm đến ưa thích của du khách trong và ngoài nước.

Các món ăn của Hạ Môn luôn mang đặc trưng: tươi, giòn và hơi cay trong hương vị. Dưới đây là 7 món ăn đặc trưng của ẩm thực Hạ Môn: 

Mian Xian Hu

Nằm trong danh sách những món ăn đặc sản của ẩm thực Hạ Môn thì cái tên phải được nhắc đến đầu tiên chính là Mian Xian Hu hay còn gọi là Gluey Noodles (mì keo).

Điểm ấn tượng nhất của món mì này nằm ở phần nước dùng được nấu bởi các loại hải sản khác nhau như: tôm, ngao, sò, mực,… Cuối cùng mới cho thêm mì vào nước dùng, đun sôi, gia giảm muối, hạt tiêu và thảo mộc.

Vào buổi sáng, người dân Hạ Môn thường thưởng thức món mì này cùng với bánh bột khô. Sự kết hợp của bánh bột khô với Mian Xian Hu khiến món mì thêm hấp dẫn và trọn vị.

Sha Cha Mian

Sha Cha Mian là một món ăn khá phổ biến ở Hạ Môn và được bán ở hầu hết các cửa hàng mì dọc theo đường Zhongshan Lu. 

Súp có màu đỏ cam vô cùng bắt mắt bởi được chế biến từ lạc (đậu phộng) được nghiền thành bột nấu cùng nước hải sản. Lạc được nghiền sẽ tạo nên độ sệt của súp, đồng thời trở thành dầu ăn tự nhiên giúp món ăn thêm phần béo ngậy, đặc biệt dầu lạc lại vô cùng tốt cho sức khỏe nữa. Súp có thêm sự góp mặt của nước hầm thịt heo hoặc xương gà, và cũng không thể quên thêm vài thìa sa tế cay xé lưỡi được. Tùy từng nhà hàng mà công thức nấu có thể khác nhau như cho thêm nấm, gan heo, đậu phụ,…

Món súp này được ăn kèm với bánh phở là chủ yếu, ngoài ra có thể ăn cùng với bánh mì hoặc bất cứ thứ gì thực khách muốn. 

Súp đậu phộng

Súp đậu phộng là một trong 10 món đặc sản Hạ Môn được người dân lẫn khách du lịch vô cùng yêu thích. Mặc dù Súp đậu phộng là món ăn phổ biến trên toàn thế giới nhưng đối với người dân địa phương thì đây vẫn xứng đáng là món ăn được ưa chuộng nhất. 

Tuy phổ biến nhưng để chế biến súp đậu phộng thì lại không hề dễ dàng. Lạc phải được ngâm, tách vỏ và hầm lên trong nhiều giờ. Hầm xong mới được thêm đường.

Người dân Hạ Môn thường dùng món súp đậu phộng cho bữa ăn sáng. Thưởng thức món súp đậu phộng sẽ được trọn vị hơn khi dùng kèm với bánh rán chiên, bột chiên giòn, bánh thịt, bánh ngọt hoặc cơm chiên.

Gulangyu Fish Ball

Gulangyu Fish Ball (Chả cá viên) là một trong những món ăn nổi tiếng nhất trên đảo Gulangyu, Hạ Môn. Món ăn này được làm từ thịt cá xay mịn (bột cá) và được phục vụ với súp nóng cùng hạt tiêu. Khi thưởng thức chả cá viên, du khách sẽ cảm nhận được sự mềm mọng, hương vị tinh tế với kết cấu mịn như tan chảy trong miệng.

Trên đảo Gulangyu có ba cửa hàng phục vụ chả cá viên là: Longtou Fish Ball, Yuan Xiang Kou Fish Ball và Linji Fish Ball.

Spring Roll

Spring Roll hay Chun Juan, Bo Bin, nem rán theo phương ngữ người Việt – là một trong những món ăn phương Đông mang tính chất hài hòa âm dương nhất. Nhân nem gồm các thành phần như, đậu phụ khô, giá đỗ, cá, măng tre, hàu, cà rốt, tôm thái hạt lựu,… chủ yếu có thêm nhiều là rau và hải sản là phần không thể thiếu. Các nguyên liệu này sẽ được băm nhuyễn, thêm gia vị cho thật vừa miệng rồi cuốn vào trong một miếng bột mỏng (bánh đa hoặc vỏ bánh bò bía). Rán nem ngập dầu để nem vàng đều, giòn rụm và không ngấm mỡ.

Nem rán Hạ Môn sẽ được phục vụ kèm với các loại xốt hoặc hỗn hợp xốt gồm: xốt ớt, mù tạt, mận, tỏi tây, trứng bác, mùi tây,… hoặc làm sốt theo yêu cầu của thực khách. Nem rán nóng giòn, nhân mềm mại đậm đà quyện cùng thứ nước chấm đặc trưng cay nồng sẽ làm cho những ai đã từng thử qua món ăn này say đắm luôn từ miếng cắn đầu tiên.

Trứng chiên hàu

Hàu là một loại hải sản ngon và chứa rất nhiều chất dinh dưỡng cực tốt cho sức khỏe. Hàu có thể dễ dàng chế biến được rất nhiều món ngon, trong đó nổi bật là món Trứng chiên hàu. Trứng được khuấy đều với những con hàu đã làm sạch, chiên lên cùng gia vị, ớt và hành. Trứng thì giòn, thơm lựng hòa với sự béo bùi, đậm đà của hàu tươi sẽ làm bất cứ ai dù khó tính nhất cũng phải “gật gù” khen ngon. Tại Hạ Môn, Trứng chiên hàu thường được bán ở chợ đêm.

Sandworm Jelly

Sandworm Jelly là một loại sâu sinh sống ở lớp đáy bùn ở dưới biển sâu. Loài sâu này sẽ được làm sạch và sau đó đem nấu chín. Bởi Sandworm chứa gelatin, nên sau khi nấu chín, chất gelatin được trộn với nước, rồi đổ vào khuôn để đông thành thạch bằng hơi lạnh.

Món thạch đặc biệt này sẽ được phục vụ với nước xốt tỏi, giấm, củ cải, mù tạt và các loại gia vị mang tính cay nóng khác. Đây là món ăn khá lạ, giàu protein mà du khách nên thử khi đến Hạ Môn.

Ngoài 7 món đặc sản trên đây, ẩm thực Hạ Môn còn làm “say lòng” khách thập phương bởi các món: mì bột chè, cháo vịt, măng đất đông (thạch măng đất), thịt đậy kín Đồng An, bánh ú nhân thịt, tào phớ,… 

Những món ăn thơm ngon hấp dẫn, cùng cảnh quan đẹp của thành phố Hạ Môn đang chào đón du khách đến khám phá và trải nghiệm. Vậy còn chần chờ gì nữa mà du khách không thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc và ghé thăm vùng đất Hạ Môn đầy xinh đẹp này!

Gốm sứ – biểu tượng của nền văn minh Trung Hoa cổ đại

Một trong những phát minh quan trọng của người Trung Hoa xưa là gốm sứ. Tuy không được xếp vào hàng các phát minh vĩ đại nhất như giấy hay thuốc súng, nhưng gốm sứ cũng là kết tinh của trí tuệ và sức mạnh của người dân Trung Hoa.

Trong tiếng Anh từ “china” có nghĩa là Trung Quốc, nhưng cũng có một hàm nghĩa khác là: “đồ gốm”. Việc gắn liền giữa hình ảnh đồ gốm và Trung Hoa mang ý nghĩa rằng, nhắc tới Trung Hoa là nhớ tới đồ gốm, là nơi khơi nguồn cho nghệ thuật gốm sứ thế giới, là cái nôi của kho tàng nghệ thuật của nhân loại.

Một cách nhìn khác trong cách viết chữ Hán, chữ “Tao” chỉ nghề gốm, theo như hình vẽ mô tả của chữ viết cổ giáp cốt văn, hàm ý tả một người ngồi xổm trên mặt đất tay cầm thanh gỗ đang nặn đất sét. Những phát hiện khảo cổ đã chứng minh rất sớm từ thời kỳ đồ đá mới (khoảng 8000-2000 BC) người Trung Hoa đã phát minh ra đồ gốm.

Trong giới khảo cổ, người ta đã phát hiện ra chữ viết trên gốm đầu tiên được phát hiện trên một mảnh gốm còn sót lại từ triều đại nhà Thương là mảnh gốm duy nhất tìm thấy cho đến nay trong khi có nhiều mảnh gốm cổ hơn không có chữ.

Bằng cách sử dụng chất đồng vị phóng xạ C14, các nhà khảo cổ đã kết luận nghề gốm của Trung Hoa cổ xưa ra đời vào năm 9000 trước Thiên Chúa giáng sinh. Như vậy, nghề gốm đã có một lịch sử lâu đời và Trung Hoa đã để lại một di sản gốm sứ to lớn.

Trải qua nhiều thời đại gốm sứ Trung Quốc không ngừng chuyển mình và vươn lên đỉnh cao, cho ra các sản phẩm đặc sắc, ấn tượng.

Trong nền văn minh của thời đồ đá, đồ đất nung được trang trí màu và những sản phẩm đồ gốm xương sứ trắng hoặc đỏ đã được ra đời và cho đến thời Longshan thì xuất hiện thêm đồ gốm sứ đen và chúng trở lên phát triển hơn.

Vào thời nhà Thương (1600-1100 BC), gốm sứ men tro, gốm men ngọc đã bắt đầu xuất hiện. Lúc này, các màu chính của đồ gốm sứ chỉ gồm 3 màu: đỏ, xám, và đen. Càng về sau, người Trung Hoa đã bắt đầu biết sử dụng kỹ thuật phủ men màu, màu sắt của đồ gốm trở nên đa dạng và sáng sủa hơn. Cuối thời Xuân-Thu cho tới thời Chiến quốc, những sản phẩm gốm sứ Trung Quốc có đặc trưng xương gốm cứng cáp, chúng được nung ở nhiệt độ cao với các lớp họa tiết ấn tượng đã được hình thành và phát triển mạnh mẽ.

Đến đời nhà Đường (618-907), gốm sứ đã phát triển với tốc độ vượt trội cả về số lượng và chất lượng. Những sản phẩm của họ có hồi hướng từ những bức tranh thủy mặc, tượng nặn.

Các sản phẩm đồ gốm thời kỳ này mang theo 3 loại màu sắc mà người ta gọi là “tam sắc” hay “tam thái”. Người ta gọi là “tam sắc” vì ba màu men thường đuợc dùng là vàng, xanh lá cây và trắng mặc dù một số mẫu vật vẫn mang hai màu hoặc bốn màu. Được phát triển dựa trên cơ sở gốm men màu nâu và xanh lá cây ở triều đại Hán, nó đại diện cho một đỉnh cao của việc phát triển nghề gốm tại Trung Hoa và cũng nổi tiếng trên thế giới trong thời đại của nó.

Theo các tư liệu khảo cổ mà người ta khai quật được thì đồ gốm ba màu thời Đường đào thấy được làm là tượng ngựa, lạc đà, tượng nhỏ hình người phụ nữ, vại đầu rồng và tượng nhạc công. Trong số này, tượng các con lạc đà đã đạt được sự ngưỡng mộ cao nhất, trình bày dưới dạng đang chở hàng hóa tơ lụa hoặc đang mang nhạc công trên lưng như thể tái tạo lại hình ảnh sống động, chân thật của người dân vùng trung Á vào thời đó đang thực hiện vận chuyển hàng hóa dọc theo con đường tơ lụa với tiếng chuông len keng của những con lạc đà.

Gốm tráng men 3 màu được sản xuất trong suốt triều đại nhà Đường nổi tiếng với sắc màu rực rỡ, được giới quý tộc ưa chuộng sử dụng như đồ trang trí trong nhà, thậm chí còn được dùng để mai táng người chết.

Gốm ba màu thời Đường được phát triển cách đây 1.300 năm không chỉ thể hiện được vẻ đẹp dịu dàng và men mịn đầy màu sắc, mà còn thể hiện tính nghệ thuật cao và là báu vật văn hóa Trung Hoa.

Mặc dù gốm ba màu thời Đường rất hưng thịnh nhưng lại có lịch sử tồn tại khá ngắn (thế kỷ thứ VIII) của triều đại, vào thời kỳ ấy các đồ vật thuộc loại này thường được các quý tộc dùng vào việc an táng, do đó những gì tìm thấy ngày nay rất giới hạn về số lượng và được đánh giá là báu vật quý hiếm, được đánh giá cao nhờ vào màu sắc rực rỡ của chúng.

Trong thời Bắc Tống, đồ gốm sứ trắng đã được cải tiến với lớp men trắng ngà và hoa văn chạm khắc đầy tinh tế tạo ra cảm giác ba chiều rất đẹp mắt. Cũng trong thời kỳ này, gốm sứ Trung Quốc đã xuất hiện thêm nhiều loại gốm vô cùng độc đáo theo từng vùng miền.

Ở thời Nam Tống, những lò nung Guan chuyên sản xuất các sản phẩm gốm men ngọc với lớp men dày và xương gốm màu đen đặc trưng. Các vật dụng gốm sứ Trung Quốc cũng được sản xuât hàng loạt với chất lượng cao cùng những nét đặc trưng riêng biệt.

Thời kỳ Mông Nguyên (1205-1368), đồ sứ Thanh Hoa xuất hiện, cũng giống như bối cảnh văn hoá Nguyên Khúc, phong cách nghệ thuật dân dã, nghệ thuật thị dân và nghệ thuật dân tộc tương đối đa nguyên đã thâm nhập vào kỹ thuật chế tác đồ sứ, mặc dù chưa trở thành chính thống nhưng khuynh hướng thẩm mỹ thiên về tính trang trí này (tiêu biểu là dòng gốm sứ xanh trắng) đã có sự khác biệt rất lớn so với khuynh hướng mỹ học thiên về tính tự nhiên và hàm súc (tiêu biểu là dòng sứ không màu) của thời trước. Bên cạnh đó những sản phẩm đồ gốm sứ có màu đỏ đồng được vẽ dưới men sử dụng bùn nhuộm có oxít đồng cũng đã ra đời. Các sản phẩm này được ưa chuộng và xuất khẩu sang các khu vực lân cận và các nước láng giềng.

Cho đến thời vua Minh Hiến Tông, từ năm 1465-1487 đồ gốm sứ Trung Quốc bắt đầu được nâng tầm lên đỉnh cao của sự hoàn hảo với các sản phẩm là những chiếc chén, đĩa nhỏ sử dụng phương thức trang trí đặc biệt với các chủ đề đã được phác họa dưới lớp men xanh lam bên dưới và chúng được tô màu trên lớp men bên ngoài.

Thời đại Hoàng đế Minh Thế Tông, vào những năm 1522-1566 các lò nung gốm tư nhân với năng suất cao đã được chỉ định chuyên sản xuất gốm sứ cho hoàng tộc. Tuy nhiên những quy đinh về kiểu cách, chất lượng của đồ gốm hoàng gia cũng ngày càng trở nên khó khăn và yêu cầu cao hơn.

Cuối cùng là tới triều đại nhà Thanh, gốm sứ Trung Hoa lại có những bước đột phá mới, đặc biệt vào thời kì trị vì của vua Khang Hy (1622-1722). Người Trung Quốc đã sử dụng thành công loại bột men màu, và điều chỉnh nhiệt độ lò nung cho ra sản phẩm gốm với độ bóng mịn tuyệt đối. Cũng trong thời Khang Hy, họ đã sáng tạo một số men màu mới đặc biệt trong số đó có dạng màu đỏ, màu tím, màu đỏ san hô, màu đen bóng. Tăng thêm các tông màu trên bảng màu của sản phẩm, người Trung Quốc như làm chủ ngọn lửa và nhiệt độ lò nung, kỹ thuật chế tác men và phối màu khi chế tác đã đạt tới sự phong phú trọn vẹn.

Trải qua những năm tháng phát triển của lịch sử cùng với sự thăng hoa trong nghệ thuật chế tác gốm sứ, kỹ thuật làm men màu, tô vẽ và khắc chế trên các tác phẩm gốm sứ đã có sức hút mãnh liệt tới giới thượng lưu phương Tây. Và từ đó người Trung Quốc bắt đầu xuất khẩu và mang gốm sứ cho thị trường phương Tây, tạo thành cơn sốt mãnh liệt trong việc sưu tầm và sử dụng những sản phẩm này. Điều đó đã làm lên thương hiệu của Trung Quốc, và gốm sứ là hình ảnh gắn liền với văn minh Trung Hoa.

Gốm sứ đã góp phần tạo nên một nền văn hóa Trung Hoa đặc sắc, và đây cũng là một trong những lý do thu hút lượng lớn khách du lịch quốc tế tìm đến khám phá hàng năm. Nếu du khách cũng yêu thích nền văn hóa truyền thống của vùng đất rộng lớn này thì hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé!

Kết nơ – một loại hình nghệ thuật vào thời Trung Quốc cổ xưa

Đẹp mắt, công phu và cầu kỳ trong khi tuân theo các nguyên tắc đơn giản, những chiếc nơ kết là một phần của lịch sử Trung Hoa, và những ghi chép từ thời cổ đại chính là bằng chứng cho việc sử dụng những chiếc nơ để ghi lại tất cả các sự kiện quan trọng.

Kết nơ (hay: Tết dây, Thắt nút dây) là một loại hình nghệ thuật thủ công dân gian truyền thống của người Trung Hoa. Kết nơ được xác định là xuất hiện từ thời văn minh tiền cổ, sau đó được phổ biến rộng rãi dưới thời nhà Đường, nhà Minh. Nghệ thuật kết nơ đã trải qua một dòng chảy lịch sử lâu dài, nó được giữ gìn, duy trì và tiếp tục phát triển tới ngày nay với những nét đặc trưng vô cùng độc đáo.

Trong suốt chiều dài hơn năm ngàn năm lịch sử, kết nơ được cho là xuất hiện cùng với lịch sử của loài người. Theo tư liệu khảo cổ, các nhà nghiên cứu lịch sử cho rằng, việc kết nơ bắt đầu xuất hiện từ thời cổ xưa, khi mà con người còn chưa có văn tự, chữ viết. Nó được dùng để giúp người ta ghi nhớ sự việc.

Dần dần việc kết nơ để nhớ sự kiện đã phát triển và trở thành một loại hình nghệ thuật ở Trung Quốc, được dùng để trang trí, trở thành món đồ trang trí thủ công dân gian của người Trung Hoa. Nó không chỉ là biểu hiện của trí tuệ con người thời cổ xưa khi kết nơ để thay thế cho chữ viết, mà còn nó chiếm vị trí quan trọng trong lĩnh vực nghệ thuật và thẩm mĩ.

Vào thời kỳ đầu của văn minh Trung Quốc, người ta coi một đoạn dây nhỏ cũng quý giá không khác gì danh dự, vì bản thân từ “thăng” (dây) được phát âm giống với từ “thần” (thần thánh). Nét viết chữ “thăng” cũng hướng người Trung Hoa (được gọi là “long nhân”) tới sự sùng kính, vì nét viết chữ “thăng” được cho là giống với một con rồng đang bay lượn.

Trong văn hóa của người Trung Hoa, họ luôn coi mình là con cháu của rồng. Vì vậy, rồng là một con vật tưởng trưng rất đỗi linh thiêng đối với người Trung Hoa và cũng chính vì lý do đó mà người cổ đại rất sùng bái sợi dây, họ dùng nó như một dạng kí tự thay cho chữ viết để ghi nhớ các sự việc.

Những chiếc nơ kết còn mang những ý nghĩa ẩn dụ bắt nguồn từ ngôn ngữ: chữ “Kết” (结- jié) được chiết tự từ chữ “Ty” và chữ “Cát” (吉-jí), trong đó “Ty” có nghĩa là lụa hoặc là dây, còn “Cát” nghĩa là thịnh vượng, một địa vị cao trong xã hội, cuộc sống trường thọ, may mắn, của cải, sức khỏe và sự bình an. “Phúc, lộc, thọ, hỷ, tài, an, khang” đều thuộc phạm trù “Cát”. “Cát” là chủ đề theo đuổi vĩnh hằng của dân tộc Hoa Hạ, bởi vậy, đồ mỹ nghệ dân gian kết dây này đã trở thành vật truyền tải sự tinh túy của nền văn hóa truyền thống Trung Quốc và được lưu truyền đến ngày nay một cách rất tự nhiên.

Nét viết chữ “Kết” miêu tả một chiếc thắt nơ. Chính vì thế, nó còn tượng trưng cho những mối quan hệ, có thể mở rộng ra là sức mạnh bao trùm, sự hài hòa và những cảm xúc của con người. Những ý nghĩa này có được là nhờ khả năng phản ánh cụ thể của các bộ chữ tượng hình Trung Quốc. Ví dụ, “kết thực” nghĩa là ra quả, “kết giao” nghĩa là làm bạn, “kết duyên” nghĩa là đến với nhau vì duyên phận, “kết hôn” nghĩa là lập gia đình với nhau, và “đoàn kết” nghĩa là hợp lại cùng nhau.

Nhờ mối liên hệ khăng khít của những chiếc nơ kết với văn hoá Trung Hoa, nghệ thuật kết nơ tiếp tục được lưu truyền như một loại hình văn hóa dân gian được yêu thích. Thú vui này đã trở thành một loại hình nghệ thuật phổ biến trong suốt triều đại nhà Đường (618-907) và triều đại nhà Tống (960-1279), và đã từng chứng kiến thời hoàng kim trong thời kỳ chuyển giao giữa triều đại nhà Minh và triều đại nhà Thanh (1368-1911), khi mà những chiếc nơ kết thường tô điểm cho các bộ trang phục truyền thống. Môn nghệ thuật này có mặt từ trong những mục đích sử dụng đơn giản, cho đến những vật dụng trang trí trong các đám hội hè – như các chuỗi hạt, trâm cài đầu, và hoa tai. Một số loại nơ kết nhất định, chẳng hạn như “Nơ kết may mắn”, được dùng như một tấm bùa hộ mệnh, để xua đuổi những điều xấu xa, tránh tai họa và mang lại may mắn.

Những chiếc nơ kết được làm từ một sợi dây dài ít nhất 1m, được tạo ra từ chất liệu lụa, bông, gai, ni lông, sợi pha trộn,… Đặc điểm lớn nhất của nơ kết là từ đầu đến cuối đều được bện kết trên cùng một sợi dây, cách kết dây phải tuân theo những quy luật riêng tùy theo kiểu dáng và ngụ ý sử dụng của nó. Các sợi dây được gấp lại, chồng lên nhau, cuộn tròn, thêu và trở thành những tác phẩm lôi cuốn. Mặc dù nhiều chiếc nơ kết có vẻ như rất phức tạp và mang tính nghệ thuật cao trong mẫu vẽ và thiết kế, tất cả chúng đều được tạo ra theo 20 kỹ thuật cơ bản. Người xưa cũng dựa vào nguyên lý thái cực, âm dương để cấu thành phương thức cơ bản nhất của kết, trên dưới đồng nhất, trái phải đối xứng, mặt trước mặt sau giống nhau, phần đầu và phần đuôi kết nối liền nhau. 

Tên gọi của một chiếc nơ kết cụ thể phụ thuộc vào hình dáng, công dụng, nơi nó được tạo ra, và ý nghĩa của chiếc nơ. Lấy ví dụ, chiếc nơ “nhân đôi tài lộc” có tên gọi từ những đồng tiền xu cổ bằng đồng của Trung Quốc xếp chồng lên nhau. Tên gọi “nơ cúc áo” hàm ý nói đến công dụng cuối cùng của nó là một chiếc cúc áo. Chiếc nơ “thập thiên” không chỉ trông giống như biểu tượng chữ “Vạn” mà người Trung Quốc thường dùng để tượng trưng cho thập thiên (mười nghìn), mà nó còn thường được thấy trên các bức tượng Bồ Tát Quán Âm, vị Bồ Tát từ bi vô lượng. Chiếc nơ “trường cửu” lấy hình mẫu từ hình tượng bát tiên (8 vị tiên), tượng trưng cho sự thường chuyển vĩnh cửu mà từ đó vạn vật được sinh thành. Chiếc nơ này tượng trưng cho những mối tương quan bất diệt và là nền tảng của sự biến hóa.

Thoạt nhìn, kết nơ phức tạp, nhưng lại rất đơn giản. Đặc điểm của nó là mỗi chiếc kết đều được kết từ một sợi dây, có tạo hình độc đáo. Nếu kết hợp các kết lại với nhau, trang điểm thêm những vật biểu tượng khác thì sẽ hình thành một đồ mỹ nghệ trang trí truyền thống đa dạng.

Trong khoảng thời gian của thế kỷ 20 vừa qua, và đặc biệt kể từ thời kỳ “Tân Trung Hoa” dưới sự cai trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc, môn nghệ thuật truyền thống này đã bị mất đi tầm quan trọng của nó. Chỉ trong những năm 1990, nghệ thuật kết nơ, cũng như các trang phục thêu truyền thống Trung Quốc mới chứng kiến một sự phục hồi, và những nghệ thuật này kể từ đó đã quay trở lại thịnh hành trên khắp Trung Quốc.

Nghệ thuật kết nơ đã góp phần tạo nên một nền văn hóa Trung Hoa đặc sắc, và đây cũng là một trong những lý do thu hút lượng lớn khách du lịch quốc tế tìm đến khám phá hàng năm. Nếu du khách cũng yêu thích nền văn hóa truyền thống của vùng đất rộng lớn này thì hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! Chúc du khách có một chuyến đi vui vẻ và nhiều điều thú vị!

16 món đặc sản đáng để thử khi ghé thăm Cổ trấn Lệ Giang, Trung Quốc

Ở Trung Quốc, Lệ Giang là một cổ trấn xinh đẹp với dòng sông xanh trong êm đềm cùng những danh thắng thiên nhiên đẹp đến nao lòng. Không chỉ có thế, vùng đất này còn có một nền văn hóa ẩm thực vô cùng phong phú với các món ăn đặc sản ngon “thần sầu”.

Đặc sản Lệ Giang vô cùng nhiều, rất xứng với cái tên “thiên đường ẩm thực vùng Vân Nam”. Sau đây sẽ là các món ăn ở Lệ Giang đã được những vị thực khách đánh giá cao:

Lẩu sườn phơi khô

Lệ Giang – vùng đất quanh năm lạnh giá. Vậy nên, ngồi trước nồi lẩu sườn nóng hổi có lẽ là cảm giác tuyệt vời nhất khi bụng của du khách đang “biểu tình” sau chuyến tham quan cảnh đẹp nào đó.

Lẩu sườn phơi khô có nguyên liệu chính là những miếng sườn nhiều thịt đầy hấp dẫn được ướp với muối rồi phơi khô cho se lại, ngấm gia vị. Ngoài sườn khô, lẩu ăn kèm với các loại rau và nấm, trong đó có Thủy Tính Tương Hoa – một loại rau chỉ mọc trong hồ Lô Cô. Du khách có thể yên tâm rằng món này rất đậm vị, mặn mà nhưng không hề khó ăn, thậm chí còn khiến thực khách mê mẩn.

Lẩu dê đen

Lẩu dê đen là một trong những món ăn Lệ Giang được nhiều khách du lịch nước ngoài biết đến. Dê đen được nuôi trên núi nên thịt nạc, chắc, mềm và ngon. Đặc biệt, thịt dê còn cung cấp nhiều dinh dưỡng cho cơ thể, hỗ trợ tăng cường, cải thiện hệ miễn dịch….

Lẩu dê sẽ nhúng cùng với rau, nấm do người dân trồng, hái trên núi. Thịt dê thái mỏng cho vào nồi lẩu có thể ăn tái hoặc chín tùy theo khẩu vị mỗi người. Thưởng thức món lẩu dê đen và nhâm nhi chén rượu mận thơm nồng giúp bạn xua tan cái lạnh của thời tiết nơi đây.

Lẩu gà khoai tây

Lẩu gà khoai tây của người Nạp Tây ở Lệ Giang luôn là món ăn dành được nhiều lời khen từ khách du lịch. Gà để làm lẩu do người nông dân Nạp Tây nuôi theo cách thả tự nhiên, gần giống như gà vườn ở Việt Nam. Vì vậy, thịt gà rất chắc, thơm và có độ ngọt tự nhiên.

Vùng đất Vân Nam nói chung và Lệ Giang nói riêng là nơi nổi tiếng về trồng khoai tây. Khí hậu nơi đây giúp cho loại hoa màu này phát triển tốt, củ to tròn, đều khi ăn mềm, thơm. Bên cạnh đó, một số loại rau khác ăn cùng cũng được thu hoạch ngay trên vườn của người nông dân Lệ Giang. Do vậy, món lẩu gà khoai tây của dân tộc Nạp Tây luôn có sức hút khó cưỡng đối với mọi người.

Lẩu thịt bò Yak

Bò Yak là loài bò Tây Tạng hiếm, đặc trưng sống tại miền núi cao, do vậy thịt rất sạch, mềm và có mùi hương rất đặc trưng. Những món ăn làm từ bò Yak đều rất ngon, giàu dinh dưỡng như ninh, làm khô,… làm mê mẩn bao thực khách khi ghé thăm nơi đây. Tuy nhiên, món ăn được xem là món ăn đặc sản Lệ Giang chính là lẩu thịt bò Yak.

Món lẩu hấp dẫn này có thành phần chủ yếu là thịt bò Yak. Thịt bò rất sạch, mềm, thơm ngon và có vị đặc trưng riêng không nơi đâu có được. Người ta chế biến thịt bò Yak bằng nhiều phương pháp như ninh, làm khô, ướp gia vị rồi đưa vào làm nguyên liệu nhúng lẩu.

Thịt bò Yak khô

Thịt bò Yak khô cũng là đặc sản không thể không nếm thử đối với những vị khách du lịch khi đặt chân đến cổ trấn Lệ Giang xinh đẹp. Còn gì tuyệt vời hơn khi thời tiết se lạnh ngồi cùng nhau nhâm nhi rượu mận và nhắm thịt bò khô cay cay. Ngoài ra, thịt bò Yak khô cũng sẽ là món quà độc đáo cho gia đình, bạn bè sau chuyến du lịch đấy!

Xúc xích gạo

Xúc xích gạo là một loại thực phẩm hương vị đặc biệt ở Lệ Giang. Nó được làm từ huyết heo, gạo và các loại gia vị khác nhau được trộn với nhau theo tỷ lệ nhất định. Và sau đó đổ vào ruột heo chế biến tạo thành món xúc xích gạo thơm ngon.

Khi ăn xúc xích gạo, người ta thường cắt chúng thành từng lát tròn sau đó chiên bằng dầu nóng hoặc hấp bằng nồi hấp. Xúc xích gạo có màu sắc nâu đỏ, mùi thơm cũng như giá trị dinh dưỡng cao.

Thịt heo nướng lá bạc hà

Đây là món ăn đặc sản của người Nạp Tây tại cổ trấn Lệ Giang. Nguyên liệu chính là thịt ba chỉ ướp với gia vị, xếp lá bạc hà xung quanh, gói giấy bạc rồi nướng trên than hoa. Hương thơm của thịt hòa quyện với bạc hà rất quyến rũ, thịt mềm, ăn rất đậm vị mà không bị ngán. 

Cá nướng đá

Cá nướng đá là món ăn cổ truyền của người Naxi ở Lệ Giang, cá sau khi nướng lên phiến đá nung nóng sẽ vàng ươm bên ngoài và giữ được thịt tươi ngọt ở bên trong.

Những ai đã từng ăn cá nướng đá đều ngạc nhiên bởi mùi thơm bí ẩn, độ cay vừa phải nhẹ cho dạ dày, tốt cho vẻ đẹp. Màu sắc, hương vị và sức khỏe trong một món ăn khiến người ta thực sự không thể ngừng yêu thích nó.

Bún qua cầu

Bún qua cầu đã khiến cho bao thực khách mê mẩn, thậm chí còn làm đổ gục những thực khách khó tính nhất. Không hề cầu kì như tên gọi, bún qua cầu gồm các nguyên liệu chính như thịt gà, thịt heo, mực, đậu phụ, nấm, hành, hẹ, bún, trứng chim cút, hành tây, rau cải, đu đủ, cà rốt cùng các gia vị như nước tương, muối, gừng, tỏi… và nhất định không thể thiếu những sợi bún tro tròn – nguyên liệu quan trọng của món ăn này.

Nhưng để làm nên một suất bún qua cầu hoàn thiện thì chắc chắn phải có thêm một bát nước dùng nóng hổi bày cùng với những chiếc đĩa xinh xinh đựng các nguyên liệu kể trên. Nước dùng của bún qua cầu cũng khá độc đáo vì được nấu từ xương hầm trong thời gian rất lâu, hơn 6 tiếng để cho ra chất nước đậm đà và vị ngọt vô cùng hấp dẫn thực khách. Vì vậy mà khi ăn cùng các nguyên liệu như bún sợi to, các loại nấm, trứng, dưa leo, rau và thịt thái mỏng vẫn vô cùng thấm vị và thơm ngon, không hề bị nhạt.

Cách chế biến đã công phu thì việc thưởng thức món ăn này một cách đúng điệu lại càng khiến thực khách thích thú hơn. Trước tiên phải thả trứng vào bát nước dùng, chờ đợi một vài phút rồi lần lượt cho thịt, rau, nấm vào. Bún là nguyên liệu sau cùng được cho vào bát. Sau khi trộn đều vài lần là du khách có thể tận hưởng vị nóng hổi, ngầy ngậy, ngọt mềm, dai dai tự nhiên của nấm, rau, thịt và trứng.

Trà trứng

Trà trứng là món trứng gà kho với nước trà, cho hương vị tuy lạ nhưng đặc sắc có một không hai. Món ăn này được người dân Lệ Giang ăn quanh năm. 

Món ăn đơn giản nhưng ngon miệng này rất dễ làm, có thể sẽ là một điểm nhấn khác biệt cho bữa ăn của du khách thay thế cho món trứng luộc thông thường. Khác với cách luộc trứng thông thường, trứng được luộc trong nước trà cùng các loại thảo mộc (hoa hồi, đinh hương, hạt tiêu, thìa lá, quế,…), nêm nếm đường và muối cho vừa ăn sẽ giúp món ăn ngon hơn, tốt cho sức khỏe.

Vào trong những ngày hè nóng bức, món này sẽ được ăn kèm với nước đá. Tuy nhiên, trà trứng phải được ăn nóng mới đảm bảo được vị thơm ngon, món ăn này có thể ăn kèm với cơm trắng, cơm chiên, hoặc với thịt kho, luôn mang lại dư vị tuyệt vời, khó quên cho những ai lần đầu tiên nếm thử.

Bánh bao

Không giống như bánh bao Việt Nam, hay những nơi khác ở Trung Hoa, bánh bao Lệ Giang được làm ngay tại chỗ, vì vậy chúng rất tươi ngon.

Vỏ bánh được làm từ bột mì gia truyền. Thông qua nhào nặn và tạo hình, vỏ bánh mềm và dai lại còn rất thơm. Còn phần nhân bánh bên trong thì được làm từ thịt, trộn cùng với những gia vị độc đáo, cùng với rau củ, trộn vào với nhau cực kì tròn vị. Chỉ cần mở khay bánh hấp lên thôi là một làn khói nghi ngút bốc lên, mang theo một mùi hương rất rất đặc biệt, từng chiếc bánh bao căng tròn đầy hấp dẫn sẽ khiến cho thực khách mê mẩn mua ngay để thưởng thức.

Thạch đậu

Thạch đậu là món ăn ngon ở Lệ Giang được nhiều người yêu thích và là món ăn nhẹ nổi tiếng ở các con đường trong cổ trấn. Thạch đậu vừa là thực phẩm giảm nhiệt mùa hè, vừa có thể làm nóng để ăn khi trời trở lạnh. Người dân nơi đây chiên miếng thạch thành màu vàng và thêm các loại gia vị cay hoặc chua theo ý muốn của người ăn.

Du khách cũng có thể chọn ăn thạch đậu mặn hay ngọt tùy thích. Trộn các pimiento, tỏi tây xanh, hạt tiêu, hẹ, mù tạt, giấm và các gia vị khác, du khách sẽ được thưởng thức một loại thực phẩm ngon với màu sắc, mùi thơm và hương vị ngon miệng.

Bánh hoa hồng

Có nguồn gốc từ 300 năm trước, bánh hoa hồng từng được sử dụng làm cống vật và là món ăn yêu thích của vua chúa Trung Hoa ngày xưa. Bánh hoa hồng được làm từ bột mì và cánh hoa hồng. Bánh có vị ngọt, cùng mùi thơm dịu nhẹ từ những cánh hoa hồng tươi mới, tạo nên một vị thơm ngon khó tả.

Bánh Baba

Đã đến Lệ Giang mà không thử món bánh Baba thì sẽ là thiếu sót lớn. Nghe đến cái tên “Bánh baba” hẳn nhiều người sẽ lầm tưởng rằng nó được làm từ thịt con baba. Thực ra đây là một loại bánh của người Nạp Tây được làm từ bột mì đặc sản của Lệ Giang, nhân bánh có thể cho đường mật ong hoặc xúc xích.

Sữa đậu nành và Bánh quẩy

Những món ăn tưởng chừng như ở đâu cũng có lại trở thành đặc sản của Lệ Giang nhưng lại mang hương vị rất đặc trưng của nơi đây, chẳng hạn như món Sữa đậu nành và Bánh quẩy. Đây là một “combo ăn sáng” khá phổ biến của người dân Lệ Giang với bánh quẩy dài, giòn dai, ngầy ngậy, sữa đậu nành thơm ngon và rất tốt cho sức khỏe.

Sữa chua Lệ Giang

Cổ trấn Lệ Giang rất nổi tiếng với món ăn vặt sữa chua. Du khách có thể lựa chọn hương vị theo sở thích của mình gồm sữa chua xoài, sầu riêng, đậu đỏ, hoa hồng và món sữa chua chiên. Sữa chua đặc, mịn, dẻo, bên ngoài được bọc lớp bột chiên giòn. Tuy nhiên, sữa chua tại đây không có vị ngọt và quá dễ ăn mà rất chua do được lên men kỹ, thậm chí nhiều thực khách còn cần cho thêm đường để ăn nếu không quen ăn chua. Đây là một trải nghiệm khá thú vị trong hành trình khám phá ẩm thực Lệ Giang phong phú.

Trên đây là danh sách 16 món ăn hết sức thú vị và độc đáo của Lệ Giang. Nếu có cơ hội du lịch Trung Quốc, du khách hãy ghé thăm cổ trấn Lệ Giang xinh đẹp để được tận hưởng không gian yên bình cùng những món ăn ngon lành ở đây nhé! Chúc du khách có một chuyến đi vui vẻ!

Câu kỷ tử – “Kim cương đỏ” giúp người Trung Hoa tươi trẻ, sống lâu

Nếu có dịp đến Trung Quốc, du khách hãy ghé thăm Ninh Hạ để tự mình trải nghiệm và khám phá vùng đất được mệnh danh là “quê hương của Câu kỷ tử”. Câu kỷ tử, hay kỷ tử, là một phần của văn hóa Trung Quốc từ thế kỷ thứ 3, hiện đang được xem là một trong những thực phẩm hot nhất hiện nay.

Nằm cao trên miền Tây Bắc Trung Quốc là vùng đất cực kỳ màu mỡ. Nơi đây, bên bờ sông Hoàng Hà, dưới bầu trời phủ sương mù che kín rặng núi Lục Bàn Sơn, cư dân vùng Ninh Hạ từ lâu đã trồng một trong những loại quả được nhiều người săn lùng nhất ở Châu Á trong nhiều thế kỷ qua, đó là “Câu kỷ tử” – loại quả mọng nhỏ, hình bầu dục. 

Câu kỷ tử được mệnh danh là “kim cương đỏ”, thậm chí, các thương gia Anh còn gọi kỷ tử là “viagra hoa quả”, vì nó được cho là có khả năng chống lão hóa, được xem là siêu thực phẩm của thế giới. Người Trung Quốc đã sử dụng chúng từ thế kỷ thứ 3 cho tới tận ngày nay. Họ gọi loại quả này với nhiều tên gọi khác nhau như: câu kỷ tử, củ khởi, củ khỉ, cẩu kỷ và tên thường gọi nhất vẫn là kỷ tử. 

Quả câu kỷ tử được được trồng trên khắp Trung Quốc, nhưng địa chất độc đáo của Ninh Hạ mới tạo ra phiên bản được tôn sùng nhất: sự kết hợp giữa gió núi mát lạnh, thổ địa giàu khoáng và những thứ dây leo được tưới bằng nước sông Hoàng Hà nổi tiếng làm cho quả câu kỷ tử ở đây được đánh giá cao.

Những người nông dân Ninh Hạ ngày nay vẫn thu hoạch câu kỷ tử giống như cách họ đã làm trong suốt lịch sử. Từ tháng 7 đến tháng 9 hàng năm, những người nông dân cúi mình thu hoành những quả mọng màu cà chua trong những bụi cây cao tới eo. Họ khéo léo nhổ một nắm quả mọng từ dây leo rồi thả chúng vào giỏ tre đan.

Tình yêu của Trung Quốc với quả câu kỷ tử đã có từ hàng trăm năm trước. Người ta cho rằng nó là một loại dược liệu quý. Trong văn bản lâu đời nhất (từ thế kỷ 16) còn lưu lại đến ngày nay đã ghi lại tác dụng tuyệt vời của thứ quả “đặc biệt” này. Câu kỷ tử có vị đắng xen lẫn một chút vị chua nhưng kèm theo cảm giác ngọt ở hậu vị. Người ta có thể ăn quả tươi hoặc quả khô. Đặc biệt, các chuyên gia dinh dưỡng đánh giá cao kỷ tử sấy khô bởi hàm lượng dinh dưỡng cô đặc ở mức cao. Các nhà khoa học đã đánh giá và kết luận câu kỷ tử là một trong những loại quả chứa nhiều vitamin và khoáng chất tốt, bao gồm: sắt, kẽm, canxi, photpho, chất xơ, vitamin C, vitamin A, chất chống oxy hóa.

Ngoài ra, loại quả này còn đem đến 8 axit amin thiết yếu. Các chuyên gia dinh dưỡng nói rằng 120gram câu kỷ tử cung cấp 10% lượng protein mà cơ thể cần mỗi ngày, một con số đáng ngạc nhiên đối với trái cây. Các carbohydrate trong loại quả này thuộc dạng carbon phức, đồng nghĩa cho khả năng điều chỉnh đường huyết và ngăn ngừa nguy cơ gặp phải tình trạng mệt mỏi do tiêu thụ lượng lớn carbohydrate (sugar crash) trong tương lai.

Công dụng của kỷ tử tốt đối với tình trạng can thận hư tổn, tinh huyết thiếu hụt, lưng đau gối mỏi, chóng mặt, ù tai, di tinh. Ngoài ra, bản chất kỷ tử còn hỗ trợ khi thận hư tinh giảm, tiểu đường, khô miệng, mắt mờ, giảm thị lực, tăng cường khả năng miễn dịch, chống lão hóa, bảo vệ tế bào gan, ức chế sự tăng sinh tế bào ung thư dạ dày,…

Với những công dụng tuyệt vời của câu kỷ tử, người Trung Hoa sử dụng chúng trong một số món ăn, chẳng hạn như món gà hầm, họ sẽ rắc quả câu kỷ tử khô, cùng táo tàu và gừng để làm nên các món ăn bổ dưỡng. Hoặc họ cho vào một bình trà hoa cúc để tăng cường vitamin. Khi các bác sĩ y học cổ truyền kê đơn cho bệnh nhân, họ thường kết hợp nó với các loại thảo mộc khác.

Các đầu bếp trẻ khắp Châu Á cũng sử dụng kỷ tử trong món ăn để gợi chút hương vị địa phương. Theo đó, đầu bếp Anna Lim đã sử dụng quả kỷ tử khi cô được mời làm bữa sáng hiếm có cho chuỗi nhà hàng thức ăn nhanh khổng lồ McDonald’s. Chủ thương hiệu The Soup Spoon tạo ra món cháo ngon lành với quả kỷ tử, và món này nổi tiếng ở Singapore đến độ họ đã đưa nó vào thực đơn cố định.

Câu kỷ tử từ lâu đã là một phần của văn hóa Trung Quốc. Truyền thuyết kể rằng hơn 2.000 năm trước, một thầy thuốc đến thăm một ngôi làng ở Trung Quốc, nơi mọi người đều hơn 100 tuổi. Ông ta phát hiện ra rằng tất cả họ đã uống từ một cái giếng được bao quanh bởi những bụi câu kỷ tử. Người ta cho rằng, khi quả chín, nó sẽ rơi xuống giếng và các chất của nó sẽ thấm vào nước. Chuyện xưa cũng kể rằng, một người buôn bán thảo dược, võ sĩ, và cố vấn binh lược tên là Lý Thanh Vân sống từ thế kỷ 17 đời nhà Thanh đã ăn quả kỷ tử mỗi ngày. Nghe đồn rằng ông sống thọ đến 252 tuổi.

Trong thời Chiến Quốc, truyền thuyết về cây kỷ tử có thể kéo dài tuổi thọ, dưỡng nhan được lan truyền. Truyền thuyết thời Bắc Tống, một vị đại nhân được lệnh rời Bắc Kinh đi công vụ đến Tứ Xuyên. Trên đường đi, ông ta thấy một cô gái dung nhan đoan trang, mái tóc mượt mà, chừng 17 tuổi. Đại nhân tò mò hỏi: “Năm nay nàng bao nhiêu tuổi?”. Cô gái trả lời: “Năm nay tôi 372 tuổi!”. Sau khi nghe, đại nhân ngạc nhiên hơn và hỏi: “Làm thế nào để nàng có được tuổi thọ?”. Cô gái nói: “Tôi không có phương pháp bí ẩn nào. Tôi chỉ ăn quả câu kỷ tử thường xuyên trong năm thôi”. Hay một câu chuyên khác nữa, đó là vào đời Đường, tể tướng Phương Huyền Linh do giúp Đường Thái Tông Lý Thế Dân cai quản triều chính nên phải suy nghĩ căng thẳng, khiến cả tinh thần lẫn thể chất suy kiệt. Sau đó, tể tướng được quan thái y cho dùng món canh kỷ tử nấu với ngân nhĩ (mộc nhĩ trắng) thường xuyên nên sức khỏe dần phục hồi, tinh thần tráng kiện.

Không chỉ quả, câu kỷ tử còn được gọi là “Minh mục tử” do có tác dụng làm sáng mắt. Chuyện xưa kể rằng: ở Ninh An, tỉnh Ninh Hạ, có người vợ khóc chồng nên mù cả hai mắt. Để chữa bệnh cho mẹ, con gái tên là Câu Hồng Quả đã ngày đêm leo đèo, lội suối để tìm thuốc. Cảm tấm lòng hiếu thảo của cô gái, tiên ông Bạch Hổ Tử đã chỉ cô hái thuốc câu kỷ tử cho mẹ cô uống. Sau thời gian uống thuốc, mắt của mẹ cô gái sáng trở lại một cách thần kỳ.

Là một loại dược liệu quý và sở hữu nhiều công dụng cho sức khỏe, câu kỷ tử chắc chắn là thứ mà du khách nên mua về khi có dịp du lịch Trung Quốc. Vùng đất Trung Hoa rộng lớn này còn có rất nhiều thực phẩm bổ dưỡng cũng như các món ăn đặc sản sẽ khiến du khách thích thú.

Bánh Trứng Osmanthus, món ăn bình dị nhưng khiến vua Càn Long “say mê”

Bánh trứng Osmanthus là món ăn có nguồn gốc từ thời nhà Thanh, tại thành phố Anyang thuộc tỉnh Hà Nam và đã từng được vua Càn Long vô cùng yêu thích, thậm chí ông ra lệnh cho đầu bếp làm món ăn này thường xuyên.

Sinh thời, Càn Long là người rất thích cưỡi ngựa và bắn cung, đi du lịch khắp nơi, thăm viếng phía nam sông Dương Tử 6 lần, và thăm những ngọn núi và dòng sông nổi tiếng. Đất nước Trung Hoa rộng lớn như vậy nhưng ông đã cố gắng đi đến hầu hết những địa điểm quan trọng, nổi tiếng.

Hoàng đế Càn Long cũng rất coi trọng liệu pháp ăn uống và luôn lựa chọn những thực phẩm có lợi cho sức khỏe tùy theo thể trạng của mình. Dưới thời nhà Thanh, chi phí dành cho 2 bữa chính là bữa sáng và trưa của Càn Long lên tới 4.000.000 lượng bạc/năm. Sở dĩ việc tốn kém số tiền lớn như vậy dành cho bữa ăn của Hoàng đế là vì ở triều Thanh quy định mỗi bữa ăn của hoàng đế phải đủ 120 món. Còn các phi tần của vua cũng không được kém cạnh khi Hoàng hậu sẽ là 96 món và Hoàng phi là 64 món.

Việc ăn uống của vua được kiểm soát cực kì nghiêm ngặt. Tuy nhiên, với sở thích riêng của vua Càn Long, ông đã đưa thêm một món ăn vào danh sách những món ăn hoàng gia và không bao giờ được thiếu trong mỗi bữa ăn, đó là món trứng Osmanthus.

Bánh Trứng Osmanthus trông thì có vẻ dễ làm bởi nguyên liệu đơn giản nhưng để làm ra được món ăn này chuẩn vị ngon thì phải cần nhiều kỹ năng cũng như trải nghiệm. Và đó cũng là lý do món ăn nổi tiếng này lại từng “được lòng” vua Càn Long đến vậy.

Bánh Trứng Osmanthus còn được gọi là “Ba không dính” (Sanbuzhan 三不沾). Sở dĩ nó có tên lạ như vậy là vì khi ăn nó không dính vào đũa, không dính đĩa, không dính răng.

Người ta nói rằng, để làm ra món ăn này phải là bậc thầy đầu bếp, bởi mặc dù nguyên liệu rất đơn giản chỉ bao gồm trứng, bột, đường, nước, dầu mè, mỡ heo nhưng phải dùng nhiều kỹ thuật chế biến và trải nghiệm thì hương vị món ăn mới xuất sắc.

Tương truyền rằng khi vua Càn Long tới phía nam sông Dương Tử đã nếm thử món bánh Trứng Osmanthus và cảm thấy thích thú vô cùng. Từ đó, ông đã ra lệnh cho đầu bếp làm món ăn này thường xuyên và nó trở thành món ăn hoàng gia. Điều này cũng thật dễ hiểu bởi món bánh màu vàng nom thật bắt mắt, mềm mịn, dẻo thơm, ngọt thanh quyến rũ này lại cực kỳ bổ dưỡng cho người già và trẻ nhỏ.

Vào thời nhà Thanh không có nhiều máy móc hỗ trợ cho việc làm bánh, mọi thứ đều làm thủ công. Vậy nên, những loại bánh có nguyên liệu đơn giản nhưng lại có quá trình làm phức tạp thường có hương vị rất tuyệt vời. Quá trình làm nên món bánh Trứng Osmanthus này vẫn còn là một bí mật gia truyền ít người biết tới.

Ngày nay, ở Trung Quốc, không còn nhiều nơi bán loại bánh này nữa. Chỉ tại một số nhà hàng gia truyền ở Bắc Kinh như Tongheju thì mới vẫn còn bán.

Nếu có dịp du lịch Trung Quốc, du khách hãy thử qua món bánh này để hiểu được lý do tại sao nó lại được vua Càn Long “say mê” đến vậy. Chắc chắn đây sẽ là một trải nghiệm ẩm thực Trung Hoa thú vị mà du khách khó lòng quên được.

Thăng trầm ngọc tỷ truyền quốc của Tần Thủy Hoàng

Ngọc tỷ là vật tượng trưng cho quyền lực tối thượng của Hoàng đế và còn được coi là Quốc bảo, nên được cất giữ tôn trọng truyền từ đời này sang đời khác. Muốn củng cố tư cách Hoàng đế của mình, các vua chúa phải nắm được trong tay “Ngọc tỷ truyền quốc”. Một trong những ngọc tỷ nổi tiếng bậc nhất trong lịch sử Trung Hoa chính là “Hòa thị bích” – ngọc tỷ truyền quốc của Tần Thủy Hoàng.

Với 8 chữ triện “受 命 於 天 既 壽 永 昌” (Phiên âm: Thụ mệnh ư thiên, ký thọ vĩnh xương) và chế tác từ khối ngọc quý giá bậc nhất Trung Quốc, Ngọc tỷ truyền quốc của Tần Thủy Hoàng là báu vật mà bất cứ vị hoàng đế nào cũng muốn sở hữu. Là biểu tượng của quyền lực thời phong kiến, ngọc tỷ truyền quốc trải qua nhiều chuyện vô cùng ly kỳ, gắn với sự hưng thịnh và suy vong của nhiều triều đại Trung Hoa.

Ngọc tỷ truyền quốc nguyên là “Ngọc bích họ Hòa” – Quốc bảo của nước Sở thời Chiến Quốc, sau lưu lạc các nước rồi mới được Thủy Hoàng Đế dùng để đẽo ngọc.

Sử cũ kể lại rằng vào thời Xuân Thu, một người đàn ông nước Sở tên là Biện Hòa đã tình cờ nhặt được một viên đá ngọc ở trên núi. Biết đây là vật báu hiếm thấy trên đời nên Biện Hòa đã dâng tặng cho Sở Lệ Vương (trị vì 757-741 TCN).

Không biết là vật gì nên Sở Lệ Vương liền mời chuyên gia về ngọc tới để phân biệt. Tuy nhiên, đáng tiếc là người này không nhận ra đặc điểm của báu vật mà cho rằng đó chỉ là loại đá bình thường thường.

Kết cục bi đát là Biện Hòa mắc tội khi quân và bị nhà vua ra lệnh chặt đứt chân trái. Sau đó, Sở Võ Vương lên ngôi và Biện Hòa lúc này lại tiếp tục dâng tặng đá ngọc quý lên, nhưng nhà vua trẻ cũng cho rằng đó thực chất chỉ là một hòn đá và thế là thêm một lần nữa người đàn ông bị hàm oan và mất tiếp cái chân phải.

Thời gian cứ thể trôi đi cho đến khi Sở Văn Vương lên ngôi, Biện Hòa bấy giờ đã tuổi già sức yếu lại còn bị tàn phế vì mất hai chân, ông ngồi ôm hòn đá quý ngồi dưới chân ngọn Sở Sơn mà gào khóc vô cùng thảm thiết, đến nỗi sau ba ngày ba đêm chảy cả máu mắt ra. Nghe tin lạ này, Văn Vương đã phái người tới để hỏi nguyên nhân, Biện Hòa thưa rằng: “Tôi khóc không phải là thương cho hai chân tôi bị chặt, chỉ thương là ngọc thật mà cho là đá thường và bị xem là kẻ nói đối. Đó là lý do tại sao tôi lại than thở”. Nhà vua nghe xong liền cho ngọc công kiểm tra lại thật kỹ thì quả nhiên đây là viên ngọc bích tinh khiết hoàn hảo, xác thực lời của Biện Hòa là thật. Kể từ đó, viên ngọc quý có tên gọi là “Hòa thị bích” (hay Ngọc bích họ Hòa) và được coi là quốc bảo của nước Sở.

Câu chuyện về nguồn gốc của “Hòa thị bích” có lẽ còn được pha trộn giữa sự thật và truyền thuyết. Quốc bảo này bắt đầu “lưu lạc” khi Sở Thành Vương quyết định ban thưởng cho quan Lệnh doãn Chiêu Dương, người lập công to với nước Sở. Tuy nhiên, không may sau đó Chiêu Dương đã làm mất “Hòa thị bích” và không tìm ra thủ phạm.

Mãi đến năm 283 TCN, không rõ tại sao viên ngọc quý hiếm này lại tái xuất và trở thành quốc bảo của nước Triệu dưới giai đoạn trị vì của Triệu Huệ Văn Vương. Sau đó, câu chuyện về ngọc quý xuất hiện ở nước Triệu truyền đến tai của Tần Chiêu Tương Vương (cụ nội của Tần Thủy Hoàng).

Tần Chiêu Tương Vương lúc đó là viết thư cho Triệu vương và đề nghị dùng tới 15 tòa thành để đổi lấy “Hòa thị bích”. Kết quả là Triệu Vương đồng ý và Lan Tương Như được cử đi sứ sang nước Tần để đổi ngọc lấy thành. Tuy nhiên, sau khi biết được Tần Vương có ý định cướp ngọc mà không muốn đổi thành, Lan Tương Như đã dùng kế dọa đập vỡ “Hòa thị bích”, nhờ vậy mới đưa được báu vật trở về nước Triệu.

Mãi tới năm 228 TCN, khi nước Tần đánh bại nước Triệu thì mới chiếm được “Hòa thị bích”. Sau khi đánh bại 6 nước chư hầu, hoàn thành đại nghiệp thống nhất Trung Hoa, Tần Thủy Hoàng đã ra lệnh cho Tôn Thọ đẽo viên ngọc quý này thành ngọc tỷ truyền quốc vào năm 221 TCN. Tôn Thọ chế ra Ngọc tỷ vuông vức bốn tấc, phía trên khắc hình con rồng cuộn khúc, tinh xảo khéo léo, phía dưới khắc tám chữ triện. Tám chữ này do Thừa tướng Lý Tư viết, chiếu theo ý của Tần Thủy Hoàng: “受 命 於 天 既 壽 永 昌” (Phiên âm: Thụ mệnh ư thiên, ký thọ vĩnh xương). Nghĩa là: Nhận mệnh trời ban, tồn tại mãi mãi / Đế vi Đế, thự thụ cự ký nhĩ chi chân. Kể từ đó, “Hòa thị bích” trở thành Ngọc tỷ truyền quốc của nhà Tần, mang ý nghĩa tượng trưng cho vương triều chính thống, ngôi vị và quyền lực tối thượng của hoàng đế.

Dòng chữ trên ngọc tỷ “Hòa thị bích” thể hiện mong muốn bảo vật này có thể được truyền lại từ đời này sang đời khác, nhưng thật không ngờ, nhà Tần chỉ tồn tại ngắn ngủi. Nhà Tần truyền đến Tần Tử Anh thì diệt vong. Theo Sử ký, gian thần Triệu Cao sau khi giết Tần Nhị Thế từng định mang ngọc tỷ để làm vua nhưng không được quần thần tin phục nên phải lập Tử Anh lên ngôi. Tử Anh giết được Triệu Cao lúc cơ nghiệp nhà Tần đã không thể cứu vãn.

Tháng 10/206 TCN, khi Lưu Bang tiến quân vào Hàm Dương, Tần Tử Anh dùng dây đeo ấn của mình buộc vào cổ, niêm phong ngọc tỷ và phù tiết, đứng ở quỹ đạo chờ dâng cho Lưu Bang để xin hàng. Ngọc tỷ truyền quốc từ nhà Tần chuyển sang nhà Hán (206 TCN) và trở thành ngọc tỷ truyền quốc của triều đại nhà Hán.

Ngọc tỷ truyền quốc được nhà Hán coi là báu vật, giữ trong cung ở Trường An, tượng trưng hoàng quyền, còn khi sử dụng đóng công văn thì dùng 6 loại ngọc tỷ khác nhau: Hoàng đế Hành Tỉ (皇帝行璽), Hoàng đế Chi Tỉ (皇帝之璽), Hoàng đế Tín Tỉ (皇帝信璽), Thiên tử Hành Tỉ (天子行璽), Thiên tử Tín Tỉ (天子信璽), Thiên tử Chi Tỉ (天子之璽).

Năm 8, Hán Đế là Nhũ Tử Anh bị ngoại thích Vương Mãng cướp ngôi. Vương Mãng sai em là An Dương hầu Vương Thuấn vào trong hậu cung ép Thái hoàng Thái hậu Vương Chính Quân, mẹ của Hán Thành Đế và là cô ruột của Vương Mãng, trao Ngọc tỷ truyền quốc cho mình, nhưng Vương Chính Quân từ chối, mắng anh em họ Vương rồi cầm ngọc tỷ truyền quốc ném mạnh xuống đất, khiến cho viên ngọc tỷ này bị sứt một góc. Sau Vương Mãng sai người dùng vàng để khảm lại chỗ sứt đó.

Năm 23, Vương Mãng bị quân khởi nghĩa Lục Lâm đánh bại. Trước khi chết, ông đeo ngọc tỷ trên cổ. Một viên tướng của quân Lục Lâm giết Vương Mãng, đem dâng Ngọc tỷ cho chủ tướng. Đến Nnm 25, Hoàng tộc họ xa của nhà Hán là Lưu Tú đánh bại các lực lượng khởi nghĩa và cát cứ, lập ra nhà Đông Hán, Ngọc tỷ truyền quốc lại trở về tay nhà Hán.

Cuối thời Đông Hán, xảy ra loạn “Thập thường thị” (hoạn quan) và Đổng Trác. Đổng Trác thao túng triều đình, làm nhiều điều ác, các chư hầu họp lại đánh. Năm 190, Đổng Trác bị quân các trấn đánh bại, bỏ kinh thành Lạc Dương, mang Hán Hiến Đế sang Trường An. Trước khi đi Đổng Trác đốt phá kinh thành cũ. Tướng chư hầu là Tôn Kiên tiến vào Lạc Dương bắt được Ngọc tỷ trong giếng Chân Cung.

Các chư hầu chia phe phái đánh lẫn nhau. Năm 191, Tôn Kiên nghe lời Viên Thuật đem quân tiến đánh Kinh Châu, chinh phạt Lưu Biểu, bị tử trận. Con Tôn Kiên là Tôn Sách phải nương nhờ Viên Thuật. Thuật bèn nhân cơ hội vợ Tôn Kiên là Ngô thị đem quan tài chồng về quê, bắt giữ lại và cướp đoạt Ngọc tỷ rồi xưng Đế ở Thọ Xuân (Hoài Nam).

Viên Thuật bị Tào Tháo và Lã Bố đánh bại. Năm 199, Viên Thuật ốm chết. Thủ hạ của Thuật là Từ Lục đem Ngọc tỷ truyền quốc dâng cho Tào Tháo – người đang nắm Hán Hiến Đế sau khi Đổng Trác bị giết. Tào Tháo tuy nắm được Ngọc tỷ nhưng sợ mang tiếng cướp ngôi nhà Hán nên chỉ xưng Vương. Năm 220, con Tào Tháo là Tào Phi lên thay cha, phế vua Hiến Đế lập ra nhà Tào Ngụy, Ngọc tỷ truyền quốc chính thức thuộc về họ Tào.

Năm 265, Tư Mã Viêm ép vua Nguỵ là Tào Hoán phải nhường ngôi, lập ra nhà Tấn, Ngọc tỷ lại rơi vào tay dòng họ Tư Mã.

Nhà Tây Tấn tồn tại 52 năm thì bị diệt vong (316), phải chạy xuống Giang Nam, gọi là Đông Tấn. Lưu Thông nước Hán Triệu của người Hung Nô diệt Tây Tấn, nắm được Ngọc tỷ. Sau đó Hậu Triệu của người Yết diệt Hán Triệu, Ngọc tỷ thuộc về Hậu Triệu của Thạch Lặc.

Năm 352, nước Nhiễm Ngụy diệt Hậu Triệu, Ngọc tỷ lại vào tay vua nước này là Nhiễm Mẫn (người Hán). Nhưng ngay năm đó Mẫn đi đánh Tiền Yên bị tử trận, Thái thú Bộc Dương của Nhiễm Ngụy là Đái Thi đem truyền Quốc Ngọc tỷ hiến cho hoàng đế nhà Đông Tấn. Ngọc tỷ trở về tay người Hán.

Năm 420, Lưu Dụ cướp ngôi nhà Đông Tấn, chiếm được Ngọc tỷ, lập ra nhà Lưu Tống. Từ đó Ngọc tỷ truyền quốc truyền qua các triều đại Nam triều thời Nam Bắc triều là Lưu Tống, Nam Tề, Lương, Trần. Bắc triều không có Ngọc tỷ.

Năm 589, nhà Trần bị nhà Tùy ở Trung nguyên tiêu diệt, Ngọc tỷ truyền quốc lọt vào tay nhà Tùy. Đến năm 617, Tùy Dạng Đế bị Vũ Văn Hóa Cập phát động chính biến giết và chiếm được Ngọc tỷ truyền quốc. Vũ Văn Hóa Cập xưng Đế, lập ra nước Hứa, nhưng chính quyền này chỉ tồn tại có 1 năm sau bị Hạ vương Đậu Kiến Đức đánh bại, bắt và giết ở Liêu Thành. Năm 621, Đậu Kiến Đức bị nhà Đường đánh bại, bị bắt giết ở Trường An, người vợ đem Ngọc tỷ truyền quốc dâng cho Đường Cao Tổ Lý Uyên. Từ đó Ngọc tỷ thuộc về nhà Đường.

Năm 907, Chu Ôn cướp ngôi nhà Đường lập ra nhà Hậu Lương, Ngọc tỷ lại rơi vào tay nhà Hậu Lương.

Qua thời Ngũ đại Thập quốc tới nhà Tống kế tục, Ngọc tỷ thuộc về nhà Tống. Năm 1127, hai vua Tống Huy Tông và Tống Khâm Tông bị quân Kim (người Nữ Chân) bắt đưa về Bắc Kinh, Ngọc tỷ rơi vào tay nhà Kim. Nhà Nam Tống của Triệu Cấu không có Ngọc tỷ truyền quốc.

Năm 1234, nhà Kim bị người Mông Cổ diệt, Ngọc tỷ rơi vào tay nhà Nguyên. Năm 1368, Nguyên Thuận Đế bị Minh Thái Tổ đánh đuổi, cầm Ngọc tỷ chạy lên Mạc Bắc. Nhà Minh làm chủ Bắc Kinh nhưng không nắm được Ngọc tỷ truyền quốc.

Sau này, dòng dõi của Nguyên Thuận Đế là Lâm Đan Hãn chết, Ngọc tỷ được mang dâng cho vua Hậu Kim của người Nữ Chân là Hoàng Thái Cực – con Nỗ Nhĩ Cáp Xích. Từ đó đến khi Hậu Kim đổi thành nhà Thanh và tiến vào Trung nguyên diệt nhà Minh, Ngọc tỷ trong tay nhà Thanh.

Ngọc tỷ truyền quốc truyền đến vua cuối cùng nhà Thanh là Phổ Nghi. Sau Cách mạng Tân Hợi (1911), Phổ Nghi bị phế, Phùng Ngọc Tường lấy Ngọc tỷ giao lại cho một ủy viên cơ quan tiền thân của Bảo Tàng Cố cung.

Có ý kiến cho rằng Ngọc tỷ truyền quốc đã bị thiêu hủy khi Hậu Đường Mân Đế bị Thạch Kính Đường cướp ngôi năm 936 đã cầm Ngọc tỷ nhảy vào lửa tự thiêu và Ngọc tỷ truyền cho nhà Tống sau này chỉ là Ngọc tỷ giả.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về lịch sử triều đại của một đất nước đông dân nhất thế giới này. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn, hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! Chúc du khách có một chuyến đi vui vẻ và thú vị!

“Bữa cơm đoạn đầu đài” dành cho tử tù trước khi bị hành hình trong lịch sử Trung Hoa cổ đại

Theo phong tục có từ thời xưa, tử tù trước khi bị xử trảm sẽ được cho ăn một bữa thịnh soạn no nê, đôi lúc trong những món ăn còn có một miếng thịt sống. Ý nghĩa của tập tục này là gì? Mời du khách cùng chúng tôi tìm hiều qua bài viết này nhé!

Cổ nhân quan niệm rằng, con người ta khi đến thế gian này vốn là không dễ dàng, cho nên lúc rời đi thì càng đàng hoàng càng tốt. Điều này không chỉ đúng đối với những người thuận theo quy luật “sinh lão bệnh tử” mà nó còn đúng cho cả những người phạm tội nặng phải bị xử trảm. 

Thời phong kiến cổ đại đề cao việc “dùng nhân từ để trị”, hết sức coi trọng sinh mạng. Về cơ bản, các quan chức sẽ chọn xử trảm tù nhân sau tiết thu và trước khi bắt đầu mùa đông. Đối với người xưa, “Thu hậu vấn trảm” không chỉ thuận theo thiên thời mà còn là một con đường sống cho các tử tù.

Các tù nhân bị kết án tử ở nhiều vùng khác nhau thường được quan lớn trong triều xem xét lại trước khi hành hình. Nhưng vì việc di chuyển trong thời cổ đại lạc hậu, phải mất vài tháng để chuyển tin tức đến Kinh thành, nên trong quá trình này, người thân của tử tù vẫn còn cơ hội để tìm bằng chứng mới và lật ngược bản án. Chính vì thế, “Thu hậu vấn trảm” cũng ngăn chặn sự bất công ở một mức độ nhất định. Điều này cũng là tuân theo Thiên ý, mùa thu, vào thời điểm này mọi thứ đang dần khô héo, và việc xử tử tội phạm xảy ra là lẽ đương nhiên.

Về ngày xử trảm cũng có nhiều quy định phức tạp, ví dụ như xử trảm phải vào lúc giờ ngọ ba khắc (tức 11 giờ 45), giờ khác ngoài thời điểm này là không phù hợp. Người xưa cho rằng, đây là khoảng thời gian dương khí nhất trong ngày, chọn hành hình vào thời điểm này có thể ngăn chặn quỷ hồn quay trở lại trần gian làm điều không tốt cho người khác.

Trước khi xử trảm những tên tội phạm này sẽ được cho ăn một bữa cơm cuối cùng. Bữa ăn cuối cùng này được gọi là “bữa cơm đoạn đầu đài” hay còn gọi là “bữa cơm từ dương”. Đây là bữa ăn cuối cùng trong cuộc đời tử tù, chính vì thế nha dịch của quan phủ đều cố gắng chuẩn bị thịnh soạn nhất có thể. Trong “bữa cơm đoạn đầu” này ít nhất phải có hai món, thông thường là có thịt, rau, cơm, bánh bao. Tuy nhiên, dù được cung cấp một bữa ăn ngon nhưng hầu hết các tử tù đều không thể nuốt trôi được. Bởi vào thời điểm này họ rất lo lắng, cảm xúc không thường ổn định. Cũng có lúc thì có một vò rượu cho những người thích uống rượu để họ lặng lẽ lên đường trong cơn say.

Người xưa quan niệm không nên làm ma đói nên dù có phạm lỗi gì đi chăng nữa thì khi chết thì coi như đã trả hết nợ, nên bữa cơm ăn no trước khi xử trảm cũng là một thiện chí đối với những người này.

Theo ghi chép lịch sử, “bữa cơm đoạn đầu đài” có sớm nhất vào thời Xuân Thu. Sau khi Sở Trang Vương, một trong 5 vị vua của thời Xuân Thu bình định, dẹp loạn, ông đã tống giam các quan lại và kết án tử hình. Vì muốn thể hiện là một người có tấm lòng rộng lượng, ông ra lệnh khoản đãi những phản thần kia, cho họ ăn thêm bữa trước khi chết, đợi bọn họ sau khi ăn uống no đủ sẽ hành hình, tránh phải làm ma đói dưới âm phủ. Kể từ đó, “bữa cơm đoạn đầu đài” vẫn tiếp diễn, và kéo dài cho đến các triều đại sau này.

Các triều đại khác nhau có quy định về “bữa cơm đoạn đầu đài” khác nhau, nhà Tống quy định rõ ràng, tiền cơm không được ít hơn tiêu chuẩn 5.000 xu. Vào thời điểm đó, số tiền này là một khoản khổng lồ. Dù những quan chức ở các cấp đều biển thủ một ít nhưng số tiền còn lại cho “bữa cơm đoạn đầu” không hề ít.

Vào thời nhà Minh và nhà Thanh, “cơm trảm” có một chút đặc biệt, ngoài đồ ăn chín còn có một miếng thịt sống được đặt trong bát.

Vào thời cổ đại, hầu hết người dân đều tin vào luân hồi và địa ngục, họ tin vào thuyết luân hồi chuyển thế. Tương truyền sau khi bị xử trảm, linh hồn sẽ lìa khỏi xác, bị hắc bạch vô thường áp giải linh hồn về âm phủ, rồi giao cho quỷ đầu bò, mặt ngựa áp giải đến nơi xét xử. Sau khi xét xử họ phải bước qua cầu Nại Hà đến uống canh Mạnh Bà rồi mới chuyển sinh. Bên cạnh cầu Nại Hà luôn có một con chó hung hãn. Một khi hồn ma bị con chó hung ác này nuốt chửng, hồn ma sẽ không thể tái sinh. Vì vậy, viên quản ngục bỏ một miếng thịt sống vào bát của người tù để cho người tù đem xuống âm phủ cho con chó dữ ăn để có thể tái sinh thuận lợi. Cho nên tử tù chẳng những không nổi giận mà còn rất cảm kích khi thấy miếng thịt sống đấy.

Đặt miếng thịt sống vào bát cơm của tử tù tưởng là hành động khinh người của người thời cổ đại nhưng nó có thể làm giảm bớt áp lực tâm lý cho tử tù. Hơn nữa, đây cũng được xem như “lòng nhân đạo” của người xưa.

Thời cổ đại, mọi người chịu ảnh hưởng của Nho giáo rất sâu sắc, do đó các vị Hoàng đế khi cai trị đất nước cũng chú ý ít nhiều đến sự nhân đạo, phép tắc, ngay cả tử tù cũng sẽ để họ được hưởng phẩm giá cuối cùng. Và “bữa cơm đoạn đầu” thời cổ đại chính là biểu hiện của tư tưởng đó.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về lịch sử triều đại của một đất nước đông dân nhất thế giới này. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn, hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! Chúc du khách có một chuyến đi vui vẻ và thú vị!

Tiết Tần – mỹ nhân có cái chết thê thảm nhất thời Bắc Tề trong lịch sử Trung Hoa

Trong lịch sử Trung Hoa cổ đại có hai nữ nhân nhận cái chết thê thảm nhất. Một là Thích Phu Nhân, sủng phi của Hán Cao Tổ Lưu Bang, bà đã bị Lã Hậu giết chết bằng những đòn ghen tuông tàn độc. Người còn lại là Tiết Tần, phi tần của Văn Tuyên Đế Cao Dương. Hôm nay, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về Tiết Tần – nữ nhân mang mệnh khổ, chết không toàn thây lại còn bị rút xương làm đàn tì bà.

Gia tộc Cao thị thời Bắc Tề rất khác biệt với các gia tộc khác. Họ không chỉ không thể trị quốc mà còn hoang dâm vô đạo, giết người tàn bạo. Đó là lý do mà các nhà sử học gọi Bắc Tề là vương triều “cầm thú” đầy dâm loạn.

Văn Tuyên Đế Cao Dương (526-559) là Hoàng đế khai quốc của triều đại Bắc Tề trong lịch sử Trung Hoa. Trong giai đoạn đầu trị vì, Văn Tuyên Đế chú tâm đến các vấn đề quân sự, vì thế sức mạnh quân sự của Bắc Tề lúc này ở vào thời kỳ đỉnh cao. Ông ta cũng cố cân bằng gánh nặng thuế và giảm bớt hủ bại, tham nhũng trong triều bằng cách trả bổng lộc hậu hĩnh cho các quan lại.

Tuy nhiên, về sau Văn Tuyên Đế càng ngày càng trở nên tàn bạo và có các hành vi thất thường do chứng nghiện rượu, khiến triều chính rơi vào hỗn loạn, người người oán hận. Mỗi lần uống rượu say, Văn Tuyên Đế liền trở thành một kẻ sát nhân tàn bạo, chém giết người bừa bãi để mua vui. Do đó, một đại thần có tài tên là Dương Âm đã phải lập ra một nhóm các tù nhân đã bị kết án tử hình để khi Văn Tuyên Đế muốn giết ai đó, thì sẽ đưa một tù nhân trong nhóm đến để Văn Tuyên Đế hành quyết. Nếu tù nhân đó có thể sống sót thì sẽ được phóng thích.

Cao Dương cũng thường bắt dân nữ đưa vào hoàng cung và hưởng lạc cùng thân tín. Tính cách của vị Hoàng đế này có thể được miêu tả bằng chữ “thối nát”. Trong cuốn sử “Tư trị thông giám”, tác giả Tư Mã Quang từng mô tả Văn Tuyên Đế rằng: “Văn Tuyên Đế uống rất nhiều rượu và thích sống phóng đãng, thường thực hiện các hành vi cuồng bạo theo ý muốn nhất thời của mình. Đôi lúc, khi thời tiết ấm áp, ông ta có thể khỏa thân phơi nắng song ngay cả vào mùa đông giá rét, ông ta cũng lột quần áo và chạy khắp nơi. Có lần, ông hỏi một người đàn bà trên đường rằng: “Thiên tử là người như thế nào?”. Người đàn bà đáp rằng: “Điên điên khùng khùng, có Thiên tử nào như vậy đâu”. Tức giận, Văn Tuyên Đế liền ra lệnh chặt đầu người đàn bà”.

Lúc bấy giờ, có một nàng ca kỹ rất xinh đẹp – Tiết Tần – rất được Cao Dương cực kỳ sủng ái. Nhưng ở thời cổ đại, gần vua như gần hổ. Dù được Hoàng đế nhất mực sủng ái Tiết Tần cũng không tránh được cái chết thê thảm.

Tiết Tần có một người em gái cũng xinh đẹp không kém. Cao Dương thường xuyên đến quán rượu của người này và sau đó đã phát sinh tư tình. Em gái của Tiết Tần cũng rất thông minh, dựa vào mối quan hệ này, nghĩ rằng Hoàng đế rất yêu thương mình nên đã cầu xin Cao Dương phong cho cha ruột chức quan Tư Đồ.

Ai ngờ Cao Dương vừa cười vui vẻ đã lập tức cau có nổi giận, hắn chỉ vào em gái của Tiết Tần và nói: “Tư Đồ là chức quan quan trọng trong triều, ngươi muốn xin là xin được sao?”. Nói xong hắn đích thân dùng cưa cưa chết nữ nhân này.

Một thời gian sau, Cao Dương nghi ngờ Tiết Tần và Cao Nhạc (thúc thúc của Cao Dương) có mối quan hệ mờ ám. Không nói không rằng, hắn đã ban rượu độc cho Cao Nhạc, sau đó chặt đầu Tiết Tần chỉ với một nhát dao. Tiếp đó, Cao Dương giấu thủ cấp đầy máu của Tiết Tần trong tay áo rồi đến dự yến hội.

Trên yến hội đêm hôm đó, Cao Dương uống rất nhiều rượu, tinh thần vô cùng sảng khoái. Khi yến hội đến cao trào, hắn rút thủ cấp khỏi tay áo và ném thẳng lên bàn tiệc. Cao Dương còn ra lệnh cho người mang thi thể của Tiết Tần đến trước mặt mọi người. Ông ta thậm chí còn đùa giỡn với thi thể của Tiết Tần khiến tất cả những người dự tiệc đều kinh hãi, rùng mình. Sau đó đoạn chi và rút xương chân ngay tại chỗ, hắn muốn dùng xương chân của Tiết Tần để làm một cây đàn tì bà. Như vậy, Tiết Tần đã trở thành Phi tần đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa cổ đại bị rút xương làm đàn tì bà. Về sau, khi ôm cây đàn tì bà đó, Cao Dương rơi nước mắt mà nói: “Giai nhân nan tái đắc” (Người đẹp khó gặp lại). 

Sau khi biến xương chân của Tiết Tần thành đàn tì bà, Cao Dương đã tổ chức tang lễ cho nàng. Lúc đấy, hắn đi theo đoàn đưa tang và khóc rất to như thể bản thân rất đau lòng.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về lịch sử triều đại của một đất nước đông dân nhất thế giới này. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn, hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! Chúc du khách có một chuyến đi vui vẻ và thú vị!

Vương vấn ẩm thực Hồ Nam ở Trung Quốc

Hồ Nam là một tỉnh nổi tiếng của Trung Quốc được nhiều người biết đến với vô vàn những điều thú vị chờ đợi khám phá, trong đó không thể không kể đến văn hóa ẩm thực nơi đây. Những món ăn của Hồ Nam nổi bật với màu sắc bắt mắt cùng hương vị ngon khó cưỡng, mang đến những trải nghiệm mới lạ cho vị giác của thực khách.

Tỉnh Hồ Nam nằm ở khu vực phía Nam của Trung Quốc, tại khu vực vùng trung du Trường Giang và mạn Nam của hồ Động Đình. Khu vực này ngày trước đã từng là trung tâm giao thông quan trọng của thời kỳ phong kiến. Với phong cảnh hữu tình cùng với món ăn ngon đã khiến cho nơi đây thu hút hàng triệu khách du lịch mỗi năm. Các món ăn với hình thức trang trí đẹp mắt, độc đáo và nhiều màu sắc bắt mắt cùng với công thức chế biến công phu. Không những thế, hương vị độc đáo làm thực khách ăn một lần mà cứ vương vấn không quên.

Trải qua hàng nghìn năm cùng với thăng trầm lịch sử, Hồ Nam đã trở thành một trung tâm với sư đa dạng văn hóa ẩm thực. Hồ Nam có vị trí tại trung tâm chiều dài dòng chảy của sông Trường Giang. Hồ Nam được bao quanh ba mặt Đông, Nam và Tây Nam bởi núi. Khí hậu tại Hồ Nam là kiểu khí hậu cận nhiệt đới. Mùa đông rất ngắn và mát. Mùa hè thì nóng ẩm và mưa nhiều. Chính vì đặc điểm bốn mùa ngắn hạn này đã làm nên sự đa dạng và riêng biệt của nền ẩm thực Hồ Nam. Người ta thưởng nói ẩm thực Hồ Nam chính là một bức tranh toàn bích hay một bách khoa toàn thư về ẩm thực.

Trải qua hơn 2.000 năm tồn tại và phát triển, trường phái ẩm thực Hồ Nam đã hoàn thiện và khẳng định mình bởi các món ngon độc đáo.

Nghệ thuật nấu nướng ở Hồ Nam chú trọng sự tinh tế, hoàn mỹ. Điểm nổi bật của trường phái ẩm thực Hồ Nam là trong quá trình nấu ăn họ chú trọng đến nhiều chất béo (nhưng không ngấy chút nào), chua và đặc biệt là vị cay. Vị cay của Hồ Nam khác biệt hoàn toàn với vị cay của Tứ Xuyên. Người Tứ Xuyên dùng ớt, hạt tiêu Tứ Xuyên để tạo vị cay, nhưng người Hồ Nam thì không. Vị cay của món ăn Hồ Nam đến từ ớt, tỏi, hẹ tây. Vị cay của ẩm thực Hồ Nam mang nhiều “cung bậc” của nhiều hương vị kết hợp, ví dụ vị cay nóng kết hợp với chua, ớt băm nhỏ muối hay đậu nành lên men cay. Hầu hết các món ăn của Hồ Nam đều cay nóng, thậm chí hương vị còn mạnh mẽ hơn ẩm thực Tứ Xuyên. Trong ẩm thực Hồ Nam còn chú trọng đến sử dụng nước xốt giúp tăng thêm nhiều hương vị cho món ăn hơn nữa. Hương thơm của các món ăn cũng nhẹ nhàng. Chính những điều này làm cho các món ăn của Hồ Nam có tính “gây nghiện” rất cao. 

Thực phẩm phổ biến trong ẩm thực Hồ Nam là thủy hải sản và gia cầm. Người Hồ Nam rất coi trọng sự tươi nguyên của nguyên liệu. Họ cho rằng, nguyên liệu còn tươi sống mới, món ăn mới thơm ngon. Các loại thủy hải sản được dùng nhiều ở đây là cá, tôm, cua và rùa. 

Hồ Nam sở hữu một nền ẩm thực với những tiêu chuẩn khắt khe vô cùng. Có tổng cộng hơn 4.000 món ăn khác nhau ở Hồ Nam. Trong đó, hơn 300 món ăn rất phổ biến với du khách, nhưng có thể kể đến 7 món ăn đặc trưng nhất của ẩm thực Hồ Nam đó là:

Thịt heo xông khói xào ớt

Người dân Hồ Nam vốn có sở thích nấu các món theo phương pháp xông khói. Với phương pháp chế biến này họ có thể làm rất nhiều món khác nhau. Có thể kể đến như là thịt heo hun khói, thịt gà hun khói, cá hun khói,… Nổi bật nhất chính là món thịt heo xông khói xào ớt. Sự kết hợp hài hòa giữa thịt heo và ớt sừng đã tạo nên một món ăn rất giàu chất dinh dưỡng và có màu sắc bắt mắt nữa. Thịt hun khói săn chắc kết hợp cùng màu đỏ tươi của ớt thật khó mà cưỡng lại. 

Thịt heo xào tiêu

Thịt heo xào tiêu là một món ăn cổ điển trong ẩm thực Hồ Nam. Các thành phần rất đơn giản và chỉ cần một số loại nước chấm thường được sử dụng, bao gồm nước xốt lên men, thịt lợn, nước tương, rượu nấu ăn, đường, bột đậu, hành lá,mì chính,… Món ăn được nấu theo phong cách dân dã và món ăn này sẽ cực hấp dẫn đối với ai yêu thích vị cay nồng nàn của ớt tiêu xứ Trung Hoa.

Đầu cá hấp cay

Cái tên đầu cá hấp cay cũng đã gợi lên một món ăn siêu cay bởi ớt là một phần nguyên liệu chính của món ăn này. Đây là món ăn cay bậc nhất nhất Trung Quốc nói chung và Hồ Nam nói riêng.

Đầu cá được làm sạch, tránh mùi tanh rồi đem đi hấp phủ kín bởi ớt xanh, ớt đỏ. Khi ăn, vị nồng của ớt khiến miệng và ruột trở nên nóng ran nhưng lại vị ngon khiến thực khách vẫn không cưỡng lại được. Món này có thể ăn kèm mì trứng, canh cá, tuy nhiên vẫn không lấn át được vị cay tệ dại của nó.

Lẩu cá cay

Tại khu vực Hồ Nam, có một địa điểm vô cùng hút khách du lịch, đó chính là Phượng Hoàng Cổ Trấn. Ngoài là một địa danh đẹp, vùng đất này còn sở hữu nhiều món ăn hấp dẫn “níu chân” du khách gần xa, đặc biệt phải kể đến món lẩu cá cay.

Nguyên liệu chính là cá được bắt từ con sông Đà Giang nằm ngay bên thị trấn, được chế biến khi còn tươi sống, cho nên giữ nguyên được vị ngọt, thịt rất dai và bùi, hòa quyện với vị cay nồng của ớt. Lẩu lá cay được ăn với những loại rau và nước chấm riêng biệt tạo nên sự kết hợp tuyệt vời giữa sắc, hương, vị. Ở đây, người ta sẽ ăn lẩu cùng cơm trắng, và sẽ ngon hơn nếu có thêm một phần rau xào.

Lẩu khô Hồ Nam

Lẩu cũng có thể ăn khô, không cần nước dùng? Nghe dù lạ nhưng đây lại là một món ăn cực bổ dưỡng và ngon miệng, lại rất dễ thực hiện. Nguyên liệu làm lẩu khô có thể là vịt, cá, thỏ… Những món này sau khi sơ chế được ướp thêm các loại phụ liệu như gừng lát, rau mùi… rồi dùng rượu trắng xào sơ qua, sau đó bỏ vào chút dầu ớt, đun khoảng 15 phút là trở thành nồi lẩu khô có mùi vị đặc biệt. Đến Hồ Nam mà thưởng thức món lẩu độc đáo này hẳn du khách sẽ phải “ghiền” ngay lập tức.

Vịt hầm tiết và gạo nếp

Vịt hầm tiết và gạo nếp là một trong những món ăn đứng top trong danh sách “cao lương mĩ vị” không thể bỏ lỡ khi đặt chân đến Hồ Nam. Công thức để chế biến món ăn này rất cầu kì, phức tạp, từ chuẩn bị nguyên liệu cho đến khâu chế biến vô cùng phức tạp. Những công đoạn nhỏ nhất như ngâm gạo nếp, trộn tiết sống rồi hấp cách thủy, sau đó là công đoạn cắt thành từng miếng nhỏ vừa ăn và cho vào để chiên lên. Cùng lúc đó, vịt sẽ được cho vào để hầm tới khi chín nhừ, mềm, tiếp sau đó sec nhồi tiết và gạo nếp đã chiên vào trong vịt rồi hầm thêm một lúc nữa cho đến khi vịt chuyển thành màu vàng đỏ hấp dẫn. Bước cuối chính là nêm nếp gia vị cho vừa miệng để ăn. Thịt vịt mềm, thơm và dai được ăn cùng với gạo nếp đã chiên giòn bên trong tạo nên hương vị vô cùng độc đáo và mới lạ.

Nếu chưa được trải nghiệm chắc chắn du khách sẽ nghĩ món này khó ăn, tuy nhiên vì công đoạn chế biến món ăn này gồm rất nhiều bước cùng với việc nêm nếm gia vị rấ đậm đà mà mùi tanh của vị đã biến mất. Thịt vịt mềm, dai, thơm ăn kèm cùng với gạo đã chiên giòn thơm thơm khiến cho món ăn càng thêm phần hấp dẫn hơn.

Đậu phụ thối hỏa cung điện

Có thể du khách đã được biết đến đậu phụ thối chiên vàng và chấm với sốt cay được bán ở đầy rẫy vỉ hè tại Trung Quốc, nhưng có lẽ, món Đậu phụ thối hỏa cung điện vang danh cùng câu nói “đen như mực, non như pho mát và mềm như nhung” sẽ gây cho du khách một ấn tượng mới lạ và độc đáo hơn cả. Món ăn này chỉ có ở thành phố Trường Sa của Hồ Nam.

Nguyên liệu chính của món ăn là đậu phụ được làm từ nước tương, sau khi ngâm tương với dung dịch nước muối đặc biệt nửa tháng sau thì mới lấy ra, sau đó sử dụng dầu cây trà để chiên lên trên lửa nhỏ và cho thêm dầu mè và xốt tương ớt.

Món đậu phụ thối hỏa cung điện cũng có đặc trưng như các món đậu phụ thối thông thường, vẫn đậm mùi “thum thủm” riêng biệt mà không có món nào có được. Chỉ cần nếm thử một miếng đậu phụ thối hỏa cung điện, khi miếng đậu chạm đến đầu lưỡi thì mùi “thum thủm” sẽ tan biến ngay mà thay vào đó chính là mùi nồng nồng, thơm thơm, béo ngậy, non mềm hòa quyện giòn với lớp vỏ giòn tan khiến cho mọi thực khách nếm thử một lần thì sẽ khó cưỡng và không thể nào quên.

Ẩm thực Hồ Nam với nhiều món đặc sản trứ danh quả thực khiến người ta phải “mê mẩn”. Hãy chọn một Tour Trung Quốc của chúng tôi để có cơ hội khám phá và trải nghiệm nền ẩm thực Chiết Giang nhé!