Mối quan hệ tai tiếng của Minh Hy Tông trong lịch sử Trung Hoa

Việc Hoàng đế nạp Phi tần hơn tuổi có lẽ không phải là trường hợp hiếm gặp trong lịch sử Trung Hoa, thế nhưng thông dâm với nhũ mẫu của chính mình thì có lẽ chỉ có trường hợp của Minh Hy Tông. 

Minh Hy Tông (23/12/1605 – 30/9/1627), tên thật là Chu Do Hiệu, là vị Hoàng đế thứ 16 của nhà Minh trong lịch sử Trung Hoa, trị vì từ năm 1620 đến năm 1627. Trong thời gian tại vị, ông chỉ dùng một niên hiệu là Thiên Khải, nên còn được gọi là Thiên Khải Đế.

Ông là con trai trưởng của Minh Quang Tông – vị Hoàng đế tại vị ngắn nhất trong lịch sử nhà Minh, do ông băng hà chỉ sau 29 ngày tại vị. Còn mẹ của Minh Hy Tông là Hiếu Hòa Hoàng hậu Vương thị. Không may là vị Hoàng hậu này mất sớm, nên từ nhỏ, Chu Do Hiệu đã thiếu bàn tay chăm sóc của mẹ. Vua cha đã phải tuyển lựa nhũ mẫu vào cung để chăm sóc Hoàng tử. Theo sử sách, Chu Do Hiệu có tật rất “kén” vú nuôi. Có đến hàng trăm vú nuôi được đưa vào cung nhưng đều không thể cho Hoàng tử bú được. Chỉ đến khi Khách Thị được đưa vào thì Chu Do Hiệu mới tỏ ra ngoan ngoãn nghe lời. Chỉ đến khi Khách thị (tên thật là Khách Ấn Nguyệt) được đưa vào cung, thì lúc đó Chu Do Hiệu mới chịu ngoan ngoãn nghe lời. Thời điểm đó, Khách thị khoảng 18 tuổi, đã có chồng là một nông dân ở Bảo Định, Hà Bắc và có một đứa con gái. Tuy nhiên, đứa con gái của bà không may qua đời chỉ sau khi sinh khoảng 1 tháng.

Chu Du Hiệu cứ thế lớn lên trong sự chăm sóc của Khách thị. Theo quy định, các nhũ mẫu sẽ phải rời khỏi cung điện trước khi Hoàng tử lên 7 tuổi nhưng điều này không được áp dụng với Khách thị. Càng trưởng thành, Chu Do Hiệu càng quấn quýt hơn với người nhũ mẫu này. Thậm chí, nếu không gặp nhũ mẫu ít nhất một lần một ngày, Chu Do Hiệu sẽ cảm thấy bứt rứt, khó chịu trong người, thành ra dễ cáu giận với nhiều người. 

Vào năm 1620, Minh Quang Tông băng hà, Chu Do Hiệu lên ngôi Hoàng đế khi mới 15 tuổi. Dù đã là vua một nước, nhưng Minh Hy Tông vẫn luôn quấn quýt bên Khách thị như hình với bóng.

Nói Minh Hy Tông có tình cảm với nhũ mẫu Khách thị cũng chẳng có gì sai, khi ông là do một tay người phụ nữ này nuôi lớn. Tuy nhiên, tình cảm đấy không đơn thuần là tình thương như con dành cho mẹ mà là của những cặp tình nhân đối đãi với nhau. Thậm chí, các nhà sử gia còn khẳng định rằng chắc chắn giữa Minh Hy Tông và Khách thị có chuyện ân ái chăn gối. Bởi lẽ, khi Minh Hy Tông lên ngôi vua, Khách thị đã trên dưới 40 tuổi nhưng bà vẫn đẹp tựa mỹ nhân 28 tuổi, khiến Hy Tông đang độ tuổi xuân thì mê mẩn. Hơn nữa, dù là gái góa chồng nhưng vốn xinh đẹp lẳng lơ nên chưa bao giờ Khách thị tự coi mình là nhũ mẫu của Hy Tông. Theo sử liệu ghi chép, mỗi sáng sớm, Khách thị đều tới tẩm cung của Hy Tông để hầu hạ vua cho tới nửa đêm mới về.

Chính vì có tình ý với nhũ mẫu nên khi Minh Hy Tông lên ngôi Hoàng đế chưa được bao lâu, ông đã phong cho Khách thị làm Phụng Thánh phu nhân, lại ấm phong cho con trai của họ Khách là Hầu Hưng Quốc chức Cẩm Y Vệ chỉ huy sứ, sai bộ Hộ chọn 20 mẫu đất tốt ban cho họ Khách làm ruộng hương hỏa. Việc gia phong quá hậu hĩnh cho một người vú nuôi như vậy đương nhiên gặp phải sự phản đối kịch liệt từ phía các đại thần. Để dẹp yên dư luận, Minh Hy Tông ra một chỉ dụ nói rất rõ công đức không ai có thể sánh bằng của Khách thị.

Với chỉ dụ này, Khách thị từ một người dân thường đã trở thành một phu nhân cao quý, có thể hưởng hết những vinh hoa phú quý của thế gian. Tuy nhiên, việc phong tước vị cho Khách thị không phải là ân sủng cuối cùng của Minh Hy Tông dành cho người vú nuôi của mình. Càng về sau, Minh Hy Tông càng sủng ái Khách thị hơn, thậm chí tới mức nhiều sử gia hiện nay cũng cảm thấy không thể lý giải nổi.

Mùa đông năm 1620, Khách thị chuyển vào sống ở phía tây của cung Càn Thanh, Hoàng đế Hy Tông tới nơi chúc mừng. Hoàng đế thưởng yến, Tư Chung Cổ dẫn đầu các thái giám đứng ra diễn trò, Hoàng đế rất lấy làm vui nên cho phép Khách thị từ nay có thể ra vào cung bằng kiệu nhỏ, tự mình lựa chọn thái giám trong cung làm người khiêng kiệu, mọi lễ nghi đều không khác gì Phi tần.

Năm Thiên Khải thứ 2, Khách thị phụng chỉ chuyển tới cung Hàm An, thế lực càng lớn hơn. Minh Hy Tông ban Khách thị các thái giám Thôi Lộc, Hứa Quốc Ninh… hơn 10 người, cộng thêm những kẻ khác tự nguyện tới phục vụ chăm sóc cho có tới cả trăm. Mỗi lần tới sinh nhật của Khách thị, Hoàng đế đều tự tới nơi để chúc mừng, ban thưởng vô số.

Tiền lương bổng dùng ở chỗ Khách thị có khi còn được hối thúc gấp hơn cả ở chỗ của Hoàng đế. Mặc dù đã là Phụng Thánh phu nhân, ăn bổng lộc của Hoàng đế, tuy nhiên, cơm nước của Hy Tông vẫn do Khách thị đứng ra lo liệu. Mỗi ngày ba bữa, Hoàng đế ăn không hết ngự yến đều ban xuống cho Khách thị. Một ngày ba bữa nội thị mang đồ ăn trong cung phải đi lại không ngớt giữa hai nơi.

Dựa vào tình cảm của Minh Hy Tông, Khách thị lấy đó để gây sóng gió trong hậu cung và đã có những cơn ghen vô cớ đối với các Phi tần được Minh Hy Tông sủng ái. Nhiều Phi tần đã bị Khách Thị đánh ghen, thê thảm nhất chính là Trương Dục Phi. Ngày đó, Trương thị nhập cung làm cung nữ lúc mới 6 tuổi, tới khi 17 thì lọt vào mắt xanh của Hoàng đế, được nạp làm phi tần và may mắn mang thai rồi thăng cấp làm Dục Phi.

Khách thị thấy thế thì ghen ghét điên cuồng, bà bày kế hãm hại Dụ Phi tội khi quân rồi đày vào lãnh cung, không được tiếp thức ăn, nước uống. Cuối cùng, Trương Dục Phi tội nghiệp dù mang long thai vẫn chết thảm khi mới 18 tuổi. Không những thế, Dục Phi còn bị táng dưới phận cung nữ, tận đến đời sau mới được khôi phục danh dự.

Không chỉ Trương Dục Phi, Khách thị còn ngấm ngầm ra tay sát hại nhiều Hoàng tử, Công chúa khác, thậm chí tới cả Hiếu Ai Triết Hoàng hậu Trương thị cũng bị nằm trong số đó. Vào năm 1623, Hoàng hậu có thai nhưng do luôn đối đầu với Khách thị và đại hoạn quan Ngụy Trung Hiền – kẻ “ngồi cùng thuyền” làm khuynh đảo triều Minh với Khách thị – nên Hoàng hậu bị hai kẻ này hãm hại. Đứa trẻ chết trong bụng mẹ và sau được truy phong làm Hoài Xung thái tử Chu Từ Nhiên.

Tuy nhiên, dù được Minh Hy Tông sủng ái đến đâu thì rốt cuộc, Khách Thị tới cuối đời vẫn chỉ mang phận vú nuôi hèn kém và chưa một lần được xướng vào hàng Quý phi danh giá cao sang, thậm chí đã bị xử tử.

Ngày 30/9/1627, Minh Hy Tông qua đời khi chỉ vừa 21 tuổi. Em út của ông lên nối ngôi, đó là Hoàng đế Minh Tư Tông. Lúc này, Minh Tư Tông ra lệnh đày Ngụy Trung Hiền đến Phụng Dương. Đi được nửa đường, Hoàng đế Minh Tư Tông lại ra lệnh bắt lại Ngụy Trung Hiền với cáo buộc mưu phản. Ngụy Trung Hiền khi đó biết mình cùng đường, quyết định tự sát (thắt cổ) thay vì đối mặt với phiên tòa xét xử và bản án tử hình. Dù vậy, nhưng Ngụy Trung Hiền sau đó bị phanh thây và đem bêu xác trước làng quê của ông ta để thị chúng, kết thúc tham vọng vương quyền đáng sợ của hoạn quan họ Ngụy khiến nhiều người vô tội phải chết oan uổng.

Sau khi Ngụy Trung Hiền chết, Minh Tư Tông tiếp tục công cuộc thảo phạt bè đảng hoạn quan trong triều đình, bắt đầu một cuộc thanh toán trên quy mô lớn đối với những viên thái giám có manh nha chống đối triều đình. Cùng với đó là Khách thị, gia quyến họ Ngụy và họ Khách, những người cùng cánh với Ngụy, Khách lần lượt bị hạ lệnh bắt và xử tử.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về lịch sử triều đại của một đất nước đông dân nhất thế giới này. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn, hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! Chúc du khách có một chuyến đi vui vẻ và thú vị!

Nguyên nhân các Phi tần Trung Hoa không được phép trực tiếp nuôi dưỡng con ruột

Quy định của triều đại nhà Thanh trong việc nuôi dạy các Hoàng tử, Công chúa vô cùng khắt khe. Theo đó, không ai được phép nuôi dạy con ruột của chính mình kể cả Hoàng hậu. Tại sao lại như vậy? Mời du khách cùng chúng tôi tìm hiểu lý do nhé!

Trong lịch sử phong kiến Trung Hoa, những tiểu Hoàng tử, Công chúa ngay từ khi lọt lòng đã sống trong nhung lụa, tuy nhiên, họ lại không có được niềm hạnh phúc được được lớn lên trong vòng tay chăm sóc, yêu thương của mẹ đẻ. Bởi tất cả họ phải được nuôi dưỡng bởi các “Nãi ma”, còn gọi là Nãi nương, Nãi tử, Nhũ mẫu, Nhũ nương,… Công việc chính của những nữ nhân này là cho Hoàng tử và Công chúa bú sữa. Điều này khiến không ít người phải thắc mắc, tại sao các Hoàng đế lại không cho phép phi tần đích thân cho con ruột của mình uống sữa mà phải tìm nhũ mẫu? Nguyên nhân đơn giản nhưng lại phản ánh tâm tư thâm sâu của Hoàng đế.

Trước hết, trên thực tế, nữ nhân duy nhất trong hậu cung được Hoàng đế công nhận thật sự là Hoàng hậu. Những Phi tần khác dù có được nhiều sủng ái nhưng địa vị của họ hoàn toàn không sánh bằng Hoàng hậu. Thậm chí khi những Phi tần bình thường sinh con, Hoàng đế sẽ không cho phép Phi tần đích thân nuôi con mà đều được nuôi dưỡng dưới danh nghĩa Hoàng hậu hoặc một số vị Phi có địa vị cao trong hậu cung. Và để đảm bảo sinh hoạt thường ngày của các tiểu Hoàng tử, tiểu Công chúa, trong hoàng cung sẽ có những vị nhũ mẫu đặc biệt.

Tiếp theo đó, do điều kiện sống thời cổ đại không tốt, dù quyền cao chức trọng hay cực kỳ nhiều tiền, những gia đình giàu có, thậm chí là các Phi tần cũng không thể đảm bảo sau khi sinh song sức khỏe sẽ bình thường và người mẹ sẽ có đủ sữa để cho con bú. Để con có thể ăn no, tốt nhất nên thuê “vú nuôi”.

Thứ ba, thời cổ đại, phụ nữ nói chung coi chồng là tất cả, là bầu trời. Sau khi sinh xong mà mải chăm sóc con, không hầu hạ chồng thì sẽ có tội, mang lỗi. Ngoài ra, đàn ông luôn có nhiều thê thiếp, nên bị thất sủng là điều rất đáng sợ với phụ nữ thời xưa. Khi có vú nuôi chăm sóc con cái, phụ nữ sau sinh mới có thể bồi bổ sức khỏe, chăm sóc nhan sắc, chuyên tâm cung phụng, hầu hạ và lấy lòng chồng mình.

Hơn nữa, hầu hết các Phi tần hậu cung đều dựa vào nhan sắc mới có được ân sủng của Hoàng đế. Nhưng ai cũng biết rõ, sau khi sinh con, thân thể của các Phi tần đều sẽ có sự biến đổi. Lúc đó, nếu tiếp tục đích thân cho con bú thì rất có thể sẽ khiến sức khỏe lẫn hình thể xấu đi. Vì vậy, để đảm bảo vinh sủng về sau của mình, các Phi tần cũng sẵn sàng để nhũ mẫu giúp mình chăm con.

Cuối cùng là một nguyên nhân quan trọng hơn, đó là Hoàng đế muốn tránh tình trạng Hoàng tử dựa vào thế lực ngoại thích của mẹ ruột. Thực tế, gần như các vị Hoàng tử đều tham gia các cuộc đấu tranh giành ngôi báu. Tuy nhiên, ngôi Hoàng đế chỉ có một, chính vì vậy mà họ sẽ không ngần ngại dùng mọi nguồn lực xung quanh mình, trong đó có sự ủng hộ của mẹ ruột, và khi thừa kế ngai vàng Hoàng đế đó sẽ không dành quá nhiều ân sủng cho mẹ, tránh sự lộng quyền của hoàng thân quốc thích đối với việc triều chính. 

Từ những nguyên nhân trên có thể thấy rõ tâm tư của Hoàng đế, điều này không chỉ đảm bảo sự ổn định ở hậu cung mà còn có thể khiến các Phi tần xung quanh Hoàng đế có thể kéo dài dung mạo trẻ trung. Quan trọng nhất là việc để nhũ mẫu trực tiếp nuôi dưỡng Hoàng tử, Công chúa rất quan trọng với vấn đề thừa kế ngôi vàng.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về lịch sử triều đại của một đất nước đông dân nhất thế giới này. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn, hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! Chúc du khách có một chuyến đi vui vẻ và thú vị!

7 loại Bánh Ú trứ danh trong ẩm thực Trung Hoa

Tết Đoan ngọ hoặc Tết Đoan Dương, trùng vào ngày 5/5 âm lịch hàng năm, là một trong những dịp lễ tết lớn nhất ở Trung Quốc. Vào ngày này, người dân có tục lệ ăn Bánh Ú để tưởng nhớ đại thi nhân Khuất Nguyên. Bánh Ú do đó mà trở thành một trong những món ăn truyền thống, được truyền lại qua nhiều thế hệ con cháu Trung Hoa.

Theo chuyện xưa, vào cuối thời Chiến Quốc, nước Sở có một vị đại thần tên là Khuất Nguyên. Ông còn là một nhà thơ, nhà văn hóa nổi tiếng ở Trung Quốc. Vào năm 340 trước Công Nguyên, đại thi nhân Khuất Nguyên phải đối mặt với nỗi đau đất nước suy vong, vua làm sai nhưng ông không ngăn được, cộng thêm gian thần hãm hại. Ngày 5/5, ông uất ức tự vẫn tại sông Mịch La. 

Để tưởng nhớ một trung thần, hằng năm cứ đến ngày này người dân Trung Quốc thường dùng ống tre đựng gạo, quấn chỉ ngũ sắc bên ngoài rồi ném bánh ra giữa sông để tế cúng Khuất Nguyên. Đây được xem là nguồn gốc của Bánh Ú sớm nhất ở Trung Quốc.

Tuy nhiên, tại nhiều vùng ở Tô Châu và Gia Hưng, người dân đã ăn Bánh Ú để bày tỏ tiếc thương với tướng quốc nước Ngô Ngũ Tử Tư. Sau khi ông bị giết chết vào cuối thời Xuân Thu, thi thể của ông đã bị ném xuống dòng Tư Giang. Dân gian tương truyền, người dân nước Ngô đã ném Bánh Ú xuống sông để tránh tôm cá ăn tấn công thi thể Ngũ Tư Tư. 

Ngày nay, tại Trung Quốc, Bánh Ú có đa dạng về kiểu dáng, cách gói, nhân bánh, rồi khác nhau cả về vị ngọt, mặn. Nhưng tựu chung, đến nay, trong ẩm thực Trung Hoa có 7 loại Bánh Ú đặc trưng nhất, được nhiều người biết đến nhất bởi hương vị thơm ngon của nó. 

Bánh Ú Sơn Tây

Bánh Ú Sơn Tây là loại bánh Ú có lịch sử lâu đời nhất Trung Quốc. Bánh Ú Sơn Tây trước đây còn có tên là “Giác Thử”, với từ “Giác” ý chỉ hình dáng góc cạnh của chiếc bánh, còn “Thử” là tên gọi của nguyên liệu làm nên bánh, “Thử” chính là hạt kê. Loại hạt này có đặc tính mềm dẻo giống nếp (nguyên liệu chính để làm Bánh Ú) khi được nấu chín. Nhân Bánh Ú Sơn Tây thường là táo đỏ, bánh thường ăn kèm với đường trắng hoặc mật ong, cho một vị ngọt đậm đà tự nhiên.

Bánh Ú nhân đậu Bắc Kinh

Bánh Ú nhân đậu Bắc Kinh có phần đỉnh bánh thường khá to, chứ không nhỏ và nhọn như những loại Bánh Ú khác ở Trung Quốc. Bánh thường có hình chữ nhật hoặc hình khối tam giác cân, với nhân bánh thường là táo đỏ hoặc đậu đỏ. Một số gia đình ở Bắc Kinh còn dùng các loại mứt hoa quả để làm nhân bánh. Chính vì vậy, đây là loại Bánh Ú có vị ngọt nhất.

Bánh Ú Gia Hưng

Bánh Ú Gia Hưng ở tỉnh Chiết Giang là một trong những loại Bánh Ú có tiếng nhất Trung Quốc xưa nay. Loại bánh này đặc biệt ở chỗ tuy khá dẻo nhưng lại vẫn có độ giòn nhất định, càng thú vị hơn nữa là bánh có rất nhiều dầu mỡ nhưng lại không mang lại cảm giác ngấy cho người ăn, vị của bánh cũng lạ không kém, không quá mặn mà cũng không quá ngọt.

Bánh Ú Gia Hưng thường có nhân thịt, thường được mọi người khen là “vua của làng Bánh Ú” vì quy trình làm bánh hết sức công phu. Phần nếp trước khi được gói làm bánh sẽ được đem đi tẩm ướp gia vị truyền thống của Giang Nam cùng với lòng đỏ trứng gà. Sau cùng là sẽ nấu nếp chung với đùi heo, mỡ trong đùi heo sẽ ngấm dần vào nếp, do đó mà khi ăn sẽ thấy bánh tiết ra rất nhiều dầu mỡ.

Bánh Ú thịt quay Phúc Kiến

Nếu như ở miền Bắc Trung Quốc có sự đại diện của Bánh Ú nhân đậu Bắc Kinh thì Bánh Ú thịt quay Phúc Kiến lại là đại diện cho làng Bánh Ú miền Nam Trung Quốc. Bánh nổi tiếng với nhân thịt quay Tuyền Châu nhưng vẫn giữ nguyên hương vị bánh đậm đà của vùng Mân Nam (phía nam tỉnh Phúc Kiến).

So với những loại Bánh Ú hết sức dân dã của miền Bắc Trung Quốc, Bánh Ú thịt quay Phúc Kiến thường được xem là loại Bánh Ú thượng hạng. Bánh ngoài nguyên liệu chính là nếp ra thì còn có thịt ba rọi đã được tẩm ướp gia vị, nấm hương, hến khô, tôm khô.

Trong quá trình chế biến, phần nếp sau khi ngâm nước sẽ được để cho ráo, kế tiếp sẽ được trộn đều với nước xốt, dầu hành, công đoạn tiếp theo là rang nếp sao cho vừa khô tới, tiếp tục ngâm nếp với thịt kho, rồi dùng lá trúc gói bánh. Sau cùng là luộc bánh.

Đúng là bánh thượng hạng có khác, công đoạn chế biến đã phức tạp, mà cách thưởng thức cũng cầu kì không kém. Bánh Ú sau khi luộc chín là phải phết ngay một lớp tương đậu, tương ớt rồi tỏi hấp nữa. Đầy đủ hương và vị hấp dẫn để du khách trải nghiệm đấy!

Bánh Ú Quảng Đông

Bánh Ú Quảng Đông hay còn gọi là Bánh Bá Trạng, là loại bánh theo cách gói truyền thống của người Quảng Đông. Hình dáng của Bánh Ú Quảng Đông như một khối kim tự tháp.

Ngoài những nguyên liệu thường gặp như nếp, đậu xanh và thịt, Bánh Ú Quảng Đông còn được thêm vào tôm khô, hạt dẻ hay đậu phộng, nấm đông cô, lòng đỏ trứng muối. Bánh thường được gói bằng lá tre và được cột bằng một loại cỏ nước, giúp cho bánh khi nấu lên có mùi thơm đặc trưng. Sự kết hợp của các loại nguyên liệu này làm nên chiếc Bánh Ú mang đậm bản sắc ẩm thực của người Hoa. Và, một khi du khách đã thưởng thức chiếc bánh này, hương vị của nó sẽ để lại dấu ấn khó phai trong tâm trí của du khách.

Bánh Ú cay Tứ Xuyên

Ẩm thực Tứ Xuyên vốn nổi tiếng với các món ăn cay và Bánh Ú cũng không ngoại lệ. Loại Bánh Ú này thường sẽ nấu cùng tiêu bột, đặc sản muối Tứ Xuyên, mì chính (bột ngọt) và thịt heo phơi khô. Bánh sau khi luộc chín sẽ đem đi nướng thêm lần nữa với than củi. Do trải qua quá trình nướng mà Bánh Ú cay Tứ Xuyên thường xốp giòn, nhân khá mềm, vị cay xé lưỡi. Đây hẳn là món dành cho tín đồ thích ăn cay đấy!

Bánh Ú Quảng Tây

Bánh Ú Quảng Tây có hình dạng khác hẳn với 6 loại Bánh Ú kể trên, trông giống như là một chiếc gối nằm kê đầu vậy. Đặc biệt, mỗi chiếc Bánh Ú Quảng Tây có thể nặng gần 1,5kg. Phải dùng tới tận 10 lá dong mới gói đủ một chiếc Bánh Ú Quảng Tây, ăn bao no!

Phần nhân bánh Ú Quảng Tây cũng khá phong phú, thường thì sẽ có miếng thịt heo to, nửa nạc nửa mỡ, đi kèm với hạt dẻ, đậu đỏ, đậu xanh. Hình dáng và hương vị của loại Bánh Ú độc đáo này sẽ khiến du khách thích thú và phát “ghiền” khi thưởng thức!

Như vậy là chúng tôi đã giới thiệu với du khách 7 loại Bánh Ú ngon nức tiếng của ẩm thực Trung Hoa. Nếu có dịp du lịch Trung Quốc, du khách hãy thử qua chúng để có sự cảm nhận hương vị riêng của từng loại nhé! Chúc du khách có một hành trình khám phá ẩm thực Trung Hoa đầy thú vị! 

Nụ cười của một mỹ nhân làm diệt vong một triều đại trong lịch sử Trung Hoa

Trên đời này chỉ có một mỹ nhân với nụ cười hiếm hoi khiến cho vương triều diệt vong, đó chính là Bao Tự. Nàng mang vẻ đẹp “hồng nhan họa thủy”, là Vương hậu của Chu U Vương trong lịch sử Trung Hoa cổ đại.

Theo phong tục của người Hoa, ngày “Tam Nương” là khoảng thời gian đem lại sự xui xẻo cho gia chủ, một tháng sẽ có một tháng có 6 như vậy, tính theo lịch âm là các ngày 3, 7, 13, 18, 22, 27. Những ngày đó chính là ngày sinh và mất của 3 đại mỹ nhân đã khiến cả một vương triều sụp đổ, gồm có Muội Hỉ, Đắc Kỷ và Bao Tự.

Trong khi Muội Hỉ và Đắc Kỷ đều khiến vị Vua của mình yêu say đắm và bỏ bê việc nước, lũng đoạn triều đình, thì có lẽ Bao Tự là trường hợp đặc biệt nhất khi nàng gần như chẳng cần phải làm gì, chỉ cần cười cũng khiến cả vương triều nhà Chu phải diệt vong. 

Bao Tự, hay Tụ Tự hoặc Ly Bích, là Vương hậu thứ hai của Chu U Vương, vị Thiên tử cuối cùng của giai đoạn Tây Chu trong lịch sử Trung Hoa. Bao Tự là một mỹ nhân cực kỳ xinh đẹp và quyến rũ, khiến Chu U Vương mê đắm.

Bao Tự là người nước Bao (nay là khu vực Hán Trung, tỉnh Thiểm Tây), họ Tự. Cũng như hầu hết phụ nữ thời Tiên Tần, phụ nữ nước này được gọi bằng tên nước nơi mình sinh ra kèm theo họ gia tộc đằng sau, do đó nàng được gọi luôn là Bao Tự. Một số phụ nữ nổi bật có thuỵ hiệu sẽ được gọi theo thứ tự: nước – hiệu – họ, ví dụ như Tề Văn Khương, trong đó “Tề” là nước bà sinh ra, “Văn” là hiệu, còn “Khương” là họ gia tộc của Tề vương.

Nguồn gốc của Bao Tự được Sử ký Tư Mã Thiên ghi lại mang màu sắc truyền thuyết. Đông Chu Liệt Quốc của Phùng Mộng Long cũng thêm bớt một vài tình tiết nhưng về đại thể vẫn giữ nét truyền thuyết đó. Chu bản kỉ trong Sử ký Tư Mã Thiên chép:

“Thời Hạ Hậu thị (nhà Hạ) suy vi, có hai con rồng thần vào sân đình của vua tự xưng là vua nước Bao. Triều đình bèn tế lễ, rồng thần nhả lại dãi và được lưu vào hộp gỗ. Từ đời nhà Hạ qua đời nhà Thương không ai dám mở hộp dãi rồng. Đến thời Chu Lệ Vương mở hộp ra xem, nước dãi biến thành con thằn lằn đen chạy vào hậu cung, làm một cung nữ mới 12 tuổi mang thai. Sau 38 năm, người cung nữ đó sinh ra một bé gái đẹp như thiên thần, sợ là vật tai dị nên vứt đứa trẻ xuống sông Thanh Thủy.

Thời Chu Tuyên vương, có câu đồng dao: “Gỗ dâu làm cung, gỗ cơ làm bao, bao đựng tên sẽ diệt nhà Chu”. Một đôi vợ chồng không biết có lệnh cấm bán gỗ dâu và gỗ cơ, mang ra chợ bán liền bị triều đình truy bắt. Họ chạy trốn giữa đường thì gặp đứa trẻ bị thả trôi sông, bèn ôm mang theo đến Bao quốc. Khi người nước Bao có tội, bèn lấy một cô gái dâng hiến cho Chu U Vương chuộc tội. Cô bé lớn lên chính là Bao Tự”. Cũng từ đây, cuộc đời nàng Bao Tự sang một trang mới, bắt đầu kéo theo những sóng gió cho nhà Chu.

Từ khi nhập cung, Bao Tự được Chu U Vương sủng ái bởi nàng là một mỹ nhân duyên dáng, xinh đẹp tuyệt trần. Nhưng khổ thay, Bao Tự không bao giờ cười và điều này làm Chu Ung Vương rất là đau lòng, tìm mọi cách để khiến nàng cười.

Một trong những cách vua dùng để “mua” nụ cười của nàng Bao Tự đó là xé lụa. Chuyện kể rằng, khi Chu U Vương dò hỏi mãi về chuyện nàng không chịu cười, Bao Tự đã nói: “Tiện thiếp chẳng thiết gì cười. Hôm trước có người xé lụa, nghe tiếng cũng lấy làm vui”. U Vương như bắt được vàng, ông bèn truyền lệnh cho viên quan giữ kho mỗi ngày phải dâng vào cung 100 tấm lụa rồi sai cung nữ đứng xé. Dù phải bỏ cả ngàn vàng để mua một nụ cười của mỹ nhân nhưng khi hàng ngàn tấm vải lụa bị xé nát tan, nàng Bao Tự mới chỉ tươi vui hơn một chút chứ vẫn chưa chịu nhoẻn miệng cười với nhà vua.

Không chịu thua cuộc, vị vua mê gái đã tuyên bố sẽ tìm cách để làm ái khanh cười. Ông bèn truyền cho quần thần xem ai có cách gì làm Bao Tự cười thì sẽ được thưởng. Trong đó có một viên quan đã hiến kế giả đốt lửa báo tin có giặc. Kế sách này đã chinh phục được nụ cười của Bao Tự nhưng chính nó lại khiến vua mất nước.

Sử sách chép lại, một hôm Chu U Vương dắt Bao Tự đến đài phong hỏa Ly Sơn chơi. Thời đó, đài phong hỏa là công trình để truyền tin tức chiến tranh, có binh sĩ đóng ở đó suốt ngày, nếu có địch xâm phạm biên giới, binh sĩ sẽ đốt khói lửa ngay, truyền tin báo động. Và khi kinh đô bị đe dọa thì đài phong hỏa Ly Sơn đốt khói lửa làm hiệu truyền tin cho các nước chư hầu biết để đem quân đến giúp đỡ.

Bao Tự không tin rằng chỉ cần một ngọn lửa như thế mà quân ở các nước chư hầu cách xa cả nghìn dặm sẽ đến kịp thời. Và để chứng minh cho Bao Tự thấy, cũng là để nàng nở nụ cười hiếm hoi, Chu U Vương đã lập tức sai quân đốt lửa ngay. Quân chư hầu mấy nước lân cận trông thấy các cột lửa cháy, ngỡ là có giặc bèn mang quân ứng cứu. Đến kinh thành, thấy mọi người vẫn đi lại bình thường, không có giặc giã gì, Chu U Vương thì đang uống rượu mua vui với Bao Tự nên các chư hầu ngơ ngác nhìn nhau, biết là mình bị vua đùa giỡn. Bao Tự ở trên đài, tận mắt trông thấy các chư hầu ngày thường phong độ, giờ ai cũng ngơ ngác, lúng túng đã không nhịn được cười. Nhìn Bao Tự cười khanh khách, Chu U Vương vô cùng vui sướng. Sau này, để mang tiếng cười cho người đẹp, Chu U Vương thi thoảng lại thắp tháp dầu và các chư hầu lại bị lừa.

Chu U vương say mê Bao Tự, xa lánh vương hậu họ Thân. Con trai của Bao Tự được U vương rất yêu quý, định lập làm Thái tử và muốn phế truất thái tử Nghi Cữu. Cha Thân Hậu bèn liên hệ với quân Khuyển Nhung bên ngoài kéo vào đánh úp Cảo Kinh.

Chu U Vương vội cho đốt lửa hiệu triệu chư hầu tới cứu, nhưng các chư hầu cho rằng lần này cũng là trò đùa nên chẳng chút bận tâm. U Vương mang Bao Tự và con nhỏ bỏ chạy, bị quân Khuyển Nhung đuổi theo giết chết. Riêng Bao Tự bị vua Khuyển Nhung bắt về cung để mua vui.

Quân Khuyển Nhung cướp phá giết người kinh thành. Thân Hậu ân hận mang họa cho dân Cảo Kinh bèn viết thư triệu các nước chư hầu Tấn, Tần, Trịnh đến đánh quân Khuyển Nhung. Quân ba nước kéo đến đánh tan quân Nhung. Vua Nhung bỏ chạy. Bao Tự thấy quân các nước kéo vào cung bèn thắt cổ tự vẫn, kết thúc một đời mỹ nhân làm khuynh quốc khuynh thành.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về lịch sử triều đại của một đất nước đông dân nhất thế giới này. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn, hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! Chúc du khách có một chuyến đi vui vẻ và thú vị!

Ẩm thực Chiết Giang – “cái nôi” của nhiều món ăn đặc sắc

Tại Trung Quốc, Chiết Giang được biết đến với vẻ đẹp non nước hữu tình. Không chỉ có thế, vùng đất này còn là cái nôi của nhiều món ăn đặc sắc.

ĐẶC TRƯNG CỦA TRƯỜNG PHÁI ẨM THỰC CHIẾT GIANG

Trường phái ẩm thực Chiết Giang còn gọi là “Triết Thái”, là tổng hợp những món ăn đặc sản của Hàng Châu, Ninh Ba, Thiệu Hưng; nhưng nổi tiếng nhất vẫn là các món ăn Hàng Châu.

Đặc điểm chính của các món ăn thuộc trường phái ẩm thực Chiết Giang là thường không dầu mỡ, chú trọng đến độ tươi ngon, mềm mại, hương thơm nhẹ và thanh đạm. 

Các kỹ thuật nấu ăn rất phong phú, đặc biệt là nấu các món hải sản. Triết Thái cũng chú trọng bày trí món ăn trang nhã, đa dạng trên các loại bát đĩa tinh xảo, vì thế các món ăn ở đây không chỉ có hương vị ngon mà còn vô cùng bắt mắt.

NHỮNG MÓN ĐẶC SẢN NỔI TIẾNG CỦA CHIẾT GIANG

Chiết Giang nằm ở ven biển, là một nơi có non xanh nước biếc, sản vật phong phú, còn được gọi là “vùng đất lắm cá nhiều gạo”. Người dân nơi đây rất coi trọng bữa cơm cũng như các món ăn của họ. Dưới đây là 11 món ăn của vùng Chiết Giang được liệt vào danh sách top các món ngon nhất:

Cá giấm Tây Hồ

Đây là một món ăn nổi tiếng ở khu vực Tây Hồ, thành phố Hàng Châu thuộc tỉnh Chiết Giang có từ đời nhà Tống. Cá giấm Tây Hồ từ tháng 10 năm 2018 được liệt vào danh sách 10 món ăn kinh điển của trường phái ẩm thực Chiết Giang.

Nguyên liệu chính để chế biến là cá chép, cá trắm cỏ hay cá quế được bắt lên từ Tây Hồ. Món ăn này đặc biệt ở chỗ người ta sẽ không nấu cá luôn sau khi bắt về, mà để cá đói 1 – 2 ngày, khi đó cá mới tiết ra một loại tạp chất từ ruột (đây là cách để loại bỏ các chất bùn, cho ruột cá không còn thức ăn dư thừa nữa).

Trong quá trình nấu, món ăn này đòi hỏi rất nghiêm khắc về độ lửa. Cá sẽ được nấu trong nước dùng có gừng, hành, tiêu trắng trong khoảng 3 – 5 phút là vừa tới. Sau đó, người ta sẽ rưới một lớp sốt chua ngọt chế biến từ gia vị và loại giấm thơm Trấn Giang, rượu Thiệu Hưng. Chính từ các gia vị này mang lại vẻ bóng mịn cho món ăn, vây ngực thẳng, thịt cá mềm, lại có vị chua ngon, tươi ngon rất đặc biệt.

Gà ăn mày

Gà ăn mày là một đặc sản rất nổi tiếng của Chiết Giang. Món ăn này mang hương vị thơm ngon với cách chế biến vô cùng độc đáo và cả một câu chuyện thú vị gắn liền với xuất xứ của nó. Món “gà ăn mày” xuất hiện từ thời nhà Thanh và cái tên “ăn mày” có liên quan đến người đã sáng tạo ra nó lần đầu tiên.

Theo sự tích kể lại thì một người ăn mày ở Hàng Châu, trong cơn đói kém, đành phải liều mình bắt trộm gà ở sân vườn một nhà ven đường. Trong khi đang nhóm lửa và chuẩn bị làm gà thì nhà vua và cận thần đi qua. Sợ quá, người ăn mày liền lấy bùn rồi bọc gà lại, ném vội vào lửa. Không ngờ, mùi thơm đã len lỏi qua lớp đất tỏa ra phưng phức thu hút sự chú ý của nhà vua dừng bước và dùng bữa cùng kẻ ăn mày kia. Thật ngạc nhiên, món ăn ngon đến mức nhà vua khăng khăng muốn biết cách chế biến món ăn này. Kết quả là món gà nướng này biến thành đặc sản quý, được đưa vào thực đơn trong cung và cứ thế trở thành món ăn nổi tiếng với tên gọi mỹ miều là “Gà nung đất sét”.

Ngày nay, gà ăn mày đã được biến tấu với nhiều loại nguyên liệu và gia vị khác nhau, tạo nên sự lạ miệng. Muốn món ăn này ngon cần chọn một con gà nặng hơn 1kg (là giống gà thả trong vườn để thịt săn chắc), vài lá sen khô, dầu mè và đất sét.

Thịt gà sau khi làm sạch được ướp với nước tương, hoa hồi, rượu, dầu đinh hương, hạt tiêu, muối, quê, đường và chút bột nêm cho đượm đà. Để nhồi, người ta cho thêm thịt heo, măng, gừng, tôm, hành củ,… xào qua rồi nhét trong bụng gà, khâu kín.

Ướp gà trong vài giờ để các loại gia vị ngấm sâu vào thớ thịt. Bọc bằng lá sen trước khi bọc đất sét để làm sạch lớp gà và thịt thoảng hương vị của lá sen. Tiếp đó, cho gà lên bếp nướng, đến khi phần đất sét nứt ra, mùi thịt thơm cùng các loại gia vị lan tỏa. Khi đó gà đã chín. 

Gà ăn xin chỉ ăn nóng mới cảm nhận hết vị ngon, ngọt. Du khách có thể cảm nhận được vị lá sen thoang thoảng, nấm hương, mùi thơm của tiêu, cay của ớt và miếng gà ăn không bị ngán. 

Thịt kho Đông Pha

Tên của món ăn này được đặt theo tên của một nhà thơ, nhà thi pháp rất giỏi của Trung Quốc có tên là Tô Thức (1037-1101). Ông còn được biết đến như một nhân vật có niềm đam mê nấu nướng khi trong các bài thơ ông viết đều có sự liên kết với các món ăn.

Tương truyền, ngày nọ có một người bạn cũ đến thăm Tô Đông Pha khi ông đang om thịt heo trên bếp, và thách thi sĩ này chơi cờ tướng. Ván cờ đòi hỏi sự tập trung cao độ, khiến nhà thơ quên cả chuyện bếp núc. Khi nồi thịt cạn nước, nó tỏa ra một hương thơm đặc biệt và lại có vị mềm ngọt đến bất ngờ. Nhiều năm sau đó, khi giám sát việc cải tạo Tây Hồ thành nơi trữ nước tưới tiêu, Tô Đông Pha được người dân dâng thịt heo để tỏ lòng biết ơn. Nhưng ông đem kho thịt và gửi lại cho từng hộ gia đình, và đãi công nhân nạo vét hồ như thay lời cám ơn vì họ đã chăm chỉ làm việc. Đó là cách Tô Đông Pha đưa món ăn của mình đến với tầng lớp lao động, và để lại một đặc sản như ngày nay.

Tuy là một món ăn ngon với hương vị đậm đà, thế nhưng nó có cách chế biến khá đơn giản. Món ăn được chế biến từ thịt ba chỉ cắt thành những miếng hình vuông, ướp với nước tương, xì dầu và rượu Thiệu Hưng (Shao Xing). Sau đó, đem thịt chiên trong dầu nóng sao cho giữ được lớp vỏ ngoài vàng ruộm và phần da hơi giòn, rồi kho cùng hỗn hợp nước ướp, hầm trong 3 tiếng để miếng thịt chín nhừ. Thịt kho Đông Pha có hương vị đậm đà và vị ngon khó cưỡng.

Chân giò Kim Hoa

Chân giò có vẻ ngoài bắt mắt, thịt tươi, hương thơm độc đáo, hương vị hấp dẫn, hội tụ cả 4 điểm về sắc, hương, vị, hình, vì vậy tên khác của món này là “Tứ tuyệt” được ra đời như vậy. Trước đây nó được coi là cống phẩm Trung Quốc, có ngấm tinh hoa của thịt.

Chân giò Kim Hoa được làm từ heo “chim hai đầu”, phần đùi sau, thịt non, rồi cho thêm muối, chỉnh hình, lật giở, phơi nắng, phơi gió, rất nhiều tháng mới làm ra nó.

Nghe nói thời Nam Tống Kháng Kim có danh tướng Tông Trạch là “tổ sư phụ” của món chân giò. Có truyền thuyết kể là ông ấy đem chế biến thịt heo ở quê nhà rồi mang vào cung để dâng lên vua. Nhà vua thấy thịt ở bên trong đỏ như lửa, từ đó đặt tên cho món ăn này là “Chân giò Kim Hoa”.

Mì Phiến Nhi Xuyên

Khi nói về ẩm thực Chiết Giang mà không nhắc đến cái tên “Mì Phiến Nhi Xuyên” thì đó là một thiếu sót lớn. Đây là một món mì rất nổi tiếng, bên trên có các loại nguyên liệu như rau cải chua, măng, thịt nạc thái miếng. Món ăn này có lịch sử hơn 100 năm. Đầu tiên là tiệm cổ Khuê Nguyên Quán ở Hàng Châu mở ra, điểm đặc biệt là rau và măng rất tươi, khiến cho thực khách vô cùng yêu thích.

Truyền thuyết khi Tô Đông Pha khi tới Hàng Châu làm quan đã từng nói một câu: “Không có thịt sẽ khiến người ta gầy đi, không có măng sẽ khiến người ta tầm thường”. Rau cải chua, măng, thịt,… những nguyên liệu mà họ dùng để chế biến món mì này, nghe nói cũng được qua nghiên cứu kỹ lưỡng. Ba nguyên liệu này cắt thành miếng, sau đó đem luộc trong nước sôi, người ta còn gọi đây là “Phiến Nhi Xuyên”.

Tôm Long Tỉnh

Đây là một đặc sản truyền thống mang đậm khí chất của Tây Hồ, Hàng Châu – Chiết Giang. Sự thơm ngon của tôm rang kèm lá trà Long Tỉnh chắc chắn sẽ khiến thực khách khó thể quên khi đã được trải nghiệm món ăn đó.

Tôm Long Tỉnh có cách làm rất đơn giản nhưng lại quan trọng trong cách lựa chọn nguyên liệu. Tôm được chọn phải là tôm sú còn tươi rói, bóc vỏ ướp cùng bột ngô rồi mang chiên trong chảo ngập dầu. Bước cuối cùng là cho tôm vào sốt với nước trà Long Tỉnh đã được pha sẵn cho đến khi nước sốt hơi sền sệt là dùng được.

Cua xanh Tam Môn

Tam Môn ở Chiết Giang là vùng đất nổi tiếng với hơn 200 năm kinh nghiệm nuôi cua xanh. Cua ở đây đặc biệt to, chắc thịt, khỏe, màu sắc tươi sáng và vị thịt tươi ngon. 

Cua Xanh Tam Môn, thích hợp với nhiệt độ từ 7 – 37℃, độ mặt là 2.6 – 55‰, là giống ăn thịt đào hang, ban đêm mới ra ngoài. Thịt cua xanh chứa đến 18 loại axit amin, giàu protein và ít chất béo nên món ăn này khá đắt đỏ. Ngoài chế biến thức ăn, người dân ở đây còn sử dụng cua xanh như một dược liệu quý hiếm có giá trị dinh dưỡng rất cao.

Đậu hũ chiên giòn

Đậu hũ chiên giòn là một món ăn rất được ưa chuộng ở Hàng Châu, Chiết Giang bởi vì vị thanh và dễ gây nghiện của nó. Da đậu phụ được làm từ sữa đậu nành đun sôi. Khi luộc, một lớp màng mỏng xuất hiện ở phía trên của nồi sữa và được vớt ra để làm thành các tấm da đậu phụ. Ở Hàng Châu, loại da đậu phụ này được cuộn, thường là với thịt heo băm nhỏ bên trong, và chiên cho đến khi giòn. Những cuộn đậu phụ rán vàng ươm và thanh nhẹ, thường được ăn kèm với nước chấm chua ngọt.

Bánh lúa mạch thịt viên

Trong ẩm thực Chiết Giang, bánh lúa mạch thịt viên là một trong những món ăn dân dã thu hút được rất nhiều thực khách.

Như tên gọi, món bánh này có phần vỏ bánh được làm từ bột lúa mạch dẻo thơm và phần nhân là thịt heo băm nhỏ. Cách chế biến bánh lúa mạch thịt viên cũng giống như cách mà mọi người thường làm bánh lúa mạnh nhân rau, chỉ có điều là kích thước của bánh nhỏ hơn một chút. 

Điều thú vị khi thưởng thức món bánh này là người ta dùng 3 chiếc đũa, tay trái cầm một chiếc đũa để giữ cố định chiếc bánh trong đĩa, tay phải sẽ cầm một đôi đũa để gắp bánh, rồi chấm nước tương, dấm, tùy theo khẩu vị.

Bánh Ú Gia Hưng

Đây là đặc sản nổi tiếng và có truyền thống từ lâu đời ở vùng Gia Hưng, Chiết Giang. Loại bánh này đặc biệt ở chỗ tuy bánh khá dẻo nhưng lại vẫn có độ giòn nhất định, càng thú vị hơn nữa là bánh có rất nhiều dầu mỡ nhưng lại không mang lại cảm giác ngấy cho người ăn; vị của bánh cũng lạ không kém, không quá mặn mà cũng không quá ngọt.

Bánh Ú Gia Hưng thường có nhân thịt, được mọi người khen là “vua của làng bánh Ú” vì quy trình làm bánh hết sức công phu. Phần nếp trước khi được gói làm bánh sẽ được đem đi tẩm ướp gia vị cùng với lòng đỏ trứng gà. Sau cùng là sẽ nấu nếp chung với đùi heo, mỡ trong đùi heo sẽ ngấm dần vào nếp, do đó mà khi ăn sẽ thấy bánh tiết ra rất nhiều dầu mỡ.

Bánh xốp Ngô Sơn

Bánh xốp Ngô Sơn còn có nhiều tên gọi độc đáo: “Đại Cứu Giá”, “Bánh Áo Tơi”. Đến nay nó đã có 700 đến 800 năm lịch sử, được mệnh danh là “Ngô Sơn đệ nhất điểm tâm”.

Bánh có màu vàng, xếp lớp nhiều tầng, trên nhọn dưới tròn (hình giống Kim Sơn), có phủ một lớp đường trắng như bông, giòn mà không vỡ, có dầu mà không ngấy, hương vị thơm ngọt.

Bánh trôi nước Ninh Ba

Bánh trôi nước Ninh Ba được bắt nguồn từ triều Tống. Khi đó, người dân các vùng đều thích ăn một món ăn mới, dùng một loại mứt quả để làm nhân, bên ngoài dùng bột gạo nếp nặn thành hình tròn. Bánh ăn có vị thơm ngọt, rất thú vị. Bởi vì viên gạo nếp này khi nấu chín ở trong nồi vừa nổi vừa chìm, cho nên còn được gọi là “Phù Viên Tử” (viên nổi), sau này có nơi sửa “Phù Nguyên Tử” thành Nguyên Tiêu. 

Củ ấu Nam Hồ

Củ ấu Nam Hồ còn gọi là “củ ấu vàng”, “củ ấu hoành thánh”, “củ ấu hoà thượng”. Thường thì củ ấu cũng có góc nhọn, nhưng củ ấu Nam Hồ thì có góc tròn, vỏ màu xanh lục, 2 cạnh tròn trơn, vỏ mỏng, thịt mềm, nhiều nước, ngọt, thơm, đặc sắc hơn rất nhiều loại khác.

Củ ấu Nam Hồ không chỉ dùng để ăn, nấu món ăn, mà còn dùng để làm bánh, ủ rượu, nấu đường,… Người nấu nướng sẽ chọn củ ấu non có màu xanh biếc, đặc biệt là khi vừa luộc thì vị rất tuyệt, nấu chín thì sẽ chọn củ ấu già có màu vàng nâu, rửa sạch rồi nấu chín, sẽ có vị đậm đà, thịt và gạo vừa miệng.

Ẩm thực Chiết Giang với nhiều món đặc sản trứ danh quả thực khiến người ta phải “mê mẩn”. Hãy chọn một Tour Trung Quốc của chúng tôi để có cơ hội khám phá và trải nghiệm nền ẩm thực Chiết Giang nhé!