Lý giải việc các Quý nhân trong hậu cung nhà Thanh khi được phong lên bậc “Tần” lại phấn khích tột độ

Trong hậu cung nhà Thanh xưa, những nữ nhân từ cấp bậc Qúy nhân được Hoàng đế tấn phong lên Tần vị sẽ có những đãi ngộ hoàn toàn khác, điều này khiến họ rất phấn khích tột độ.

Hoàng đế Đại Thanh cũng như mọi người đàn ông trong xã hội Mãn Thanh, đều theo thể chế thê thiếp. Các vị trí chính thê hay thứ thiếp trong hậu cung nhà Thanh, về căn bản được chia làm các cấp bậc chính: Hoàng hậu (chính thất của Hoàng đế) và Phi tần (thê thiếp của Hoàng đế). Tất cả bọn họ là các Chủ tử trong hậu cung, được các thái giám và cung nữ hầu hạ. Một khi nhập cung và nhận sắc phong của Hoàng đế, họ sẽ sống cả đời trong hậu cung. Theo quy định thời gian đầu của nhà Thanh, ngoài Càn Thanh Cung dành cho Hoàng đế, Khôn Ninh Cung dành cho Hoàng hậu, thì các nhóm phi tần đều ở 12 cung hai bên sườn của Càn Thanh cung, gồm Đông lục cung và Tây lục cung, gọi gộp lại là: Đông Tây lục cung.

Cấp bậc của dàn phi tần trong hậu cung Nhà Thanh được phân từ cao đến thấp như sau: Hoàng hậu, Hoàng quý phi, Quý phi, Phi, Tần, Quý nhân, Thường Tại và Đáp ứng. Trong 7 cấp bậc này, quyền lực chủ yếu được phân chia thành 2 nhóm. Ranh giới của 2 nhóm này chính là giữa Quý nhân và Tần, cũng có thể nói, từ cấp bậc Tần trở lên sẽ có những đãi ngộ hoàn toàn khác. Riêng thân phận Tần cũng đã có 3 đặc quyền hơn so với Quý nhân.

Đặc quyền đầu tiên là Tần được phép sở hữu tẩm điện riêng của bản thân. Các Quý nhân và những nữ nhân cấp bậc thấp hơn chỉ được sống trong tẩm cung mà những phi tần làm chủ. Sau khi trở thành Tần, nữ nhân này có thể có một tẩm cung riêng, tiện lợi, thoải mái hơn nhiều, không cần lúc nào cũng phải nhìn sắc mặt của chủ cung mà sống. Thậm chí, các vị Tần còn có 6 cung nữ hầu hạ còn Quý nhân chỉ có 4.

Đặc quyền thứ 2 là về con cái. Trong hậu cung, tất cả nữ nhân đều có thể sinh con nhưng không phải ai cũng có thể nuôi dưỡng con ruột của mình. Quý nhân chắc chắn không được nuôi con, bởi vì theo quy chế nhà Thanh, con cái của Quý nhân và các nữ nhân cấp bậc thấp hơn sẽ được giao cho các nhũ mẫu nuôi dưỡng, hai mẹ con chỉ có thể gặp nhau một vài lần. Nhưng với các vị Tần trở lên thì lại khác, tuy không được đích thân chăm sóc con nhưng họ có quyền nuôi con, muốn gặp là gặp. Một số hậu phi còn có thể nuôi con ruột trong cung của mình. Hơn thế nữa, một số phi tần cấp bậc cao còn có thể nuôi con của người khác. Xét về tình cảm, không có người mẹ nào lại không hi vọng được ở cạnh con mình, chính vì vậy mà đặc quyền này là thứ được rất nhiều hậu phi theo đuổi.

Đặc quyền thứ 3 là sau khi Hoàng đế băng hà, người thừa kế lên ngôi thì những hậu phi của Tiên đế sẽ được tôn phong. Chẳng hạn như Hoàng hậu (đích Mẫu) và mẹ ruột sẽ được tôn là Hoàng Thái hậu, nhưng những phi tần cấp bậc quá thấp, thấp hơn bậc Tần thì sẽ rất hiếm được tôn phong. Những người này có thể sẽ bị tuẫn táng, cũng có thể bị đưa đến Lãnh cung hoặc đưa đến canh giữ lăng mộ của Tiên đế.

Nói chung, kết cục của những nữ nhân có cấp bậc quá thấp sẽ không mấy tốt đẹp, còn với những người ở bậc Tần trở lên thì cuộc sống tương đối tốt hơn, chỉ cần không có hiềm khích với Hoàng Thái hậu thì căn bản có thể sống an nhàn những năm cuối đời.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất kỳ khách du lịch nước ngoài nào. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn thì hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc nhé!

16 món đặc sản ở Côn Minh níu chân khách du lịch

Côn Minh – thủ phủ của tỉnh Vân Nam, là một địa danh du lịch, ẩm thực nổi tiếng. Tại đây, du khách được đắm mình trong những trải nghiệm thú vị về một vùng quê giàu truyền thống. Và hơn nữa, thực khách sẽ không khỏi ấn tượng bởi những món ngon độc đáo ở nơi đây.

Không ngoa khi nói ẩm thực Côn Minh là sự thừa hưởng tinh túy của ẩm thực Vân Nam kết hợp với nhiều nét ẩm thực của các tộc người địa phương. Những món ăn như: gà hấp nồi, vịt xông khói, bún quá kiều, bún bò, cơm dứa, phô mai sữa dê chiên, khoai tây nghiền, bánh Modeng Baba, Pudding bột đậu,… sẽ níu chân du khách đến đây và tận hưởng những giây phút thăng hoa tại thiên đường ẩm thực đặc sắc này.

Gà hấp nồi

Nếu đã đến Côn Minh trong hành trình du lịch Trung Quốc, chắc chắn du khách sẽ được thưởng thức món “gà hấp nồi” độc đáo. Món ăn này có từ thời nhà Thanh và là một trong những món được kể đến đầu tiên khi du khách bước vào các nhà hàng ở Côn Minh.

Món ăn này được chế biến khá đặc biệt – gà được hấp trong một chiếc nồi đất sét có cấu tạo vô cùng đặc biệt với một ống rỗng ở giữa. Gà sẽ được sơ chế thêm gừng, hẹ, hạt tiêu, muối và cho vào nồi hấp trong vài giờ. Trong quá trình đó, hơi nước đi lên ống và chạm vào đỉnh nồi, cô đặc lại thành nước, kết hợp với gia vị ướp gà trước đó tạo thành món súp có hương vị đậm đà. Không chỉ vậy, gà hấp chín, thịt vừa mềm, vừa thơm, vị cay nhẹ dễ ăn, thích hợp để tẩm bổ cũng như thưởng thức trong thời tiết mát mẻ quanh năm tại thủ phủ Vân Nam này.

Vịt xông khói

Trong hành trình khám phá ẩm thực Trung Hoa, nếu du khách đã từng nếm thử hương vị thơm ngon của Vịt quay Bắc Kinh thì nhất định phải thưởng thức món Vịt xông khói của người Côn Minh. Tuy món ăn này không nổi tiếng thế giới như vịt ở thủ đô Bắc Kinh nhưng hương vị của nó không hề kém cạnh.

Nguyên liệu món ăn này được lấy từ những con vịt sống ở hồ Dianchi, nó được chuẩn bị 10 bước trước khi đem đến cho thực khách thưởng thức. Được chế biến theo phương pháp cầu kỳ cùng với những nguyên liệu chỉ có ở Côn Minh, vịt xông khói với màu vàng rộm bắt mắt, có hương vị thơm và mềm. Người dân địa phương truyền nhau rằng, đây là món ăn rất tốt cho sức khỏe, vì vậy nó được yêu thích hàng đầu ở “thành phố mùa xuân” này.

Các món chiên nướng

Côn Minh nổi tiếng với không khí náo nhiệt của những quán ăn vỉa hè về đêm. Những quán thịt nướng, chiên được nhiều người biết đến với những xâu thức ăn nướng vô cùng hấp dẫn. Tiêu biểu có: đậu hũ chiên, chân gà nướng, xúc xích nướng, trứng cút chiên,… được bày trên các vỉa hè rất bắt mắt. Đi trên vỉa hè thành phố, cầm xâu đồ chiên nướng và thưởng ngoạn cảnh sắc nơi đây sẽ không có gì tuyệt vời hơn!

Bún quá kiều

Bún quá kiều (hay: Bún qua cầu) là món ăn đặc trưng và nổi tiếng nhất tại thành phố Côn Minh nói riêng và tỉnh Vân Nam nói chung.

Bún quá kiều đã khiến cho bao thực khách mê mẩn, thậm chí còn làm đổ gục những thực khách khó tính nhất. Không hề cầu kì như tên gọi, bún quá kiều gồm các nguyên liệu chính như thịt gà, thịt heo, mực, đậu phụ, nấm, hành, hẹ, bún, trứng chim cút, hành tây, rau cải, đu đủ, cà rốt cùng các gia vị như nước tương, muối, gừng, tỏi… và nhất định không thể thiếu những sợi bún to tròn – nguyên liệu quan trọng của món ăn này.

Nhưng để làm nên một suất bún qua cầu hoàn thiện thì chắc chắn phải có thêm một bát nước dùng nóng hổi bày cùng với những chiếc đĩa xinh xinh đựng các nguyên liệu kể trên. Nước dùng của bún quá kiều cũng khá độc đáo vì được nấu từ xương hầm trong thời gian rất lâu, hơn 6 tiếng để cho ra chất nước đậm đà và vị ngọt vô cùng hấp dẫn thực khách. Vì vậy mà khi ăn cùng các nguyên liệu như bún sợi to, các loại nấm, trứng, dưa leo, rau và thịt thái mỏng vẫn vô cùng thấm vị và thơm ngon, không hề bị nhạt.

Cách chế biến đã công phu thì việc thưởng thức món ăn này một cách đúng điệu lại càng khiến thực khách thích thú hơn. Trước tiên phải thả trứng vào bát nước dùng, chờ đợi một vài phút rồi lần lượt cho thịt, rau, nấm vào. Bún là nguyên liệu sau cùng được cho vào bát. Sau khi trộn đều vài lần là du khách có thể tận hưởng vị nóng hổi, ngầy ngậy, ngọt mềm, dai dai tự nhiên của nấm, rau, thịt và trứng.

Bún bò

Giống như Bún quá kiều, Bún bò (Niurou Mixian) cũng là một món bún mang hương vị đặc trưng của Côn Minh. Nước dùng của Bún bò ở Côn Minh được cho nhiều dầu ăn và ăn kèm với thịt bò cắt thành từng khối vuông nhỏ chứ không thái lát mỏng như ở Việt Nam. Hương vị của nó cũng khác hoàn toàn với bún bò Huế nổi tiếng của nước ta. Món Bún bò thêm đủ gia vị hành và rau thơm sẽ là món ăn hấp dẫn và ấm lòng mỗi khi du khách đến với Côn Minh.

Cơm Dứa

Một món ăn đặc sản nữa mà du khách không nên bỏ lỡ khi ghé thăm Côn Minh là Cơm Dứa. Món ăn này được phát minh bởi người dân tộc Đại.

Thành phần của món ăn khá đơn giản, có thể tìm thấy ở bất cứ đâu nhưng hương vị đặc trưng nhất vẫn là ở Côn Minh. Các thành phần trong món Cơm Dứa bao gồm: gạo trắng (được ngâm qua đêm sau đó được hấp trong một giờ để hạt gạo mềm và kết dính với nhau), dứa, đường đá, nước cốt dừa, hạnh nhân thái lát, và nho khô làm cho món ăn có hương vị ngọt ngào, thơm. Điều ấn tượng nhất đó là các thành phần này sẽ được đựng trong một quả dứa rỗng vô cùng bắt mắt.

Phô mai sữa dê

Đây là một món ăn nổi tiếng ở Côn Minh – Phô mai sữa dê chiên (hay còn gọi là Ru Bing). Đây là món ăn từ xa xưa do các tộc người thiểu số ở Vân Nam chế biến.

Từ sữa dê, người ta để lên men tự nhiên và làm ra loại phô mai với chất lượng và hương vị tuyệt vời. Phô mai sữa dê có thể xào chung với các loại rau hoặc nhúng ăn kèm bột cay. Chắc chắn, lần đầu thưởng thức phô mai sữa dê sẽ khiến du khách phải “nghiện”.

Old Milk Potato

Old Milk Potato là món khoai tây nghiền cay đặc biệt chỉ có tại Côn Minh. Những củ khoai tây được đem đi luộc rồi nghiền nhỏ sau đó đem chiên trong chảo dầu cùng với hành và gia vị. Món ăn này tuy dân giã nhưng cực kì ngon vì thế khi tới Côn Minh, du khách nhất định phải thử món Old Milk Potato hấp dẫn này nhé!

Braised Jizong

Côn Minh là nơi xuất hiện rất nhiều loại nấm hoang ngon trong đó có Jizong. Chính vì vậy, khi đến Côn Minh vào bất cứ thời điểm nào trong ngày nhất là sau những cơn mưa từ tháng 6 đến tháng 9, bạn sẽ bắt gặp rất nhiều cây nấm Jizong xuất hiện như những chiếc ô nhỏ trên núi. Món ăn được làm từ nấm Jizong rất phổ biến bởi hương vị thơm ngon như mùi thịt gà, chinh phục dạ dày bất cứ thực khách sành ăn nào.

Braised Jizong được chế biến khá đơn giản, sau khi hái nấm từ trên núi, chúng sẽ được rửa sạch với nước, làm khô bằng lò vi sóng và cắt thành miếng. Tiếp theo ớt và thịt thăn được thái thành lát mỏng, sau đó họ bọc thịt và nấm Jizong lăn qua trứng, bột và muối rồi chiên trong dầu nóng. Cuối cùng, Jizong được làm chín cùng với tỏi và hẹ. Trước khi thưởng thức, chúng được đặt trên một chiếc đĩa được rưới dầu mè. Món ăn này có hương vị thơm từ nấm Jizong, thịt và nước sốt chắc chắn sẽ làm bạn phải hài lòng.

Termitomyces

Termitomyces là một loại nấm rất đắt tiền. Ternitomyces phát triển ở bên ngoài tổ mối và sử dụng các chất thải của mối như phân bón. Rất khó tìm thấy món nấm này. Nó có vị rất ngon ngọt và dịu dàng và có một hương vị đặc biệt như thịt gà. Nếu du khách nếm thử nó và không nhìn, du khách sẽ không tin rằng món “thịt” mà du khách đang thưởng thức lại là một loại nấm.

Dưa chua

Dưa chua được coi là món ăn gia đình truyền thống ở Côn Minh. Nó có thể được phục vụ như lạnh, xào, súp hoặc thậm chí salad. Dưa rất chua và làm cho chúng ta một cảm giác ngon miệng tuyệt vời. Vào mỗi mùa đông và mùa xuân, người dân Côn Minh rửa rau và phơi khô chúng. Sau khi rau xanh khô, cắt chúng thành những phần nhỏ; rắc muối, trộn chúng với hạt tiêu, ớt, gừng, hoa hồi, thì là và một ít rượu nấu. Sau đó đặt chúng vào lọ, niêm phong và đợi một tháng. Món dưa chua ngon ở Côn Minh rất dễ làm và linh hoạt.

Erkuai

Đây là một trong những món ăn nhẹ nổi tiếng nhất ở Côn Minh. Nguyên liệu chính là gạo với quy trình làm vô cùng phức tạp. Người ta thường phải rửa, sau đó ngâm gạo, nấu thành cơm và xay, đúc gạo để cho ra thành phẩm cuối cùng.

Thông thường, Erkuai có ba dạng chính: sợi, bánh và khối. Nó thể được chế biến theo nhiều cách khác nhau tùy vào sở thích và nhu cầu của mỗi người. Ví dụ, nó có thể được luộc, xào, hầm, hấp cùng với một số nguyên liệu khác.

Cách chế biến Erkuai phổ biến nhất là xào, khi đó người ta sẽ cho thêm hành tây cùng với một số loại nước sốt đặc trưng của Côn Minh. Món ăn này có hương vị vô cùng tuyệt vời, vị cay cay của nước sốt kết hợp với sợi Erkuai dai mềm đánh thức giác quan mọi thực khách. 

Bánh Modeng Baba

Món bánh Modeng Baba được làm từ bột mì, bột ngô, gạo nếp, mỡ heo, thịt heo và mè. Với lớp vỏ bề ngoài màu vàng đẹp mắt, cùng hương vị thơm ngon đặc trưng, món ăn này từ khi ra đời đã nhanh chóng trở thành món ngon tại Côn Minh. Nhiều du khách khi rời khỏi Côn Minh đã rất ấn tượng với món ăn truyền thống này.

Du khách có thể thưởng thức món bánh hấp dẫn này ở bất kỳ hàng quán ven đường nào. Mua một túi bánh, vừa đi bộ thưởng thức khung cảnh, vừa nhấm nháp những miếng bánh thơm lừng quả thực chẳng trải nghiệm nào bằng.

Bánh bao ngọt

Bánh bao ngọt là một món tráng miệng truyền thống và phổ biến ở Côn Minh. Ở Côn Minh, phổ biến loại bánh bao ngọt được phủ bởi một ít bột đậu nành nấu chín. Nhân bánh cũng vậy, có sự đa dạng hóa riêng theo sở thích của mỗi gia đình. Một số người sẽ sử dụng đậu đỏ và đường làm nhân, trong khi một số sẽ nhồi các loại hạt băm nhỏ, đường và các thành phần khác.

Pudding bột đậu

Pudding – một trong những loại thực phẩm yêu thích không chỉ của trẻ nhỏ đã được chế biến thành loại Pudding bột đậu thơm ngon chỉ có ở Côn Minh.

Pudding bột đậu khác với kẹo và Pudding thông thường ở chỗ trước khi làm, người ta sẽ nấu gạo với bột đậu nành và đường nâu trước. Sau khi hoàn thành, người ta còn thêm cả siro lên Pudding. Chính vì thế, loại kẹo đặc biệt này không chỉ có hương vị của gạo nếp mà còn có cả đậu nành. Khi thưởng thức, kẹo tan chảy trong miệng và có vị ngọt thanh khiến những ai đã thử qua sẽ không quên được.

Trà Puer

Người ta thường bảo rằng đến Côn Minh mà không uống trà Puer là điều đáng tiếc nhất! Điều đó quả không sai, bởi Puer – một loại trà đen có nguồn gốc từ Vân Nam là một trong những loại trà lâu đời nhất trên thế giới.

Trà Puer được lên men và oxy hóa với hương vị thơm ngon độc đáo. Thậm chí, người dân Côn Minh còn gọi nó là “trà vì sự sống” bởi theo thời gian trồng và pha chế lên men tự nhiên, nó như thứ rượu hảo hạng rất tốt cho sức khỏe con người. Chính vì lẽ đó, nếu đến Côn Minh, du khách đừng quen nhấm nháp một ít trà Puer và nếu có thể, hãy mua món trà độc đáo này về làm quà cho người thân, bạn bè.

Những món ăn tinh túy có một không hai kết hợp với thời tiết mát mẻ, cảnh vật hữu tình ở Côn Minh sẽ khiến du khách lưu luyến không rời. Nếu du khách đang tìm một nơi để thưởng thức ẩm thực tuyệt vời thì thành phố Côn Minh chính là lựa chọn hàng đầu dành cho du khách trong hành trình du lịch Trung Quốc.

Trà Long Tỉnh – đặc sản của Hàng Châu, Trung Quốc

Thành phố Hàng Châu – thủ phủ của tỉnh Chiết Giang từ lâu đã là một trung tâm sản xuất trà ở Trung Quốc – việc trồng cây trà đã thịnh hành trở lại sau hơn 1.000 năm. Sự kết hợp giữa đất màu mỡ, nước tinh khiết cùng với khí hậu dễ chịu đã tạo nên một môi trường tuyệt vời để sản xuất một loại danh trà – trà Long Tỉnh (龙井, lóngjǐng).

Trà Long Tỉnh được trồng ở vùng núi Long Tỉnh có nghĩa là “Giếng Rồng” gần Tây Hồ – nơi thời tiết mát mẻ, sáng sớm thường có sương phủ do hơi nước từ hồ bốc lên. Hương trà Long Tỉnh thơm dịu, trà đắng nhưng dư vị ngọt ngào trong cổ. 

Xa xa thoai thoải những cánh đồng trà màu xanh in dưới nền trời xanh biếc của đất Long Tỉnh – một vùng đất được thiên nhiên ưu ái ban tặng địa hình đồi núi hùng vĩ; đặc biệt Long Tỉnh lại nằm kề bên Tây Hồ, một trong những hồ nước lớn và đẹp nhất của Trung Quốc. Với địa hình lý tưởng như trên, làng trà Long Tỉnh quanh năm có không khí mát mẻ và trong lành. Mỗi buổi sớm, hơi nước từ Tây Hồ bốc lên mang đến mang sương mù lãng đãng khắp một vùng trời. Hai yếu tố thời tiết vô cùng thuận lợi này đã góp phần tạo nên đặc sản hương trà trứ danh của vùng. Nổi tiếng nhất nơi đây là trà thất của gia tộc họ Mai, nơi được xem là khởi nguồn của tên gọi và danh tiếng cũng như chất lượng của danh trà này.

Trước kia loại trà này chỉ dùng cho các các bậc vua chúa. Danh trà Long Tỉnh với những câu chuyện truyền thuyết, điển tích giúp nâng cao giá trị của loại trà này, trở thành quốc trà của đất nước Trung Hoa, thành món quà quý cho nhiều du khách thập phương có dịp ghé đến. 

Vào thời Mãn Thanh, Trà Long Tỉnh được Càn Long Đế phong là “Hoàng Trà”, là trà biểu trưng cho hoàng đế. Tương truyền rằng, khi vua Càn Long vi hành đi đến đền thờ Hồ Công dưới đỉnh núi Sư Tử (Peak Mountain Lion: Shi Feng Shan) ở thôn Long Tỉnh vào một trong những ngày lễ nổi tiếng, ông đã được uống một tách trà Long Tỉnh. Thoạt đầu khi thử trà, vua Càn Long chưa ấn tượng, nhưng rồi một lúc sau ngài cảm thấy hậu vị thanh ngọt ngấm trong cổ và rất thích. Khi ông nhìn xuống một giếng nước gần đó và thấy bóng của cây trà lung linh dưới nước, giống hình một con rồng đang bay lượn trong giếng, nên Càn Long đặt tên là Long Tỉnh Trà.

Lão hòa thượng ở miếu Hồ Công đưa Hoàng đế Càn Long đi ngắm cảnh và Hoàng đế Càn Long bỗng thấy mấy cô thôn nữ vui cười đang hái búp non của 18 cây trà trước miếu Hồ Công, bất giác trong lòng hưng phấn bước nhanh vào vườn trà bắt chước hái trà. Hái được một lúc bỗng có thái giám đến báo Thái hậu có bệnh, mời Càn Long nhanh chóng hồi kinh. Hoàng đế Càn Long nghe Thái hậu có bệnh trong lòng lo lắng, lập tức đem nắm búp trà trong tay bỏ vào trong túi. Khi Hoàng đế Càn Long trở về bệnh tình Thái Hậu liền thuyên giảm, và Thái Hậu ngửi thấy có một hương thơm bay đến mũi, liền hỏi: “Hoàng nhi từ Hàng Châu về, mang theo thứ gì sao mà thơm thế?”. Quả thực có một mùi thơm từ trong túi hoàng đế Càn Long bay ra. Càn Long lấy tay rờ, hoá ra là một nắm trà trước miếu Hồ Công ở thôn Long Tỉnh tại Hàng Châu. Sau mấy ngày đã khô, nhưng bốc lên một mùi thơm nồng ấm.Thái hậu muốn thưởng thức loại trà này, rồi cung nữ liền đem trà đi pha rồi dâng lên, quả nhiên mùi thơm xộc vào mũi, uống xong có vị ngọt thuần, thần thanh khí sảng. Sau 3 chén, mắt bớt sưng, bao tử cũng dễ chịu. Lúc bấy giờ Thái hậu vui mừng, khen trà Long Tỉnh là linh đan diệu dược. Hoàng đế Càn Long thấy Thái hậu vui mừng như thế, tự mình cũng vui lây liền truyền chỉ ban cho 18 cây trà mà mình đã hái ở trước miếu Hồ Công dưới chân núi Sư Phong, thôn Long Tỉnh Hàng Châu là “ngự trà”, hàng năm hái và chế biến riêng để tiến cống Thái hậu. Từ đó, danh tiếng trà Long Tỉnh ngày càng vang xa. 18 cây ngự trà tuy đã nhiều lần đổi trồng mới, nhưng “ngự trà viên” vẫn còn được bảo lưu đến ngày nay.

Ngày nay, Long Tỉnh trà vẫn được coi là một trong những loại trà nổi tiếng đắt đỏ của Trung Quốc. Vào thu hoạch đầu tiên trong năm vào tháng 3 và tháng 4, giá bán mỗi kg trà Long Tỉnh có thể lên tới khoảng 875 USD.

Mùa thu hoạch thường kéo dài từ cuối tháng 3 cho đến hết mùa hè, trong thời gian đó, du khách sẽ thấy những công nhân mặc áo rơm nhặt lá bằng tay và những giỏ lá tươi để khô dưới nắng. Sau đó lá trà sẽ được hấp hoặc cho vào chảo sắt rang nóng với nhiệt độ đến nỗi đáy nồi có ám một lớp màu đỏ khoảng gần 200 độ C và đảo thật nhanh tay và sao lên để làm bay hơi nước trong lá trà trước khi chúng hoàn toàn khô để ngăn chặn quá trình oxi hóa tự nhiên, là quá trình do các hành động của các enzyme tự nhiên hiện diện trong mô của lá trà. Lá trà Long Tỉnh không qua quá trình lên men như trà đen hay trà Oolong nên lá trà Long Tỉnh khi ngâm vào nước sinh ra màu vàng xanh lá cây, mùi thơm dịu, vị đậm, có chứa Vitamin C và Axít amin. Quá trình oxi hóa (lên men) là quá trình làm những lá trà tươi sau khi hái dần mất đi mùi vị và chất diệp lục của lá trà bị phá huỷ nên màu xanh của lá trà bị mất đi do sự oxi hóa enzyme của chất axít butyríc lá trà chuyển sang màu đỏ.

Trà Long Tỉnh có thể pha 5 lần mà vẫn còn hương vị, sắc trà có màu vàng tươi, hương trà thanh thoát, vị trà dịu ngọt có thể làm thứ nước giải khác bổ dưỡng, ngừa và chữa một số chứng bệnh. Ngoài ra, xác trà khô chưa pha rất dễ ăn, có vị thơm ngọt và giòn tan, nuốt vào rồi mà hương vị còn đọng ở cổ họng rất lâu. Trà Long Tĩnh được đóng hộp sang trọng, rất đắt tiền, riêng trà ở thôn Mai gia còn được xuất khẩu tại chỗ, trở thành món quà quý cho người thân, lãnh đạo… với hàm ý một món quà tốt cho sức khỏe và rất tịnh tâm.

Việc chế biến đã cầu kỳ, khâu pha trà Long Tỉnh còn là một nghệ thuật. Nghệ thuật dùng trà Long Tĩnh được thực hiện theo từng bước một. Trà được cho vào từng cốc, lần đầu chỉ rót một ít nước (chỉ nóng 80 độ C), sau đó mới rót đầy cốc. Cách rót cũng đặc biệt: người rót trà cầm chiếc ấm nước rót vào cốc, nhưng khi rót nhún lên nhún xuống đến ba lần, mục đích là để đảo trà cho đều, nếu không khéo tay thì nước nóng có thể văng tung toé trên bàn. 2 phút sau là có thể dùng trà được. Và để cảm ơn người rót trà, trước khi uống, người dùng thực hiện thao tác giống như khi xưa đoàn tì tùng đã cảm tạ vua Càn Long ban trà, lấy hai ngón tay trỏ và giữa gõ lên cốc ba lần.

Ngày nay, nghệ thuật uống trà Long Tỉnh được thể theo phong cách của thánh trà Lục Vũ. Ông được xem là người đã khai sinh ra văn hóa dùng trà của cả Trung Hoa. Du khách có thể nhìn thấy bức tượng đồng của ông sừng sững giữa sân khuôn viên trà thất tại Mai gia.

Đến Hàng Châu, du khách sẽ được phục vụ trà Long Tỉnh theo hai cách. Cách phổ biến nhất và ít trang trọng hơn là trong các quán trà và cửa hàng với lá trà được pha chế trong một cốc thủy tinh lớn hoặc cốc với nước nóng đổ trực tiếp vào. Mọi người khi uống từ ly trà đó sẽ liên tục đổ nước vừa mới đun sôi lên lá trà. Người ta nghĩ rằng việc sử dụng đồ thủy tinh để phục vụ trà Long Tỉnh đã xuất hiện khoảng một thế kỷ trước, khi thủy tinh là một vật liệu đắt tiền và sử dụng nó nhằm thể hiện sự sang trọng và quý tộc cho người sử dụng và truyền thống đó đã được lưu giữ đến ngày hôm nay. Cách uống trà này ban đầu sẽ tạo ra một hương vị đậm, đắng, vì vậy nên hãy để sẵn một cốc nước lọc sát bên để làm dịu bớt hương vị cùa trà. Phương pháp này cần mất một khoảng thời gian, vì du khách cần đợi cho đến khi lá lắng xuống và nước nguội hoàn toàn, trước khi du khách có thể uống đúng cách – mặc dù, vô tình ăn một ít lá trà cũng không gây ảnh hưởng gì cả. 

Ngoài ra, du khách có thể thưởng thức trà một cách tinh tế hơn trong các buổi trà đạo truyền thống tại một trong các chi nhánh của Bảo tàng Trà Quốc gia Trung Quốc hoặc tại một trong nhiều quán trà cao cấp trong khu vực, chẳng hạn như phòng trà Ming Jia Ju. Những nơi này thường có sự hướng dẫn của những bậc thầy về trà, người đã dành nhiều năm nghiên cứu về nghệ thuật pha một tách trà hoàn hảo. Buổi lễ là một quá trình rất trang trọng và phức tạp từ khâu chuẩn bị lá trà cho đến cách làm ấm ấm trà, rửa và ngâm lá, cùng với các bước phức tạp khác nhau ở giữa. Đến khi du khách đươc nếm hương vị của những tách trà này du khách sẽ cảm thấy không hề phí công chờ đợi chút nào vì đây là cách “chuẩn” nhất để đánh giá cao hương vị độc đáo của trà Long Tỉnh.

Còn đối với những ai muốn thưởng thức trà một mình thì hãy đến Đền Lingyin, tại đây du khách có thể tìm hiểu về văn hóa trà “Zen”. Trà Zen là loại trà thường do các nhà sư trồng, chế biến và tiêu thụ. Quá trình của việc hái, chuẩn bị và chế biến trà là quá trình giúp các nhà sư giác ngộ Phật học. Hàng năm, vào đầu mùa thu hoạch, ngôi đền này thường tổ chức Buổi biểu diễn trà Zen trên rừng để thúc đẩy khía cạnh độc đáo này của đời sống tu sĩ.

Tuy nhiên, trà Long Tỉnh không chỉ là một loại thức uống được pha một cách cầu kì cùng cách thưởng thức đòi hỏi sự từ tốn mà nhiều món ăn địa phương của Hàng Châu cũng sử dụng lá trà để làm tăng hương vị cho các món ăn. Nổi tiếng nhất trong số này là tôm Long Tỉnh, món ăn kết hợp tôm sông ngon ngọt với độ giòn của lá trà Long Tỉnh tươi. Du khách có thể thử món này và các món ăn cổ điển khác của Hàng Châu cùng nhâm nhi một ly trà thơm ngon tại nhà hàng Maocao Wu, nằm ngay bên rìa của các đồn điền sản xuất trà.

Trà Long Tỉnh còn được biết như một bài thuốc hay, có công dụng điều trị nhiều chứng bệnh như mất ngủ, nóng trong người… Trà Long Tỉnh chính hiệu được bày bán ngay tại các đại lý của thành phố Hàng Châu. Các cửa hàng này luôn tấp nập khách du lịch nước ngoài đến đây để chọn lựa, mua sắm và thưởng trà. 

Nếu có dịp du lịch Trung Quốc và ghé thăm thành phố Hàng Châu, du khách hãy dành thời gian ghé thăm làng trà Long Tỉnh, cũng như ghé qua các cửa hiệu chuyên bán các sản phẩm trà đặc sản nhé! Đây là dịp để du khách có thể tự mình thưởng thức một loại trà trứ danh thế giới, cũng như mua một ít để về làm món quà ý nghĩa cho chuyến đi của mình.

Sự thật gây “sốc” về nghề đao phủ trong lịch sử Trung Hoa cổ đại

Trong lịch sử phong kiến Trung Hoa, đao phủ được xem là một nghề nghiệp tương đối đặc thù. Tuy nhiên, khi Thanh triều diệt vong, sự sụp đổ của xã hội phong kiến cũng kéo theo sự biến mất của nghề nghiệp đặc biệt này. Dù vậy thì cho tới ngày nay, người ta vẫn có thể nhìn thấy hình tượng đao phủ qua nhiều bộ phim Trung Hoa cổ trang.

Đao phủ là người làm nghề hành hình tử tội (tội phạm bị tuyên án tử hình) trong thời cổ đại. Đao phủ thi hành bản án được cấp trên truyền xuống và chém đầu tử tội bằng dụng cụ chuyên dụng (đao, kiếm, rìu,…) sau khi có hiệu lệnh. Thường thì việc hành hình diễn ra công khai thị chúng, thu hút nhiều người đến xem.

Từ xưa đến nay, đao phủ vẫn được xem như là một trong những ngành nghề đáng sợ nhất thế giới. Dù họ là những người “thay trời hành đạo”, nắm giữ sinh mệnh phạm nhân nơi pháp trường, nhưng công việc này vẫn bị người đời cho là xấu xa và vô cùng man rợn. Tới tận khi giải nghệ, họ thường vẫn mang trong mình những ám ảnh kinh hoàng về ngày tháng xưa cũ.

Muốn trở thành một đao phủ thực thụ cũng không hề dễ dàng

Nghề đao phủ không chỉ đơn giản là lấy đầu kẻ khác mà ngược lại nó đòi hỏi người hành quyết khi ra tay phải đạt độ chính xác cao. Đao phủ phải căn đúng khoảng giao giữa đốt sống lưng với cổ để khi chém xuống đầu phải lìa ngay khỏi cổ phạm nhân. Thường thì trên pháp trường, đao phủ chỉ được hạ đao một lần, nên đường chém phải chuẩn xác tuyệt đối.

Vì tính chất công việc không dễ tìm được người phù hợp nên đa phần nghề đao phủ là do cha truyền con nối, từ đời này sang đời khác. Từ đây hình thành nên các gia tộc chuyên hành nghề đao phủ. Mỗi dòng họ theo nghề này đều lưu giữ một thanh bảo đao to dài và đặc biệt sắc bén như một vật gia truyền để hành nghề. Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp ngoại lệ, khi người ta bái sư học nghệ để trở thành đao phủ.

Để trở một tay đao phủ lão luyện không phải là chuyện một sớm một chiều mà cần có thời gian dày công khổ luyện. Trong một khoảng thời gian dài, họ thường xuyên phải luyện tập chém vào bí đao, dưa hấu, cọc gỗ. Làm như vậy nhằm hai mục đích, thứ nhất là để luyện lực cánh tay; thứ hai là để luyện tính chuẩn xác. Trước khi chém đao phủ sẽ kẻ một đường ngang chính giữa vật, đường đao sau đó phải cắt ngang đường kẻ đó. Phải luyện tới trình độ một đao có thể chém tất cả ra làm hai nửa thì mới được xem là có tư cách nhập môn. Và phải tới khi đã hoàn thành tất cả các bước rèn luyện đầy nghiêm khắc và gian khổ, các đao phủ mới có tư cách chính thức hành nghề.

Trước khi xử tử phạm nhân, đao phủ sẽ phun rượu lên lưỡi đao

Hành động tưởng như kỳ lạ này thực chất được xem là việc làm bảo vệ các đao phủ trước một thế lực đáng sợ được tin là có tồn tại vào thời bấy giờ.

Theo đó, phun rượu tế đao thực chất là một phương thức cúng tế. Đao phủ sở dĩ phải làm việc này là bởi nghề của họ vốn là nghề lấy đầu người, họ tin rằng hành nghề này dễ bị vong linh quấy rầy, và việc phun rượu lên lưỡi đao sẽ tránh bị ma quỷ quấy nhiễu.

Ngoại trừ hành động trên, không khó để nhận thấy giới đao phủ thời xưa còn thường mặc áo đỏ, quấn khăn đỏ lên đầu. Thói quen này cũng mang mục đích xua đuổi tà ma như việc phun rượu tế đao, bởi người xưa tin rằng ma quỷ đều sợ màu đỏ.

Sau khi hành quyết, đao phủ sẽ không quay về nha môn báo cáo nhiệm vụ ngay mà phải phủi mông trước mặt các lính lệ biểu thị xua đuổi vận xui, âm khí.

Vì vậy, những việc làm tưởng như kỳ lạ nói trên của giới đao phủ thực chất chỉ nhằm mục đích bảo vệ bản thân trước các thế lực tâm linh mà họ tin rằng có tồn tại.

Giờ đây nhìn lại, nguồn gốc của những việc làm ấy có lẽ đều bắt nguồn từ nhiều quan niệm có phần mê tín từng tồn tại trong xã hội phong kiến Trung Hoa xưa.

Báo ứng rùng rợn của đao phủ cuối cùng trong lịch sử Trung Hoa

Trong các tài liệu ghi nhận, người đao phủ cuối cùng của triều đại nhà Thanh được nhắc đến chính là Đặng Hải Sơn. Ông cũng được xem là đao phủ cuối cùng của Trung Quốc vì đến thời Trung Hoa Dân Quốc, Chính phủ đã dùng súng khi xử tử phạm nhân.

Những ai quyết định chọn làm đao phủ hầu hết đều là những kẻ lạc loài của xã hội, bị chèn ép, đi tới đường cùng hoặc quá xấu xí không thể làm nghề gì khác. Đặng Hải Sơn cũng là một người như thế, một kẻ không gia đình, không thân thế, sống lang bạt và phải rất chật vật để kiếm từng bữa cơm.

Trong cuốn hồi ký của Đặng Hải Sơn, ông cho biết nghề đao phủ tuy bị mọi người coi khinh, không dám tiếp xúc nhưng lại là một nghề kiếm được tiền công vô cùng hậu hĩnh. Theo đó, cứ mỗi khi chặt đầu một tử tù, đao phủ có thể nhận được đến 4 đồng đại dương, khoản tiền này bằng với số tiền mà những nông dân bình thường phải làm lụng vất vả đến cả nửa năm trời cũng chưa chắc kiếm được. Chưa kể theo quan niệm xưa, người nhà phạm nhân luôn mong muốn người thân của họ được “chết toàn thây”. Vì thế, họ sẽ đút lót cho đao phủ, hy vọng khi chém đầu thì đao phủ nhẹ tay hơn một chút, để chừa lại một chút da dính liền. 

Có thể nói nghề đao phủ với thu nhập cao ngất ngưỡng là thế nhưng không phải ai cũng dám làm và cho dù kiếm được nhiều tiền thế nào, đao phủ cũng sẽ phải dừng lại khi chặt đến cái đầu thứ 99. Đây được xem là một quy tắc quan trọng nhất trong nghề đao phủ bởi nếu vượt qua con số này, nghiệp chướng tích tụ trên người họ là không thể gột sạch được và chắc chắn họ sẽ gặp phải báo ứng khủng khiếp.

Nhưng, Đặng Hải Sơn chẳng mấy để tâm đến quy tắc hành nghề. Trong tài liệu ghi lại, ông ta từng chặt đến hơn 300 cái đầu của phạm nhân. Có lẽ cũng vì điều này mà đến cuối đời, Đặng Hải Sơn đã có một cuộc sống vô cùng tệ hại.

Đã dấn thân vào nghề đao phủ, ông cũng biết trước được rằng chẳng có một người phụ nữ nào muốn ở cạnh ông. Người dân trong làng, không ai muốn gả con gái cho ông ta, vì thế cho đến chết, Đặng Hải Sơn cũng chỉ là một lão già cô đơn, không con không cái.

Đến năm 1912, khi nhà Thanh sụp đổ, chính quyền Trung Hoa Dân Quốc đã sử dụng súng đạn khi hành quyết phạm nhân. Những đao phủ như Đặng Hải Sơn rơi vào cảnh thất nghiệp, không biết làm gì khác, cũng không ai dám thu nhận. Họ vốn dĩ quen với việc tiêu xài thoải mái, nay lại chẳng thể kiếm nổi một xu nên nhanh chóng trở thành những kẻ ăn xin sống lang thang nay đây mai đó.

Không chỉ phải sống trong cảnh nghèo khó, Đặng Hải Sơn còn đêm đêm gặp ác mộng khi nhớ đến những người từng bị ông chặt đầu. Ông thường xuyên mơ thấy các tử tù xếp hàng dài đến tìm ông đòi nợ, mỗi lần như vậy ông ta đều tỉnh dậy rồi bật khóc tức tưởi. Sau này ông tìm đến Phật đường để sám hối, mong có lại được chút bình yên ngày cuối đời nhưng cũng bị Phật đường thẳng thừng từ chối vì cho rằng tội lỗi của ông ta sẽ khiến cho nơi thanh tịnh bị ô uế. Đến cuối cùng, Đặng Hải Sơn đã kết thúc cuộc đời của mình một cách cô đơn, nghèo xác xơ, chết trong sự ăn năn và buồn bã ở một xó xỉnh nào đó trên đường phố.

Du lịch Trung Quốc hẳn là cơ hội cho du khách khám phá được nhiều nét thú vị mà du khách được nhìn thấy trong những bộ phim cổ trang. Chúc các du khách có một chuyến đi vui vẻ và nhiều điều thú vị!

Nghề “Bảo tiêu” và “Canh phu” trong lịch sử Trung Hoa cổ đại

Khi xem các bộ phim cổ trang Trung Hoa, du khách không khó để bắt gặp cảnh đoàn người hộ tống hàng hóa để tránh thổ phỉ tập kích cướp bóc; cũng có cảnh một người đàn ông thường đi lại vào ban đêm với câu cửa miệng “Trời hanh vật khô, đề phòng củi lửa”. Thực tế đây là hai nghề có vai trò khá quan trọng ở xã hội xưa và được lịch sử ghi nhận.

NGHỀ “BẢO TIÊU” PHỤC VỤ, BẢO ĐẢM AN TOÀN CHO GIỚI THƯƠNG NHÂN

Bảo tiêu là một nghề khá phổ biến thời Trung Quốc cổ đại. Người làm nghề bảo tiêu được gọi là “tiêu sư”. Nhiệm vụ của họ là bảo vệ tài sản của thương nhân. Do giao thông bất tiện, hàng hóa vận chuyển trên đường thường bị bọn phỉ tập kích cướp bóc, uy hiếp trực tiếp sự an toàn về tài sản và mạng sống của giới thương nhân lữ khác. Từ đó nghề bảo tiêu có điều kiện ra đời để phục vụ, bảo đảm sự an toàn cho giới thương nhân.

Nghề bảo tiêu chính thức ra đời từ thời Minh, Thanh, nhưng đã manh nha từ đời Đường. Trong tác phẩm truyền kỳ “Tạ Tiểu Nga” có đề cập đến dạng tiêu sư thời sơ kỳ. Tạ Tiểu Nga là con gái thương nhân, lấy chồng là Đoàn Cư Trinh – một hiệp sĩ đất Lịch Dương. Đoàn Cư Trinh là tay nam tử chính khí hiên ngang, kết giao với nhiều tuấn sĩ hào kiệt trên giang hồ. Cha của Tạ Tiểu Nga là thương nhân cự phú, thường giả trang làm người buôn bán bình thường cùng đưa con rể đi đây đó, uy danh của Cư Trinh vô hình trung khởi tác dụng “bảo tiêu” cho việc vận chuyển hàng hóa của cha Tiểu Nga vì đám giang hồ đã biết tiếng. Dần dần về sau, bảo tiêu mang tính chuyên nghiệp và thương nghiệp.

Lúc bấy giờ, với sự phát triển của xã hội, đặc biệt là thương nghiệp, việc đi lại buôn bán giữa Nam và Bắc Trung Quốc càng lúc càng nhiều, bảo tiêu trở thành một nghề chuyên nghiệp mang tính thương mại, đầu tiên là cá thể. Đầu đời Thanh bảo tiêu từ cá thể chuyển sang tập thể, đó chính là tiêu cục.

Tiêu cục chuyên hộ tống khách buôn cùng hàng hoá, tài sản khách buôn yêu cầu hộ tống gọi là tác tiêu, những người tiêu cục cử đi bảo vệ gọi là tiêu sư hoặc bảo tiêu. Việc làm ăn của tiêu cục là trông vào sự bảo vệ an toàn về người và của tiêu sư, vì vậy tiêu cục rất coi trọng tuyển chọn tiêu sư để bảo vệ uy tín của mình. Nếu hàng hoá nhiều lần bị đánh cướp thì tiêu cục đành đóng cửa, do đó người kinh doanh tiêu cục (tiêu đầu) thường là hạng võ lâm cao thủ, võ nghệ cao cường, quen biết rộng rãi, có uy tín trên giang hồ đảm nhận.

Tiêu đầu khi tuyển chọn tiêu sư thường là tự mình thử nghề để bảo đảm chất lượng. Tiêu sư không chỉ giỏi võ mà còn phải am tường kinh nghiệm và tri thức giang hồ. Họ không chỉ biết đoạn đường nào kẻ xấu thường xuất hiện mà còn rành về thủ đoạn, phương thức và công phu võ nghệ cao thấp thế nào. Các tiêu sư hiểu rằng nếu hành nghề bảo tiêu mà không có sự hỗ trợ của các bằng hữu giang hồ là không xong, do đó họ thường có quan hệ với đám lục lâm hảo hán theo cách này hay cách khác, hai bên đều hiểu rõ công việc của nhau và tiếp ứng khi cần thiết.

Trong thời đại còn sử dụng vũ khí nguội, súng đạn chưa phát triển, võ thuật truyền thống là phương tiện chủ yếu để con người tự vệ phòng thân hoặc tấn công kẻ khác. Ngoài việc mở hội quán để truyền dạy võ nghệ, sự xuất hiện của các tiêu cục rõ ràng đã mở ra con đường mới dùng võ thuật để mưu sinh lập nghiệp cho người luyện võ, cho phép giới võ hiệp được trực tiếp phục vụ xã hội, tự mưu sinh, vừa thúc đẩy nền võ thuật truyền thống Trung Hoa phát triển.

Các tiêu sư Vương Tử Bân, Lý Tinh Giai, Lương Chấn Phổ đều lừng danh về đại đao; những danh sư về Hình Ý Quyền, Bát Quái Chưởng xưng hùng trong giới võ lâm, đều từng là các tiêu sư lừng danh một thời. Quyền sư Lưu Chiêm Sơn nổi danh môn võ liên thủ đoản đả (tức “Câu quải tử”), xuất thân từ gia đình nhiều đời làm tiêu sư, ông nội và cha ông đều là những người dùng võ nghệ để hành nghề bảo tiêu.

Xe chở hàng áp giải của tiêu sư gọi là tiêu xa, trên xe có cờ thêu tên tiêu cục gọi là tiêu kỳ, đèn thắp trên xe gọi là tiêu đăng. Khi áp giải hàng hoá qua vùng núi non hoang vắng hoặc phố xá náo nhiệt, các tiêu sư thường hô to tên của tiêu cục mình, gọi là “hám tiêu”. Hám tiêu tuy có ý uy hiếp một phần, nhắn cho kẻ xấu biết không nên vọng động, nhưng đó hoàn toàn không phải như trong tiểu thuyết hay phim kiếm hiệp nói là khoe danh tính cho bọn cường đạo nghe tiếng hoảng hốt bỏ chạy.

Mục đích chủ yếu của “hám tiêu” là cho bọn cường đạo nghe tiếng, mời chúng nên tránh đi, đừng động vào chén cơm của chúng ta mà làm huynh đệ mất niềm hòa khí. Cho nên hám tiêu thực chất là thỉnh cầu chứ không phải uy hiếp.

Nếu bị chặn đường hành hung thì các tiêu sư cũng phải nhẫn nhịn, qua nhiều lần thương lượng nếu không xong mới phải giao đấu. Các tiêu sư vừa mong gặp trường hợp này để thể hiện tài nghệ của mình lưu danh trên chốn giang hồ, lại vừa lo sợ vì giang hồ khó lường, loại “tàng long phục hổ” rất nhiều, rủi sơ sảy là vừa mất uy tín tiêu cục vừa thân bại danh liệt, khó vào ra trên chốn giang hồ. Cho nên theo quy định của bảo tiêu, tiêu sư khi áp giải hàng qua chốn quan phủ hay địa phương nổi tiếng là võ lâm danh gia như vùng Thương Châu ở Hà Bắc (từng mệnh danh là “Tiêu bất hám Thương Châu” – tiêu sư không hô danh tính ở Thương Châu), hay Trần Gia Câu ở Hà Nam, Hồ Châu ở Triết Giang… thì không được hám tiêu.

Ngày trước ở Bắc Kinh có 8 đại tiêu cục, trong đó nổi tiếng nhất là Kinh Đô Hội Hữu tiêu cục của Tống Vạn Luân (1809-1893) người được giang hồ mệnh danh là “Thần quyền Tống lão Vạn” mở vào thời Đồng Trị nhà Thanh. Tống Vạn Luân tinh thông “Tam tinh Pháo chùy quyền” và “Đại thương thuật”, hành nghề bảo tiêu hơn 30 năm chưa từng sơ suất.

Rất nhiều cao thủ lừng danh trong võ lâm Trung Hoa từng làm tiêu sư, như danh gia Hình Ý quyền Đới Văn Hùng (1778-1873) ở Sơn Tây, danh gia võ phái Côn Luân được mệnh danh “Thông tý viên” Hồ Thất từng làm tiêu sư ở Bắc Ngũ Lộ; “Kinh thành đại hiệp” Đại đao Vương Ngũ từng là tiêu sư của Bắc Kinh Nguyên Thuận tiêu cục; Thương Châu đại hiệp Lưu Đức Khoan là tiêu sư của Vĩnh Thắng tiêu cục… Hoắc Ân Đệ – thân phụ Hoắc Nguyên Giáp (1856-1910) cũng là một tiêu sư nổi tiếng.

Các nhân vật nổi tiếng như Vương Hương Trai – người sáng lập Đại thành quyền; Lã Tử Kiếm – “quốc bảo” của võ lâm Trung Hoa hiện nay cũng đều làm qua nghề tiêu sư. Có tiêu sư như Vương Chi Quốc được dân chúng cảm kích lập bia và đền thờ.

Nghiệp vụ của tiêu cục gộp lại có 6 loại: “tẩu tiêu” (áp tải hàng hóa), “hộ viện” (bảo vệ trang viện nhà cửa), “tọa điếm” (bảo vệ hàng quán khách điếm), “tọa dạ” (canh gác ban đêm), “áp khoản” (cầm đồ) và “bảo hộ khố đinh” (bảo hộ phu khuân vác ở các kho bãi). Các nghiệp vụ này không có ngành nào không cần đến võ dũng và khả năng chiến đấu làm bảo chứng. Đây là điều kiện căn bản để giới võ hiệp đứng được trong ngành bảo tiêu.

Tẩu tiêu là nghiệp vụ chủ yếu của tiêu cục, tẩu tiêu cần phải có “tiêu lộ”, nói theo thuật ngữ hiện đại nghĩa là “phạm vi khu vực tiếp nhận nghiệp vụ áp tải hàng hóa”. Khi kênh đào Kinh Hàng thông thương, việc buôn bán phần lớn được các tiêu cục ở Bắc Kinh vận chuyển bằng đường thủy theo con kênh này, gọi là thủy lộ tiêu.

Trong thành Bắc Kinh xưa có 3 thành phần giàu có, một là giới vương công huân thích (bà con vua, bà con bên vợ vua và những kẻ có công trạng lớn), hai là giới quan lại quý hiển, ba là giới đại thương nhân phú hào. Ba giới này đều là “những kẻ trộm tiền tài của thiên hạ để thỏa mãn lòng ham muốn của mình”. Để đề phòng đạo tặc và kẻ thù đến ám toán, phần nhiều những gia đình giàu có trong thành Bắc Kinh đều mời tiêu sư đến ở trong phủ hộ viện, để bảo vệ nhà cửa, hòng bảo đảm an toàn tài sản và mạng sống của họ.

Trong thành Bắc Kinh, giới vương công huân thích, quan lại quý hiển, đại thương gia phú hào đều là những ông chủ lớn tiêu tiền như nước trên thị trường, vì thế trong thành Bắc Kinh, các loại thương điếm, nhà hàng, rạp hát, sòng bạc, kỹ viện đều tranh nhau làm giống như thế. Các ông bà chủ lớn nhỏ đều sợ đạo tặc đến trộm, đồng thời cũng sợ bọn “Cát Đoá Tử” (tên gọi chỉ chung trộm cướp, đầu gấu ở thành Bắc Kinh xưa) đến quấy nhiễu, nên cũng mời các tiêu sư đến nhà tọa dạ, tọa điếm để bảo đảm tài sản và công việc buôn bán được bình thường.

Một số tiêu cục lớn ở Bắc Kinh thừa kế nghiệp vụ “phi tiền” (tức chuyển tiền, gần như nghiệp vụ ngân hàng ngày nay) đã có từ thời nhà Đường, cũng tiếp nhận nghiệp vụ gửi tiền. Vì các tiêu cục lớn có uy tín, các phân hiệu và chi nhánh trải ra gần khắp nửa đất nước Trung Quốc. Tiêu lộ cũng thông thương khắp nơi, nên triển khai nghiệp vụ chuyển tiền rất thuận lợi.

Biện pháp cụ thể là “Nhận 100 thì lấy 5”, ngoại trừ chuyển số tiền lớn, thông thường các tiêu cục không phái người chuyên môn đi theo áp tải tiền, mà giao cho tẩu tiêu thuận đường mang đi.

Cho đến cuối đời Thanh, khi triều đình thực hiện chính sách mới, thành lập Bộ Bưu truyền, loại nghiệp vụ này của tiêu cục mới chấm dứt.

NGHỀ “CANH PHU” VỚI CÂU CỬA MIỆNG: “TRỜI HANH VẬT KHÔ, ĐỀ PHÒNG CỦI LỬA!”

Sự xuất hiện của nhân vật với câu cửa miệng: “Trời hanh vật khô, đề phòng củi lửa” là điều dễ hiểu vào thời cổ – trung đại ở Trung Hoa, khi đó đồng hồ chưa xuất hiện. Để nắm bắt thời gian trong ngày thì mọi người sẽ phải nhìn lên bầu trời, dựa vào độ cao của Mặt trời để ước chừng. Nhưng phương pháp này vào ban đêm thì gần như vô dụng. Cũng vì lý do đó, một nghề được gọi là “canh phu” xuất hiện.

Những người canh phu có nhiệm vụ báo hiệu cho mọi người đã gần đến nửa đêm đồng thời nhắc nhở về vấn đề phòng chống trộm cắp và hỏa hoạn. Bởi khi hỏa hoạn xảy ra thì sẽ lan rộng nhiều gia đình và thiệt hại rất khủng khiếp.

Nguồn gốc của nghề “canh phu” này bắt đầu từ trước khi Trung Quốc được thống nhất bởi Tần Thủy Hoàng tức là có từ thời Xuân Thu – Chiến Quốc. Lúc này, người ta chưa gọi là “canh phu” mà gọi là “kê nhân”. Sở dĩ gọi là “kê nhân” vì đặc trưng của người này là báo hiệu giống như loài gà báo hiệu cho mọi người thời gian vào buổi sáng. “Kê nhân” ám chỉ hình ảnh tương tự ở của người làm nghề này vào ban đêm.

Trong Sử ký Tư Mã Thiên phần “Mạnh Thường Quân liệt truyện” có ghi lại một câu chuyện thú vị về Mạnh Thường Quân (người trốn khỏi nướcTần và về sau là tể tướng nước Tề thời Chiến Quốc) có liên quan đến “kê nhân”. Khi Mạnh Thường Quân trốn khỏi nước Tần, ông đi qua Hàm Cốc Quan vào lúc rạng sáng, binh sĩ thấy có dấu hiệu lạ, may thay, những “kê nhân” đã giúp ông cải trang và dạy ông các đánh chiêng, hô hào báo hiệu như một người làm nghề “kê nhân” bình thường rồi nhập hội vào nhóm của họ để thoát khỏi sự săn lùng của binh lính nước Tần. Đây là câu chuyện dẫn tới một thành ngữ là “kê minh cẩu đạo” (giả tiếng gà để lừa chó) của người Trung Quốc. Ngay cả trong sách Chu Lễ (sách ghi lại nghi lễ thời nhà Chu) cũng có nói đến vai trò của những nhân vật như thế này: “Kê nhân cầm chiêng của mình, trong các nghi lễ lớn của triều đình sẽ hô to để truyền đạt cho bá quan cùng biết để thực hiện lễ nghi”.

Còn ngày thường, “kê nhân” vẫn chịu trách nhiệm báo hiệu cho mọi người vào ban đêm cẩn thận trộm cắp và đề phòng hỏa hoạn. Sau này, những người như vậy đổi tên được gọi là ‘canh phu”. Họ được coi như một nhân viên hưởng lộc của chính quyền.

Không phải tự nhiên mà được chọn làm “canh phu”. Người được chọn có khi là được bầu ra, thường là người có sức khỏe, giọng nói lớn và được tín nhiệm. Vì đây là công việc vất vả, phải thức gần như suốt đêm.

Và cho tới khi xã hội phát triển, đồng hồ xuất hiện, nhà cửa cũng trở nên kiên cố và phương tiện liên lạc cũng hiện đại hơn thì “canh phu” đương nhiên không còn cần thiết trong xã hội nữa. Đơn giản vì có nhiều cách tốt hơn để phòng ngừa trộm cắp và cháy nhà.

Tuy nhiên, ngày nay nếu du khách muốn chứng kiến “canh phu” có thể đến huyện Vị Nguyên thuộc Giang Tây hoặc thị trấn cổ Hoàng Long Khê thuộc Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên. Những nơi này vẫn giữ “canh phu” như một phong tục thường được tái hiện trong một vài lễ hội.

Du lịch Trung Quốc hẳn là cơ hội cho du khách khám phá được nhiều nét thú vị mà du khách được nhìn thấy trong những bộ phim cổ trang. Chúc các du khách có một chuyến đi vui vẻ và nhiều điều thú vị!

“Bật mí” 8 món ăn đặc sắc của vùng đất tơ lụa Tô Châu, Trung Quốc

Tô Châu – vùng đất tơ lụa nổi tiếng ở đất nước Trung Quốc với nhiều khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp. Bên cạnh đó, các món ngon mỹ vị của ẩm thực Tô Châu thực sự làm nên nét đẹp quyến rũ của vùng đất này.

Cá chiên truyền thống

Tên thường gọi trong tiếng Anh của món này là “The Squirrel-shaped Mandarin Fish”. Đây là món ăn truyền thống tiêu biểu của Tô Châu, nó luôn có mặt trong các bữa tiệc, các lễ hội và lúc nào cũng đứng trang đầu tiên trong thực đơn của các nhà hàng lớn nhỏ.

Món cá chiên này được chế biến khá cầu kỳ, cá tươi được cắt bằng những đường dao tinh tế thành những tua thịt đủ nhỏ, tẩm bột và chiên. Sau khi chiên, nó có hình dạng giống con sóc, và được rưới nước xốt chua ngọt, trang trí với vài cọng rau xanh.

Khi thưởng thức, du khách sẽ cảm nhận được thịt cá giòn như khoai tây KFC chiên kỹ, không còn hương vị của cá, nước xốt thì giống như Sketchup trộn thêm vài thìa siro ngọt lịm. Tất cả hương – vj – sắc có trong món cá chiên truyền thống của ẩm thực Tô Châu hẳn khiến du khách phải “mê mẩn”.

Chân giò hầm Wansan

Nếu món Cá chiên nổi tiếng ở Tô Châu thế nào thì món Chân giò hầm Wansan cũng tương tự như thế. Sở dĩ nó có tên như vậy vì Shen Wansan là người chế biến ra món này và phát triển nó. 

Shen Wansan là người Tô Châu, sống vào thời kỳ Chu Nguyên Chương lập nên nhà Minh. Ông đã từng sống ở Nam Kinh, Vân Nam nhưng cuối cùng thì Tô Châu là nơi ở cuối cùng của ông và gia đình, cũng là nơi làm nên tên tuổi của ông.

Món chân giò Wansan tất nhiên sẽ làm từ chân giò, nó được hầm một ngày đêm trong hũ sành với các loại thảo mộc và gia vị tự nhiên. Khi chín chân giò có màu nâu đỏ, thịt mềm, đặc biệt là phần da rất căng, mềm và giòn khi ăn. Vị của nó hơi ngọt, hao hao giống vị ngọt của thịt kho tàu nhưng nhẹ hơn, vị ngọt từ thảo mộc chứ không phải từ đường. Chân giò được cắt thành từng khúc và được dùng chung với nhiều hương vị quyến rũ khác như: rau xanh đặc biệt là cải, canh. 

Cá hấp Thái Hồ

Món cá hấp thì ở nhiều nơi đều có, đây là món phổ thông và không khó chế biến. Thế nhưng, món cá hấp ở vùng Thái Hồ ở Tô Châu lại có hương vị vô cùng hấp dẫn. Những con cá sống ở vùng Thái Hồ tươi ngon sau khi được bắt lên sẽ được ướp với xì dầu, gừng tươi, ớt và hạt tiêu. Khi gia vị đã thấm vào cá thì người ta hấp lên vừa chín để thịt cá còn giữ nguyên vị ngọt thơm của nó.

Mỗi con cá chỉ tầm từ 5-7 lạng thôi nhưng thịt ngon vô cùng. Cá có màu trắng, dùng chung với nước chấm xốt ớt được pha chế đặc biệt.

Đến Tô Châu, du khách có thể thưởng thức món ngon này tại các nhà hàng, quán ăn với mức giá hợp lý. Một lần thử qua món cá hấp Thái Hồ, du khách sẽ phải “ghiền ngay thôi!

Thịt heo kho tàu

Người dân Tô Châu rất thích món thịt heo kho tàu, họ dùng trong các bữa ăn hàng ngày. Món ăn này đơn giản, chế biến nhanh.

Với hương vị đậm đà, vị thịt béo ngậy, thơm ngon hoà quyện cùng các gia vị đặc trưng, thịt được kho nhừ mềm, thấm đẫm nước xốt đã tạo nên món thịt kho tàu huyền thoại, giúp đưa cơm và tăng thêm khẩu vị cho mọi người. Bên cạnh đó, thịt kho tàu còn đem lại hàm lượng dinh dưỡng vô cùng phong phú, cung cấp đầy đủ lượng năng calo cần thiết cho cơ thể, bổ sung thêm sắt, canxi, protein, photpho, kẽm,…

Thịt viên bọc bột hấp

Món ăn này có cách chế biến khá tỷ mỉ, công phu, thịt viên bọc bột sau đó mới cho lên hấp cùng với rau cải xanh. Hương vị của món ăn nhẹ nhàng, nước canh giống như nước rau, lại có thêm thịt viên để dùng, ngon không tưởng.

Dưa muối

Mặc dù món dưa muối ở Tô Châu không chua như của Việt Nam chúng ta, nhưng cũng giòn và dễ ăn. Cải được phơi cả cây đến khi khô lại, tùy sở thích mà khô vừa hay khô quắt. Sau đó được muối trước khi mang ra ăn. Đây hẳn là một sự lựa chọn không tồi để du khách thưởng thức.

Bánh nếp xanh

Trong các món ngọt của ẩm thực Tô Châu, bánh nếp xanh (Green Dumpling) là loại bánh được người dân và khách du lịch yêu thích hơn cả. Bánh được làm từ gạo nếp dẻo thơm với màu sắc xanh (do bột được trộn cùng nước ép từ rau, có thể là ngải cứu hoặc lá dứa…). Bánh có nhân đậu đỏ bên trong, khi ăn có vừa dẻo vừa ngọt lại bùi bùi của đậu đỏ.

Bánh nướng nhân thịt

Bánh nướng nhân thịt ở Tô Châu có lớp vỏ bánh màu trắng, bên trong nhiều lớp mỏng tang, chỉ cần chạm nhẹ vào lớp vỏ là rơi ra. Người xưa ví chúng giống như bụi tuyết và nhẹ như lông ngỗng. Đây là kỹ thuật nặn vỏ bánh đòi hỏi kỹ năng cao, bắt nguồn từ cung đình thời xưa.

Chiếc bánh có 2 lớp vỏ, một lớp mềm dẻo bên trong và một lớp mỏng bên ngoài. Hai phần bột để làm có thành phần khác nhau đôi chút. Trước khi làm nhân, người đầu bếp sẽ phải kết hợp hai loại này để khi nướng, chúng có độ gắn kết hoàn hảo nhưng khi ăn vẫn cảm nhận được sự khác biệt, tinh tế. Còn phần nhân của chiếc bánh thì gồm có thịt heo, hành lá, gia vị tẩm ướp… Sau đó, chúng được đem nướng với hai đầu hơi xém, vàng ươm. 

Bánh có thể dùng để ăn sáng, ăn nhẹ trong ngày. Hương vị dễ ăn, mặn vừa đủ. Lớp bột không quá dày, không quá mỏng. Bánh nướng nhân thịt ở Tô Châu ngày nay được bán quanh năm nên du khách tới đây có thể thưởng thức vào bất kỳ thời điểm nào trong năm. Không phải là đặc sản cao lương mỹ vị, bánh nướng nhân thịt được làm và nướng ngay tại chỗ. Khách ăn mua mang đi khi bánh còn nóng hổi và thơm nức, gói trong chiếc túi giấy giản dị.

Ẩm thực Tô Châu còn có thêm những món như ruốc thịt Thái Sương, Súp cua,… cũng được xem như là món ăn nức tiếng ở Tô Châu.

Tô Châu có rất nhiều điểm đến đẹp say đắm lòng người, cùng nét đẹp văn hóa đặc trưng, ẩm thực với nhiều món ngon hấp dẫn khác,… Hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi và ghé thăm vùng đất Tô Châu để trải nghiệm những điều tuyệt vời thôi nào!