Tết Thanh Minh – ngày lễ quan trọng của người Trung Quốc

Trung Quốc được biết đến là một trong những đất nước có nền văn hóa lịch sử lâu đời và có nhiều di tích lịch sử nổi tiếng. Không chỉ vậy đất nước này còn có những lễ hội truyền thống rất đặc sắc thu hút khách du lịch gần xa, trong đó nổi bật là Tết Thanh Minh.

“Thanh Minh” (清明) có nghĩa là trong sáng. Trong năm, Thanh Minh chính là 1 trong 24 tiết khí trong năm thường rơi vào khoảng trước hoặc sau ngày 5/4 dương lịch, sau Đông chí 108 ngày. Tên gọi “Tiết Thanh Minh” có lẽ xuất phát từ thời điểm vào mùa đông đã kết thúc, lúc này tiết trời đã bắt đầu ấm áp, bầu trời trong xanh, khí hậu ấm áp, cỏ non xanh rờn, tràn đầy hương sắc mùa xuân. Đồng thời, đến Tiết Thanh Minh lại đúng vào thời điểm mùa cấy vụ xuân.

Người Trung Hoa quan niệm rằng, nguồn gốc Tết Thanh Minh bắt nguồn ngày tế lễ của vua chúa thời cổ. Say này dân gan học theo và từ đó xuất hiện tập tục tảo mộ để tưởng nhớ công ơn tổ tiên. Theo truyền thuyết, vua Đại Vũ trị thủy thành công vào đúng vào dịp mùa xuân tới, trời đất trong lành, không khí ấm áp, trăm hoa đua nở, nhân dân liền tổ chức hoạt động chúc mừng và gọi là Tết Thanh Minh.

Từ xa xưa, Tết Thanh Minh đã trở thành ngày lễ ý nghĩa thiêng liêng đi sâu tiềm thức người dân Trung Quốc. Đây không chỉ là thời điểm phù hợp cho vụ mùa mới mà còn là tập tục đầu xuân quan trọng, là sự kết hợp nỗi buồn và hi vọng.

Tại Trung Quốc, trong những ngày lễ tâm linh này, hoạt động chính là tảo mộ. Công việc chính của tảo mộ là sửa sang các ngôi mộ của tổ tiên cho được sạch sẽ. Nhân ngày Thanh minh, người ta mang theo xẻng, cuốc để đắp lại nấm mồ cho đầy đặn, rẫy hết cỏ dại và những cây hoang mọc trùm lên mộ cũng như tránh không để cho các loài động vật hoang dã như rắn, chuột đào hang, làm tổ mà theo suy nghĩ của họ là có thể phạm tới linh hồn người đã khuất. Sau đó, người tảo mộ bày thức ăn, hoa quả ra cúng, thắp vài nén hương, đốt vàng mã hoặc đặt thêm bó hoa cho linh hồn người đã khuất.

Trong ngày Thanh Minh, khu nghĩa địa trở nên đông đúc và nhộn nhịp. Các cụ già thì lo khấn vái tổ tiên nơi phần mộ. Trẻ em cũng được theo cha mẹ hay ông bà đi tảo mộ, trước là để biết dần những ngôi mộ của gia tiên, sau là để tập cho chúng sự kính trọng tổ tiên qua tục viếng mộ. Những người quanh năm đi làm ăn xa cũng thường trở về vào dịp này (có thể sớm hơn một, hai ngày vì nhiều lý do khác nhau) để tảo mộ gia tiên và sum họp với gia đình. Bên cạnh những ngôi mộ được trông nom, chăm sóc cẩn thận, còn có những ngôi mộ vô chủ, không người thăm viếng. Những người đi viếng mộ thường cũng cắm cho các ngôi mộ này một nén hương.

Với những cơ quan, đoàn thể sẽ đi tảo mộ cho các liệt sĩ tại nghĩa trang. Đó chính là lý do những ngày Thanh Minh thì các nghĩa trang lại có rất nhiều những vòng hoa, bó hoa hay cành tùng, cành bách. Điều này thể hiện lòng biết ơn, tôn kính đến các vị liệt sĩ đã hi sinh thân mình bảo vệ tổ quốc.

Tết Thanh Minh người dân Trung Quốc còn có tập tục cắm một cành liễu trước nhà, cành liễu sống rất khỏe, khi cành liễu xanh tức là trời sẽ mưa bụi, khi cành liễu khô tức là trời nắng, nên người dân dùng liễu để dự báo thời tiết. Ngoài ra, tương truyền Tết Thanh Minh cũng có ma quỷ ra nhiều, nên dùng cành liễu để trừ tà.

Tết Thanh Minh không chỉ có ý nghĩa tảo mộ ông bà tổ tiên, những người đã khuất, hướng về cội nguồn, đây đồng thời cũng là ngày hội du xuân. Những ngày này nhiều gia đình lại hân hoan, háo hức tham gia các hoạt động văn hóa, để kết nối tình yêu thương giữa những người với nhau, tăng thêm tình yêu thương đối với những người trong cuộc sống.

Người Trung Quốc thường hay có thói quen tham dự các trò chơi thể thao như đá banh da – một hoạt động vui chơi được ưa chuộng thời kỳ Trung Quốc cổ đại. Ai nấy cũng có thể chơi được, không phân biệt giới tính nam nữ, thường dân hay vua chúa. 

Song hành với bộ môn đá banh da, người Trung Hoa còn hưởng ứng nhiệt tình với loại hình thả diều. Không kể ngày hay đêm, người dân tha hồ thả những chiếc diều trên bầu trời, mang tới sự cảm nhận thật tuyệt vời và dễ chịu biết bao. Những chiếc lồng đèn nhỏ được gắn vào dây diều, đem thả trên bầu trời tựa xa xa như những ngôi sao sáng lấp lánh, tỏa ra một sức hút hấp dẫn làm xao xuyến bao con tim lữ khách và người dân.

Trước đây, nam nữ thanh niên cũng nhân dịp này để du xuân nên mới có tên gọi “hội đạp thanh”. “Đạp” là dẫm lên, “thanh” là màu xanh, ý nói cỏ. “Đạp thanh” còn gọi là “xuân du”, là khi mùa xuân đã về, cây cối đâm chồi nảy lộc, người người rủ nhau đi ngắm cảnh sắc mùa xuân. Trong thời cổ còn có tập tục đi chơi xuân hái rau dại, tập tục này đến nay không còn nữa. Trong thời gian trước và sau Thanh Minh là các cô gái, phụ nữ đi chơi xuân, hái rau dại tươi và non về gói sủi cảo, gói bánh rất thơm ngon với mùi vị khác thường. Có một số phụ nữ còn thích gài bông hoa rau khúc màu trắng trên đầu.

Tết Thanh minh cũng là thời gian để trồng cây, vì tỷ lệ sống sót của những cây non vào thời gian này rất cao và lớn nhanh sau đó. Trước kia, Tết thanh Minh có tên “ngày hội trồng cây mùa xuân”, nhưng từ năm 1979, đã được đặt vào ngày 12/3 dương lịch.

Ngoài lễ viếng mộ tổ tiên và các hoạt động vui chơi giả trí, thưởng thức những món ăn truyền thống cũng là một phần không thể thiếu trong Tết Thanh Minh. Vào dịp này, người Trung Hoa nói chung, người Giang Nam nói riêng thường có tục ăn bánh Thanh Đoàn Tử. Để làm được loại bánh này, người ta ép lấy nước một lại cỏ mọng có tên là “Tương mạch thảo”, sau đó trộn với bột nếp đã xay nhuyễn thành một thứ bột ướt mịn. Nhân bánh là bột đậu xanh trộn đường. Đặt một viên nhân bánh và một miếng mỡ lợn nhỏ vào vỏ bột, vê tròn rồi xếp vào lồng hấp, hấp cách thủy đến chín. Khi lấy bánh ra khỏi lồng hấp, người ta lấy dầu thực vật quét đều lên khắp bề mặt bánh, khi đó bánh mới hoàn thành. Thanh đoàn tử có màu xanh bóng như ngọc, vị mềm, thơm, ăn vào thấy ngọt mà bùi, béo mà không ngấy. Người Giang Nam dùng thứ bánh này để cúng tổ tiên nên Thanh Đoàn Tử không chỉ là một món ăn mà đã trở thành phong tục ẩm thực của vùng đất này.

Ăn bánh Cuộn Thừng cũng là phong tục truyền thống vào Tết Thanh Minh của người Trung Quốc. Thứ bánh này được chiên trong mỡ, vị giòn, thơm. Thời xưa tục cấm lửa vào tết Hàn thực không được phổ biến rộng rãi tại Trung Quốc nhưng tục ăn bánh cuộn thừng lại được người dân rất ưa chuộng. Ngày nay bánh cuộn thừng có sự khác biệt giữa hai miền nam bắc. Bánh miền bắc thường to, dùng bột mì làm nguyên liệu chính. Bánh miền nam nhỏ và tinh xảo hơn, đa phần dùng bột gạo để làm. Bánh cuộn thừng cũng xuất hiện trong các vùng dân tộc thiểu số, vị ngon khác lạ, trong đó bánh cuộn thừng của tộc Duy Ngô Nhĩ, Đông Hương và dân tộc Hồi ở Ninh Hạ là nổi tiếng nhất.

Dịp Tết Thanh minh cũng trùng với mùa ốc nên người Trung Quốc có câu nói: “Thanh minh ăn ốc, không cần ăn ngỗng”. Chưa vào mùa sinh sản nên ốc dịp này béo, ăn rất ngọt. Ốc có nhiều cách chế biến, có thể xào với hành, gừng, rượu nấu, xì dầu và đường trắng hoặc khêu lấy thịt để hấp, trộn hay chần tái đều rất ngon.

Ngoài các món ăn trên, vào dịp Tết Thanh Minh, người Trung Quốc còn có tục ăn trứng gà, bánh bông lan, bánh kẹp, bánh chưng, bánh dày… Các món ăn muôn hình muôn vẻ mà giàu chất dinh dưỡng.

Tiết Thanh Minh được người dân Trung Quốc xem rất quan trọng trong các ngày lễ của năm. Du lịch Trung Quốc vào dịp Tiết Thanh Minh, du khách có cơ hội chiêm ngưỡng, trải nghiệm và tận hưởng những điều khác biệt tạo nên nét văn hóa đặc trưng cho miền đất này.

15 món lẩu siêu ngon không thể bỏ qua trong hành trình du lịch Trung Quốc

Khi nhắc đến Trung Quốc là nhắc về một nền ẩm thực vừa đa dạng, vừa độc đáo. Họ nức tiếng khắp bốn phương với những cao lương mỹ vị mà ở đằng sau mỗi món ăn đều mang những hương vị, những nét văn hóa rất riêng. Trong đó, lẩu là một trong những món ăn được biết đến nhiều nhất và được phổ cập rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới.

Thuật ngữ “lẩu” không chỉ là tên gọi một món ăn mà còn là sự thống nhất giữa kỹ thuật chế biến và “cách ăn”. Nó cho thấy sự hài hòa có trong chế độ ăn uống của người Trung Quốc. Từ việc sử dụng nguyên liệu thô và nước dùng đến sự hài hòa giữa các nguyên liệu, thịt và rau, sống và chín, cay và ngọt, mềm và giòn kết hợp với nhau. Lẩu là món ăn cho thấy sự bao trùm trong cách nấu ăn của người Trung Quốc.

Trong nền ẩm thực Trung Quốc có rất nhiều món lẩu tuyệt ngon mà ai ai cũng xuýt xoa khen ngợi khi đã thưởng thức qua. Dưới đây là 15 món lẩu ngon nức tiếng mà du khách không thể bỏ qua trong chuyến du lịch Trung Quốc:

Lẩu Shabu Bắc Kinh (Lẩu nhúng Bắc Kinh)

Lẩu Shabu Bắc Kinh hay còn có tên gọi là Lẩu nhúng Bắc Kinh. Món lẩu này có nguyên liệu chính là thịt dê. Đặc điểm của lẩu nhúng chính là nước dùng của nó. Nước dùng của món Lẩu Shabu Bắc Kinh được chế biến rất cầu kỳ với 10 loại nguyên liệu khác nhau như dầu ớt, bột ngọt, dầu mè, giấm, nước tương, rau hẹ, hạt tiêu, gừng, hành… và nhiều nguyên liệu khác. Nồi nước dùng phải luôn sôi sùng sục để người ăn thoải mái nhúng thịt dê, hải sản, xách bò và nhiều loại rau ăn kèm.

Với người dân phương Bắc Trung Quốc, đặc biệt là Bắc Kinh rất ưa chuộng món này, nhất là khi trời chuyển sang đông. Món ăn kèm khoái khẩu nhất cho lẩu nhúng này chính là những đĩa tỏi ngâm. Vị chua của giấm, nồng của tỏi sẽ tăng thêm vị ngon miệng cho người ăn.

Shuan Yangrou (Lẩu cừu)

Shuan Yangrou là một món lẩu từ thịt cừu trong ẩm thực Trung Hoa có nguồn gốc từ Mông Cổ. Món lẩu này được cho là đã có xuất xứ từ thời kỳ nhà Nguyên khi người Mông Cổ thống trị Trung Quốc đại lục. Sau này, lẩu cừu được lan truyền ra Trung Quốc và trở thành món ăn truyền thống của người Hoa. Theo truyền thống, người Hoa sẽ ăn món này ở nhà trong những ngày thời tiết giá lạnh, họ tụ tập và ăn cùng nhau bên nồi lẫu gia đình. Những năm gần đây thì món lẩu cừu này được ăn quanh năm, nó cũng được phục vụ trong các nhà hàng, quán ăn.

Nguyên liệu quan trọng hàng đầu cho món Shuan Yangrou chính là thịt cừu non thái mỏng. Từng miếng thịt cừu mềm mịn sẽ được nhúng trong nồi nước dùng. Phần nước dùng này được chế biến từ thịt, xương cừu và nhiều loại thảo mộc giàu dinh dưỡng như táo tàu, kỷ tử, thảo quả, nhãn khô. Thịt cừu vừa chín tới đã có thể thấm đều gia vị, vị ngọt của nước dùng len lỏi vào từng thớ thịt khiến thịt thơm mềm và vẫn giữ được vị ngọt riêng chỉ có ở thịt. Các thịt viên cừu bỏ lẩu vừa thơm vừa dai, cũng đóng vai trò chủ đạo để nước dùng lẩu thêm đậm đà. Nhằm dung hòa nồi lẩu cừu bổ dưỡng, cần cho thêm các loại rau xanh như cải thìa, cải thảo, cải cúc, bắp Mỹ, nấm, đậu phụ để nước dùng thêm phần thanh ngọt.

Theo tập quán của người Mông Cổ, nước lẩu phải đủ đậm đà để khi nhúng kèm đồ ăn, hương vị của lẩu thấm đều vào thực phẩm sẽ cho ra một món ăn vừa miệng mà không cần chấm. Để trải nghiệm trọn vẹn hương vị thơm ngon của lẩu cừu cần phải theo đúng quy tắc là đun sôi nước lẩu, nhúng thịt viên và đậu phụ vào trước, sau đó mới châm thêm nước lẩu rồi mới thêm rau, nấm và mì vào. Thịt cừu bỏ lẩu chỉ nên nhúng vừa chín tái. Vị ngọt của nước dùng sẽ ngấm vào các nguyên liệu khác và mùi thơm của thịt cừu sẽ đọng lại lâu hơn. Mùi thơm đặc trưng của thịt cừu hòa cùng vị ngọt thanh của nước lẩu do các nguyên liệu mang lại sẽ tạo ra một trải nghiệm vị giác. 

Lẩu cay Tứ Xuyên (Ma La Huo Guo)

Tứ Xuyên là “quê nhà” của món lẩu cùng tên rất được lòng thực khách. Món ăn dân gian này bắt nguồn tại các bến cảng vùng Trường Giang vào đầu triều Thanh. Nó nhanh chóng được các thuyền viên yêu thích bởi sự tiện lợi, dễ làm và khả năng làm ấm cơ thể hiệu quả.

Món lẩu mang đậm hương vị cay nồng khó quên này có thành phần quan trọng nhất đó là nước dùng. Bởi vì nguyên liệu làm nên nước lẩu rất là cầu kỳ và phong phú, tạo nên đặc trưng riêng của các món ăn. 

Một nồi lẩu Tứ Xuyên đúng chuẩn phải được hầm từ xương heo, xương gà hầm cho ngọt nước. Đặc biệt nhất là không thể thiếu xương bò được nướng trên than hồng nhằm làm dậy lên mùi thơm vô cùng đặc trưng. Nước lẩu phải được hầm liên tục trong nhiều giờ liền. Hơn nữa, các nguyên liệu phải được cho lên chảo xào thật là đều tay, cho đến khi tỏa mùi thơm cay nức mũi. Bên cạnh đó, nước lẩu cũng không thể thiếu các loại ớt, hạt tiêu và giấm nhưng điểm độc đáo là các gia vị cay trong món ăn này phải có nguồn gốc từ Tứ Xuyên. Ngoài ra, một nồi lẩu cay đậm đà thơm ngon thì phải có sự tham gia của các loại hương liệu tự nhiên khác như là vỏ quế, hạt thì là, rồi thảo quả, đinh hương và sả. Tất cả tập hợp lại và hòa vào nhau, làm nên vị thơm đặc trưng, cay nồng, đậm đà của phần nước dùng.

Sau khi có nồi nước lẩu ngon đúng điệu rồi thì không thể nào bỏ quên những thành phần dùng để nhúng lẩu. Người Tứ Xuyên thích dùng thịt bò miếng và các phụ phẩm khác đặc trưng của địa phương để cho vào nồi lẩu. 

Nồi lẩu Tứ Xuyên thường được phục vụ trong loại nồi hai ngăn. Một ngăn có chứa nhiều gia vị cay nóng, ngăn còn lại thì không cay để phù hợp với khẩu vị của khách và trung hoà bớt vị cay. Tuy nhiên, cũng có những nồi lẩu có đến 9 ngăn.

Lẩu cá

Lẩu cá có nguồn gốc từ Tứ Xuyên, nhưng đối với những người có tư tưởng sáng tạo, thì món lẩu này cũng có thể trở nên tươi ngon và đẹp đẽ hơn nhiều. Lẩu cá dùng theo kiểu lẩu uyên ương là thích hợp nhất. Lẩu cá truyền thống lấy ớt tươi làm hương vị chính, ớt có màu đỏ và cay nồng, kết hợp với cá trắng mịn và thanh đạm không nồng, nhìn trông rất ngon miệng.

Một loại khác là lẩu cá nước hải sản, loại lẩu này có màu sắc thanh khiết, thường cho thêm một chút cẩu kỷ (vị thuốc Đông y). Khi ăn lẩu cá cần đặc biệt chú ý, vì miếng cá thái lát rất mềm, nấu một tí là có thể ăn được, nếu để quá lửa thì cá sẽ bị khô, không còn mềm, ảnh hưởng đến khẩu vị!

Lẩu thuốc bắc

Lẩu thuốc bắc là một loại lẩu mới được chế ra, là một món ăn cực kỳ đặc biệt trong các loại lẩu Tứ Xuyên. Con người thời hiện đại ngày càng nghiên cứu nhiều hơn về vấn đề dinh dưỡng đối với sức khỏe, loại lẩu vừa thơm ngon lại đầy dinh dưỡng thì càng có nhiều địa vị trong lòng thực khách.

Lẩu thuốc bắc thường dùng nguyên liệu chính là thịt dê, kết hợp với các vị thảo dược, ngũ tạng, giải nhiệt, bổ khí. Nói một cách trực quan, nếu như muốn ăn lẩu cay mà không mọc mụn, không bị nóng, vậy thì loại lẩu này tuyệt đối sẽ chiếm được tình yêu của bạn. Lẩu thuốc bắc thông thường sẽ cho thêm một ít nguyên liệu thuốc Đông y, trong đó có cả nhân sâm, hoàng kì, cẩu kỷ, táo,… đều là các dược liệu bổ khí. Loại lẩu thuốc bắc này rất có ích cho những người bị suy nhược cơ thể.

Lẩu bao tử cayTrùng Khánh

Trùng Khánh được phong tặng là “thủ đô lẩu” của Trung Quốc, bởi trong Tam Đô Phú của văn nhân Tả Tư thời Tây Tấn đã thấy ghi chép về lẩu Trùng Khánh, đây cũng là văn bản cổ xưa nhất còn lại tới ngày nay có nhắc tới món ăn này.

Thuở ban đầu, lẩu bao tử chỉ phổ biến trong giới thợ thuyền công nhân bến tàu, nước lẩu mặn mòi cay xè sóng sánh đựng trong nồi sắt, đồ nhúng chỉ có nội tạng bò là thứ rẻ tiền nhất thời bấy giờ. Đến những năm 30 của thế kỷ trước, món lẩu mới bắt đầu xâm nhập vào các nhà hàng trong nội thành Trùng Khánh. Phục vụ cho tầng lớp trung lưu trở lên nên nồi sắt được đổi thành nồi đồng, thực khách được tự mình gia giảm hương vị cho nước lẩu và tự chọn đồ nhúng ăn kèm.

Dù đối tượng thực khách là ai, điểm nhấn quan trọng nhất của món lẩu này vẫn là nước dùng ninh từ xương bò hoặc xương gà, mỡ bò, gia vị là rất nhiều dầu ớt và hạt tiêu Tứ Xuyên. Nước chấm dùng kèm được pha chế rất độc đáo từ dầu vừng, giấm, nước dùng từ nồi lẩu, tỏi, rau mùi, dầu hào, nước tương, bột ngọt và muối theo một tỉ lệ thích hợp.

Lẩu bò béo Sơn Đông

Sơn Đông là một trong tám trường phái ẩm thực lớn nhất Trung Quốc, được ví như một chàng trai khỏe mạnh, với đặc trưng là hương vị nồng nàn, nặng mùi hành tỏi, màu sắc tươi và đậm.

Lẩu bò béo Sơn Đông hội tụ đủ tất cả những yếu tố trên. Thịt được lấy từ những con bò thảo nguyên Mông Cổ béo mập, vừa mềm vừa mịn, đưa vào miệng như tan luôn trên đầu lưỡi. Nước dùng được ninh từ xương bò với hơn 30 loại gia vị đặc sắc, nếm thử rồi sẽ thấy vị ngọt từ xương ngon từ thịt đọng mãi trong khoang miệng.

Gọi là lẩu bò béo nhưng món ăn này lại không gây ra cảm giác ngán ngấy, thực khách càng ăn càng thấy ngon rồi no nê lúc nào không biết.

Lẩu hải sản Quảng Đông

Món lẩu hải sản của người Quảng Đông rất chăm chút phần nguyên liệu, nồi lẩu bắt buộc phải có nhiều loại hải sản đa dạng như mực, bạch tuộc, xách bò, hải sâm… Khi ăn, các loại hải sản sẽ được nhúng chín trong phần nước dùng thanh ngọt, sau đó để riêng vào chén của mỗi người rồi mới tiếp tục bỏ các phần nguyên liệu thịt gà, thịt bò vào nồi lẩu. Sau khi dùng xong phần thịt mới thêm vào các loại rau cải, nấm để ăn sau cùng.

Lẩu cháo Quảng Châu

Người Trung Quốc có câu: “Sinh ở Tô Châu, sống ở Hàng Châu, ăn ở Quảng Châu, chết ở Liễu Châu”, cho thấy vị thế của phong cách Quảng Châu trong nền ẩm thực Trung Quốc. Và nếu du khách ghé thăm Quảng Châu mà chưa ăn Lẩu cháo thì đó là một thiếu sót lớn.

Ở Quảng Châu, Lẩu cháo không bao giờ có vị cay, độ mặn ở mức vừa phải nên hương vị khá tinh tế. Món lẩu này với nước dùng ninh từ gà có gừng tươi cùng các loại gia vị nhưng lạ là có gạo được ninh nhừ, trắng đục, sánh và ngọt hơn nước lẩu thường. Khi ăn lẩu cháo, du khách sẽ cảm nhận được hương vị đặc trưng của lẩu Trung Quốc. Bởi trong nguyên liệu của lẩu cháo có nấm Đông Cô, thảo quả, hạt ý dĩ, hải sâm, táo tàu, ngân nhĩ, sâm non, những thứ này hầu hết là những nguyên liệu phổ biến ở Trung Quốc. Ở Quảng Châu thì hạt gạo nấu lẩu cháo là loại gạo tẻ thường, hạt dài và trắng muốt.

Cách ăn cũng rất đơn giản, giống y hệt với cách ăn lẩu thông thường. Thịt gà, cá, tôm hoặc một loại hải sản nào đó vẫn còn sống sẽ được bày trên đĩa và bên cạnh nồi lẩu đang sôi cùng với những loại rau ăn kèm. Rau của lẩu cháo thì vô cùng đa dạng: cải cúc, cải thảo, rau muống, cải xanh, rau cần, ngải cứu, thậm chí cả rau mùng tơi hay giá đỗ đều ngon. Nhưng ngon và hợp nhất thì phải là ngải cứu nếp, lá nhỏ, nhiều ngọn, có phủ một lớp phấn trắng nhẹ. Nhúng trong nước lẩu cho lá ngải mềm ra là dùng được ngay, ăn thật chậm để thưởng thức kỹ cái vị tê và ngọt nhè nhẹ, thơm ngai ngái của lá ngải cứu non.

Lẩu vịt nấu bia

Đây là món lẩu mới và rất được ưa chuộng những năm gần đây tại Trung Quốc. Món ăn được bắt nguồn do một vị khách trong một lần bất cẩn đã trót đổ bia vào trong nổi lẩu, nhưng sự tình cờ đó lại khiến mùi vị nước dùng thơm ngon hơn. Cũng từ đó đã có khá nhiều nhà hàng thử nghiệm chế biến nước dùng lẩu từ bia.

Món vịt nấu lẩu bỏ hết phần nội tạng, chỉ lấy phần thịt, đầu, chân rồi nấu chín với các loại gia vị gừng, ớt, tiêu… Phần bia chỉ bỏ vào sau khi nước lẩu đã sôi, đun riu riu khoảng 10 phút là có thể dùng.

Lẩu rau nấm Vân Nam

Lẩu rau nấm là điển hình của phong vị Vân Nam, miền đất cận nhiệt đới xanh tươi dồi dào rau củ hoa nấm. “Ngôi sao” của món ăn này là các loại rau và nấm, nào là cải ngọt, cải cúc, cải thảo, mộc nhĩ, nấm hương, nấm kim châm, nấm matsutake, nấm gan bò, nấm măng… nhúng cùng với thịt bò thái mỏng, thịt heo, thịt gà, fillet cá và đậu phụ.

Hương vị rất gần gũi với các món lẩu ở Việt Nam, vậy nên không có gì khó hiểu khi các nhà hàng lẩu nấm Côn Minh (tên thủ phủ tỉnh Vân Nam) liên tục mọc lên ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, thu hút đông đảo thực khách.

Lẩu hoa cúc Tô Hàng

Món lẩu hoa cúc nổi tiếng của Tổ Hàng là món ăn do đích thân Từ Hy thái hậu nghĩ ra. Món lẩu này được làm từ hoa cúc đã rửa sạch, phơi ráo rồi hầm với nước dùng gà hoặc xương heo. Các nguyên liệu ăn kèm cũng rất đa dạng với các loại cá thái lát, thịt gà và rau. Trong Đông y, hoa cúc có tác dụng bổ khí huyết, tăng tuổi thọ, chống lão hóa, thải độc, giải nhiệt, giảm huyết áp… nên món lẩu này rất tốt cho sức khỏe.

Lẩu tươi sống

“Lẩu tươi sống” là một loại lẩu rất quen thuộc trong mỗi gia đình Trung Quốc. Lẩu tươi sống có vị thanh đạm, thường lấy nguyên liệu theo các mùa, đối với những người không thích ăn mặn, thì sẽ rất hợp với các loại lẩu tươi sống này.

Cách nói “lẩu tươi sống” thì chín người mười ý, đồ tươi chia thành 3 loại tương ứng với 3 yếu tố: đất, cây, nước. Nồi lẩu tươi sống thường thấy sẽ dùng nước canh gà làm nước cốt, rồi sau đó cho thêm nấm sò, đậu phụ, ngô, thịt viên, xúc xích, nấm kim châm, nấm Khẩu Bắc (nấm nổi tiếng nhất là ở vùng Trương Gia Khẩu, Trung Quốc)… Những nguyên liệu tươi sống này kết hợp lại với nhau sẽ sinh ra một hương vị khó mà chê được.

Lẩu thập cẩm

Cũng thuộc loại hương vị thanh đạm như món Lẩu tươi sống, nhưng nguyên liệu lại khác nhau. Lẩu thập cẩm lấy rau là nguyên liệu chủ đạo, ngoài ra các nguyên liệu khác đa màu đa vị. Người ăn muốn ăn cải chíp hay đậu phụ? Có! Người ăn muốn ăn tôm tươi, cá tươi? Có! Và người ăn muốn ăn toàn là thịt? Có luôn!

Có thể nói, lẩu thập cẩm ở Trung Quốc là món kết hợp của các hương vị trên rừng dưới biển. Nào là măng, nấm, cải, thịt gà, xúc xích cắt lát, hải sâm, cá viên, bò viên, lòng heo, tôm tươi, các tươi, cá lát… Người ăn muốn ăn cái gì thì bỏ cái đó vô nồi, không cần hạn chế gì hết. 

Lẩu khô Hồ Nam

Lẩu cũng có thể ăn khô, không cần nước dùng? Nghe dù lạ nhưng đây lại là một món ăn cực bổ dưỡng và ngon miệng, lại rất dễ thực hiện. Nguyên liệu làm lẩu khô có thể là vịt, cá, thỏ… Những món này sau khi sơ chế được ướp thêm các loại phụ liệu như gừng lát, rau mùi… rồi dùng rượu trắng xào sơ qua, sau đó bỏ vào chút dầu ớt, đun khoảng 15 phút là trở thành nồi lẩu khô có mùi vị đặc biệt. Đây là món ăn độc đáo của vùng Hồ Nam.

Vậy là, bài viết trên đã tổng hợp 15 món lẩu thơm ngon, hấp dẫn nức tiếng trong nền ẩm thực Trung Quốc. Đây xứng đáng là những sự lựa chọn hoàn hảo dành cho du khách trong mùa đông lạnh lẽo ở Trung Quốc.

24 món ăn “đáng sợ” ở Trung Quốc không phải ai cũng dám thử qua

Là một đất nước rộng lớn và đông dân, Trung Quốc sở hữu nền ẩm thực vô cùng phong phú và đa dạng. Mỗi vùng miền lại có những đặc trưng ẩm thực riêng. Bên cạnh những món ăn thơm ngon, hấp dẫn từ hình thức đến chất lượng thì ẩm thực Trung Quốc cũng có những món ăn “kinh dị” khiến người ta phải khiếp sợ.

Đậu phụ thối

Đậu phụ thối là một loại đậu phụ lên men khá nặng mùi. Món ăn này được mệnh danh là “thiên hạ đệ nhất thối” vừa ăn vừa bịt mũi. Nó có mùi thối giống như mùi của rau củ đang thối rữa hoặc phân bón mục rữa, rất khó chịu. Có người so sánh vị của nó với pho mát xanh của người phương Tây, trong khi người khác thì nghĩ nó giống thịt rữa. Vì thế nên tuy rằng đậu phụ thối rất ngon nhưng mùi của nó vẫn là một thách thức đối với người ăn, đặc biệt là những vị khách du lịch nước ngoài lần đầu thưởng thức món ăn kì lạ này.

Cách làm đậu hũ thối khá cầu kỳ. Thông thường, người ta làm đậu hũ từ đậu nành, rồi ủ cùng với nước cốt gồm sữa, rau (thường là rau cải) trong khoảng 6 tháng cho lên men. Ngoài ra, nước cốt ủ đậu hũ thối có thể là mù tạt xanh, măng tre và thảo dược Trung Quốc.

Tuy với mùi vị “đáng sợ”, nhưng đậu phụ thối có giá trị dinh dưỡng cao. Món ăn này có hàm lượng vitamin B2 và B12 rất cao, giúp phòng tránh bệnh mất trí nhớ ở người già. Ngoài ra, hàm lượng protein trong đậu phụ thối khá cao, chiếm khoảng 15-20%, tương đương với nhiều loại thịt. Thực phẩm này còn chứa lượng canxi phong phú. Chưa kể, các chất protein trong đậu phụ thối sau khi lên men chuyển hóa thành các loại axit amin, có tác dụng tăng cảm giác thèm ăn, hỗ trợ tiêu hóa. Ngoài ra, đậu phụ thối còn có tác dụng chữa bệnh. Theo sách Đông Y cổ, đậu phụ thối mang tính hàn nhưng ích khí, có tác dụng điều hòa tỳ vị, giảm chướng bụng đầy hơi, thanh nhiệt tán huyết, giúp thải độc cho đại tràng.

Trứng Tong Zi Dan

Trung Quốc có nhiều món đặc sản lạ lùng, trong đó phải kể đến món Tong Zi Dan – trứng luộc nước tiểu của bé trai. Do được thịnh hành từ thời cổ đại trong nhiều ghi chép lịch sử có thật nên món “trứng luộc nước tiểu” đã được chính thức công nhận là một phần trong những “di sản văn hóa phi vật thể” của vùng Đông Dương, vào năm 2008, đồng thời đề xuất việc công nhận di sản văn hoá thế giới cho món ăn độc đáo này. 

Tương tự món trứng luộc nước trà, nhưng có thêm một nguyên liệu đặc biệt là được ngâm, luộc và hầm trong nước tiểu của bé trai và được ăn như một cái thú thanh tao của người Trung Quốc. 

Tong Zi Dan có công thức khá đơn giản, chỉ gồm trứng, thời gian và nước tiểu đồng tử (được lấy từ các trường tiểu học). Mỗi trường tiểu học đều chuẩn bị sẵn xô để đựng nước tiểu của các em học sinh. Yêu cầu đặc biệt chính là chỉ lấy nước tiểu của những bé trai, và phải dưới 10 tuổi. Đồng thời, nước tiểu vào buổi sáng sẽ cho “chất lượng tốt nhất”.

Số nước tiểu tươi này sẽ được dùng để ngâm trứng, rồi đem trứng luộc chín. Một khi trứng đã săn lại, người ta đập dập vỏ để nước tiểu ngấm vào bên trong trứng, rồi tiếp tục đem xối bằng nước tiểu ở nhiệt độ thường để trứng không bị chín quá. Trong quá trình ninh, nước tiểu được thêm vào liên tục, cùng một số thảo dược. Công thức này khiến lòng trắng trứng có màu vàng nhạt, trong khi lòng đỏ chuyển màu xanh. Sau khi chín, trứng thường sẽ có lòng trắng màu vàng nhạt và lòng đỏ màu xanh, mằn mặn, chua chua và tất nhiên là không thể thiếu “mùi khai” đặc trưng của nước tiểu. Tuy vậy, món ăn này được đánh giá là không quá khó ăn.

Người xưa quan niệm ăn món trứng này sẽ không bị cảm nắng, cầm máu, tăng trí lực. Tuy nhiên, các bác sĩ Đông y lại phủ nhận công dụng của món trứng này, vì họ cho rằng không hề có tài liệu khoa học nào chứng minh về công dụng thực sự của nó. Đồng thời, các bác sĩ còn e ngại cách chế biến này dễ gây bệnh nếu như không đảm bảo được vệ sinh trong quá trình chế biến.

Trứng bắc thảo

Trứng bắc thảo là một trong những món ăn nổi tiếng của Trung Quốc. Mặc dù ở Việt Nam, món trứng này thường được gọi là trứng bắc thảo hay trứng bách thảo, nhưng trên thế giới món trứng này còn có khá nhiều tên gọi thú vị khác như trứng bách nhật, trứng trăm năm, trứng nghìn năm hay trứng thiên niên kỷ, trứng thế kỷ. Thậm chí, do mùi khai đặc trưng của trứng nên có nơi người ta còn gọi món trứng này bằng tên là “trứng nước đái ngựa”. Nghe qua cái tên này thôi cũng khiến du khách sợ hãi.

Để làm trứng bắc thảo, người ta chuẩn bị hỗn hợp trà đen đặc, vôi tôi, muối, trấu và tro than đốt cháy (hoặc bùn nhão) trộn đều và để qua đêm. Qua ngày hôm sau, trứng sẽ được cho vào hỗn hợp này và ngâm trong vòng 7 tuần hoặc 5 tháng chứ không phải trăm năm như cái tên bách niên của nó mà mọi người vẫn lầm tưởng.

Nếu như những ai mới thử ăn món trứng này thì hầu như đều có chung một cảm giác là hơi đáng sợ bởi màu sắc của trứng khá đen tối. Ngoài ra, mùi hương của trứng cũng không có gì hấp dẫn bởi nó mang một mùi amoniac đặc trưng như mùi nước tiểu. Tuy nhiên, bất kỳ ai đã ăn quen món trứng này lại đều thấy nó rất ngon, có vị béo mặn lạ miệng. Do đó, mặc dù xuất hiện cách đây hàng trăm năm nhưng đến nay, món trứng bắc thảo vẫn được xem là món ăn ưa thích của khá nhiều người ở Trung Quốc.

Trứng vịt lộn

Trứng vịt lộn từ lâu luôn được du khách phương Tây nhắc tới như một món ăn đầy thách thức. Những quả trứng không thành công trong việc ấp nở được đem luộc chín, ăn cùng với muối tiêu và rau răm. Người Trung Quốc lại có thói quen đem những quả trứng này xào chín với các loại gia vị riêng.

Mùa xuân là thời điểm mà trên khắp các tuyến đường ở Trung Quốc bày bán rất nhiều loại trứng này. Nhiều người sẵn sàng ngồi xuống dưới lòng đường, bên cạnh bếp than nhỏ, hì hụp húp chút nước bên trong những quả trứng, nhai một chút xương, lông của những con vịt con bên trong. Còn khách du lịch phương Tây khi nhìn thấy cảnh tượng này đều thốt lên: “Không thể tin được!”.

San Zhi Er 

Món ăn tươi sống San Zhi Er còn được biết đến với cái tên “ba tiếng hét”. Đây là món ăn được đánh giá là kinh dị và tàn bạo nhất trong số những món ăn kỳ dị trên khắp thế giới. 

Món ăn tươi sống “khủng khiếp” này được chế biến từ những con chuột đỏ hỏn chưa kịp mọc lông và mở mắt. Những con chuột non này trước đó được cho ăn mật ong để thịt chúng trở nên ngọt, sau đó để sống nguyên ngoe nguẩy trên đĩa.

Sau đó dùng những chiếc đũa lạnh lẽo kẹp chặt cơ thể non nớt của chúng nhúng vào nước sốt ăn kèm. Nhiều người đã chết ngất vì cảnh tượng này, thậm chí là đứng tim khi chứng kiến những cơ thể đỏ hỏn run rẩy trút hơi thở cuối cùng trước khi rơi vào miệng của những thực khách bạo gan.

Dù được xem là nguồn lây lan các bệnh truyền nhiễm nhưng “ba tiếng hét” vẫn được tiêu thụ rộng rãi. Họ cho rằng, những chú chuột non rất bổ dưỡng và giúp tăng cường sinh lực phái mạnh.

Tôm sống “say rượu”

Đây là món ăn truyền thống nổi tiếng của người Hán ở khắp vùng Thượng Hải, Ninh Ba. Tôm được sơ chế bằng cách cắt hết râu, chân và cho vào một cái đĩa. Sau đó, ngâm tôm sống với nước đá, rượu, gia vị (nước tương, hành, lá, đường, gừng, dấm, ớt) và đậy nắp trong 90 giây.

Theo đó, tôm sẽ “say” vì rượu nên không còn nhảy lung tung nữa, đồng thời người ăn sẽ có thể vừa nếm được vị rượu thơm nồng, vừa thưởng thức được sự tươi ngọt của thịt tôm sống.

Món ăn này được đánh giá là rất giàu dinh dưỡng, dễ tiêu hóa, tốt cho người sức khỏe kém hoặc mới khỏi bệnh, giảm cholesterol, ngừa bệnh cao huyết áp. Ngoài ra do tôm giàu phốt pho, canxi nên món này cũng khá có ích cho trẻ nhỏ và phụ nữ mang thai.

Óc khỉ

Đây là món ăn nổi tiếng cả thế giới bởi được Thái hậu Từ Hy dùng trong bữa tiệc chiêu đãi khách ngoại quốc. Óc khỉ đã đi vào lịch sử những món ăn rùng rợn của Trung Quốc. Khi ăn món này, người ta mang đến một con khỉ còn sống, dùng rìu chặt ngang đầu nó. Sau đó, họ sẽ rưới lên phần não đó sâm để óc được chín tái. Những vị khách sẽ lấy thìa xúc phần não nóng hổi vừa lộ ra để ăn.

Cá âm dương

Cá âm dương, còn gọi là “cá sống dở chết dở”, chắc chắn không phải trải nghiệm ẩm thực dành cho những người yếu tim. Món ăn gồm cá nguyên con (thường là cá chép) toàn thân đã được rán chín và phủ một lớp sốt, nhưng riêng đầu cá được giữ tươi sống. Khi cá được lên đĩa bày cho thực khách ăn, miệng nó vẫn còn đớp, mang phập phồng như đang thở.

Phải là những đầu bếp “cao thủ” trong nghề mới có thể cho ra lò đĩa cá trình bày cầu kỳ, đẹp mắt và sống động như đang bơi. Không chỉ hấp dẫn bởi cách trình bày sống động, cá âm dương có khả năng hút khách là nhờ những thớ thịt sốt thơm lừng, ngọt mát. Cá được ăn kèm với các loại rau sống để át đi mùi tanh. Thịt chúng càng đậm đà hơn khi dùng cùng loại nước chấm chuyên dụng. Đặc biệt, thực khách cần thưởng thức khi đĩa thức ăn nghi ngút khói; ngay khi mới nhấc khỏi bếp.

Sự tươi mới cùng hương vị thơm ngon của cá âm dương khiến chúng được chào đón ở nhiều nước như Australia, Đức. Tuy nhiên, kể từ năm 2008, món ăn này dần vắng bóng do bị chỉ trích về cách đối xử dã man với loài vật.

Mắt cá ngừ

Đây có lẽ là một món ăn khiến không ít người ghê sợ khi nhìn thấy. Du khách có thể dễ dàng tìm thấy nhãn cầu cá ngừ được bán tại các nhà hàng ở Trung Quố. Những e ngại về hình thái bên ngoài chắc chắn là rào cản đối với thực khách, nhưng hương vị và sự đặc biệt mới chính là điểm hấp dẫn của các món ăn được chế biến từ mắt cá ngừ đại dương.

Những con mắt to bằng quả trứng gà, với hương vị bùi béo và phần thịt thơm ngon ở đáy mắt, như mùi mực luộc là nhận xét mà những thực khách gan dạ đã nếm thử. Hơn nữa, giá trị dinh dưỡng cao với DHA và giàu Omega 3 sẽ là những yếu tố để du khách “thi gan” cùng món ăn này.

Gián chiên giòn

Ở Trung Quốc hiện nay đang có khá nhiều trang trại nuôi gián, đặc biệt là ở Qufu thuộc phía bắc Trung Quốc. Đây là một phát hiện mới trong cuộc sống và y học vì gián giúp tạo thêm thu nhập cho người dân và tốt cho sức khỏe con người.

Giống như khoai tây chiên giòn, món gián ăn rất giòn nhưng lại béo ngậy bên trong. Một cách chế biến gián là bỏ cánh rồi chiên 2 lần bằng dầu lạc. Lần đầu chao thật nhanh tay, sau đó cho ra và chao tiếp lần 2 để làm cho con gián có độ giòn bên ngoài nhưng phần thịt bên trong vẫn phải giữ độ chín tới và mềm. Để món ăn có thêm hương vị, sau khi múc chúng từ chảo rán ra thì nên cho thêm một ít gia vị muối và mì chính. Gián chiên gión khi ăn cùng với ớt tươi sẽ dễ ăn và tốt hơn cho sức khỏe.

Bọ cạp rán

Món bọ cạp rán có đủ kích cỡ, từ nhỏ tới to. Những con lớn có vỏ đen còn con nhỏ hơn thường có vỏ trong hơn. Chúng có vị như bỏng ngô và bơ, thường được chấm với bột ớt.

Theo những người chế biến món ăn này, việc chiên bọ cạp lên sẽ làm trung hòa độc tính của loài vật đáng sợ này. Đặc biệt hơn, phần đuôi của bọ cạp chính là phần chứa nhiều chất dinh dưỡng nhất.

Món ăn này sẽ giúp cho người dùng nâng cao sức đề kháng và cải thiện sức khỏe rất tốt. Trong quyển Bản thảo cương mục, Lý Thời Trân viết bọ cạp là một nguyên liệu quý giá, có khả năng giảm đau và tăng cường tuần hoàn máu.

Có hai loại bọ cạp được chế biến đó là bọ cạp trưởng thành và bọ cạp con. Bọ cạp trưởng thành có phần thân màu đen sẫm trong khi những con bọ cạp non thì có vẻ mềm và trong hơn. Món ăn này sau khi được chế biến khi ăn khá giòn rất giống với món bắp rang bơ. Một số người chế biến món ăn này còn cho thêm vào món ăn một chút gia vị cay để làm tăng thêm hương vị cho món ăn này.

Rết nướng

Du lịch Trung Quốc, không ít khách du lịch xem việc thưởng thức món rết nướng chính là một “thử thách”. Bởi đây chính là một trong những loại côn trùng có hại và vẻ bề ngoài hơi kinh dị. Tại Trung Quốc, những con rết này được ngâm nước đá cho tê liệt, sau đó xiên que. Khi có người cần mua thì sẽ mang nhưng xiên rết nay đi phết dầu rồi nướng. Thịt rết có vị cay nồng, có thể ăn kèm với muối tiêu, món ăn giúp tăng cường sức khỏe và cung cấp dinh dưỡng. 

Châu chấu rán

Món ăn này khi được chế biến sẽ rất giòn, đậm đà ăn chẳng khác gì món gà rán. Món ăn này còn chứa khá nhiều chất dinh dưỡng tốt cho sức khỏe. Châu chấu cung cấp chất sơ bổ sung protein cho cơ thể. Tuy nhiên, nhìn qua món ăn này có vẻ khá đáng sợ, việc thưởng thức chính là một thử thách lớn đối với du khách.

Nhộng ong chiên vàng

Nhộng là loại thực phẩm bổ dưỡng với lượng protein cao và chứa ít chất béo, nhưng không ít người, đặc biệt là người phương Tây ngần ngại với “ngoại hình” của món này. Ở Trung Quốc, cách chế biến thông dụng nhất của nhộng là chiên vàng, ngoài ra có thể hấp, xào hay xốt nhộng để tạo thành món ăn hấp dẫn. Món này rất phổ biến ở các tỉnh Vân Nam, Quý Châu…

Sâu xanh

Trung Quốc thật có nhiều món ăn đáng sợ. Và sâu xanh nấu đủ món là một trong số đó. Những con sâu được làm sạch và được chế biến theo kiểu chiên hoặc nấu canh. Chúng tạo ra một món ăn có hương vị thật độc đáo và không phải ai cũng có đủ can đảm để thưởng thức. 

Kê gà

Người dân Trung Quốc dường như thực sự ghét lãng phí bất kỳ phần ăn nào, vì thế họ không bỏ ngay cả tinh hoàn của gà. Những quả tinh hoàn gà khá lớn được “phẫu thuật chuyên nghiệp” loại bỏ khỏi những con gà trống còn sống. Kinh dị hơn là người Trung Quốc ăn chúng không cần gia vị hay nấu chín lên. Theo các tài liệu nghiên cứu, kê gà chứa rất nhiều chất béo và rất mềm, khi ăn khá giống với đậu phụ.

Gà hong gió

Món này có xuất xứ từ thời Tam Quốc cách đây hơn 2.000 năm. Tương truyền, lúc đó Tôn Quyền vì muốn hợp với Lưu Bị khử Tào, cho em gái mình là Tôn Thượng Hương gả cho Lưu Bị. Lưu Bị rất thích ăn món gà, Tôn Thượng Hương vì muốn chiều lòng chồng nên đã nghĩ ra nhiều phương thức chế biến gà, trong đó có món gà hong gió này. Qua thời gian, nó dần trở nên phổ biến hơn và được nhiều người ưa chuộng.

Để làm món gà hong gió, nguyên liệu rất đơn giản: một con gà sống, một con dao sắc nhọn, gia vị thảo mộc, một đầu bếp có tay nghề cao với trái tim tàn nhẫn.

Khác với cách làm gà thông thường, gà nếu để hong gió sẽ không được làm lông. Thay vào đó, nó sẽ bị mổ phanh khi còn đang sống, lôi toàn bộ ruột, gan, phèo, phổi lòng mề… trong tích tắc. Tiếp theo, người đầu bếp ngay lập tức xát muối, thảo mộc vào trong ruột gà, chà xát sao cho bụng gà thấm đẫm gia vị.

Quá trình tẩm ướp kết thúc, con gà sẽ bị treo ngược trước gió cho đến khi khô lại và cho lên đĩa. Cho đến ngày hôm nay, món ăn này vẫn còn khá phổ biến ở một số khu vực tại Trung Quốc, đặc biệt là Tây Tạng.

Đầu vịt

Đầu vịt không phải là món mới trong làng ẩm thực Trung Quốc. Món ăn được sáng tạo tại một quán ăn ở Dongshan rồi dần trở nên phổ biến tại Vũ Hán và Thượng Hải.

Nhìn bên ngoài trông đáng sợ, thế nhưng đầu vịt lại được chế biến thành một món ăn  thơm ngon và bổ dưỡng. Người ta tin rằng đây là món ăn đại bổ, không có khiếm khuyết về sức khỏe, giúp đầu óc trở nên minh mẫn hơn.

Khi chế biến đầu vịt, đầu bếp phải cẩn thận loại bỏ màng lưỡi, vặt bỏ lông, rửa sạch rồi đem thui trên lửa để đảm bảo không sót lại bất kỳ chiếc lông tơ nào. Để khử mùi hôi và tăng hương vị cho món ăn, người ta tiến hành ướp đầu vịt với hơn 30 loại thảo mộc khác nhau cùng với bột lúa mạch. Đợi đến khi ngấm gia vị, nguyên liệu được chiên trên chảo mỡ. Món ăn đạt chuẩn khi có được vị giòn tan ở lớp da bên ngoài, vàng ruộm bắt mắt song các bộ phận như mắt, não bên trong vẫn đậm đà, mềm mại hấp dẫn.

Khi thưởng thức, du khách nên cầm trực tiếp trên tay để gặm lớp thịt mỏng bên ngoài rồi dùng sức tách đôi mỏ khiến phần não hiện ra. Đây được xem là thứ ngon, tinh túy nhất. Sẽ vô cùng thú vị khi thưởng thức đầu vịt nóng hổi cùng vài ly rượu cay.

Lẩu phân bò

Đây là món ăn kỳ lạ rất được yêu thích của người dân Đài Châu ở tỉnh Quý Châu. Nguyên liệu chính của món ăn này chính là hỗn hợp cỏ chưa được tiêu hóa hết được lấy ra từ bao tử của bò. Được biết, cách làm món này đã được người Kiềm (người Quý Châu) khu vực Đông Nam lưu truyền từ ngàn năm trước.

Vài hôm trước khi bị làm thịt, mỗi ngày các chú bò sẽ được ăn cỏ non và thảo dược. Mục đích của dân làng chính là để cho “phân bò” có chất lượng tốt hơn một chút. Phía đáy nồi lẩu còn thường có thêm các hương liệu từ vị thuốc đông y như năm nhúm xương bò và xuyên khung để tăng hương thơm cho món lẩu. Những người ăn lần đầu sẽ khá khó nuốt bởi nó có vị đắng và vẻ ngoài “xấu xí”. Tuy nhiên, theo nhiều người ở đây lẩu phân bò rất tốt cho hệ tiêu hóa.

Loại lẩu này được đánh giá là rất tốt cho bao tử, có công hiệu hỗ trợ tiêu hóa, giải nhiệt và là “món thượng hạng” được người dân địa phương dùng để đãi khách ở nơi đây.

Mắt cừu

Món mắt cừu là một trong những món ăn kinh dị không thể không nhắc đến khi đặt chân đến Giang Tô. Đối với người Giang Tô thì mắt cừu cũng là món ăn ngon và bổ dưỡng nên nếu đủ can đảm thì du khách có thể thử qua và cảm nhận về món ăn đặc biệt này.

Món mắt cừu ở Giang Tô cũng được liệt vào danh sách các món ăn khó nuốt ở Trung Quốc. Tuy nhiên, điều đặc biệt là món này thường được ngụy trang khá tinh vi nên hầu như nhiều người sau khi lỡ nếm thử mới biết mình vừa nuốt mắt của một con cừu.

Mắt cừu có thể được chế biến thành nhiều món ngon như mắt cừu nướng, mắt cừu luộc, mắt cừu hầm canh,…

Súp đầu cừu

Đây được xem là món ăn kinh dị bậc nhất Trung Quốc, khiến du khách phải khóc thét khi vừa thưởng thức món súp, vừa thấy những chiếc đầu được thui vàng ươm của nó. Nghe nói, khi ăn những vị khách sẽ quây quanh bếp để cùng nhau thưởng thức món súp đầu cừu nóng hổi này, một phần cũng để cho đỡ sợ chăng?

Súp rùa sống

Súp rùa sống (món này tuy gọi là súp rùa nhưng nguyên liệu chính là một con ba ba), một món ăn dường như đã xuất hiện từ cách đây khá lâu; công thức của nó hiện vẫn còn tồn tại trong những cuốn sách dạy nấu ăn từ năm 1917. Đây là món ăn truyền thống ở một số nước như: Singapore, Trung Quốc và một số quốc gia khác tại khu vực Đông Nam Á.

Để làm món ăn này, người ta không cần phải sơ chế như mổ bụng moi gan gì cả. Nguyên liệu của món ăn cũng khá đơn giản, chỉ bao gồm một nồi nước, hương liệu và gia vị theo mùa kèm theo một con ba ba. Cách thưởng thức món ăn này đơn giản chỉ là thả con ba ba vào nồi nước dùng rồi đun lửa.

Về cơ bản cách chế biến này khá là giống món lẩu bình thường. Tuy nhiên, món ăn này được xem là tàn nhẫn ở chỗ, con ba ba khi bị thả vào nồi nước vẫn còn sống, thậm chí vẫn đang bơi lội bình thường. Trong quá trình đun, nước sẽ nóng dần lên, con ba ba theo bản năng sẽ nuốt nước vào bụng; phần nước dùng này sẽ từ từ đun nóng con ba ba từ bên trong, đồng thời nước dùng đang nóng dần lên cũng luộc sống nó từ bên ngoài. Và khi súp nóng dần lên, cơ thể con ba ba sẽ tiết ra nhiều chất giúp nó sinh tồn, chất này được cho là khiến súp có vị ngon ngọt đậm đà. Con ba ba sẽ ăn chính thức dịch tiết ra từ cơ thể nó vào bụng, bị luộc chậm rãi từ bên trong rồi lại tiết thêm ra. Sau đó, khi nước sôi, con ba ba sẽ bị luộc chết và ăn kèm luôn cùng món súp.

Mặc cho việc luộc sống ba ba không qua sơ chế là khá bẩn, thậm chí có thể ngộ độc do người dùng có thể ăn phải cả các chất bài tiết chưa được làm sạch của con ba ba, thế nhưng đối với cánh mày râu Trung Quốc, súp rùa không chỉ là món ăn đại bổ mà còn giúp họ cải thiện chất lượng đời sống tình dục.

Hasma

Hasma là món tráng miệng được ưa thích ở một số tỉnh như Cát Lâm, Liêu Ninh. Với thành phần là các mô mỡ khô xung quanh ống dẫn trứng của ếch, khi được chế biến, Hasma có vị ngọt và hơi tanh nhẹ. Hasma thường được nấu thành súp và có tác dụng chữa bệnh.

Thạch giun biển

Món “thạch giun biển” được chế biến từ những loại giun thuộc bộ Sphaerocarpus. Giun biển dài khoảng 1-2cm, sau khi luộc chín, gelatin chứa trong cơ thể giun sẽ hòa tan trong nước, đợi nó nguội sẽ trở thành món thạch trong suốt. Nhìn miếng thạch giun biển như rau câu, nhưng khi ăn vào lại có vị hoàn toàn khác hẳn, mặn mặn, béo béo, vị rất ngon.

Sau khi đánh bắt ở các bãi triều, nó được ngâm trong 1 ngày rồi đun sôi, sau đó cho riêng vào từng cái bát nhỏ hoặc cái khuôn và đông lại.

Thạch giun biển trong suốt nhìn thấy rõ từng con giun bên trong, khi ăn rất giòn, dẻo. Lần đầu ăn, có lẽ bạn sẽ choáng váng không dám nhìn chứ đừng nói là ăn thử. Thế nhưng ngẫm lại, món này được rất nhiều người ăn, có lẽ nó sẽ không quá đáng sợ nên nhiều người nhắm mắt ăn bất chấp. Sau khi ăn, vị ngon của nó có lẽ sẽ xóa tan những nghi ngờ ban đầu của bạn. Phần lớn mọi người sau khi thử món này đều tỏ ra rất thích thú.

Ở Trung Quốc còn rất nhiều món ăn kinh dị khiến khách du lịch nước ngoài phải sợ hãi. Nếu du khách muốn khám phá nhiều hơn về nền ẩm thực Trung Hoa cũng như những món ăn nổi tiếng của đất nước này thì hãy book tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! Chúc du khách có một chuyến du lịch thú vị và vui vẻ!

Mức thu nhập của các thái giám Trung Hoa xưa

Thái giám là một nhóm người tương đối đặc biệt nhưng cũng là một bộ phận vô cùng quan trọng trong hoàng cung. Thái giám phải hầu hạ tất cả các thành viên hoàng tộc mỗi ngày. Vậy thì họ sẽ có mức thu nhập như thế nào? Mời du khách cùng chúng tôi tìm hiểu nhé!

Trong lịch sử Trung Quốc, thái giám đã có từ thời Tây Chu, đường thời gọi là “tử nhân” hoặc “hạng nhân”, “yêm doãn”, “nội tiểu thần”. Họ được tuyển vào cung để làm một số công việc như: truyền lệnh của nhà vua đến các quan, canh gác hậu cung, quét dọn phòng ốc, liên lạc giữa các vua và phi tần…

Đến thời nhà Tùy, nhà Đường, nhà Tống đặt ra cơ cấu Nội thị tỉnh do hoạn quan đảm nhiệm, trông coi các việc nội bộ ở trong cung đình. Hoạn quan ở hai triều Đường, Tống có người trực tiếp thống lĩnh quân đội. Vào thời nhà Minh, đặt ra Thập nhị giám, Tứ ty, Bát cục gọi là Nhị thập tứ nha môn, trông coi về việc phục dịch trong cung đình, mỗi cơ cấu có thái giám trông coi. Đến đời nhà Thanh có Tổng quản thái giám, người đứng đầu thái giám, trực thuộc Nội vụ phủ.

Để bước chân vào “nghề” thái giám, những người đàn ông đều phải trải qua quá trình tịnh thân (thiến) đầy đau đớn và nguy hiểm. Cũng bởi vậy mà con đường của các hoạn quan, thái giám tại Trung Hoa xưa không phải là lối đi mà nhiều người sẽ lựa chọn nếu như không bị đẩy vào tình cảnh khốn cùng.

Thế nhưng, trái ngược lại với suy nghĩ cho rằng đây là một nghề nghiệp thấp kém, trên thực tế, các thái giám thời xưa lại sở hữu tiền đồ được cho là rộng mở với mức lương bổng và những nguồn thu ngoài luồng khác mà ít ai có thể tưởng tượng tới.

Về thu nhập của tầng lớp thái giám bình thường, ta có thể lấy quy định của Thanh triều nói riêng để làm ví dụ. Bấy giờ, các thái giám trong hoàng cung nhà Thanh được chia làm 20 cấp bậc. Dù có lên được phẩm cấp cao nhất thì quyền lợi của họ cũng chỉ tương đương với chức quan tứ phẩm thời ấy.

Phạm vi công việc của thái giám rất rộng nhưng có thể tạm chia thành 2 nhóm. Một nhóm là thái giám hầu hạ bên cạnh Thái hậu, Hoàng đế, Hoàng hậu và các phi tần. Nhóm còn lại sẽ đảm nhận các công việc nặng nhọc hơn trong hoàng cung. Tuy nhiên, dù thuộc nhóm nào thì thái giám cũng đều có phân bậc rõ ràng, tạm chia thành 3 loại: Tổng quản, Thủ lĩnh, thái giám thông thường. Nhóm thái giám bên cạnh Thái hậu, Hoàng đế và Hoàng hậu đều là Tổng quản thái giám và Thủ lĩnh thái giám.

Thái giám với cấp bậc càng cao thì thu nhập càng nhiều. Thái giám tổng quản lương tháng là 8 lượng bạc, 8 đấu gạo, 1 quan 300 văn tiền (Văn tiền: Trên đồng tiền có văn tự nên gọi là “Văn”). Còn đối với thái giám thông thường thì con số này ở mức 2 lượng bạc, 2 đấu gạo và 600 văn tiền.

Vào thời nhà Thanh, 1 lượng bạc tương đương khoảng 500 NDT ngày nay, mỗi đấu gạo xấp xỉ 15 tệ. Nếu quy đổi dựa trên con số này, thì thu nhập của thái giám tổng quản Thanh triều sẽ là 4.000 NDT (xấp xỉ khoảng 13.600.000 VNĐ) cho mỗi tháng. Tương tự như vậy, thu nhập của thái giám bình thường sẽ vào khoảng hơn 1.000 NDT/tháng, tức là xấp xỉ khoảng hơn 3.400.000 VNĐ.

Thế nhưng, nguồn thu của các thái giám không chỉ dừng lại ở lương bổng chính thức, mà họ còn nhận được nhiều khoản khác như thưởng Tết, thưởng sinh nhật,… Đặc biệt nhất là đến lúc đại hôn của Hoàng đế hoặc Hoàng tử, ban thưởng sẽ càng nhiều hơn. Ngoài tiền và bạc, thái giám còn có thể nhận được tơ lụa, lông thú, châu báu, ngọc bích và nhiều bức tranh thư pháp có giá trị.

Trên thực tế, thái giám còn được xem là cầu nối giữa các nhân vật trong bộ máy thống trị. Do đó, cơ hội để có các khoản thu ngoài luồng cũng là không hề ít.

Nếu có thể hoàn thành nhiệm vụ mà chủ tử giao cho, những thái giám này sẽ còn có cơ hội được thưởng tiền hoặc tài vật.

Đặc biệt, thái giám còn được biết tới là người truyền tin của hoàng đế đến với các đại thần. Vì vậy mỗi lần đi truyền thánh chỉ, tầng lớp này cũng sẽ có nguồn thu nhập không công khai nhưng vô cùng hậu hĩnh. Ví dụ như ở thời nhà Thanh, khi các quan đại thần phạm sai lầm, nhà vua sẽ phái thái giám tới phủ đệ của họ để tuyên đọc thánh chỉ trách phạt. Mỗi lần như vậy, các quan viên này đều sẽ biếu thái giám tiền trà nước để duy trì mối quan hệ, dò hỏi thông tin hoặc nhờ họ nói đỡ dăm ba câu với nhà vua. Số tiền trà nước này có khi lên tới 400-500 lượng bạc, hoặc ít thì cũng khoảng 40-50 lượng. Từ đó không khó để nhận thấy, chỉ nhờ vào tuyên đọc một đạo thánh chỉ, các hoạn quan thời xưa đã có thể thu về tới 20 vạn NDT, bằng với mức thu nhập cả năm của một trí thức bình thường tại Trung Quốc ngày nay.

Có lẽ đúng như câu nói bỏ ra càng nhiều thì thu về càng lớn, các hoạn quan, thái giám thời xưa tuy phải trải qua tịnh thân mới có thể bước đi trên con đường này, thế nhưng nếu khôn khéo thì họ có thể kiếm được khối gia tài mà thường dân bách tính thời ấy cả đời cũng không dám mơ tới.

Vậy là qua bài viết này, du khách đã hiểu thêm được phần nào về cuộc sống sinh hoạt của tầng lớp thái giám trong lịch sử Trung Hoa. Nếu du khách là người có niềm đam mê với văn hóa, lịch sử của đất nước này thì hãy thực hiện một chuyến du lịch Trung Quốc nhé! Chắc chắn du khách sẽ có được nhiều khám phá và trải nghiệm thú vị khi đặt chân đến vùng đất rộng lớn này!

3 vật bất ly thân của thái giám Trung Hoa xưa

Trong phim ảnh Hoa ngữ, thái giám cũng là một đề tài được khai thác khá nhiều. Họ thường có tạo hình là những người ái nam ái nữ, mặc trang phục chỉnh tề và tay luôn phải cầm một cây phất trần. Ngoài ra, các thái giám còn luôn mang theo hai thứ khác bên cạnh mà không phải ai cũng biết.

Thái giám (còn gọi là hoạn quan, công công, nội quan, nội thần, nội giám) là những người đàn ông đã trải qua quá trình “tịnh thân” (cắt bỏ bộ phận sinh dục) để phục vụ trong cung đình Trung Hoa. Nhiệm vụ của thái giám là hầu hạ hoàng đế và hoàng tộc trong cung nhưng quan trọng nhất là canh giữ không để bất kỳ người đàn ông nào khác “chạm” vào cung tần mỹ nữ của vua.

Theo ghi chép, những nam nhân phục dịch hoàng đế đã có từ thời Tây Chu (440 TCN) nhưng lúc này họ chưa bắt buộc phải tịnh thân. Cho đến đầu đời Đông Hán mới yêu cầu toàn bộ nam giới hầu hạ trong cung đều phải trở thành thái giám để tránh rắc rối trong các mối quan hệ với số lượng lớn phụ nữ trong cung. Có nhiều nguyên nhân khiến đàn ông Trung Quốc thời xưa trở thành thái giám. Có thể là do bị cha mẹ bán vào cung từ lúc nhỏ, do gia đình quá nghèo không còn sự lựa chọn, là tội nhân bị phạt hoặc tự nguyện xin làm hoạn quan để mưu cầu phú quý.

Tuy không được tham gia vào chính sự nhưng các thái giám lại có uy quyền mạnh mẽ. Họ là người kề cận vua nên nắm được nhiều thông tin bí mật thậm chí còn có thể can thiệp vào chuyện lập hoàng đế. Do vậy, hình ảnh thái giám cũng được khai thác khá nhiều trong phim ảnh Trung Quốc.

Ngoài trang phục chỉnh tề, mũ đội đầu thì trên tay các thái giám thân cận bên Hoàng đế Trung Hoa xưa luôn có cây phất trần. Chúng dài khoảng 50cm, một đầu làm bằng gỗ được trang trí đẹp và một đầu là những chiếc lông vũ nhỏ màu trắng hoặc các sợi gai được bó với nhau. Khi đi lại, các thái giám luôn đặt cây phất trần trên cánh tay. Trước khi thông báo điều gì, họ sẽ phất chúng một lần.

Phất trần nguyên là cây chổi quét bụi, đuổi muỗi mòng, một trong những vật tùy thân của các Tỷ kheo ở Ấn Độ, thường được làm từ lông dê, gai vải bông xé nhỏ, vải hoặc vật cũ rách, nhánh cây, ngọn cây và có chức năng như một vật tùy thân cần thiết để bảo vệ sức khỏe cho đời sống du hành. Sau khi Phật giáo truyền sang Trung Quốc, phất trần là pháp khí biểu tượng cho sự tu tập đoạn trừ phiền não, chướng nạn đồng thời là vật trang nghiêm của các bậc cao tăng trong khi thực thi pháp sự. Từ thời xa xưa, phất trần đã được xem là một thánh vật gắn liền với hình tượng của các đạo sĩ trong văn hóa Trung Hoa. Cũng bởi vậy mà cổ nhân khi nói tới vật dụng này vẫn thường có câu: “Tay cầm phất trần, không phải người phàm”.

Một giả thuyết khác cho rằng hình ảnh cây phất trần này từng đi vào trong đời sống nghệ thuật của nhân dân, thường xuất hiện trong kinh kịch hay tuồng Quảng. Trong 2 loại hình nghệ thuật này, phục trang và khuôn mặt của các nhân vật được hóa trang khá giống nhau, nên những ai vào vai thái giám cầm thêm cây phất trần để người xem dễ phân biệt.

Vào thời xưa, thường dân bách tính cũng thường giữ trong nhà những chiếc phất trần dùng để đuổi muỗi hoặc lau dọn, công dụng cũng không khác biệt nhiều so với chổi lông gà.

Trên thực tế, cây phất trần thường thấy của các thái giám mặc dù có hình thức cầu kỳ hơn, tuy nhiên công dụng cơ bản nhất cũng không khác với phất trần của người bình thường là bao.

Đối với các thái giám, họ cũng sử dụng cây phất trần này thể phủi bụi bẩn, vệ sinh đồ đạc ở những địa điểm mà hoàng đế sắp ghé qua. Nếu trên người hoàng đế có vết bẩn hay bụi, thái giám cũng chỉ được dùng cây phất trần chứ không được tự ý dùng tay để làm sạch. Bởi nếu trực tiếp dùng tay để chạm hoặc vỗ vào người Thiên tử sẽ bị coi là một hành động đại bất kính.

Sau này vì tính năng và độ thông dụng, cây phất trần được dùng làm chiếc roi phạt những ai vi phạm phép tắc trong cung và được sử dụng trong cả các gia đình thường dân. Trong mỗi gia đình, nếu có người không giữ gìn phép tắc gia quy cũng sẽ dùng phất trần để trị tội.

Ngoài những công dụng cơ bản trên đây, phất trần của các thái giám còn được xem như một loại vũ khí “tạm thời”. Theo ghi chép trong Minh sử và Thanh sử, thái giám cấp cao kề cạnh Hoàng đế không cần phải cầm phất trần, trong khi đó thái giám thấp hơn một bậc phải cầm phất trần và quan sát mọi tình huống xung quanh Hoàng đế. Tất cả thái giám này đều đứng kề cận hai bên trái phải của Hoàng đế, có thể theo Hoàng đế vào những nơi không thích hợp cho thị vệ tiến vào. Nếu thấy tình huống nguy hiểm, khi có thích khách xuất hiện thì những thái giám cầm phất trần sẽ dùng chúng làm vũ khí chống trả, kéo dài thời gian để các thị vệ có thể ứng cứu.

Bên cạnh đó, thái giám là những người thường xuyên kề cận phi tần và cung nữ trong hậu cung, dù đã mất đi một bộ phận nam giới trên cơ thể nhưng không có gì đảm bảo thái giám sẽ không làm ra chuyện không phù hợp. Lúc này, phất trần được xem là một lời nhắc nhở. Xét cho cùng, trong Đạo giáo và Phật giáo, phất trần còn có ý nghĩa đoạn tuyệt hồng trần. Nhìn thấy phất trần trong tay cũng có thể khiến thái giám quên đi mọi tâm tư không đứng đắn.

Theo quan niệm của Đạo giáo, phất trần thường được biết tới là pháp khí của các nhân vật thần thoại. Ví dụ tiêu biểu là chính là Thái Thượng Lão Quân – vị thần tiên luôn đem theo cây phất trần bên mình. Cũng bởi vậy mà vật dụng ấy thường đem tới cho người khác cảm giác siêu phàm, thoát tục, thậm chí cổ nhân còn tin rằng nó có sức mạnh để trừ tà.

Vào thời cổ đại, vương thất, hoàng gia của mọi vương triều đều hi vọng rằng hoàng cung của họ sẽ luôn đầy ắp những điều cát tường, như ý. Cũng vì vậy mà giai cấp thống trị thời bấy giờ sẵn sàng làm mọi việc để tăng thêm vận may cho bản thân. Và việc để cho các thái giám cầm phất trần cũng nằm trong số đó. Họ tin rằng, việc biến phất trần trở thành vật bất ly thân của tầng lớp này sẽ gia tăng may mắn, đồng thời còn có công dụng diệt trừ những thứ tà ma quỷ quái hoặc những điều xui xẻo. Đây cũng là một trong những lý do khiến phất trần trở thành một thứ “vũ khí” thường gắn liền với hình tượng của các hoạn quan, thái giám Trung Hoa vào thời xưa.

Ngoài cây phất trần, các thái giám còn luôn mang theo bên mình một chiếc khăn nhỏ và bao đầu gối.

Nhiều người cho rằng chiếc khăn nhỏ để các thái giám lau mồ hôi nhưng không phải vậy. Sau quá trình tịnh thân, các thái giám thường bị tiểu nhiều lần trong ngày nhưng số lượng nước tiểu ít. Để tránh mùi khai, họ phải dùng khăn lau bộ phận sinh dục sau khi đi vệ sinh.

Dù ở bên cạnh Hoàng hậu hay Hoàng thượng nhưng thân phận của thái giám cũng chỉ là tôi tớ trong cung. Vì vậy, khi gặp những người này, họ vẫn phải hành lễ. Có ngày họ phải hành lễ hàng chục lần chưa kể mỗi lần làm sai việc gì có thể phải quỳ gối xin lỗi hoặc quỳ phạt nhiều giờ. Do đó, họ luôn mang theo bao đầu gối để việc quỳ không gây tổn thương cho da đầu gối.

Bao đầu gối là một dụng cụ hình vuông, bên ngoài bọc vải, bên trong nhét các loại giẻ hoặc các vật làm mềm. Các thái giám sẽ buộc chúng chắc chắn vào đầu gối. Trong các bộ phim dã sử Trung Quốc, nhiều cô gái cũng áp dụng cách này nhưng thường bị phát hiện.

Nhìn chung, cuộc đời thái giám không ít những nỗi buồn phiền và sự tự ti, trừ những thái giám lộng quyền để vươn đến đỉnh cao quyền lực. Hầu hết họ không có tài sản gì đáng giá. Sống trong cung cả đời cho đến khi về già, tưởng sẽ an nhàn nhưng thực ra họ không có đất đai hay gia sản gì to tát ngoài đồng lương ít ỏi hàng tháng nhận được trong cung.

Thời Minh – Thanh, hoạn quan khi xuất cung thường vào làm việc trong miếu, chùa hoặc nhận bố thí sống qua ngày. Tuổi già của họ là những ngày tháng cô đơn, không người thân nương tựa.

Vậy là qua bài viết này, du khách đã hiểu thêm được phần nào về cuộc sống sinh hoạt của tầng lớp thái giám trong lịch sử Trung Hoa. Nếu du khách là người có niềm đam mê với văn hóa, lịch sử của đất nước này thì hãy thực hiện một chuyến du lịch Trung Quốc nhé! Chắc chắn du khách sẽ có được nhiều khám phá và trải nghiệm thú vị khi đặt chân đến vùng đất rộng lớn này!

Lễ hội thuyền rồng sôi động và đầy màu sắc văn hoá truyền thống Trung Hoa

Trung Quốc được biết đến là một trong những đất nước có nền văn hóa lịch sử lâu đời và có nhiều di tích lịch sử nổi tiếng. Không chỉ vậy đất nước này còn có những lễ hội truyền thống rất đặc sắc mà du khách có thể tìm hiểu trong chuyến du lịch của mình. Trong những lễ hội đó không thể không nhắc đến Lễ hội thuyền rồng được diễn ra vào mỗi dịp Tết Đoan Ngọ.

Lễ hội thuyền rồng là nét văn hoá đặc sắc, có ý nghĩa và truyền thống lâu đời đối với người dân Trung Quốc. Theo tài liệu ghi chép, lễ hội thuyền rồng được tổ chức lần đầu tiên ở Phiên Ngu (nước Sở xưa – nay là tỉnh Quảng Châu), đây chính là nơi đã sản sinh ra một nền văn hoá truyền thống mang đậm bản sắc văn hoá của người dân Trung Quốc. 

Lễ hội thuyền rồng được tổ chức vào ngày 5/5 âm lịch hàng năm, diễn ra trên khắp các con sông của đất nước Trung Hoa. Cứ vào dịp này là trên các con lại xuất hiện hàng dài những chiếc thuyền đầy màu sắc. Người dân ngồi trên thuyền mặc những bộ trang phục truyền thống và ném bánh đậu nếp xuống sông.

Có rất nhiều giải thích cho nghi thức đặc biệt này, nhưng theo sử sách Trung Quốc thì lễ hội thuyền rồng được tổ chức nhằm mục đích để tưởng nhớ một vị quan văn thanh liêm của nước Sở vào thế kỷ thứ 4 TCN, đó là Khuất Nguyên.

Khuất Nguyên chủ trương khôi phục quan hệ giữa nước Sở và nước Tề láng giềng. Thời kỳ này được biết đến trong lịch sử Trung Quốc là Thời Chiến Quốc, lý do là 7 nước, hay 7 vương quốc xâu xé lẫn nhau trong suốt 200 năm, cho đến khi Tần Thuỷ Hoàng thống nhất Trung Hoa. Lúc bấy giờ, Vua nước Sở đã phá hỏng mối bang giao với nước láng giềng, nhưng Khuất Nguyên đã tự nỗ lực khôi phục sự hoà hảo với nước Tề và mang lại hoà bình tạm thời cho đất nước của ông. Tuy nhiên, triều đình nước Sở khi đó đầy rẫy tham nhũng, nhiều viên tham quan bị kẻ thù mua chuộc. Khuất Nguyên bị những viên tham quan gièm pha hãm hại, khiến vua Sở nổi giận không tin dùng Khuất Nguyên nữa.

“Chúng chen chúc trên đường vụ lợi,
Tấm lòng tham, tham mãi tham hoài!
Đem dạ mình đọ bụng người,
Sinh lòng ghen ghét, đặt lời gièm pha.”

Những dòng thơ trên đây nằm trong bài “Ly tao” của Khuất Nguyên, trong đó ông đã giãi bày câu chuyện bị đày ải của mình. Ông viết:

“Lòng chính trực bị xéo giày,
Tai nghe xiểm nịnh, lòng đầy lửa sân.”

Vua Sở đã đày Khuất Nguyên đến vùng quê Giang Nam, nơi đó ông dành nhiều tháng ngày để sáng tác thơ và suy
ngẫm trong cay đắng. Thơ của ông phản ánh tấm lòng trung thành với nhà vua, mặc dù bị hắt hủi.

“Chín lần trời hãy chứng minh,
Chỉ vì ta quá trung thành đấy thôi.”

Khi không còn những trung thần và nhân tài xung quanh nhà vua nữa, nước Sở nhanh chóng bị Tần đánh bại. Sau khi hay tin, Khuất Nguyên vô cùng đau xót:

“Biệt ly ta chẳng quản nài;
Xót mình lòng dạ đổi dời bao phen.”

Trong tuyệt vọng, Khuất Nguyên gieo mình xuống sông Mịch La tự vẫn. Khi người dân địa phương biết tin ông tự vẫn, họ vội lao ra sông trên những con thuyền gỗ, đánh trống và dùng mái chèo đập mạnh vào mặt nước để xua đuổi tà ma và cá, nhằm tìm kiếm và cứu ông trong tuyệt vọng. Khi không thể tìm thấy vị cố quan, họ đã ném cơm nắm xuống dòng sông. Một trong những lý do là để cúng cơm cho cô hồn của Khuất Nguyên. Theo tục lệ ở Trung Quốc, người chết vì tự vẫn sẽ trở thành cô hồn đói khát, phải đợi cho đến khi tiến trình sinh mệnh đặc định nơi dương gian kết thúc. Một lý do khác của việc rắc cơm xuống sông là để cho cá ăn mà không rỉa thi thể của Khuất Nguyên nữa.

Theo truyền thuyết, một đêm, Khuất Nguyên báo mộng cho một ngư ông rằng ông không thể ăn được cơm mà họ rắc xuống vì có một con rồng đã ăn hết. Vị quan nói với ngư ông hãy gói cơm trong lá cây ngải cứu thành hình kim tự tháp, bên ngoài buộc bằng chỉ ngũ sắc. Chỉ như vậy mới có thể xua đuổi con rồng và ông mới có thể ăn được cơm. Đây là câu chuyện đằng sau cuộc đua thuyền và những chiếc bánh làm từ gạo nếp mà người dân thường ăn trong dịp lễ hội thuyền rồng.

Với người dân Trung Quốc, lễ hội thuyền rồng không chỉ là dịp để tưởng nhớ vị anh hùng yêu nước Khuất Nguyên, mà đó cũng là ngày để xua đuổi tà ma, bệnh tật và cầu bình an trong cuộc sống. Bởi vậy mà người dân cũng thực hiện rất nhiều phong tục độc đáo: dọn dẹp nhà cửa và tắm nước thảo mộc giúp ngăn ngừa các bệnh ngoài da; treo cây ngải cứu và lá ngải cứu lên khung cửa nhà để xua đuổi sâu bọ và các động vật có độc; mang theo túi đựng nước hoa để khỏi bị côn trùng cắn và các vấn đề về da khác; chuẩn bị trước đầy đủ nước và tránh lấy nước từ giếng (vì theo mê tín dị đoan, nước trong giếng vào ngày đó rất độc); Dán chân dung các vị thần có hình dáng xấu xí, hung dữ lên cửa hoặc treo trong phòng để xua đuổi tà ma, bảo vệ ngôi nhà của mình; đeo vòng tay chuỗi ngũ sắc cho trẻ em với hi vọng may mắn và sức khỏe…

Lễ hội thuyền rồng gồm có 2 phần chính: phần lễ và phần hội. Trong phần lễ những ngư dân tại đây sẽ dâng hương cúng nhằm thể hiện sự kính trọng của họ đến tổ tiên, cùng với các vị thần linh của sông nước. Nó được xem là phần quan trọng, tất yếu không thể thiếu trong lễ hội. Tiếp theo đó sẽ diễn ra phần hội, đó chính các cuộc thi đua thuyền được diễn ra rất gay gắt, và thu hút được rất nhiều sự chú ý của người dân. Các nhóm sẽ cùng cạnh tranh quyết liệt cùng tiếng trống vang dội khắp dòng sông.

Không chỉ có thi đua thuyền, trong lễ hội còn có rất nhiều hoạt động vui nhộn và hấp dẫn khác như: thi uống rượu, thi nấu cơm trên thuyền, thi điêu khắc đầu rồng,…

Tham gia lễ hội thuyền rồng ngoài việc được hoà mình không khí, sôi động náo nức của lễ hội. Bên cạnh đó, trong lễ hỗi còn có sự xuất hiện của nhiều món ăn mang đậm màu sắc ẩm thực của truyền thống Trung Quốc. Trong đó không thể thiếu món bánh Zongzi (Bánh đậu nếp). Những chiếc bánh nếp hình tam giác xinh xinh với nhân đậu đỏ thơm ngon đã chứa đựng trong mình một truyền thống đề cao tiết tháo, cũng như góp phần tô điểm cho lễ hội thuyền rồng thêm phần rực rỡ, phong phú. Ở mỗi địa phương khác nhau lại có phiên bản Zongzi khác nhau. Nhưng về cơ bản, Zongzi là bánh nếp hấp lá tre có nhân đậu. Để tạo hình tam giác thật đúng chuẩn cho bánh, người ta thường cuốn lá tren vào một vật hình phễu, đổ nhân vào rồi mới gói lại. Bánh có lớp vỏ bằng nếp dẻo bùi, thơm mùi lá non, cùng lớp nhân đậu beo béo sần sật, tuy cách làm đơn giản nhưng hương vị thơm ngon khó quên.

Theo phong tục của người Trung Quốc, ngoài ăn bánh Zongzi, người ta còn ăn Jiandui (Bánh rán mè). Cũng như Zongzi, nhân chính của Jiandui là đậu, và loại đậu được ưa thích nhất là đậu đỏ. Màu đỏ tượng trưng cho sự thịnh vượng, dồi dào và may mắn rất được người Trung Hoa ưa dùng vào những dịp lễ lạc, đặc biệt là trong lễ hội thuyền rồng náo nhiệt với hàng trăm con thuyền khoe sắc.

Ngoài ra, các món ăn từ lươn, món trứng hấp trà, và bánh Dagao (làm bằng cách đập gạo nếp luộc thành bột nhão) cũng là những món ăn “có mặt” trong mỗi dịp lễ hội thuyền rồng.

Nếu du khách là một người yêu thích văn hoá Trung Quốc thì vào 5/5 âm lịch hãy đến và hoà mình vào lễ hội thuyền rồng sôi động này nhé! 

Du lịch Trung Quốc, “ngây ngất” trong hương vị men nồng của các loại hảo tửu

Từ hàng ngàn năm nay, rượu đã trở thành loại thức uống quan trọng trong đời sống của người dân Trung Quốc. Rượu được dùng để thờ cúng, chữa bệnh hay thưởng thức hàng ngày. Rượu của Trung Quốc có rất nhiều loại khác nhau, mỗi loại rượu có bề dày lịch sử và hương vị riêng.

Rượu Mao Đài

Rượu Mao Đài chính hiệu được làm ra tại trấn Mao Đài, cách trung tâm huyện Nhân Hoài, tỉnh Quý Châu 13km về phía Tây Bắc. Nơi đây có con sông Xích Thủy với dòng nước trong vắt suốt 4 mùa từ trong hang núi chảy qua. Rượu Mao Đài được sản xuất trực tiếp từ nước sông Xích Thủy và chính nó đã làm thành hương vị tự nhiên độc nhất vô nhị của loại rượu này.

Rượu Mao Đài là rượu chưng cất từ cao lương lên men. Rượu này có đặc trưng là trong vắt, không màu, có mùi thơm đặc trưng và có độ cồn cao (truyền thống là 65%, song gần đây có nhiều loại Mao Đài chỉ từ 35 đến 47%).

Rượu Mao Đài được công nhận là “thực phẩm xanh”, “thực phẩm hữu cơ” và được xếp hạng sản phẩm quốc gia toàn Trung Quốc. Qua nghiên cứu, phân tích trong thời gian dài, người ta đã tìm ra: trong rượu Mao Đài, ngoài rượu tinh khiết và nước ra, còn có rất nhiều chất có lợi cho sức khỏe, nó được bắt nguồn từ những yếu tố như: Công nghệ độc đáo; có các chất khó bay hơi nhiều; có độ toan cao gấp 3-4 lần các loại rượu trắng khác; sự có mặt của nhiều hợp chất phenol trong rượu Mao Đài; độ cồn tinh khiết trong rượu Mao Đài là khoa học và hợp lý; rượu Mao Đài để lên men tự nhiên, không cho phép thêm thắt bất kỳ hương vị hay hương liệu nào, cũng không cho thêm chất điều chỉnh độ rượu nào; trong rượu Mao Đài có SOD có thể thúc đẩy sự sản sinh lượng lớn các anbumin.

Rượu Mao Đài là thần bí, hương thơm của nó làm say đắm lòng người, phong cách của nó khuynh đảo bao người, công hiệu của nó làm người đời ca ngợi. Uống một lượng rượu Mao Đài vừa độ làm người ta khỏe lên. Và, đã từ rất lâu, rượu Mao Đài trở thành đặc sản nổi tiếng của Trung Quốc. Đã có nhiều khách du lịch nước ngoài có dịp du lịch Trung Quốc mong muốn được một lần thưởng thức chén rượu Mao Đài làm say đắm lòng người và không quên mua về làm quà tặng người thân.

Rượu Nữ Nhi Hồng

Rượu Nữ Nhi Hồng có nguồn gốc từ vùng đất Giang Nam là một trong những loại rượu cổ truyền hàng đầu Trung Quốc, còn có cái tên khác đầy quyền quý là “Hoàng Tửu Triệu Hưng”.

Xếp ngang hàng với rượu Mao Đài Quý Châu hay Ngũ Lương Dịch, sau khi được ngâm ủ thêm mười mấy năm, Hoàng Tửu Triệu Hưng lúc này mới trở thành Nữ Nhi Hồng, được sử dụng như của hồi môn khi con gái đi lấy chồng. Cũng vì tượng trưng cho sự trinh trắng của người thiếu nữ và có cách pha chế đầy kỳ công, nên Nữ Nhi Hồng “hàng xịn” chỉ được sử dụng trong những dịp đặc biệt và rất rất khan hiếm.

Rượu Hoàng Tửu Triệu Hưng có lịch sử từ rất lâu đời, là một trong những loại rượu ngon nổi tiếng. Nguyên liệu để chế biến loại rượu này chính là gạo nếp, và nước suối có vị ngọt tinh khiết mà tạo thành. Khi chế biến xong có sắc màu hơi vàng, hương thơm nồng. Muốn ủ được loại Hoàng Tửu ngon thì cần phải ủ trong một một cái hũ làm từ gốm, sau đó dùng bùn trát lên đậy chặt hũ lại.

Các hũ rượu này sẽ được chôn dưới đất khoảng từ 3-5 năm, nhiều nhất là khoảng từ 10-20 năm, cho nên loại rượu này còn được gọi bằng một cái tên khác là “Lão Tửu”. Hoàng Tửu có một số loại rượu ngon nữa như: rượu cơm, hoa điều tửu, trang nguyên hồng tửu, hay tuyết hương tửu… Người ta gọi là rượu cơm là bởi vì trong qua trình lên men, người chế biến rượu cho thêm một số lượng gạo nếp tương đối nhiều nên mới có cái tên như vậy. Nó là loại rượu ngon nhất của Hoàng Tửu Triệu Hưng.

Rượu Đồ Tô

Trong mỗi dịp Tết Nguyên Đán ở Trung Quốc có rất nhiều thức uống được yêu thích, trong đó đặc biệt nhất có lẽ chính là rượu Đồ Tô. Đây là một loại rượu trắng thường được cất giữ trong những chiếc bình làm bằng gốm sứ.

Công thức pha chế rượu Đồ Tô: Xích mộc quế (lõi) 7 tiền 5 phân, Phòng phong 1 lạng, Bát tiết 5 tiền, Thục tiêu, Cát cánh, Đại hoàng mỗi thứ 5 tiền 7 phân, Ô đầu 2 tiền 5 phân, Xích tiểu đậu 14 hạt. Các thứ trên đem đựng trong một túi nhỏ hình tam giác, đem treo xuống giếng, đêm giao thừa ngâm vào rượu, hâm nóng. Thời cổ, khi uống rượu Đồ Tô, cả nhà già trẻ lớn bé hướng về phía Đông, lần lượt uống. Sau đó, bã rượu đem quẳng xuống giếng, trong năm ngày ngày đem uống, bách bệnh tiêu tan.

Theo tập tục, uống rượu Đồ Tô, người già cả sẽ là người uống trước, sau đó là trẻ em, tiếp đến mới là các hạng trung niên, thanh niên. Điều này thể hiện ý nghĩa mong muốn người già trẻ lại, cải lão hoàn đồng.

Rượu Đồ Tô là thần bí, hương thơm của nó làm say đắm lòng người, phong cách của nó khuynh đảo bao người, công hiệu của nó làm người đời ca ngợi. Uống một lượng rượu Đồ Tô vừa độ làm người ta khỏe lên. Và, đã từ rất lâu, rượu Đồ Tô trở thành đặc sản mùa xuân nổi tiếng của Trung Quốc. 

Bạch Tửu

Bạch Tửu hay còn được gọi là “Thiêu Tửu” là một trong những loại rượu nổi tiếng của Trung Quốc. Đây là rượu khá nặng với nồng độ cao, với khoảng 80-120 Proof, tương đương độ cồn đạt 40-60% thể tích rượu.

Bạch Tửu nói chung được chưng cất chủ yếu từ lúa Miến. Tuy nhiên, đôi khi cách làm ra rượu trắng Bạch Tửu có chút khác nhau ở mỗi vùng miền. Nếu như ở Hoa Nam được làm từ lúa nếp thì Hoa Bắc lại sử dụng lúa Miến, Kê, lúa Mì, lúc Mạch và đôi khi họ còn sử dụng cả Bo Bo để nấu rượu nữa.

Vì có màu trắng trong nên rượu được gọi là Bạch Tửu và cảm quan có thể giống với nhiều loại rượu nổi tiếng khác trên thế giới, nhưng rượu trắng luôn luôn có nồng độ cồn ở mức cao và đặc biệt mùi vị của nó luôn luôn tại ra sự khác biệt độc đáo đến kinh ngạc. Có thể lấy ví dụ như Voka 30-50%, Sochu Nhật chỉ 25% hay như Soju Hàn 20-45%.

Nhiều người uống không quen thì thường nhận xét Bạch Tửu có mùi vị như nước pha sơn hay mùi dầu cặn. Nhưng với những người yêu thích thì với họ đây là một mùi vị đặc trưng, rất khác biệt là được nhiều người Trung Quốc yêu thích.

Rượu trắng Bạch Tửu thường thường sẽ được uống ở mức hơi ấm hoặc ở nhiệt độ phòng trong một bình rượu Ceramic. Sau đó họ đổ rượu Bạch Tửu vào trong các ly nhỏ. Theo tục lệ thông thường của người Trung Hoa, Bạch Tửu được uống trong các bữa ăn hơn là uống rượu riêng biệt.

Rượu Trúc Diệp Thanh

Rượu Trúc Diệp Thanh cũng là một cái tên khiến nhiều người thương nhớ khi nói đến Trung Quốc, nhất là vùng Phương Hoàng Cổ Trấn. Loại rượu này ở thời xa xưa là loại rượu quý hiếm, chỉ có Vua chúa mới được sử dụng.

Rượu Trúc Diệp Thanh được ủ với lá trúc, rượu có vị ngọt nhẹ tinh khiết và mùi thơm kích thích vị giác. Không chỉ vậy, điểm đặc biệt nhất của loại rượu này chính là khả năng biến hoá màu sắc vô cùng độc đáo, thông thường rượu sẽ có màu vàng nhạt, cho đến khi đặt dưới ánh mặt trời thì rượu sẽ chuyển sang màu ánh xanh lạ mắt.

Loại rượu này rất có lợi cho sức khoẻ và đường ruột, hỗ trợ con ngừoi ăn ngon miệng và tinh thần tỉnh táo hơn.

Rượu Vang

Tại Trung Quốc, rượu Vang cũng là dòng rượu được đánh giá cao. Loại rượu này có nguồn gốc từ Châu Âu, từ thời Tây Hán được du nhập vào Trung Quốc thông qua giao thương. Rượu Vang ở Trung Quốc được ủ tương đối ngon.

Ở Trung Quốc, rượu Vang được sản xuất nhiều tại phía Bắc Trường Giang. Ngày nay, nhà máy rượu Vang lớn nhất ở Trung Quốc nằm ở thành phố Yên Đài, thuộc tỉnh Sơn Đông. Nhà máy này sản xuất được một loại rượu Vang đỏ nổi tiếng khắp trong và ngoài nước nhờ có hương vị hết sức đặc biệt. Ngoài ra, rượu Vang đỏ ở Bắc Kinh cũng rất ngon. Bên cạnh đó, Vang trắng của Thanh Khê và Thiên Tân kết hợp với nhau tạo thành một loại rượu vang trắng có hương vị rất thơm ngon.

Rượu tre

Rượu vốn là thức uống xuất hiện ở tất cả các quốc gia trên thế giới, nhưng rượu tre tại Trung Quốc lại là món uống mới, được nhiều khách du lịch nước ngoài lần đầu thưởng thức khen ngợi.

Bằng phương pháp sử dụng kỹ thuật phun áp lực cao, rượu được bơm trực tiếp vào thân rỗng của những cây tre non. Đây là loài cây có khả năng tự phục hồi cao. Sau 10 ngày, các lỗ rượu dần được lấp kín. Và như thế, rượu được ủ tự nhiên trong môi trường kín từ vài tháng đến hơn 1 năm. Trong thời gian này, avone (một loại chất lỏng từ trong thân cây) và nhựa cây tre sẽ hòa cùng với rượu. Những chất đặc biệt từ cây tre hòa cùng rượu tạo ra một mùi thơm tinh khiết, dễ chịu hơn so với rượu thường. Đặc biệt, rượu ủ trong cây tre cũng có nồng độ cồn thấp hơn vì một phần đã được cây tre hấp thụ. Nếu đưa rượu có độ cồn khoảng hơn 50% vào trong thân tre, sau khi thu hoạch, rượu sẽ chỉ còn 30%.

Ủ rượu là một chuyện và quy trình lấy rượu khỏi thân cây tre cũng khá đặc biệt và thu hút nhiều du khách. Họ sẽ có cơ hội xem các công nhân gõ vào các phần khác nhau của cây tre để kiểm tra xem bên trong tre có ủ rượu hay không. Sau đó, họ sẽ đục một lỗ nhỏ để lấy rượu ra ngoài.

Kỹ thuật ủ rượu trong ống tre tươi ban đầu xuất hiện ở tỉnh Phúc Kiến, sau đó được dân làng ở những vùng lân cận
như Quảng Tây, Tứ Xuyên áp dụng. Những rừng tre tự nhiên được biến thành xưởng sản xuất rượu, ủ trong ống tre tươi.

Loại rượu ủ từ ống tre có màu sắc vàng nhạt, được giới thiệu là bổ phổi, giúp giải độc. Nó có hương thơm tinh khiết đã làm say đắm lòng người, công hiệu của nó làm người đời ca ngợi. 

Rượu Trung Quốc len lỏi vào mọi ngóc ngách đời sống hàng ngày, văn hóa nghệ thuật, các hoạt động dân gian hay lễ hội một cách mật thiết. Rượu tạo ra một nét văn hóa riêng biệt, mang đậm tinh thần dân tộc người Trung Hoa. 

Nếu có dịp du lịch Trung Quốc, du khách hãy thử một lần “ngây ngất” trong hương vị men nồng của các loại “hảo tửu” và tìm mua về làm quà sau chuyến du lịch của mình nhé! Chắc chắn đây sẽ là một điều thú vị dành cho du khách.

Mì trường thọ – món ăn đem lại may mắn và thịnh vượng

Ẩm thực Trung Hoa đa dạng, phong phú như một quyển tiểu thuyết dài tập, không bao giờ kể hết được. Những món ăn ở đây đều có ý nghĩa của nó. Mì trường thọ là một trong những món như vậy.

Tương truyền rằng cách đây từ 300 năm trước, trong triều đại nhà Đường, tại làng Nam Sơn thuộc tỉnh Chiết Giang, sau nhiều biến loạn thì thực phẩm trở nên rất khan hiếm. Lúc này vợ của Hoàng đế Đường Minh Hoàng phải dùng một chiếc khăn tay thêu của mình để đổi lấy một bát mì để tặng cho chồng vào đúng ngày sinh nhật. Từ đó về sau, món ăn thấm đượm tình nghĩa phu thê đó được gọi là “mì trường thọ”.

Mì trường thọ được xem là biểu tượng cho sự mạnh khoẻ, tuổi thọ cao. Thế nên vào mỗi dịp mừng tuổi mới một ai đó, người ta thường nấu món mì trường thọ để ăn thay vì bánh sinh nhật. Người Trung Quốc quan niệm rằng khi ăn một bát mì trường thọ thì người đó sẽ gặp nhiều may mắn, luôn khỏe mạnh và sẽ sống lâu trăm tuổi. Ngoài ra, không chỉ mang ý nghĩa về tuổi tác, mì trường thọ còn được cho là đem lại may mắn và thịnh vượng, thế nên nó còn xuất hiện trong những dịp đầu năm mới nữa.

Chính bởi ý nghĩa đặc biệt này, người chế biến không được cắt sợi mì, vì làm vậy đồng nghĩa với việc tuổi thọ bị rút ngắn, mang theo xui rủi cho người ăn. Khi ăn mì trường thọ, phải ăn một hơi hết cả sợi mì và trước khi đưa mì vào miệng, không được cắn đứt sợi mì. Nét độc đáo trong văn hoá này ngày nay vẫn được người Trung Hoa duy trì và mang ý nghĩa đặc biệt trong đời sống tinh thần của họ.

Trước đây, những sợi mì dai và dài được người dân nơi đây chế biến với quy trình thận trọng, tỉ mỉ. Chúng được làm bằng một loại bột đặc biệt, sau khi cán mỏng sẽ được cắt thành từng sợi nhỏ, đan chéo và phơi dưới nắng vài giờ đồng hồ. Ngày nay, bất cứ loại mì nào cũng có thể được sử dụng làm nên món ăn thơm ngon này, nhưng phổ biến nhất có thể kể đến là mì Yi Mein (một loại mì trứng Quảng Đông có màu vàng hấp dẫn và vị dai, xốp đặc trưng nhờ dùng nước soda trong quá trình chế biến). Để làm loại mì đặc biệt này, đầu bếp cần có kỹ thuật cao. Khâu nhồi bột cũng được chú trọng kỹ lưỡng để đảm bảo đủ độ dai, khiến sợi mì có thể kéo dài. Sợi mì trường thọ sẽ có độ dài khoảng 3m chứ không ngắn như mì bình thường. Từ xưa cho đến nay, người dân nước này đã có quan niệm sợi mì kéo càng dài được xem là biểu tượng cho sự mạnh khoẻ, tuổi thọ ngày càng cao.

Sợi mì thường được xào với các loại rau củ, hải sản, hoặc nấu trong nước dùng được hầm từ gà. Nếu xào, các nguyên liệu phụ cần được để ráo nước và xào riêng, cho thêm dầu ăn để sợi mì không dính vào nhau. Một số nguyên liệu có thể ăn kèm cùng món này là thịt vịt quay, thịt xá xíu hoặc tôm sú, hoặc cũng có thể ăn riêng một mình. Khi ăn, người Trung Quốc cũng thường thêm một quả trứng gà vào vì trứng gà có hình tròn, là biểu tượng của sự viên mãn, đồng thời cũng tượng trưng cho sinh mạng.

Mì trường thọ có thời gian hình thành và tồn tại lâu dài, lại được giữ nguyên công thức chế biến đặc biệt, được lưu truyền từ đời này sang đời khác nên là món ăn có vị trí, vai trò quan trọng trong nền ẩm thực Trung Hoa. Nếu có dịp du lịch đất nước này, du khách đừng bỏ lỡ cơ hội thưởng thức một tô mì trường thọ thơm ngon, bổ dưỡng nhé!

Nét tinh tuý trong nghệ thuật cắt giấy của Trung Hoa

Nói đến Trung Quốc – một đất nước với nền văn hóa đặc trưng thì không thể không nhắc đến một loại hình nghệ thuật hết sức đặc biệt: nghệ thuật cắt giấy. Đây là loại hình nghệ thuật dùng dao hoặc kéo để khắc hoa văn hình ảnh trên giấy. Giấy được cắt ra dùng để trang trí nhà, hoặc dùng trong các dịp lễ tết, thọ, hỉ khi phối hợp với các văn hóa dân gian.

Nghệ thuật cắt giấy ở Trung Quốc gần như song hành với lịch sử phát minh ra giấy thời nhà Hán. Các phát hiện khảo cổ cho thấy nghệ thuật truyền thống này bắt đầu từ thế kỷ thứ 6, thậm chí còn có thể sớm hơn, và rất thịnh hành ở đất nước gấu trúc từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ thứ 13. Đến thế kỷ thứ 14, nó bắt đầu được phổ biến ra thế giới…

Từ thời Tây Hán trước công nguyên, nghệ thuật cắt giấy với hình thức sơ khai là cắt hoa trên da động vật hoặc mảnh đồng. Nghệ thuật cắt giấy có nguồn gốc từ các nghi lễ cúng của người Trung Hoa với tổ tiên với ước mong bất tử. Từ đây phong tục cắt giấy theo các mẫu thiết kế được hình thành.

Thời nhà Đường, nghệ thuật cắt giấy đã được nhà thơ Đỗ Phủ nhắc đến trong thơ: “Nước nóng cho rửa ráy / Tiểu chỉ để chiêu hồn”. Theo tục lệ địa phương thời đó, nếu viết chữ lên giấy và dán lên tường có thể trừ tà cho các vị khách. Vì vậy, ngày nay việc dùng giấy để trang trí cờ hiệu cũng khá phổ biến.

Vào khoảng thế kỷ V, tại ba ngôi mộ ở Thổ Lỗ Phồn khu tự trị Tân Cương cũng tìm ra dấu vết về nghệ thuật cắt giấy như hình mẫu “ngôi nhà và bó hoa”. Đến thế kỷ VI – IX, tranh giấy cũng được trang trí trên các đồ trang sức, nón, trống đồng… Ví dụ như các mẫu vẽ được dùng để trang trí nón được tìm thấy ở thành phố Tây An, những lá vàng và bạc được khắc sau gương đồng tìm thấy ở quận Giang Châu (Quảng Tây).

Trước thể kỷ XIII, con người đã sử dụng các mẫu vẽ để trang trí trên các đồ gốm. Ngoài ra, vải in màu chàm được tìm thấy ở tỉnh Sơn Tây cũng là nhờ việc đổ bột nhão vào các mẫu vẽ, sau đó đặt vải vào mà thành các mẫu vẽ độc đáo.

Từ thế kỷ XIX đến thế kỷ XVII, nghệ thuật cắt giấy đã được sử dụng khá rộng rãi để trang trí dèn lồng và quạt xếp. Đến thế kỷ XX, hình giấy cắt lúc này đã được dùng trong hoàng tộc do độ độc đáo đã được nâng lên rất nhiều. Cung điện thời nhà Thanh được dán các hình vẽ rồng phượng. Và thay vì thêu các hình vẽ người ta đã cắt giấy và dán chúng lên áo hoàng bào.

Như vậy, có thể thấy rằng, nghệ thuật cắt giấy rất được coi trọng. Thậm chí, giới nữ trong Hoàng triều được đánh giá bằng khả năng cắt giấy và đây cũng từng là một trong những yếu tố để chọn dâu của người Trung Quốc.

Đa phần các nghệ sĩ cắt giấy là nữ giới, chủ đề của họ thường bao gồm mọi thứ từ bình dị đến phức tạp trong cuộc sống hàng ngày. Chính sự hiểu biết cuộc sống thường nhật đó khiến phụ nữ thấu hiểu và cảm nhận sâu sắc tinh thần thực sự của nghệ thuật này. Tuy nhiên, ngày nay những người thợ cắt giấy chuyên nghiệp lại là đàn ông. Họ có thu nhập ổn định và cùng làm việc trong các xưởng thủ công.

Công cụ chính để tạo ra các tác phẩm cắt giấy không phải gì khác ngoài những chiếc kéo. Một khi được sở hữu bởi các nghệ nhân, chúng sẽ trở thành một vật dụng siêu phàm và những tác phẩm công phu dần hiện ra từ những nhát kéo đầy tính nghệ thuật. Một trong những dụng cụ khác không thể thiếu là những chiếc dao với các kích cỡ khác nhau, rất cần thiết để tăng cường độ sắc nét hoặc tạo ra những nét thanh nhấn tinh tế cho các tác phẩm cầu kỳ. Tranh giấy được cắt hoàn toàn bằng thủ công đòi hỏi sự cần mẫn, tỷ mỉ và tập trung của người thực hiện. Chúng ta có thể dễ dàng cắt tranh giấy nhưng rất khó để có thể đạt được trình độ kiệt tác. Bởi ngoài khả năng tưởng tượng phong phú, cũng cần phải biết cách làm chủ chiếc kéo, con dao, đưa những nhát cắt ngọt với những lực phù hợp để tạo được những đường cong mềm mại, không bị xiên xẹo, bờm xờm cho tác phẩm.

Có hai kiểu cắt giấy là dùng kéo và dùng dao. Với kiểu dùng kéo, người ta có thể cắt chồng một lúc nhiều mảnh giấy cho nhanh, thậm chí lên tới 8 tờ. Để tác phẩm được đẹp, ngoài sự khéo léo đương nhiên của người thực hiện, bí quyết ở đây còn là mũi kéo phải thật sắc. Kiểu cắt thứ hai là bằng dao. Người ta sẽ đặt một vài lớp giấy trên một bề mặt phẳng mềm, sau đó người nghệ sĩ sẽ dùng dao nhọn, sắc rạch theo chiều thẳng đứng tạo nên những đường nét cho tác phẩm. Cắt bằng dao có một lợi thế là người sáng tạo có thể thực hiện hoàn hảo những chi tiết nhỏ, mảnh mà dùng kéo khó có thể làm được. Ngoài ra, màu giấy cũng rất được chú trọng, thực tế, các tác phẩm có thể được thực hiện ở bất cứ màu sắc nào nhưng màu đỏ luôn là ưu tiên hàng đầu.

Đề tài cho nghệ thuật cắt giấy thì có muôn hình vạn trạng, từ động vật chim muông đến phong cảnh, con người và cả những nhân vật dân gian, nhân vật trong các tác phẩm văn học cổ, những hình tượng như 12 con giáp, cũng không thể thiếu những câu chúc như “An khang thịnh vượng”, “mọi điều tốt lành” và lồng vào đó là những hình cắt về những vật xung quanh như hàng cây, cánh đồng… những vật bình dị xung quang cuộc sống. Nói chung, bất cứ đề tài nào con người cũng có thể mô phỏng và hiện thực hóa trên những mảnh giấy màu theo những cung bậc sáng tạo riêng của từng người.

Không nghi ngờ rằng những mẫu giấy màu được cắt một cách công phu, cầu kì có khả năng tạo ra bầu không khí vui vẻ, một không gian truyền thống ấm cúng. Có lẽ chính vì vậy, các tác phẩm cắt giấy thường được dán ở đám cưới hay các lễ hội, tết nhất ở Trung Quốc cùng với những khao khát được mang lại may mắn, hạnh phúc bền lâu. Ngày nay, nghệ thuật cắt giấy chủ yếu là để trang trí, chúng được dán trên tường, cửa sổ, cột nhà, gương, đèn lồng ở nhà hay làm quà. Ngoài ra, các mẫu cắt giấy còn được sử dụng như làm mẫu thêu và tác phẩm sơn mài.

Ra đời từ thủa xa xưa, nhưng sự sáng tạo của nghệ thuật cắt giấy vẫn còn trường tồn với thời gian. Và Trung Quốc rất có ý thức bảo tồn nghệ thuật này qua rất nhiều hiệp hội tranh giấy cắt mang tính toàn quốc, các cuộc triển lãm, cuộc thi cắt giấy…

Nghệ thuật cắt giấy tinh túy đã góp phần tạo nên một nền văn hóa Trung Hoa đặc sắc, và đây cũng là một trong những lý do thu hút lượng lớn khách du lịch quốc tế tìm đến khám phá hàng năm. Nếu du khách cũng yêu thích nền văn hóa truyền thống của vùng đất rộng lớn này thì hãy tham gia ngay tour Trung Quốc nhé!

Thư pháp – môn nghệ thuật tinh tuý của đất nước Trung Hoa

Trung Quốc có nền văn hóa tồn tại qua hàng ngàn năm, thấm nhuần trong dòng máu của những người dân nơi đây. Một số nét văn hóa đã trở thành truyền thống và thói quen của người Trung Hoa trong đời sống, học tập và làm việc của họ. Một trong số đó là nghệ thuật thư pháp.

Thư pháp, nếu hiểu một cách nôm na theo cách chiết tự thì: “Thư” là viết, ghi chép lại; “Pháp” là hình pháp, mẫu mực, cách thức, phép tắc. Như vậy, “Thư pháp” là mẫu mực của chữ viết, hay hiểu cách khác là nó đã được nâng tầm lên thành một môn nghệ thuật riêng biệt. 

Thư pháp Trung Hoa được hình thành từ rất sớm: vào khoảng thế kỷ thứ II – IV. Từ đó, nó trở thành một môn nghệ thuật tao nhã của các tao nhân và người có học.

Nghệ thuật thư pháp giúp người ta rèn luyện óc thẩm mỹ cũng như nâng cao tính kiên nhẫn của mỗi người theo học. Đối với người Trung Quốc, thư pháp không phải ai cũng học tập và lĩnh hội được hết cái hay của nó mà phải trải qua khổ luyện, tu tâm dưỡng tính, nuôi dưỡng tình cảm. Người Trung Quốc có câu: “Thư pháp khả dĩ tu tâm dưỡng tính, đào dã tâm tình” (Thư pháp có thể khiến người ta tu tâm dưỡng tính, rèn luyện tình cảm). Người chơi và viết thư pháp cũng lắm công phu: Phải biết cách đặt thân đúng, đặt bút đúng theo các quy tắc riêng, mắt nhìn thẳng, dụng bút phải chuẩn, thời gian luyện tập dài, không được nóng vội.

Thư pháp gắn với “Văn phòng tứ bảo” gồm có: giấy, mực, nghiên, bút, mỗi thứ phải tuân theo quy cách, phải đúng loại thì chữ mới đẹp được. Giấy phải là loại giấy “xuyến chỉ” đắt tiền, mực thì dùng loại mực thỏi hoặc mực trấp pha theo tỉ lệ và phải điều tiết khi viết, nghiên mực phải có độ nghiêng nhỏ để tránh bị đọng mực. Bút lại càng phức tạp hơn, bút chuyên dụng để viết thư pháp gồm các loại tiểu, trung, đại, phải có mao quản (ngòi bằng lông để có thể thấm mực dễ dàng), phải có đủ các bộ phận: Đào tuyến (sợi dây để treo bút), bút quản (quản bút bằng trúc), bút hào (búp lông giống búp sen), bút căn (phần lông gắn với quản bút). Vậy mới thấy, thú chơi thư pháp công phu và tỉ mỉ như thế nào.

Chữ viết thể hiện trong thư pháp thường là chữ Hán hoặc chữ Nôm theo các phong cách khác nhau. Mỗi phong cách lại có những đặc trưng riêng về cách thể hiện. Ngày nay trên Thế giới có 5 phong cách viết thư pháp là Khải, Triện, Lệ, Hành và Thảo. Khải thư là kiểu chữ được sử dụng phổ biến và thông dụng nhất ngày nay. Nó được dùng trong lĩnh vực quảng cáo, in ấn. Đặc biệt là loại chữ dành cho những người mới bắt đầu học chữ Hán. Khải thư có bố cục ngay ngắn theo dạng hình vuông, được viết chậm rãi và cẩn thận. Khác với các loại chữ khác, khi viết thì ngòi bút được nhấc lên khỏi mặt giấy. Triện Thư là loại chữ thư pháp có lịch sử lâu đời và được lưu hành rộng rãi. Triện thư gồm 2 kiểu chữ là Đại Triện và Tiểu Triện. Đây là loại chữ thư pháp kiểu cổ, các nét thanh, bố cục đơn giản. Lệ thư là bước phát triển cao hơn của Triện thư. Hầu hết nét bút của Lệ thư là những nét vuông thể hiện sự mạnh mẽ, đơn giản về đường nét. Hành thư là loại chữ thư pháp gần giống với chữ viết tay thông thường. Khác với các kiểu chữ khác, chữ Hành thư khi viết thì ngòi bút ít nhấc lên khỏi mặt giấy. Chính vì thế các nét chữ trong cùng một chữ được viết nối liên tục nhau. Hành thư có đường nét phóng khoáng, dễ đọc, bố cục chữ tròn trịa, ít góc cạnh. Thảo thư là kiểu chữ mang tính nghệ thuật cao, thiên về cảm hứng của người viết. Các nét chữ được biến tấu đầy thi vị, thanh thoát, tốc độ viết nhanh chóng. Các nét chữ thể hiện sự liên kết, uyển chuyển tạo nên sự liên hoàn cho các bộ chữ. Khi viết, ngòi bút được hạn chế nhấc lên khỏi mặt giấy. Thảo thư được viết để thể hiện đại ý của văn tự, chính vì thế mà không phải ai cũng có thể thưởng thức được loại thư pháp này.

Một tác phẩm thư pháp là thể hiện giữa thư thể và thư gia. Nội dung và hình thức của thư pháp phải hòa hợp để xác định bố cục và thư thể trong tác phẩm. Người viết thư pháp phải trải qua thời gian tìm hiểu và khổ luyện lâu dài mới có thể vẽ nên những nét tựa “rồng bay phượng múa”. 

Khi thưởng thức một tác phẩm thư pháp, người ta thường đánh giá nó qua bút pháp và sự sáng tạo của tác giả, thể hiện qua từng nét bút nhanh – chậm, độ đậm – nhạt của mực hay sự tương phản giữa giấy và mực.

Thư pháp của người Trung Hoa được xem như một loại hình nghệ thuật, thậm chí là một môn học với đầy đủ cơ sở lý luận mà người ta gọi là “Thư học”. Thư pháp đòi hỏi có sự khổ luyện cao, người viết nếu thiếu kiên nhẫn sẽ khó học thành, như câu nói: “Học thư vô nhật bất lâm trì” (Học thư pháp không có ngày nào mà không vào ao). Thuật ngữ “lâm trì” chỉ sự khổ luyện thư pháp xuất phát từ giai thoại của thư pháp gia Trương Chi mỗi ngày luyện tập viết chữ xong lại rửa bút ở ao khiến nước đen như mực (Lâm trì học thư, trì thủy tận mặc). Về sau này, “lâm trì” được dùng để chỉ sự luyện tập thư pháp. Ngược dòng lịch sử Trung Hoa, thời đại nào cũng có những nhà thư pháp lẫy lừng với phong cách rất riêng. Thời Hán với Trương Chi say mê thư pháp, không có giấy phải viết lên vải lụa cho đến khi không còn chỗ viết thì đem nhuộm để cắt may thành quần áo mặc. Sau này, thư pháp gia nổi tiếng Vương Hi Chi (nhà Tấn) noi gương Trương Chi mà bỏ đến 15 năm rèn luyện chữ nghĩa để trở thành “Thư thánh” (một trong Thập Thánh được dân gian Trung Quốc ca ngợi và truyền tụng). Thế mới thấy, nghệ thuật con chữ có sức hút thật mãnh liệt với người đời xưa.

Nghệ thuật viết chữ đẹp của người phương Bắc phải kể đến Vương Hi Chi và dòng dõi nhà ông. Vương Hi Chi ngày trước bắt đầu luyện chữ thư pháp bằng cách viết chữ “Vĩnh” (chữ hội tụ đầy đủ tám nét cơ bản trong cách viết chữ Hán), tạo nên “Vĩnh tự bát pháp” – bài học cơ bản cho người tập viết thư pháp. Không chỉ có Vương Hi Chi mà con cháu ông cũng say mê nghiên cứu thư pháp. Con trai ông Vương Hiến Chi cũng yêu thích viết chữ không kém gì cha nên ngay từ thuở nhỏ đã gánh nước đổ đầy 18 chum nước để mài mực. Hai cha con Vương Hi Chi và Vương Hiến Chi nổi tiếng với lối viết chữ Thảo, được người đời xưng tụng là “Thảo Thánh Nhị Vương” (Hai vị vua của lối viết chữ thảo), chữ thảo của hai ông mềm mại, uyển chuyển, trở thành khuôn mẫu của cách viết chữ thảo cho hậu thế luyện theo. Dòng dõi nhà Vương Hi Chi còn phải kể đến nhà sư Thích Trí Vĩnh (Vĩnh Thiền Sư), tương truyền là cháu bảy đời của Vương Hi Chi, sống đời nhà Tấn, là người khổ luyện thư pháp nhiều đến nỗi thoái bút (bút bị cùn do viết chữ) chất cao thành gò. Vĩnh Thiền Sư tu luyện ở chùa Vĩnh Hân, yêu thích thư pháp đến nỗi 40 năm luyện chữ trên lầu chùa mà không xuống đất (Đăng lâu bất hạ tứ thập niên, Thiền Sư cũng là người kế tục và nghiên cứu, phát triển “Vĩnh tự bát pháp” (Tám nét tạo thành chữ “Vĩnh”) đã được khởi xướng từ thời ông tổ bảy đời Vương Hi Chi. Giai thoại về Vĩnh Thiền Sư kể lại rằng: Khi nhà sư đã luyện chữ đạt đến mức độ điêu luyện, người người biết đến ông, ham thích và mong muốn sở hữu chữ ông đã chen lấn nhau xin chữ dẫm nát ngạch cửa đến nỗi phải lấy sắt bao lại, gọi là “Thiết môn hạn”. Nhà Đường có nhà sư Hoài Tố nhà nghèo không có tiền mua giấy, phải tập viết trên lá chuối mà được xưng tụng là “Thảo thánh”. Dần dần, người yêu thích thư pháp không chỉ là bậc vua chúa, kẻ sĩ mà còn có cả thứ dân cũng rất thích mà ngày nay còn lưu truyền nhiều câu chuyện thú vị: Đường Thái Tông rảnh rỗi lại luyện “Trừu không luyện tự” (lấy ngón tay mà viết chữ vào không khí), nửa đêm đốt đuốc luyện Lan Đình tự (chữ của Vương Hi Chi trong “Lan Đình tập tự”) thật đáng khâm phục. Lương Vũ Đế vì quá ham thích nét chữ Thư Thánh đã truyền lệnh thu thập bút tích và ra lệnh trong cung phải lấy chữ viết của Vương Hi Chi làm chuẩn, nhà vua còn sai Chu Hưng Tự soạn “Thiên tự văn” bằng bốn cách viết thư pháp của Vương Hi Chi, dùng nó làm phương tiện dạy chữ Hán và viết thư pháp trong cung còn lưu truyền tới ngày nay.

Thư pháp đồng hành với sự phát triển và ổn định của chữ Hán, có lịch sử trải dài và thời đại nào cũng có những thư gia tiêu biểu với dấu ấn cá nhân không pha trộn. Đời nhà Tần không thể không kể đến “đệ nhất thư pháp gia” – Tể tướng Lý Tư, Triệu Cao hay Mẫu Kính. Nhà Hán cũng góp mặt những thư gia như Sử Du, Trương Chi, Tào Hỷ, Sái Ung, Lương Hộc, Lưu Đức Thăng… Đời Tam Quốc và Tây Tấn có Hàm Đan Thuần, Vỹ Đản, cha con Vệ Ký – Vệ Cẩn, Lục Cơ… Đời Đông Tấn có gia đình Vương Hi Chi – Vương Hiến Chi – Vương Tuần – Vương Dân. Thư pháp đời Nam Bắc triều có Bạc Thiệu Chi, Vương Tăng Kiều, Đào Hoằng Cảnh, Vương Bao… Xuôi đến thời thịnh vượng nhất của thư pháp chữ Hán là đời Tùy – Đường cũng sản sinh nhiều cái tên như: Trí Vĩnh, Đinh Đạo Hộ, Âu Dương Tuân, Ngu Thế Nam, Lục Giản Chi, Vũ Tắc Thiên, Lý Ung, Trương Húc, Hàn Trạch Mộc, Hạ Tri Chương, Nhan Chân Khanh, Liễu Công Quyền, Đỗ Mục, Cao Nhàn… Đời Ngũ Đại với Dương Ngưng Thúc, Từ Huyễn… Đời Tống có Lý Kiến Trung, Vương An Thạch, Tô-Hoàng-Mễ-Sái (Tô Thức, Hoàng Đình Kiên, Mễ Phế, Sái Tương), Nhạc Phi, Lục Du, Vương Đình Quân… Đời nhà Nguyên có Triệu Mạnh Phủ, Tiêu Vu Khu, Nghê Tán,… Đời Minh – Thanh với những cái tên tiêu biểu như: Cha con Tống Liêm – Tống Thoại, Trần Hiến Chương, Thẩm Chu, Hình Đồng, Trương Thụy Đồ, Phó Sơn, Vương Đạc, Kim Nông, Bao Thế Thần, Hà Thiệu Cơ, Trần Diệc Hi, Tề Bạch Thạch, Trịnh Bản Kiều… Ngay cả đến thời hiện đại, số lượng thư gia cũng hết sức nhiều, có thể kể đến vài cái tên như: Trịnh Văn Trác, Tăng Hi, Hoàng Tân Hồng, Hồ Tiểu Thạch, Lỗ Tấn, Quách Mạt Nhược, Vu Hữu Nhiệm, Mã Nhất Phù,…

Trên đây chỉ là vài cái tên tiêu biểu nhất của nghệ thuật thư pháp chữ Hán qua các triều đại. Kỳ thực, số lượng các nhà thư pháp Trung Hoa còn rất nhiều và ngày càng có nhiều người tiếp nối bộ môn nghệ thuật này. Điểm qua một số cái tên như vậy cũng đủ để thấy sức hấp dẫn lòng ham thích nghiên cứu, luyện tập của người Trung Quốc lớn thế nào. Thư pháp tinh tế không chỉ ở chỗ phải trải qua khổ luyện mới có nét chữ đẹp, có hồn, mà nghệ thuật “cho chữ” cũng là một nét văn hóa. Chữ được viết ra là kết tinh của những năm tháng khổ luyện không ngừng của người viết, nó còn thể hiện cảm xúc, tình cảm và suy nghĩ của người tạo chữ. Chính vì thế, việc cho chữ cho ai cũng là điều mà các thư gia hết sức coi trọng, không phải ai cũng được tặng chữ. Văn hóa Trung Quốc nặng lễ nghĩa, coi trọng sách vở, chữ nghĩa, người có học luôn được trọng vọng, làm quan cũng lấy chữ nghĩa làm đầu, lời nói của người nhiều chữ rất có trọng lượng… tâm lý ấy không chỉ tồn tại trong xã hội mà ngay trong cả phạm vi gia đình truyền thống người Hoa, kẻ thất học không bao giờ được xem trọng, khó có thể thay đổi địa vị của mình. Mặt khác, viết thư pháp lại được xem là nghệ thuật của chữ nghĩa, do đó người viết cũng không thể tặng chữ mình cho đối tượng mình không xem trọng. Rất khó để có thể ép một thư gia viết chữ khi tâm họ không mong muốn, vì khi đó nét chữ sẽ không đẹp vì tấm lòng không thỏa mãn. Truyền thống từ ngày xưa để lại, các nhà thư pháp chỉ tặng chữ chứ không đem ra bán như bây giờ, họ cũng chỉ tặng anh em, bạn bè thân hữu mà họ quý mến, tuyệt đối không cho chữ tùy tiện. Người được tặng chữ phải là người có học, biết quý trọng và nâng niu chữ mình được tặng. Người Trung Quốc thường treo chữ thư pháp ở giữa gian phòng khách, hay bên cột nhà chính, hay trước cửa, cổng nhà, đình, thể hiện sự trang trọng, đề cao chữ được tặng, xem chữ là một vật quý giá trong nhà, ở những vị trí đặc biệt quan trọng trong không gian sống.

Trên đây là một vài nét về nghệ thuật thư pháp của Trung Hoa. Nếu du khách là người yêu thích môn nghệ thuật  tinh túy này thì hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc để có cơ hội khám phá nhé! Chúc các du khách có một chuyến đi vui vẻ và thú vị!