xuong xam 7

Xường Xám – nét đẹp của người dân Trung Hoa

Mỗi quốc gia đều có một trang phục riêng cho mình mang đậm nét văn hóa và truyền thống đặc trưng cho con người của đất nước đó. Nếu Việt Nam có Áo Dài, Hàn Quốc có Hanbok, Nhật Bản có Kimono thì người Trung Quốc có Xường Xám. Hôm nay, chúng ta sẽ cùng đi tìm hiểu về trang phục Xường Xám nhé!

Xường Xám (hoặc Sườn Xám) là một loại trang phục truyền thống Trung Hoa, được gọi bằng nhiều tên khác như: Trường Sam và Kỳ Bào. Tên gọi “Kỳ bào” nghĩa là “chiếc áo khoác dài của người Mãn Thanh”. Trang phục này cũng được gọi là “Thượng Hải trường bì bào” (áo dài Thượng Hải) do xuất hiện nhiều ở Thượng Hải. Loại trang phục này rất thịnh hành của chị em phụ nữ Trung Hoa, bởi nó thể hiện được phong thái đoan trang, đường nét mĩ miều, yêu kiều, mềm mại của người phụ nữ.

xuong xam 4

Về nguồn gốc của Xường Xám, cho đến ngày nay vẫn có rất nhiều tranh cãi. Có rất người từng cho rằng xuất phát điểm của bộ trang phục này đã có từ thời Tây Chu, một triều đại phong kiến đã có từ rất lâu trong lịch sử của Hoa. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu chỉ ra rằng Xường Xám có xuất xứ từ trang phục của người Mãn dưới thời nhà Thanh. Tiền thân của Xường Xám được cho là trang phục đặc trưng của bát kỳ (chế độ phân chia người của người Mãn do vua Nỗ Nhĩ Cáp Xích lập ra) được gọi là Kỳ phục. Tuy nhiên, sau này do sự giao lưu văn hóa của người Mãn và người Hán, Kỳ phục dần dần thay đổi mang nét nhẹ nhàng, thướt tha hơn không còn quá rườm rà như Kỳ phục. Và đặc biệt là sự tiếp nhận văn hóa phương Tây càn khiến cho Xường Xám tách rời ra khỏi Kỳ phục ban đầu tạo thành một trang phục hoàn toàn mới vừa có vẻ đẹp Á Đông lại vừa có khí phái hiện đại đương thời.

Từ thời vua Đạo Quang (1821-1850) tới Quang Tự (1875-1908), cho đến những năm đầu của thế kỷ 20, chiếc Xường Xám đã trải qua nhiều thay đổi, nhưng vẫn luôn gắn liền với nhiều mỹ nhân nổi tiếng của Trung Hoa như: Tống Mỹ Linh, Lâm Huy Âm, Hồ Điệp, Nguyễn Linh Ngọc, Trương Ái Linh,… Nó đạt tới đỉnh điểm khi người ta đặt ra những câu hỏi bông đùa kiểu không biết là xường xám đã “tạo” nên thế hệ mỹ nhân hay thời đại mỹ nhân tồn tại là để làm đẹp cho Xường Xám. Có lẽ cũng từ đó là trên các sàn diễn nghệ thuật, nó cũng nhanh chóng trở thành trang phục biển diễn và trở thành biểu hiện vĩnh cửu cho phụ nữ Trung Hoa.

xuong xam 5

Theo truyền thống, Xường Xám được may bằng lụa, có thêu hoa văn. Các hoa văn trên Xường Xám chủ yếu dựa trên thủ pháp phác họa, các hoa văn này thường là rồng và kỳ lân, phượng hoàng cùng tiên hạc trắng, bát tiên,… Ngày nay, các hoa văn trên Xường Xám thường sử dụng các thiết kế tranh thủy mặc. Xường Xám ôm lấy thân nhưng không bó sát vào cơ thể, cổ cao và tà áo thẳng. Từ những năm đầu thế kỷ 20, Xường Xám có sự thay đổi khá nhiều về mặt kết cấu, ví dụ như: cổ dựng, chỉ có hai bên vạt áo xẻ, ôm sát thân, tay áo có thể liền hoặc rời thân. Và bắt đầu từ những năm 20, Xường Xám xuất hiện dần dần trên đường phố Thượng Hải rồi lan sang Tô Châu, Hàng Châu, Dương Châu,… Sau đó, do ảnh hưởng của nền văn hóa phương Tây, Xường Xám đã có một vài đổi mới so với thời Mãn Thanh: Cổ áo có thể tròn, cao hoặc xẻ, tay áo tùy theo được thiết kế loe hoặc cắt ngắn. Hơn nữa, dáng áo có thể được cắt ngắn độ dài của tà, áo váy rời nhau với đường xẻ sâu để phù hợp hơn với xu hướng ngày càng sexy hóa.

xuong xam 6

Loại váy áo liền thân này làm tôn thêm dáng của người thiếu nữ, phần trên ôm sát thân, hàng cúc được thiết kế vắt chéo sang môt bên rồi chạy dọc một bên sườn, hai tà xẻ cao đến ngang đùi tạo dáng thướt tha, tôn vẻ nữ tính, mặt trước của Xường Xám thường được thêu các họa tiết bằng chỉ ngũ sắc. Trên phương diện tạo mẫu hay trang trí thủ pháp đều thể hiện được những nét truyền thống văn hóa sâu đậm của Trung Quốc. Ngoài ra, loại váy áo này còn làm nổi bật đức tính đoan trang, trang nhã, kín đáo của người thiếu nữ.

Nếu như Xường Xám là trang phục truyền thống làm tôn lên vẻ đẹp của người phụ nữ Trung Hoa thì Trường Bào, Mã Quái là loại trang phục truyền thống của nam giới Trung Hoa.

xuong xam 1

Trường Bào, Mã Quái (một dạng áo khoác bên ngoài), hai loại trang phục này đều là trang phục của dân tộc Mãn Thanh, áo cổ tròn, ống tay cửa hẹp, Mã Quái thường là xẻ giữa, cài nút thắt, ống tay áo hình chữ U, còn Trường Bào thường là xẻ bên.

xuong xam 2

Cũng có loại trang phục được kết hợp giữa Trường Bào và Mã Quái, loại trang phục này chỉ có vạt áo dưới của Trường Bào còn phần trên là Mã Quái, hai phần được nối với nhau bằng một dải cúc được đính ở mặt trong của Trường Bào, mặc hai loại trang phục này không chỉ thể hiện được sự long trọng mà còn đem lại cảm giác tự nhiên, thoải mái cho người mặc.

Ngày nay, Xường Xám đã hoàn toàn thoát khỏi cái bóng dáng của chiếc áo thời Mãn Thanh. Giá trị của chúng không chỉ còn đơn thuần là kiểu dáng trang phục nữa mà còn là sự dung hòa tương trợ giữa quan điểm mĩ học hiện hành phương Tây cùng lối thiết kế dân tộc truyền thống Trung Hoa, đó là sự thể hiện sự thống nhất hoàn mĩ giữa tính dân tộc và thế giới.

xuong xam 8

Tuy ngày nay người ta không mặc Xường Xám phổ biến như dạo đầu thế kỷ 20 nữa, nhưng nó vẫn được tôn thờ như một trang phục truyền thống với sức sống trường tồn, ẩn chứ vẻ đẹp tâm hồn và khí chất của người phụ nữ Trung Hoa vậy. Xường Xám vẫn được diện vào những dịp lễ quan trọng như Tết cổ truyền, cưới hỏi, trong những cuộc thi sắc đẹp quốc tế. Ngày nay, các giáo viên nữ, hiệu trưởng cũng mặc Xường Xám trong kỳ thi Đại học, các bà mẹ chờ con bên ngoài cũng mặc Xường Xám với ngụ ý mong con mình chiến thắng trong kỳ thi. Như vậy, dù đã trải qua nhiều thăng trầm trong lịch sử nhưng bộ Xường Xám vẫn tồn tại và trở thành biểu tượng của vẻ đẹp trường tồn với thời gian.

Xường Xám, Trường Bào, Mã Quái,… không chỉ là biểu hiện nét đẹp văn hóa của đất nước Trung Hoa mà còn tôn lên vẻ đẹp của mỗi người dân khi khoác lên mình bộ quốc phục. Nếu du khách là người yêu thích văn hóa Trung Hoa và đặc biệt là yêu thích những bộ trang phục truyền thống này thì hãy nhớ tìm mua để làm kỷ niệm sau chuyến du lịch Trung Quốc thú vị này nhé!

3 mon vit 7

3 món vịt “danh bất hư truyền” của ẩm thực Trung Hoa

Các món ăn Trung Quốc nổi tiếng khắp thế giới từ nhiều thế kỷ trước. Đặc biệt là một số món vịt có màu sắc bắt mắt, trình bày độc đáo và hương vị ấn tượng.

Nói đến những món vịt ngon nổi tiếng của ẩm thực Trung Hoa, người ta sẽ nhớ ngay đến món “vịt quay Bắc Kinh” tuyệt hảo. Món ăn nổi tiếng với lớp da vịt giòn tan nơi đầu lưỡi, thịt vịt thấm đẫm gia vị và nước chấm đậm đà hương vị.

Món vịt “danh bất hư truyền” này có lịch sử lâu đời khoảng 600 năm và được công nhận là “di sản ẩm thực”. Theo các tài liệu ghi lại, món vịt quay có nguồn gốc xuất xừ từ thời Nam – Bắc Triều (420-589) của Trung Quốc. Tuy nhiên, mãi tới thời nhà Nguyên (1271-1368), món ăn này mới được triều đình và nhà vua công nhận lần đầu, được giới thiệu trong cuốn sách có 1330 món ăn do chuyên gia ẩm thực Hu Sihui biên soạn. 

3 mon vit 6

Điều thú vị là vịt quay đặt theo tên Bắc Kinh (Peking duck trong tiếng Anh, với từ Peking là cách phát âm cũ của tên thành phố này), nhưng nguồn gốc của món ăn này lại là Nam Kinh, kinh đô cũ của Trung Quốc, nằm ở tỉnh Giang Tô. Vào thời nhà Minh, triều đình dời đô ra Bắc Kinh nhờ thế món vịt quay cũng được đem tới kinh đô mới. Về sau, món ăn này đã trở thành một trong những món ăn chính của nhà Vua. Vào triều đại nhà Thanh, vịt quay Bắc Kinh lan sang giới quý tộc, nơi món ăn được ca ngợi nhiều trong các tác phẩm của các học giả và nhà thơ. Sau đó, vịt quay có mặt trong thực đơn của một nhà hàng nổi tiếng tại Bắc Kinh vào năm 1416 và được nhiều người yêu thích, mong muốn tới nhà hàng để thưởng thức đặc sản thơm ngon này. Từ đó, vịt quay được xem là đặc trưng cho nền ẩm thực của Bắc Kinh nói riêng, ẩm thực Trung Quốc nói chung.

Để làm món vịt quay ngon đúng điệu, vịt thường được chọn những con ngon nhất, béo nhất từ Nam Kinh, làm sạch rồi ướp nhiều lần với mạch nha và gia vị giấm đỏ, đường, muối, ngũ vị hương cho gia vị ngấm đều vào da.

3 mon vit 3

Khi nướng vịt, người đầu bếp phải cẩn thận xoay vịt theo 4 phía để ức, lưng và hai cánh vịt được chín vàng đều. Đặc biệt để thịt bên trong mềm, người ta sẽ cho nước vào trong bụng vịt, nước sôi sẽ giúp hầm bên trong thịt. Một con vịt quay hấp dẫn sẽ có lớp da chín màu bánh mật, giòn rụm vị béo mà không hề ngấy, phần thịt bên trong thì mềm như luộc.

3 mon vit 4

Đặc trưng của món vịt quay Bắc Kinh là da vịt mỏng, giòn mềm. Phần da vịt được ăn kèm với bánh tráng bột mì dày, dưa leo, gốc hành lá chấm với nước tương hải sản – loại nước tương đặc sánh có vị mặn, beo béo, hăng hăng rất ngon. Tiếp đó là thưởng thức đến phần thịt vịt vừa mềm vừa ngọt, được xắt thành miếng vuông nhỏ, cuốn với bắp cải chấm cùng hắc xì dầu hoặc xé ra để chế biến thành nhiều món hấp dẫn như súp tam tơ, mì xào, cơm chiên thịt vịt, vịt xào rau củ… Phần xương vịt còn lại được hầm để nấu món súp.

Nếu Bắc Kinh thu hút tín đồ ẩm thực gần xa bởi món Vịt quay thì ở Tứ Xuyên lại có món Vịt xông khói hay còn gọi là vịt xông khói hương trà, hay Vịt “long não”. Đây là một món ăn tinh túy của ẩm thực Tứ Xuyên được chế biến bằng cách hun khói nóng một con vịt ướp trên lá trà và lá long não. Một số sách nấu ăn và các tác giả đã sử dụng lá và cành của cây long não để xông khói do tên món ăn, nhưng đây là một sự hiểu lầm. Do cách chế biến phức tạp, vịt xông khói thường được ăn trong các bữa tiệc hoặc các sự kiện lễ hội hơn là một món ăn gia đình hàng ngày.

Giai thoại gắn liền với món vịt long não này là vào thời Từ Hy Thái hậu, bà đã cho mời vị đầu bếp nổi tiếng tại Thành Đô là Huỳnh Tấn Lâm vào dâng thiện với các món ăn mới lạ. Vị đầu bếp này đã làm món vịt hun khói với lá long não và lá trà, vốn là những loại lá thường thấy ở Tứ Xuyên để làm món vịt hun khói lá long não. Món vịt với vị thơm đặc biệt của loại lá trà này được Từ Hy Thái hậu khen ngợi hết lời. Sau khi trở về quê nhà Thành Đô, món ăn này cũng trở nên nổi tiếng và là một trong những món vịt đặc sản của tỉnh Tứ Xuyên từ công thức của người đầu bếp này.

3 mon vit 1a

Để tạo nên món này, vịt được sử dụng là vịt hồ, có đầu nhỏ, ốm. Đồng thời, vịt phải là vịt cái, thịt mềm tươi hơn vịt đực. Điều đặc biệt, nếu các món khác chỉ cần 30 phút đến 2 tiếng đồng hồ để hoàn thành thì món ăn này phải mất đến vài ngày. Đầu tiên vịt sẽ được ướp và hun khói bằng lá trà để hấp thụ những hương vị mới. 

Sau khi hun khói thịt vịt trong 1 giờ, người ta thêm một công đoạn nữa mới ra món. Vịt đầu tiên được ướp trong vài giờ với sự kết hợp điển hình của hạt tiêu Tứ Xuyên nguyên hạt hoặc nghiền nát. Người chế biến sẽ mổ bụng vịt (rạch một đường thẳng từ ức xuống bụng), rửa sạch để ráo nước và đổ hết nguyên liệu làm nước sốt vào nồi, đun sôi rồi vặn nhỏ lửa đun tiếp khoảng 40 phút. Cho vịt vào, đậy vung ninh khoảng 20-25 phút cho vịt gần nhừ rồi lấy ra. Sau khi ướp, vịt được chần nhanh qua nước nóng để da săn lại, sau đó quấn khăn và hong khô. Bước này đảm bảo da vịt không bị đắng trong quá trình hun khói. Sau đó, một chiếc chảo được chuẩn bị để hun khói vịt với lá trà đen. Sau khi xử lý bằng khói khoảng 10-15 phút, vịt sau đó được hấp thêm 10 phút trước khi chiên ngập dầu trong dầu thực vật cho đến khi da giòn.

3 mon vit 2

Đun nóng dầu phộng trong chảo, cho trà vào xào cho thơm rồi cho dần đường vàng vào, vừa rắc vừa khuấy, khi có khói vàng sủi lên thì lập tức đặt vỉ nướng lên trên và trải vịt đã ninh lên vỉ nướng, nêm muối, vặn nhỏ lửa hun khoảng 10-15 phút cho ngấm gia vị rồi lấy ra chặt miếng vừa dùng. Căn cứ vào khối lượng vịt để định lượng gia vị và thời gian hầm vịt. Có thể chặt miếng vịt trước khi xếp lên vỉ nướng để xông khói, để miếng vịt thơm đậm hơn, nhưng thời gian xông khói sẽ ngắn hơn. Có thể xông nguyên phần ức vịt hoặc ức ngỗng sẽ tiết kiệm thời gian hơn với gừng, tỏi và muối, với phần lớn được xát bên trong khoang của con vịt. Để tăng hương vị, đôi khi nước sốt xoa được cho thêm với hạt tiêu đen, lá trà và lá long não.

Nằm trong danh sách các món vịt “danh bất hư truyền” của ẩm thực Trung Hoa, không thể thiếu cái tên Vịt Quế Hoa. Đây là món ăn truyền thống vào mùa trung thu ở Nam Kinh. 

3 mon vit 5

Món vịt luộc có tuổi đời trên 2.000 năm lịch sử này lại gắn liền với tiết trời thu mát mẻ bởi vào thời điểm mùa thu, vịt thường nhiều thịt, ít mỡ và các thớ thịt chắc nịch. Ngoài cái tên dân dã vịt luộc Nam Kinh, món này còn có một tên khác là vịt Quế Hoa bởi loại vịt này đặc biệt thơm ngon vào mùa thu, khi hoa quế nở rộ, đồng thời khi nhắm cùng rượu Quế Hoa.

Người đầu bếp sẽ chọn ra những con vịt ngon nhất, làm sạch, xát muối khử mùi hôi rồi tiến hành ướp chúng trong hỗn hợp nước sốt khoảng 2 giờ để gia vị ngấm sâu vào mọi ngõ ngách. Khi ăn, vịt sẽ được hấp chín để có được hương vị thơm ngon, lôi cuốn kỳ lạ. 

Dư vị của các món vịt sẽ đọng lại mãi sau mỗi lần ăn, vì vậy nếu có cơ hội du lịch Trung Quốc, du khách hãy một lần đến những nhà hàng chuyên nghiệp để thưởng thức nhé!

hoan quan vuong thua an 8

Vương Thừa Ân – vị hoạn quan có tấm lòng trung quân trong thời nhà Minh

Trong thời cổ đại ở Trung Hoa, Hoạn quan (hay Thái giám) là người “khuyết thiếu, không hoàn hảo”, họ không thể được chôn cất trong Hoàng lăng nghiêm trang, thần thánh. Vậy mà trong Hoàng lăng nhà Minh lại có một lăng mộ của một vị hoạn quan, tên ông là Vương Thừa Ân.

Vương Thừa Ân (19/3/? – 25/4/1644) là một hoạn quan sống vào cuối triều Minh, là người hầu cận trung thành của Minh Tư Tông Chu Do Kiểm (Sùng Trinh Hoàng đế). 

Ban đầu, Vương Thừa Ân đi theo thái giám Tào Hóa Thuần, đây cũng coi như thầy giỏi có trò hay. Tào Hóa Thuần là người biết điều và khôn khéo, làm việc hiệu quả chặt chẽ, nên rất được Hoàng đế Sùng Trinh tin tưởng coi trọng, cũng vì vậy nên Tào Hóa Thuần cũng giúp vua Sùng Trinh làm nhiều việc quan trọng. Sau này khi Tào Hóa Thuần vì sức khỏe suy yếu phải từ chức, nhờ có sự tiến cử của ông nên Vương Thừa Ân bắt đầu bước lên con đường của riêng mình. Từ đây, Vương Thừa Ân trở thành thái giám thân tín của Sùng Trinh hoàng đế khi chỉ mới 27 tuổi, và được đề bạt lên vị trí Thái giám ghi chép ở Tư Lễ giám. Trong chế độ quan lại thời nhà Minh, vị trí Thái giám ghi chép ở Tư Lễ giám là vị trí rất được kính trọng, trong tay có quyền phê hồng tấu chương.

hoan quan vuong thua an 4

Mặc dù, Vương Thừa Ân trong tay nắm đại quyền trong triều, có thể hô mưa gọi gió, chỉ cần ông nói mấy câu trước mặt Hoàng đế thì quan đại thần cũng gặp tai họa. Tuy vậy, Vương Thừa Ân vẫn đối xử khiêm tốn lễ độ với người khác, các đại thần trong triều cũng vì vậy mà khen ngợi ông. Quan trọng hơn là, Vương Thừa Ân có tấm lòng trung quân, ông luôn một lòng trung thành tận tâm với Sùng Trinh Đế, cũng chính vì phẩm chất này nên ông được người đời sau tôn trọng.

Vào năm Sùng Trinh thứ 17, Lý Tự Thành xưng đế ở Tây An, sau đó Lý Tự Thành dẫn theo quân Đại Thuận đi theo đường Sơn Tây quét qua nhiều châu phủ, chỉ trong vòng 2 tháng đã đánh tới thành Bắc Kinh. Trước đó, Sùng Trinh Đế đã từng nhận được thư nghị hòa của Lý Tự Thành, ý chính là nếu Sùng Trinh Đế chấp thuận để Lý Tự Thành làm Thiểm Tây Vương, đồng thời chi ra trăm vạn lượng bạc làm quân phí, Lý Tự Thành sẽ chủ động lui quân về Hà Nam, đồng thời giúp triều Minh tiêu diệt quân Thanh. Lá thư nghị hòa này làm dấy lên sự phản đối kịch liệt của quần thần trong triều, sau khi thương thảo với quan viên thì lá thư nghị hòa này đã bị từ chối, Sùng Trinh Đế khi ấy muốn triệu Ngô Tam Quế về kinh thành, nhưng lại bị Thủ phụ Trần Diễn hết sức ngăn cản, sau đó thì thế cục hoàn toàn mất khống chế.

Khi quân đội của Lý Tự Thành bao vây tấn công Bắc Kinh, các vị đại thần trước đó ra sức phản đối phong Lý Tự Thành làm Thiểm Tây Vương nay không dám hé răng nửa lời, quân thủ thành Bắc Kinh mất khả năng chống trả, Sùng Trinh Đế bấy giờ coi như thấy rõ bộ mặt thật của bá quan văn võ trong triều.

hoan quan vuong thua an 2

Trước sự tấn công mạnh mẽ của quân đội Lý Tự Thành, Sùng Trinh Đế đã trao trách nhiệm phòng thủ Bắc Kinh cho Vương Thừa Ân. Không phụ lòng tin tưởng của Sùng Trinh Đế, Vương Thừa Ân tự mình lên tường thành chỉ huy quân đội kháng địch, dũng cảm giết địch, thậm chí còn đích thân khai pháo bắn chết nhiều binh sĩ của quân Đại Thuận. Nhưng con đê dài cũng sập vì tổ kiến, khi ông cố gắng nỗ lực tử thủ bảo vệ thành trì thì những người khác lại lén lút bỏ chạy, chẳng khác gì đem thành trì trao tận tay cho giặc.

Mấy giờ sau, buổi chầu cuối cùng của nhà Minh diễn ra, khi Sùng Trinh Đế lòng đầy lo lắng bước vào điện lại phát hiện trên điện trống không, bá quan văn võ không một ai đến chầu, Sùng Trinh Đế đáy lòng nặng trĩu, ông biết vương triều nhà Minh đã tận.

Sùng Trinh Đế biết kiếp nạn này khó thoát, vì để bảo vệ thể diện Hoàng gia, ông đã đưa ra một quyết định tàn nhẫn, đó là ban chết cho Chu Hoàng hậu và phi tần, tự mình giết Công chúa Chiêu Nhân, lệnh cho người cải trang cho ba vị Hoàng tử rồi đưa chạy trốn khỏi Hoàng cung, giúp Hoàng thất nhà Minh lưu lại hương hỏa và hy vọng.

Một Sùng Trinh Đế đã gần như điên dại, thất tha thất thểu đi về hướng Môi Sơn sau Tử Cấm Thành, bên cạnh chỉ có Vương Thừa Ân theo cùng. Ông tìm một cành cây cong, đứng dưới cây bi thảm than rằng: “Thần tử hại ta!”. Câu nói này quả thực đã phản ánh lại tâm trạng của Sùng Trinh Đế lúc bấy giờ, khi ông hoàn toàn thất vọng với tất cả bá quan văn võ trong triều.

hoan quan vuong thua an 3

Sùng Trinh Đế để trần chân trái, tự vẫn mà chết, khi ông tuẫn thân vong quốc mới chỉ 33 tuổi. Vương Thừa Ân sau khi tiễn đưa Sùng Trinh Đế đoạn đường cuối cùng lại không chọn cách chạy trốn, mà phẫn uất tự vẫn theo Sùng Trinh Đế dưới cây.

Sau khi Lý Tự Thành tấn công vào Tử Cấm Thành, việc đầu tiên ông ta làm là tìm kiếm Sùng Trinh Đế, xác định xem Sùng Trinh Đế đã chết hay chưa, nhưng Lý Tự Thành lật tung cả thành mà vẫn không thấy tung tích Sùng Trinh Đế. Đến ngày thứ ba tìm kiếm thì nhận được tin phát hiện thi thể của Sùng Trinh Đế trong núi Cảnh Sơn (tên gọi ngày nay của núi Môi Sơn). Sau đó, Lý Tự Thành mang thi thể của Sùng Trinh Đế về an táng cạnh phần mộ của phi tần của ông, đổi tên thành Tư Lăng. Không chỉ vậy, Lý Tự Thành còn mang thi thể của Vương Thừa Ân an táng tại lối vào lăng mộ của vua Sùng Trinh để ông có thể tiếp tục bảo vệ chủ của mình như trước đây.

hoan quan vuong thua an 5

Mộ phần của Vương Thừa Ân được xây dựng khang trang, mộ phần có ba phiến bia đá, tấm phía Đông khắc: “Vương Thừa Ân chi mộ”. Điều khiến người ta kinh ngạc là phần chân đế của phiến bia đá này, bên trên được khắc một bức phù điêu sống động như thật, đề tài trên bức phù điêu là “Long mã phụ thư” và “Tê ngưu vọng nguyệt” được lựa chọn kỹ lưỡng. Phiến bia đá thứ hai có khắc bia văn hơn 800 chữ, nội dung được đích thân vua Thuận Trị đề bút. Phiến bia đá thứ 3 cũng là tấm đặt gần phần mộ nhất được khắc bia văn 240 chữ, nội dung do Khang Hi Đế đích thân soạn thảo, mục đích nhằm để ca ngợi Vương Thừa Ân “trung tâm với chủ, hi sinh quên mình”, đồng thời bên trên có khắc bốn chữ “ngự chế tinh trung”. Ngày nay, Khu mộ Vương Thừa Ân đến nay vẫn được bảo tồn khá nguyên vẹn.

Vương Thừa Ân tuy chỉ là một thái giám, nhưng trong ông toát ra phẩm chất trung thành, không sợ kẻ thù khiến người khác khâm phục, bất cứ một triều đại hay quốc gia nào cũng đều cần những người trung thành như vậy.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về lịch sử triều đại của một đất nước đông dân nhất thế giới này. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn thì hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! Chúc du khách có một chuyến đi vui vẻ và thú vị!

hoan quan luu can 7

Lưu Cẩn – Hoạn quan mê tiền cực độ, giàu có nhất lịch sử Trung Hoa cổ đại

Lưu Cẩn từng được mệnh danh “Hoàng đế đứng”, là một trong những hoạn quan nổi tiếng nhất trong lịch sử Trung Quốc thời nhà Minh. Từng sánh ngang với tên tuổi của đại tham quan Hòa Thân về mức độ giàu có, hoạn quan khét tiếng này thậm chí đã lọt vào danh sách 50 nhân vật giàu nhất trong 1.000 năm qua.

Đại thái giám nhà Minh với danh hiệu “Hoàng đế đứng”

Lưu Cẩn (1451-1510) là một thái giám làm việc dưới thời nhà Minh và có mặt trong danh sách các hoạn quan “tác oai tác quái” nhất trong lịch sử Trung Quốc.

Hoạn quan này vốn có tên Đàm Cẩn, là người Hưng Bình, Hàm Dương thuộc tỉnh Thiểm Tây. Ông tin mình có khả năng ăn nói hùng hồn, vì vậy đã quyết định trở thành hoạn quan, vì ông coi đó là con đường tốt nhất để thành công. Sau khi trở thành hoạn quan, ông được hoạn quan Lưu Thuận nhận nuôi, và đổi tên thành Lưu Cẩn.

hoan quan luu can 1

Lưu Cẩn bắt đầu làm việc trong cung điện hoàng gia vào những năm thập niên 1480, nơi ông bắt đầu hợp nhất với một nhóm hoạn quan khác mà sau này trở thành “Bát hổ”. Năm 1492, ông được chuyển từ vai trò là người canh lăng mộ của Minh Hiến Tông sang công việc hầu hạ, phục vụ cho Đông cung Hoàng thái tử Chu Hậu Chiếu. 

Năm 1505, Minh Hiếu Tông qua đời vì bạo bệnh, Thái tử Chu Hậu Chiếu thuận lợi đăng cơ, trở thành Minh Vũ Tông. Từ đó, Hoạn quan Lưu Cẩn cũng thăng tiến một cách nhanh chóng. Ông trở thành người đứng đầu bộ đánh chuông và trống. Sau đó, Lưu Cẩn dần có thêm quyền lực và sự ảnh hưởng, và được biết đến như là thủ lĩnh của “Bát hổ”, bao gồm 8 thái giám lộng hành quyền lực nhất triều đình lúc bấy giờ: Lưu Cẩn, Mã Vĩnh Thành, Cao Phụng, La Tường, Ngụy Bân, Khâu Tụ, Cốc Đại Dụng và Trương Vĩnh.

Hầu hết các nhà sử học thời Minh và hiện đại đều coi sự trỗi dậy quyền lực của Lưu Cẩn là bạo ngược và mô tả ông là “tàn bạo, độc ác và xảo quyệt”. Ông trở thành Trưởng ban Nghi lễ, trong đó ông nổi tiếng với việc thay đổi các tấu chương được gửi đến và phản hồi từ hoàng đế. Điều này có nghĩa là về cơ bản, ông đã kiểm soát những gì hoàng đế biết và những gì hoàng đế đã phê duyệt. Sau đó, ông trở thành Tư lễ giám của các quần thần, và được biết đến vì nhận hối lộ từ các quan chức cấp cao. Ông cũng rất có ảnh hưởng trong quân đội. Ở đỉnh cao quyền lực của Lưu Cẩn, tất cả các hành động quân sự phải được ông chấp thuận, giúp ông có nhiều quyền lực hơn các tướng lĩnh.

hoan quan luu can 5

Sau khi tái lập Tây Xưởng và giao cho Cốc Đại Dụng quản lý, Lưu Cẩn đã thuyết phục hoàng đế tạo ra một Kho nội vụ (Nội xưởng), nơi sẽ giám sát các mối nguy hiểm trực tiếp lên ngai vàng và sự an toàn của hoàng đế. Kho này được làm giám sát viên cho hai kho kia, Đông và Tây, do đó củng cố quyền lực của Lưu Cẩn. Kho đã bức hại nhiều đối thủ chống đối với Lưu Cẩn và các chính sách của ông ta. Người ta ước tính rằng hơn 1.000 người đã bị giết trong Kho Nội vụ.

Lưu Cẩn cũng không ngừng tìm cách kết bè kết phái, liên tục củng cố thế lực của mình trong triều đình. Phe cánh của y không ngừng áp bức dân chúng, tham ô hủ bại, khiến triều đình ngày càng nhiễu loạn. Thậm chí, bách tính bấy giờ thường truyền tai nhau câu nói: “Thời nay có hai vị Hoàng đế, một người họ Chu ngồi trên ngai vàng, một người họ Lưu đánh cạnh ngai vàng”. Danh hiệu “Hoàng đế đứng” này không ai khác chính là Lưu Cẩn.

Cánh tay đắc lực của Hoàng đế hoang dâm số 1 triều Minh

Khi mới lên ngôi, Minh Vũ Tông tỏ ra là ông vua ngang ngược, đem cả chó khỉ lên điện Phụng Thiên, khiến triều đình náo loạn, mất hết không khí trang nghiêm.

8 hoạn quan hầu hạ hoàng đế, dẫn đầu là Lưu Cẩn ngày đêm phục vụ Minh Vũ Tông ăn uống vui chơi, đánh cầu đua ngựa,… Khi thấy vua chán những trò chơi này, Lưu Cẩn bày kế mở khách sạn, nhà hàng, kỹ viện… ngay trong hoàng cung. Các thái giám đóng vai ông chủ, người dân, còn Minh Vũ Tông giả làm thương nhân. Theo kịch bản, hoàng đế triều Minh mua đồ xong thì đi nhà hàng, sau đó vào kỹ viện say sưa, bạ đâu ngủ đó. Hoàng cung như biến thành một cái chợ nhỏ bởi mỗi lần vua “xuống phố vi hành”.

hoan quan luu can 4

Về sau, Lưu Cẩn lại tham mưu cho vua xây Báo Phòng ở ngay bên cạnh cung cấm. Gọi là “phòng” nhưng thực chất Báo Phòng có tới hơn 200 gian nhỏ, xây dựng mất hơn 5 năm mới hoàn thành để vua ăn chơi trụy lạc. Lưu Cẩn và đám hoạn quan “Bát hổ” ngày càng cổ xúy cho sở thích biến thái của vua. Bọn chúng cho người đi khắp nơi lùng bắt phụ nữ về cho vua “ân sủng”, có khi nhiều tới 10 xe chở người.

Đại thần trong triều nhiều lần khuyên can nhưng vua chỉ “nghe tai nọ lọt tai kia”. Nhiều lão thần chán nản mà từ chức về quê, có người vì can gián quá nhiều mà bị giáng chức chuyển đi nơi khác, chỉ còn lại đại thần Lý Đông Dương đối đầu với đám hoạn quan Lưu Cẩn.

Hoạn quan sở hữu khối tài sản khổng lồ

Không chỉ giúp Minh Vũ Tông ngày đêm vui thú, ăn chơi trụy lạc, hoạn quan Lưu Cẩn cũng có những toan tính riêng. Theo sử sách Trung Quốc, hoạn quan họ Lưu này đặc biệt quan tâm đến quyền lực và tiền bạc. Chỉ trong vòng 5 năm khi Minh Vũ Tông làm hoàng đế, Lưu Cẩn đã thừa cơ khuynh đảo triều chính nhà Minh.

Lưu Cẩn bắt đầu nhận hối lộ, tự ý đặt ra nhiều sưu cao, thuế nặng, tìm mọi cách tham ô từ các quan lại. Dù ai hối lộ ít hay nhiều, Lưu Cẩn đều không từ chối, thậm chí còn không ít lần còn gợi ý quan lại chuyện tiền bạc. Bất cứ vị quan lớn nhỏ nào thăng chức, muốn có được thánh chỉ thăng cấp thì phải nộp tiền hạ ấn cho Lưu Cẩn, nếu không đưa ra sẽ bị giáng cấp hay thậm chí là phải rời kinh thành. Ngược lại, những kẻ hối lộ cho hoạn quan họ Lưu nhiều tiền bạc, chẳng bao lâu sau sẽ nhanh chóng thăng quan tiến chức, thậm chí còn nắm giữ nhiều chức vụ quan trọng.

hoan quan luu can 3

Dưới những năm Chính Đức, Lưu Cẩn nhân cơ hội quan lại các nơi 3 năm vào kinh một lần để báo cáo công việc, liền trắng trợn đặt ra luật ngầm: Người nào có ít thì nộp 1.000 lượng bạc, nhiều thì nộp 5.000 lượng bạc, người nộp nhiều thì thăng chức, kẻ không nộp bị giáng chức. Cứ như vậy, Lưu Cẩn lợi dụng quyền lực và chức vụ của mình để thiết lập một mạng lưới tham ô trắng trợn với nhận hối lộ với mức giá thuộc hàng “cắt cổ”.

Thói xảo quyệt, hống hách làm càn của Lưu Cẩn đã khiến các quan lại trong triều và một hoạn quan tên Trương Vĩnh vô cùng căm phẫn, tìm cách lật đổ. Năm 1505, Trương Vĩnh qua điều tra đã nắm được nhược điểm chí mạng của Lưu Cẩn, đồng thời khéo léo lợi dụng những chứng cớ này để tố cáo tội ác của ông ta với Minh Vũ Tông. Hết thảy những chứng cứ mà Trương Vĩnh tố cáo đều đủ để khép Lưu Cẩn vào tội khi quân phạm thượng, xử chết ngàn lần cũng không hết tội.

Trong những chứng cứ Trương Vĩnh đưa ra, có bằng chứng phát hiện Lưu Cẩn làm giả ngọc tỷ, cất giấu vũ khí trái phép. Số châu báu, vàng bạc mà hoạn quan này tham ô có giá trị tương đương với hơn thu nhập tài chính của hơn 150 năm của thời kỳ đó cộng lại.

“Nhị thập nhị sử trát ký” của Thanh Triệu Dực cũng ghi lại, khi tra xét nhà Lưu Cẩn, triều đình tìm thấy hơn 250 vạn lượng vàng, hơn 5.000 vạn lượng bạc cùng các loại châu báu nhiều không kể xiết.

hoan quan luu can 6

Theo “Kế tục kỷ văn”, con số thống kê được ghi nhận vào năm Gia Tĩnh thời nhà Minh cho thấy tài sản của Lưu Cẩn kỳ thực phải lên tới con số 120.585 vạn lượng vàng và 259 vạn lượng bạc. Chỉ riêng số bạc trong gia tài ấy cũng đã gấp 6 lần quốc khố Minh triều vào thời điểm đó.

Vào năm 2001, tờ The Wall Stress Journal Asia đã đưa Lưu Cẩn vào danh sách 50 người giàu có nhất thế giới trong vòng 1.000 năm qua. Gia tài của thái giám này cũng sánh ngang với nhiều nhân vật lớn như Thành Cát Tư Hãn, Hòa Thân, Tống Tử Văn…

Kết đắng cho hoạn quan tham lam

Sau khi nhận được chứng cứ tố cáo của Trương Vĩnh, Hoàng đế Minh Vũ Tông vô cùng tức giận, ra lệnh lăng trì Lưu Cẩn. Hình thức xử tử ấy khiến phạm nhân phải chịu đau đớn từ việc bị tùng xẻo cho tới khi tắt thở.

Theo luật pháp thời nhà Minh, những kẻ mắc trọng tội sẽ bị xử lăng trì, tội càng nặng thì số lần cắt càng nhiều. Riêng trường hợp của Lưu Cẩn, vị “Hoàng đế đứng” khét tiếng một thời ấy phải chịu tổng cộng 3.357 nhát lăng trì và tiến hành trong vòng 3 ngày.

Vào ngày hành hình thứ nhất, Lưu Cẩn phải nhận 357 dao, sau khi đưa về nhà lao vẫn có thể húp hết một bát cháo lớn. Những ngày sau đó, số đao mà kẻ này phải nhận lên tới hàng nghìn, cuối cùng khiến Lưu Cẩn chết trong đau đớn.

Trên đây là thông tin thú vị về Lưu Cẩn – hoạn quan quyền lực và gian ác khét tiếng một thời trong lịch sử Trung Hoa cổ đại. Nếu du khách là người có niềm đam mê với văn hóa, lịch sử của đất nước Trung Hoa thì hãy đặt cho mình một Tour Trung Quốc nhé! Chắc chắn du khách sẽ có được những sự hiểu biết thú vị khi đặt chân đến vùng đất rộng lớn này.

9 mon che 10

9 món chè bổ dưỡng nên thử trong chuyến du lịch Trung Quốc

Khi nhắc tới các món chè Trung Hoa, chúng ta sẽ thấy rằng bất kỳ một món nào cũng đều mang đậm sự khác biệt so với chè Việt Nam. Chúng không chỉ đặc trưng từ mùi vị, chế độ dinh dưỡng mà đến cái tên cũng độc đáo. Đồng thời họ chú trọng vào chè với sự hấp dẫn và thanh mát cho cơ thể hơn là vị ngọt.

Chè mè đen

Đứng đầu trong danh sách các món chè được yêu thích nhất ở Trung Hoa, đó là chè mè đen, với vẻ ngoài giản dị đặc quánh một màu đen thẫm, vẫn luôn đủ sức hấp dẫn đối với mọi thực khách. 

9 mon che 1

Nguyên liệu nấu món chè này không hề phức tạp với hạt vừng đen nấu cùng bột gạo cho dẻo, vị ngon đến từ chính cái bùi bùi rất nhẹ của hạt vừng chất lượng, còn tươi, không chút ẩm mốc nào.

Chè mè đen đúng chuẩn không quá ngọt, chỉ cần một thoáng đường nhẹ để giữ nguyên hương vị tươi mới của vừng. Chính vì đặc trưng thơm béo mà vẫn thanh tao mà món này phù hợp với khẩu vị của nhiều người, một bát chè nhỏ xíu chẳng có nhiều màu sắc hấp dẫn, nhưng chính cái dáng vẻ dẻo mịn nóng hổi kia đã đủ sức lôi kéo bao nhiêu con người hảo ngọt.

Chè trứng hồng trà

Đây là công thức chè khá lạ lẫm với phong cách truyền thống của ẩm thực Việt, khi dùng nguyên liệu trứng gà, là nguyên liệu vốn chỉ nấu món mặn hay làm bánh, để đưa vào chè. Tuy nhiên, với ẩm thực Trung Hoa thì đó là điều quen thuộc, chẳng hạn như với món chè trứng hồng trà độc đáo này.

Theo quan niệm của người Trung Hoa, món chè này có tác dụng bổ phổi, an thần, giúp thần sắc tươi tắn, thư thái. Như vậy, nó vừa tốt cho sức khỏe, vừa lợi cho sắc đẹp. Tuy nhiên, để có món chè ngon, bạn phải chịu khó bỏ nhiều thời gian và công sức. Trước tiên là công đoạn nấu trà cho ra hết nước cốt bằng cách túm trà vào túi vải, đun riu riu trong nồi nước. Trứng gà luộc, dùng muỗng đập nhè nhẹ bên ngoài cho vỏ trứng nứt ra rồi đem luộc trong nước trà và đường liên tục 2 giờ không mở nắp. Cuối cùng, bóc hết phần vỏ trứng ra, bóc hết phần vỏ bên ngoài rồi lại thả vào nồi.

9 mon che 2

Món chè khi nấu xong sẽ có màu nâu đen đỏ trông rất bắt mắt, trà và đường thấm sâu vào trứng nên mất hết mùi tanh. Vị béo bùi của trứng hòa quyện với “nước trà” màu đen óng ánh, để lại cảm giác khó quên và lạ lẫm.

Món chè này có thể ăn nóng hoặc lạnh đều ngon và thường có mặt trong nhiều nhà hàng, các bữa tiệc của người Trung Hoa.

Chè hột gà bột năng

Lại có thêm một món chè được chế biến từ trứng gà – Chè hột gà bột năng. Tuy nhiên, chè hột gà củ năng chỉ cốt lấy cho thật khéo phần lòng đỏ tươi béo ngậy, còn phần lòng trắng nấu chín đã được quyện cùng vị ngọt của củ năng, với cái thơm của lá dứa làm át hẳn mùi tanh. Công thức này có thể thay trứng gà bằng trứng cút, chú trọng lòng đỏ là phần giàu dinh dưỡng và không dính chút vị tanh nào. 

9 mon che 3

Món chè này có hai cách nấu. Cách thứ nhất là đun sôi nước, đường, một ít bột năng để tạo độ sánh, sau đó cho hột gà đánh tan vào để tạo những sợi “vân mây”. Cách nấu này gần giống như kiểu cho hột gà vào súp cua mà chúng ta vẫn thường làm. Có thể du khách nghĩ hột gà nấu kiểu này sẽ không dễ ăn chút nào nhưng thực tế, món chè vẫn rất ngon, đặc biệt thích hợp để ăn nóng. Hơn nữa, nấu món này lại rất nhanh gọn, không tốn nhiều thời gian.

Cách nấu thứ hai có phần kỳ công hơn khi đảm bảo lòng đỏ trứng gà còn vẹn nguyên trong bát chè năng sánh đặc, trông giống như một mặt trời bé con. Lòng trắng thì đã được nấu cùng bột củ năng sánh dẻo. Lúc này, lòng đỏ được cho vào bát rồi mới múc chè đổ vào. Khi ăn, thực khách cứ thế mà khuấy rồi thưởng thức dần, lòng đỏ còn tái thơm béo ngậy.

Chè đu đủ tiềm

Món chè đặc sản này cũng được liệt vào hàng mát, bổ của ẩm thực Trung Hoa truyền thống. Món chè ngọt thanh rất mát, giải độc, nhuận trường và tốt cho da này được nhiều phụ nữ rất thích.

9 mon che 4 e1634122678590

Nguyên liệu chỉ gồm đu đủ chín (vừa chín tới), đường phèn, táo tàu, nấm tuyết nhưng không nấu mà đem hấp cách thủy. Món này trời lạnh thì có thể ăn nóng mà trời nóng thì có thể ăn lạnh, kiểu gì cũng ngon, bổ, hấp dẫn vô cùng.

Chè ỷ

9 mon che 5

Chè ỷ hay còn gọi là chè Tiều, là một phiên bản của chè trôi nước. Thường thì những viên chè ỷ sẽ bé hơn, bên trong là đủ loại nhân, có cả đậu xanh, đậu đen, đậu đỏ nghiền, đậu phộng. Chè cũng được nấu trong nước đường có gừng thơm ấm, được rắc mè rang vàng thơm khi ăn. Trong ngày cưới, người Hoa cũng nấu món chè này cho cô dâu và chú rể ăn như một lời chúc hạnh phúc vẹn tròn. 

Chè đậu đỏ hạt sen

Đây là món chè được người dân bản xứ gọi là chè may mắn và được dùng nhiều trong ngày cưới. Ý nghĩa của chè đậu đỏ hạt sen như một lời chúc viên mãn đến cuộc sống bình dị đời thường. Hơn nữa, món chè này còn là món ăn làm ấm lòng người nhanh nhất vào thời tiết se lạnh cuối năm.

9 mon che 6

Để nấu được chè đậu đỏ hạt sen, người ta cần các nguyên liệu gồm: đậu đỏ, hạt sen tươi (đã bỏ tim) và đường phèn. Sau đó, đem đậu đỏ rửa sạch với nước rồi ngâm trong một khoảng thời gian. Khi đã sơ chế xong, họ cho hạt sen và đậu đỏ vào nấu cùng nước. Khi thấy các nguyên liệu trong nồi bắt đầu chín thì thêm đường vào và đánh đều tay để đường nhanh tan, không bị vón cục. Cuối cùng tắt bếp và múc chè đậu đỏ hạt sen ra bát là có thể thưởng thức được rồi.

Chè Sâm bổ lượng

Sâm bổ lượng hay còn gọi là chè sâm bổ lượng, là một món chè ngọt có nguồn gốc Quảng Đông và cũng phổ biến tại Quảng Đông, Hồng Kông, Ma Cao, và Hải Nam. Mặc dù công thức có thể khác nhau, sâm bổ lượng thường có nhãn nhục (cơm trái long nhãn phơi khô), hạt bo bo, hạt sen, phổ tai (một loại rong biển), táo tàu đỏ, hoài sơn (khoai mài) cùng nước, đường phèn và đá bào. 

9 mon che 7

Công dụng chính của chè sâm bổ lượng chính là thanh nhiệt, an thần, bồi dưỡng cơ thể. Nó cũng là vị thuốc chữa rất nhiều bệnh vì các thành phần trong sâm bổ lượng đều là thuốc quý như nhãn nhục, đại táo, hạt sen, bo bo, tuyết nhĩ, phổ tai, bạch quả.

Đậu hũ hạnh nhân

Chè Trung Quốc thường ăn nóng, nhưng không phải vì thế mà không có những công thức chè lạnh mát lòng mát dạ, hạ nhiệt ngày hè. Thoạt nhìn gần giống như món chè khúc bạch, nhưng đậu hũ hạnh nhân có nguyên liệu đơn giản và bổ dưỡng hơn rất nhiều.

9 mon che 8

Nếu như viên “đậu hũ” trong khúc bạch có cái ngầy ngậy của kem đánh thì đậu hũ hạnh nhân truyền thống chỉ là thạch nấu sữa cùng chiết xuất hạnh nhân đậm đặc, trên mặt rắc thêm vài lát hạnh nhân tươi giòn giòn.

Món thạch chè này ăn rất mát, mùi hương nồng nàn không “dễ chơi” nhưng quen rồi sẽ nghiện. Người ta tạo ra rất nhiều biến thể cho đậu hũ hạnh nhân, vừa là để thêm màu sắc bắt mắt vừa tăng độ dinh dưỡng, thường thấy nhất là đậu hũ hạnh nhân nấu đu đủ, lê, bạch quả,…

Quy linh cao

Cũng là một loại thạch, Quy linh cao làm người ta liên tưởng tới sương sa sương sáo truyền thống của Việt Nam. Thế nhưng, nguyên liệu chính của Quy linh cao không phải lá, dù cũng có chút bột rau câu để tạo độ đông. Đặc trưng của món này nằm ở hai thành phần chính là thổ phục linh cùng bột mai rùa hộp ba vạch, bên cạnh đó còn có cam thảo cùng nhiều thành phần phức tạp khác không kém gì một công thức thuốc Bắc.

9 mon che 9

Ngày nay, cao quy linh thường không có bột mai rùa hộp ba vạch do loài này đang bị đe dọa tuyệt chủng, nhưng món thạch chè không vì thế mà mất đi lượng dinh dưỡng dồi dào. Quy linh cao đắng, khó ăn, thường được người lớn tuổi ưa thích hơn. Ngày nay, người ta thường ăn món thạch này với sữa hoặc mật ong để giảm độ đắng. Dù “đỏng đảnh” như vậy nhưng quy linh cao vẫn rất được người Trung Hoa ưa chuộng nhờ công dụng bồi bổ tim gan, thanh nhiệt giải độc cùng hương vị là lạ khó quên.

Nếu đã quen với chè đậu, chè nếp nấu theo kiểu Việt thì hẳn du khách sẽ thấy lạ lẫm và không kém phần thích thú với vài món chè theo phong cách Trung Hoa kể trên. Vậy nên, nếu có dịp du lịch Trung Quốc, du khách hãy nên thử để có những trải nghiệm ẩm thực thú vị nhé!

sui cao 4

Sủi Cảo – món ăn đặc trưng của Trung Quốc với rất nhiều ý nghĩa tốt đẹp

Sủi Cảo (hay “bánh tai”, “bánh chẻo”) là món ăn được làm với vỏ bằng bột mì cán mỏng với phần nhân được làm từ thịt hoặc rau trộn lẫn với nhau. Đây được coi là món ăn đặc trưng của Trung Quốc mang nhiều ý nghĩa tinh thần tốt đẹp.

Về nguồn gốc, món Sủi Cảo được cho là phát minh từ thời nhà Hán (25-220 Sau Công Nguyên) bởi Trương Trọng Cảnh – một thầy thuốc vô cùng nổi tiếng thời đó. Sủi Cảo ban đầu có tên là “tai mềm” vì nó được dùng để chưa chứng bệnh “tê buốt tai”.

Trong một lần về nhà vào mùa đông lạnh giá, Trương Trọng Cảnh thấy nhiều người nghèo khổ trên đường, không có áo ấm cũng như đồ ăn, ngoài ra họ còn bị ê buốt tai do lạnh, vì thế, ông liền nghĩ ra một bài thuốc bằng cách hầm thịt cừu, ớt và một số loại cây thuốc giúp làm ấm cơ thể. Ông luộc những chiếc bánh này lên cho vào một bát canh, rồi đưa đến người bệnh. Thời điểm này cũng là dịp Tết Nguyên Đán. Cũng từ đó trở đi người dân nơi đây để chào đón một năm mới cũng như những triệu chứng hồi phục sau buốc tai, mọi người đã dùng công thức của ông để chế biến món ăn này.

sui cao 2

Sủi cảo được tạo hình thành nửa vầng trăng với ý nghĩa tượng trưng cho sự may mắn. Nếu kéo dài hai đầu Sủi cảo hình bán nguyệt nối liền với nhau giống như một nén bạc tương trưng cho cuộc sống tiền bạc dư dả, sung túc. Ngoài ra, Sủi cảo còn được người ta in hình bông lúa mì trên vỏ bánh với mong ước một năm trồng trọt bội thu. Bởi thế với người Trung Quốc ăn Sủi cảo vào đầu năm sẽ đem đến nhiều điều may mắn và cuộc sống sung túc hơn.

Cách làm Sủi cảo cũng khá thú vị và mang nhiều ý nghĩa tốt đẹp. Quá trình chuẩn bị cầu kì nhất là băm thịt và rau. Khi băm nhân, dao và thớt chạm vào nhau phát ra tiếng rắn chắc. Theo quan niệm, băm nhân với thời gian càng dài tức là gói sủi cảo càng nhiều, tức là cuộc sống đầm ấm, khá giả.

sui cao 1

Bánh được làm từ loại gạo nếp ngon và xay nhuyễn cùng với một chút gừng tươi để tạo hương vị đặc biệt. Bột sau khi nhào nặn được cán mỏng thành những miếng hình tròn rồi cho nhân vào. Khi nước trong nồi sôi, bỏ sủi cảo vừa gói vào nồi rồi lấy vợt quấy đến đáy nồi để cho sủi cảo không bị dính nồi. Trong khi nấu, thường là phải cho thêm 3 lần nước lạnh, vì trong tiếng Trung, từ này đồng âm với “phúc đi rồi lại đến”. Nấu Sủi cảo thường từ 10-20 phút là chín.

Sủi cảo có thể làm được rất nhiều món như hấp, chiên, nấu canh. Đặc biệt, ăn Sủi cảo phải chấm với xì dầu thêm chút gừng và ớt thì mới dậy vị.

Trước kia, Sủi Cảo chủ yếu là món ăn trong ngày Tết, nhất là trong đêm giao thừa. Hàng năm vào đêm giao thừa, các gia đình người Hoa đều nhất định phải ăn Sủi Cảo. Việc ăn món ăn này cũng rất cầu kì, phải theo các bước tuần tự như nghi thức đã có từ lâu đời. Bát thứ nhất là để thờ cúng tổ tiên, tỏ lòng tôn kính cha ông quá cố. Bát thứ hai là để cúng thần thánh trong dân gian (ví như ông Táo). Đến bát thứ ba, cả gia đình mới bắt đầu ăn. Trong khoảng thời gian này, người cao tuổi trong gia đình còn lẩm nhẩm đọc bài vè truyền thống về ý nghĩa của món Sủi Cảo: “Ăn Sủi Cảo cầu được, ước thấy / Một chiếc Sủi Cảo hai đầu nhọn / Bỏ vào nồi thành trăm ngàn chiếc / Thìa vàng múc, bát bạc bưng / Đặt lên bàn thờ cúng tổ tiên / Thần tiên nhìn thấy cũng vui lòng / Quanh năm bốn mùa được bình an”.

sui cao 3

Cũng theo tục lệ, khi ăn Sủi Cảo, người Trung Hoa chỉ ăn số chẵn, không ăn số lẻ. Không ai ăn hết những chiếc Sủi Cảo được múc ra bát mình, cũng không ai múc sạch chỗ Sủi Cảo được làm xong từ xoong ra bát mà bao giờ cũng để lại mấy cái (số chẵn) với ngụ ý năm nào của cải cũng dư thừa, gia đình thịnh vượng.

Ngày nay, Sủi Cảo dần dần trở thành món ăn thường nhật của người dân Trung Hoa. Hơn thế, Sủi Cảo còn nhanh chóng vượt ra ngoài biên giới, có mặt ở hầu hết các quốc gia Châu Á và rất nhiều quốc gia khác trên thế giới. Ngoài dịp năm mới, nhiều gia đình cũng chuẩn bị bánh Sủi Cảo cho những dịp đặc biệt khác như: sinh nhật, các dịp lễ Tây như Giáng sinh hoặc Lễ Tạ Ơn. Cả gia đình cùng ăn Sủi Cảo tượng trưng cho sự đoàn tụ. Chủ nhà mời khách ăn bánh để tỏ lòng quý trọng và sự nhiệt tình.

Hi vọng với những thông tin mà chúng tôi vừa cung cấp sẽ giúp du khách hiểu hơn về món Sủi Cảo cũng như ẩm thực Trung Hoa. Đồng hành cùng chúng tôi trong Tour Trung Quốc, du khách sẽ có được nhiều trải nghiệm thú vị hơn khi khám phá nền ẩm thực của vùng đất này!

8 loai thuc pham quy hiem va dat do 9a

8 loại thực phẩm quý hiếm và đắt đỏ bậc nhất Trung Quốc

Ẩm thực Trung Hoa là một trong những nền ẩm thực lâu đời và phong phú nhất thế giới. Ngày nay, chúng ta có thể dễ dàng thưởng thức món ngon tại các quán ăn kiểu Hoa, nhưng hiếm ai có cơ hội nếm thử những loại thực phẩm quý hiếm và có giá đắt đỏ bậc nhất của đất nước này.

1. Cá Bahaba taipingensis

Tại Trung Quốc, loài cá này được gọi là Hoàng Thần Ngư (Cá miệng vàng) hoặc Bạch Hoa Ngư. Loài cá quý hiếm này sống trong  môi trường sống tự nhiên là biển mở, vùng biển nông, lòng biển nước bán thủy triều, bờ đá, và cửa sông.

8 loai thuc pham quy hiem va dat do 1

Với giá bán lên đến 3.000.000 NDT/con, cá Bahaba taipingensis xứng đáng là một trong những thực phẩm đắt nhất thế giới của Trung Quốc. Sở dĩ loài cá này có cái giá cắt cổ như vậy là do trong thịt cá có chứa tổng lượng axit amin umami rất lớn, do vậy nó vô cùng tốt cho sức khỏe con người. Thịt cá cũng có hương vị thơm ngon tuyệt vời. 

Hiện tại, loài cá này được liệt vào danh sách động vật được bảo vệ cấp quốc gia (cấp độ 2) tại Trung Quốc. Nếu đánh bắt trái phép, mua bán cá miệng vàng bừa bãi sẽ bị liệt vào hành động phi pháp. Vì vậy, người giàu cũng khó mà nếm được thứ thực phẩm quý giá này.

2. Vi cá mập

Nhắc đến vi cá mập hẳn du khách sẽ nghĩ nó là một món quý tộc chỉ dành cho vua chúa trong các bộ phim lịch sử xa xưa. Thế nhưng, ngoài đời thật, du khách cũng có thể thưởng thức món ăn đó nếu du khách có điều kiện về tài chính. Bởi mức giá của nó lên tới 16.000 USD/kg với loại vi cá mập quý hiếm.

8 loai thuc pham quy hiem va dat do 2

Chế biến vi cá mập khá cầu kì, biến những mảnh vi cá mập thành những sợi cước cá trắng tinh. Vi cá mập có thể nấu vi cá thành súp cùng với các loại khác để bồi bổ cơ thể. Món ăn này cũng được dùng để trị bệnh viêm khớp và cực tốt với những người bệnh, người già cả,…

3. Hasma

Trong nền y học cổ truyền Trung Quốc, có một vật liệu quý được sử dụng từ thời xa xưa, từng là cống phẩm quý hiếm vào thời nhà Minh, nhà Thanh có tên gọi là Hasma hay mỡ lấy từ xung quanh ống dẫn trứng của ếch cỏ Asiatic (loài ếch sống ở các khu rừng ở tỉnh Cát Lâm và Hắc Long Giang). 

Vào mùa hè ấm áp, ếch cỏ Asiatic sẽ cố gắng dành thời gian hấp thụ chất dinh dưỡng để chuẩn bị cho việc ngủ đông. Đặc biệt là những con ếch cái khi đến tuổi sinh sản (khoảng 3 năm tuổi) sẽ phải tích trữ nhiều chất béo hơn để dành cho mùa giao phối vào mùa xuân năm sau. Đây cũng chính là giai đoạn mà người ta sẽ đi bắt những con ếch cái về để thu hoạch Hasma. Quá trình lấy được Hasma cũng không hề đơn giản. Những con ếch cái đủ tuổi khi được bắt về sẽ bị xỏ dây phơi khô tự nhiên khoảng 20-30 ngày cho đến chết và khô lại. Lúc này người ta mới cẩn thận mở bụng ếch ra để bóc tách mô mỡ nằm xung quanh phần ống dẫn trứng của chúng.

Thành phần chính của Hasma chủ yếu là protein, có rất ít chất béo và không chứa cholesterol. Ngoài ra, chúng còn chứa một lượng dồi dào collagen, estrogen, vitamin và những nguyên tố vi lượng khác.

8 loai thuc pham quy hiem va dat do 3

Trong y học cổ truyền, người ta thường dùng Hasma để bồi bổ cho cơ thể, chống lão hóa, đặc biệt là dưỡng nhan sắc cho phụ nữ. Hasma được cho là có thể giúp phụ nữ mang thai tránh rạn da, tăng cường sinh lực, giảm mệt mỏi trong suốt thai kỳ. Chính vì điều này, Hasma được mọi người ví von là “vàng mềm” trong nhân gian, là “nhân sâm động vật” và từ hàng trăm năm nay, chúng trở thành thứ nguyên liệu quý giá trong y học lẫn cuộc sống.

Người Trung Quốc có rất nhiều món ăn độc lạ, đặc biệt là món tráng miệng bổ dưỡng được chế biến từ Hasma. Hasma sau khi ngâm trong nước có thể tăng kích thước đến 100-200 lần. Lúc này người ta sẽ loại bỏ các tạp chất còn sót lại trong đó như máu, ống dẫn trứng… rồi mới đem đi chế biến thành món ăn. Những món tráng miệng nổi tiếng từ Hasma có thể kể đến đu đủ tiềm Hasma, Hasma đường phèn kỷ tử, Hasma táo đỏ hạt sen, Hasma nấu sữa tươi…

Hiện nay, tại Trung Quốc, Hasma được bán với giá rất cao, lên tới 36.000 NDT/kg (tương tương khoảng 124.000.000 VNĐ/kg).

4. Yến sào

8 loai thuc pham quy hiem va dat do 4

Yến sào từ lâu đã là món ăn vô cùng quý hiếm mà chỉ những bậc vua chúa của Trung Quốc mới được thưởng thức. Nó được ví như trứng cá muối của phương Đông. Nó được lấy từ tổ của chim yến cheo leo trên các vách đá, những chiếc tổ này được làm bằng nước dãi của chim yến rất bổ dưỡng. Do việc tìm kiếm nguyên liệu của món yến sào gặp nhiều khó khăn nên mối cân tổ yến có thể có giá lên tới 21.000-28.000NDT (khoảng 69.000.000 – 92.000.000 VNĐ).

5. Trà Đại Hồng Bào

Trà Đại Hồng Bào có giá “đắt hơn vàng” vì được chiết xuất từ cây cổ thụ nằm cheo leo ở lưng chừng núi đá, vô cùng khó lấy trên núi Vũ Di thuộc tỉnh Phúc Kiến. Vũ Di Sơn với phong cảnh hùng vĩ từ nhiều thế kỷ nay đã nổi tiếng với những loại trà quý. Những cơn mưa chảy xuống vách núi đá vôi làm ngập các dòng suối hẹp và thác nước ở đây đã mang theo nguồn dinh dưỡng, khoáng chất phong phú cho những cây trà.

Cây cổ thụ Đại Hồng Bào nằm trong khu Cửu Long Khoa, nằm cheo leo trên vách núi Vũ Di dựng đứng. Cây chè có tuổi đời 350 năm này chỉ có vỏn vẹn 3 thân và 6 gốc. Chúng thậm chí còn được liệt vào danh sách di sản tự nhiên và văn hóa thế giới.

8 loai thuc pham quy hiem va dat do 5

Quốc trà Đại Hồng Bào được chế tạo một cách cực kỳ công phu, lá trà không bao giờ được phép chạm đất, chúng được hái bằng tay từ các bụi trà, làm khô, sàng lọc, phân loại và sấy bằng các phương pháp đặc biệt. Vì vậy, loại trà này không dùng phương pháp làm sạch thông thường như những loại trà phổ thông là rửa qua nước.

Năm 1998, trong lễ hội trà Đại Hồng Bào đầu tiên ở Trung Quốc, có người đã đấu giá 156.800 NDT chỉ để mua 20g loại trà này. Năm 2005, mức giá cho 20g trà đã lên tới 208.000 NDT, tương đương 10.400.000 NDT/kg (khoảng 37.400.000.000 VNĐ).

6. Saffron

Saffron là nhụy của hoa nghệ tây, là một trong những loại gia vị cao cấp và đắt nhất thế giới. Saffron thuộc họ diên vĩ, là loại cây bụi, chỉ cao chừng 20-30cm, có màu tím, nhụy màu đỏ cam. Saffron chỉ cho ra 3-4 hoa/cây, mỗi hoa chỉ có 3 nhuỵ.

Hoa nghệ tây chỉ nở trong một khoản thời gian ngắn trong năm (cuối tháng 10 đến đầu tháng 11 dương lịch). Ngoài ra, quá trình thu hoạch nhụy hoa nghệ tây cũng tốn rất nhiều thời gian và công sức: để thu hoạch được 500g nhụy hoa tươi cần đến khoảng 3.6000 hoa nghệ tây, tương tự để thu nhặt được 200.000 sợi nhụy hoa khô (500g) cần đến 70.000 hoa nghệ tây.

8 loai thuc pham quy hiem va dat do 6

Nhụy hoa nghệ tây có rất nhiều chất đem lại sự công dụng đa dạng cho người dùng như: retinol, axit retinoic, retinal và các carotenoid tiền vitamin A, vitamin (B1, B2, B3, B6, B9, C), khoáng chất (Mangan, Sắt, Kali, Magie).  Bên cạnh các chất chính, trong nhụy hoa nghệ tây còn chứa tới hơn 150 hợp chất dễ bay hơi, ví dụ: Picrocrocin (được coi là hợp chất chính có tác dụng tạo ra hương vị đặc trưng của loại thảo dược này), Safranal (giúp mang lại một mùi thơm đặc biệt cho Saffron), Crocin (có vai trò hỗ trợ tạo nên màu cam đậm cho nhụy hoa nghệ tây, có tác dụng chống oxy hóa mạnh, đồng thời giúp bảo vệ, ngăn ngừa các tổn thương tự to đối với cơ thể)…

Với nhiều công dụng tuyệt vời cho sức khỏe con người và tính “khan hiếm” nên Saffron được mệnh danh là “vàng đỏ” phương Đông. Saffron đắt nhất có giá 40.000 NDT/kg (khoảng 138.000.000 VNĐ).

7. Sâm núi Trường Bạch

Khu vực núi Trường Bạch có bốn mùa rõ rệt, vào mùa không có tuyết bao phủ, lượng mưa vừa đủ, tỷ lệ che phủ rừng trên 90%, tầng đất mùn trong rừng râm mát, ẩm ướt, ánh nắng mặt trời,… tạo điều kiện đầy đủ cho sự phát triển của nhân sâm. Ngoài ra, kỹ thuật trồng trọt và phương pháp quản lý cũng vô cùng phức tạp, vốn đầu tư cũng lớn hơn nhiều so với quy trình trồng nhân sâm thông thường. Do đó, Sâm núi Trường Bạch có chất lượng vượt trội, hàm lượng Saponin cao hơn, hương vị mạnh mẽ và đặc biệt đại bổ cho sức khỏe. Và cũng chính vì vậy mà loại Sâm này chính là cực phẩm trong giới nhân sâm, có giá đắt đỏ hơn gấp trăm lần các loại sâm khác. Trước đây từng có người bán 80g Sâm núi Trường Bạch với giá khoảng 10.000.000 NDT (tương đương khoảng 34,5 tỷ VNĐ). 

8 loai thuc pham quy hiem va dat do 7

Tại Trung Quốc, Sâm núi Trường Bạch được cung cấp 4 lựa chọn là sâm que, sâm cắt lát, sâm núi và sâm tươi cho người dùng có thể lựa chọn tùy nhu cầu thưởng thức và sử dụng của mình. Người dùng có thể linh hoạt sử dụng sâm để ngâm rượu, dùng trong thực phẩm cho các món hầm, pha trà sâm và làm bột sâm. hầm, pha trà sâm và làm bột sâm.

8. Vải Qua Lục

Vải vốn là một loại hoa quả phổ biến được nhiều người yêu thích không chỉ ở Trung Quốc mà ngay tại Việt Nam. Tuy nhiên, vải Qua Lục tại Trung Quốc lại được xem là một trong những loại quả có giá cao nhất thế giới. Đây là một giống vải có xuất xứ từ khu Tăng Thành, Quảng Châu. Quả tròn lẳn, khi chính có màu đỏ tím và một dải màu xanh lục chạy xuyên suốt vỏ, vì vậy được đặt tên là Qua Lục. Khi ăn có vị ngọt thanh đặc biệt.

8 loai thuc pham quy hiem va dat do 8

Hiện nay, giống vải này còn rất ít và hiếm vì vậy giá của nó rất cao. Trong một phiên đấu giá tại Trung Quốc vào năm 2011, có 1kg vải Qua Lục đã được bán với giá lên đến 555.000 NDT (tương đương khoảng gần 2 tỷ VNĐ).

Vậy mới nói, chính những thực phẩm “đắt hơn vàng” này góp phần giúp cho danh tiếng nền ẩm thực Trung Hoa vang xa trên thế giới. Du khách hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi để có cơ hội khám phá nền ẩm thực đặc sắc của vùng đất này nhé!

phai khong dong 5

Không Động – một trong ngũ đại môn phái võ thuật Trung Hoa

“Không Động” được biết tới là môn võ có nguồn gốc từ Trung Quốc, rất nổi tiếng và có ảnh hưởng sâu rộng. Xuất hiện trong tiểu thuyết võ thuật Kim Dung với rất nhiều tuyệt kỹ võ công. Ở ngoài đời, phái Không Động tồn tại với lịch sử võ thuật Trung Hoa cả ngàn năm.

Ở Trung Quốc, có 5 môn phái võ thuật lớn nhất đó là: Thiếu Lâm, Nga Mi, Võ Đang, Côn Lôn và Không Động. Đây cũng là một phần văn hóa Đạo giáo của Trung Quốc. Đặc biệt Không Động là phái võ thuật ra đời sớm nhất. Sở dĩ môn phái này có tên gọi như vậy bởi vì được bắt nguồn từ ngọn núi Không Động nổi tiếng thuộc địa phận thành phố Bình Lương, tỉnh Cam Túc. Từ xa xưa, ngọn núi này đã được mệnh danh là: “Trung Hoa Đạo giáo đệ nhất sơn”.

Phái Không Động hấp thu tinh hoa của nhiều môn phái võ thuật khác của Trung Quốc, rồi tạo ra đặc trưng của mình về thủ pháp, kỹ thuật, hệ thống võ thuật. Phái Không Động chú trọng thực chiến, dùng kỹ năng võ thuật để rèn luyện sức khỏe và gia tăng công lực.

Phái Không Động ra đời từ thời Đường. Chưởng phái đầu tiên là Phi Hồng Tử, người Cam Túc, đã hấp thụ các điệu múa của vùng Đôn Hoàng, hình thành võ công cao thâm, là nền tảng quan trọng của võ thuật phái Không Động. Đến cuối đời Thanh thì phái Không Động đạt độ cực thịnh. Đến thời hiện đại, phái Không Động không còn được nhắc đến nhiều, khiến không ít người nghĩ môn phái này chỉ là sản phẩm tưởng tượng trong tiểu thuyết võ hiệp.

phai khong dong 1

Hiện nay, Không Động vẫn là danh môn chính phái, sử dụng kiếm thuật là chính. Ngoài ra, phái này còn sử dụng rất nhiều binh khí khác, như: đoản binh (đao, côn, chùy), trường binh (giáo, mác, kích, gậy, côn tam khúc), binh khí mềm (phất trần, roi, xích chùy) và kì binh (bánh xe phong hỏa, quạt càn khôn, đũa sắt). Đặc biệt, phái Không Động ưa thích sử dụng những vũ khí nhỏ gọn, dễ mang, dễ cất giấu, khó bị đối thủ phát hiện, nhưng trong giao đấu lại dễ giành chiến thắng bất ngờ như quạt, phất trần, roi,…

phai khong dong 3

Võ thuật phái Không Động thiên về tính nhu, hoa mỹ; bộ tay, bộ chân, thân người thường tạo nên đường cong, đường cánh cung. Võ thuật phái Không Động hấp thu tư tưởng triết học âm dương Thái cực, tấn công, phòng thủ liên hoàn trong vận động. Khi tấn công trong động có tĩnh, tĩnh cực thì sinh động, cương nhu kết hợp. Ngay cả bài võ “Túy bát tiên” trong Thần Quyền Môn vốn nổi tiếng với tính rắn rỏi, cũng chú trọng khéo léo tấn công những bộ phận mềm như mắt, cổ đối phương, tránh dùng lực quá mạnh.

phai khong dong 4

Võ thuật phái Không Động hội tụ cả những tinh túy của văn hóa Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo. Điều đó được thể hiện qua binh khí phái Không Động sử dụng như thuyền trượng, quạt, phất trần…, qua quyền thuật như La Hán Thập Tam Thủ, Phi Long Quyền, Không Động Thái Cực Quyền… Đây cũng là minh chứng cho sự hòa quyện giữa Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo trên núi Không Động.

Cách xưng hô người đứng đầu phái Không Động không giống một số môn phái khác. Người đứng đầu phái Thiếu Lâm gọi là “Trụ Trì”, đa số các môn phái khác như Nga Mi, Võ Đang gọi là “Chưởng môn”, thì với Không Động gọi là “Chưởng phái”. Nguyên nhân là vì phái Không Động bao gồm 8 hệ phái: Phi Long Môn, Truy Hồn Môn, Đoạt Mệnh Môn, Túy Môn, Thần Quyền Môn, Hoa Giá Môn, Kì Binh Môn và Huyền Không Môn. Đây là 8 bộ phận cấu thành phái Không Động, có tổng cộng 118 bài võ với kỹ năng võ thuật từ thấp đến cao, trong đó Huyền Không Môn được coi là báu vật của phái Không Động, thông thường chỉ được truyền thụ cho người được lựa chọn trở thành “Chưởng phái” tu luyện. Đứng đầu 8 hệ phái này là 8 Chưởng môn nhưng giữa họ có quan hệ ngang cấp, chỉ phụ trách quản lý đệ tử trong hệ phái của mình. Người có thân phận cao hơn họ là “Chưởng phái”.

Tiêu chuẩn lựa chọn Chưởng phái Không Động là người đó phải tinh thông 118 bài võ thuộc 8 hệ phái trên, nhưng các bài võ này có phong cách cương, nhu khác nhau, một người rất khó thành thục. Tuy nhiên, nếu không xuất hiện bậc kỳ tài võ học như vậy, thì trong giai đoạn đó phái Không Động không có “Chưởng phái”. Chính vì vậy, phái Không Động đi cùng lịch sử võ thuật Trung Quốc trong suốt hơn 1.000 năm qua, nhưng trên thực tế chỉ có 12 đời Chưởng phái. Chưởng phái đời thứ 12 là Phi Chân Tử (tên thật là Trần Hổ), hiện là Trưởng Đoàn biểu diễn võ thuật núi Không Động, Bình Lương, Cam Túc.

nui khong dong

Hiện nay, môn phái Không Động vẫn tiếp tục phát triển, tại khu vực gần chân núi Không Động có Trường võ thuật Không Động, thuộc thành phố Lương Bình, được thành lập năm 1999. Về mặt truyền thụ võ công thì sư phụ (thầy dạy võ) cố gắng dạy đồ đệ, không để món võ công đó thất truyền. Thông thường một sư phụ thu nạp không quá 16 đồ đệ, thời gian truyền thụ thường là 3 năm. Trong số các đồ đệ, họ chọn ra 10 người xuất sắc, truyền thụ võ công cao cấp của phái Không Động, trở thành trợ thủ của Chưởng phái. Và thông thường, người nhập học trước là sư huynh, học sau là sư đệ, chứ không phân huynh, đệ bằng võ công cao, thấp. 

Qua những thông tin trên về võ thuật phái Không Động, hẳn du khách có thể phần nào thấy được đặc điểm diễn biến của nét văn hóa dân tộc Trung Hoa, từ nhận thức tự nhiên, tăng cường sức khỏe đến hoàn thiện bản thân. Nếu du khách có hứng thú với võ thuật phái Không Động và muốn tự mình khám phá nhiều thú vị hơn, đừng quên tham gia Tour Trung Quốc cùng chúng tôi nhé! 

 

tap tuc khoc cuoi 4

Nghi thức “khóc cưới” trong hôn lễ của người Tujia ở Tứ Xuyên, Trung Quốc

“Khóc cưới” hay “khóc gả” là một nghi thức truyền thống trong hôn lễ của người Tujia (Thổ Gia) ở tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc. Dù muốn hay không, cô dâu buộc phải khóc trước ngày lên xe hoa. Với người Tujia, tiếng khóc trước ngày cưới thể hiện sự hiếu thảo, đức hạnh và trí tuệ của cô dâu. Tiếng khóc thay lời tạm biệt cha mẹ, người thân và chúc phúc cho cuộc sống hôn nhân của chính mình.

Nghi lễ khóc trong đám cưới phổ biến nhất là vào đầu thế kỷ 17 và tồn tại cho đến cuối triều đại nhà Thanh năm 1911. Theo lưu truyền, tập tục này bắt nguồn trong giai đoạn Chiến Quốc. Khi đó, công chúa nước Triệu được gả sang làm dâu nước khác. Khi công chúa sắp sửa bước chân về nhà chồng, hoàng hậu đã khóc dưới chân nàng và nói nàng hãy quay trở về sớm nhất có thể. Đây có thể coi là đám cưới “khóc” đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa.

Ngày nay, mặc dù tập tục này không còn phổ biến như xưa nữa những vẫn có rất nhiều gia đình tiếp tục giữ truyền thống này. Trong thực tế, đây là một thủ tục cần thiết trong đám cưới của người Tujia ở tỉnh Tứ Xuyên.

Đối với người Tujia, tiếng khóc biểu lộ cho niềm vui, sự gắn kết và tình yêu sâu sắc. Họ quan niệm việc khóc tập thể sẽ khiến cho bầu không khí đám cưới thêm phần náo nhiệt, đồng thời đẩy lùi những điều xui xẻo qua những lời than thở buồn bã và kéo niềm vui cùng với hạnh phúc tới. Bên cạnh đó, rất nhiều người lại cho rằng, các cô gái khi xưa bị gả về nhà chồng do “bố mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, họ không có quyền lên tiếng hay tự quyết định cuộc đời của mình, vì vậy đã dùng tiếng khóc ai oán để thể hiện nỗi lòng và sự bất mãn với xã hội.

tap tuc khoc cuoi 2

Theo phong tục, cô dâu phải khóc 1 – 3 tháng, hoặc ít nhất 1 tuần trước đám cưới của mình. Cô dâu khóc càng to, càng nhiều thì càng chứng tỏ đó là một người con gái hiếu thảo, có đức hạnh và trí tuệ. Ngược lại, nếu cô dâu không khóc hoặc khóc ít, làng xóm sẽ chê cười, trách mắng, thậm chí còn bị cha mẹ đánh đòn. Người Tujia tin rằng, tiếng khóc càng não nề, cuộc sống hôn nhân của cô dâu càng hạnh phúc. Điểm đặc biệt, cô dâu Tujia không chỉ khóc một mình mà còn có sự tham gia của mẹ, bà ngoại, cô, dì và những người phụ nữ trong làng xóm. Mỗi người đến chào tạm biệt tặng cho cô dâu một món quà và họ cùng nhau khóc. Nếu người đến thăm không khóc sẽ bị coi là bất lịch sự và cô dâu cảm thấy bị coi thường.

tap tuc khoc cuoi 3

Ở mỗi vùng khác nhau ở tỉnh Tứ Xuyên, tập tục này lại được thực hiện khác nhau. Ví dụ như ở miền Tây, phong tục này được gọi là “Zuo Tang” (có nghĩa là ngồi trong phòng lớn). Mỗi cô dâu trước khi cưới một tháng đều được yêu cầu vào ngồi trong một căn phòng và khóc. Trong suốt cả tháng trời ấy, người con gái sắp về nhà chồng hàng đêm đều phải vào căn phòng đó và khóc trong khoảng thời gian một tiếng đồng hồ. Sau đó khoảng 10 ngày mẹ cô sẽ vào và khóc cùng cô. 10 ngày sau là bà và sau đó mấy ngày các dì và các chị gái sẽ cùng nhập bữa tiệc “khóc”. Vào ngày cuối trước khi kết hôn, gia đình cô dâu mời thêm 9 cô gái chưa lấy chồng trong làng đến để khóc cùng, như lời động viên, an ủi đối với cô dâu. Đến nửa đêm, cô dâu khóc cảm ơn và mời những người bạn của mình ăn. 

tap tuc khoc cuoi 1

Khóc không chỉ đơn giản là chảy nước mắt mà còn có cả một bài hát phụ họa có tên “Bài ca than khóc trong đám cưới”. Đây là lời trong một bài thơ được hát lên để làm cho không khí đám cưới được tốt đẹp. Ngoài ra còn một số bài hát khác có chủ đề về sự siêng năng, nghi thức xã giao và lòng hiếu thảo với cha mẹ cũng được hát nhân dịp này. Nội dung của khóc cưới cũng rất đa dạng, gồm khóc tổ tiên, cha mẹ, người thân, khóc chính mình và khóc bà mai. Khóc cưới cũng là tiếng lòng tiếc thương cho số phận bất hạnh của những cô dâu Tujia thời phong kiến.

Ngày nay, tục khóc cưới dần bị mai một và biến mất ở nhiều nơi. Thay vì vài tháng, các cô dâu hiện đại chỉ cần khóc cưới vài tiếng trước khi lên xe hoa. Họ cũng không cần học các khúc ca từ khi còn nhỏ. Đến Tứ Xuyên, du khách có thể gặp những đám cưới truyền thống với tục khóc cưới độc đáo này.

Tục “khóc gả” của người Tujia đã góp phần tạo nên một nét văn hóa rất đặc sắc của Trung Quốc. Nếu du khách muốn khám phá nhiều hơn về đất nước xinh đẹp này thì hãy đặt ngay cho mình một Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! Chúc du khách sẽ có được những hiểu biết bổ ích trong chuyến du lịch này!

mon than 8

Môn thần trong tín ngưỡng dân gian Trung Quốc

Nếu như cửa gỗ là loại cửa đã ăn sâu vào nếp sống văn hóa của người Trung Hoa thì Môn thần – thần giữ cửa là một phần không thể thiếu trong một ngôi nhà. Mặc dù, trong cuộc sống hiện đại, Môn thần đã không còn xuất hiện nhiều, nhưng nó vẫn là một nét đẹp văn hóa trong nếp sống của mỗi người dân Trung Hoa.

Môn Thần là một vị thần thường được người dân đặt ở 2 bên cổng vào một ngôi chùa, nhà ở hay tiệm kinh doanh… để cầu mong thần linh sẽ phù hộ cho gia đình quanh năm được bình an, không bị ma quỷ trêu chọc, và có cuộc sống tốt lành, của cải dồi dào, vận hội phơi phới.

Khởi nguyên của việc thờ Môn thần này xuất phát từ sự sùng bái tự nhiên cách đây hàng nghìn năm của Trung Hoa, lúc con người còn sợ sấm sét, mưa gió, thú dữ, kẻ ác vào nhà, và để ngăn ngừa những điều dữ tới, dân gian đã bài trí, treo dán trước cổng hình tượng của các linh thú, tôn thần có sức mạnh to lớn trấn áp ma tà, khi nhìn vào yêu ma quỷ quái, kẻ trộm đều phải sợ hãi tháo chạy.

Lúc đầu, họ trưng Chu Tước là loài chim giống như sư tử, con rồng song có cánh, phun ra lửa… với niềm tin nó có thể tiêu diệt mọi rắn rết, sói cầy, không cho chúng xâm hại ngôi nhà. Sau này, trong từng thời đại, nảy sinh các thiên thần, thổ thần, nhân thần, các danh tướng có công bảo vệ biên cương – triều đại thì họ lại chuyển sang thờ một người cụ thể được phong thần.

mon than 7

Về thiên thần, mọi nhà thường thờ Thần Đồ và Uất Lũy, hai vị thượng tiên đã xuất hiện từ thời Hoàng Đế. Truyền thuyết kể rằng, trên núi Độ Sóc ở Đông Hải có một cây đào lớn, cành nhánh uốn cong, lá tươi tốt um tùm, vươn dài đến 3.000 dặm. Trên cây có một con gà vàng, phía dưới có hai vị thần tiên, một người tên Thần Đồ, người kia tên Uất Luỹ. Họ đứng dưới gốc cây đào, quan sát hành tung của bách quỷ. Gặp phải ác quỷ nào vô cớ gây hoạ, gây hại cho nhân loại, hai vị thần liền dùng dây thừng trói quỷ lại đưa xuống dưới núi cho hổ ăn thịt. Về sau, mỗi khi gặp lúc trừ tịch năm cũ, mọi người liền đặt hình người được tạc bằng gỗ cây đào, còn vẽ thêm Thần Đồ, Uất Luỹ và hổ để xua đuổi tà ma ác quỷ.

Hai vị thần tiên này có thể hàng phục ma quỷ, hình tượng của họ đương nhiên cũng dữ dằn đáng sợ. Bức hoạ trong Tam giáo nguyên lưu sưu thần đại toàn là tôn dung của hai vị đại thần này. Họ phanh ngực, tay cầm kiếm, tóc dựng đứng như sừng trên đầu, chân mày nhô cao, đỉnh đầu như gò, mày ngang mắt dọc, trong nụ cười nhạt ẩn chứa sát cơ, đúng là hình tượng vị sát thần hung bạo. Có như thế, ác quỷ mới nhìn đã sợ, nghe hơi gió mà chạy. Về sau mọi người không treo hình tượng nữa mà chỉ treo trên cánh cửa một nhánh đào, hoặc dùng bút lông viết ra tôn danh của hai vị thần, hoặc giả viết lên nhành đào mấy câu thần chú. Như vậy, tà ma quỷ quái nhìn thấy liền dừng bước. Trừ tịch hàng năm đều như thế, đó gọi là “tân đào hoán cựu phù”.

mon than 4

Một lần, nhân hai vị đi dự hội Bàn đào trên thiên đình, một bầy quỷ đã thoát ra gây hại. Tiếng khóc của dân chúng vang trời, Thần Đồ – Uất Lũy liền hiện lên và thay vì cứ trừng phạt chúng mãi, các ngài đã cho dân gian một cành đào, dạy họ cách trồng trọt và treo những sợi dây hồng điều lên hoa đặt ở trước cửa, khiến ma quỷ nhìn thấy đã kinh hãi, tưởng thần giáng lâm. Hôm nay, tục này vẫn còn, khi nhà nhà đều trưng cành đào và dây đỏ sặc sỡ đính ba chữ Phúc, Lộc, Thọ. Từ màu đỏ của đào, người ta cũng mặc áo đỏ để lúc nào cũng may mắn, tươi đẹp.

Từ đời Hán, họ còn bắt đầu đặt tượng và dán hình ảnh của Thần Đồ – Uất Lũy lên hai bên cánh cửa bởi dùng hình ảnh tôn thần có lẽ sẽ hay hơn là chỉ dùng hình ảnh hoa đào. Thần Đồ – Uất Lũy hay được thấy cầm một cái roi, dây tiên, cũng thường bưng khay đào và có những đồng nhi để tóc trái đáo đứng cạnh, nhằm tăng thêm sự uy nghi cũng như hiền từ, nhân ái.

Về nhân thần, người ta thường thấy Tần Quỳnh (Tần Thúc Bảo) và Uất Trì Cung (Uất Trì Kính Đức), hai tướng quân oai dũng dưới thời Đường Thái Tông. Đây là hai nhân vật lừng lẫy đã giúp hoàng tử Lý Thế Dân dành được ngôi báu, dẹp loạn trong triều nên ai cũng kính sợ. Tương truyền, Đường Thái Tông (Lý Thế Dân) thường xuyên nằm mơ thấy ma quỷ kêu khóc ném đá vào mình, ngài ngủ không yên giấc. Ngài bèn sai hai vị tướng thân cận và trung thành nhất của mình là Tần Thúc Bảo và Uất Trì Kính Đức hàng đêm đứng canh cho ngài ngủ, cũng từ đó không mơ thấy có ma tà quấy nhiễu nữa. Việc hai ngài canh giữ cho giấc ngủ của vua cũng chính là canh giữ cho giang sơn Đại Đường. Cũng từ ấy, hai ngài được người dân tôn làm môn thần, trường treo dán hình hai ngài ở trước cửa với niềm tin rằng ma mị chẳng thể quấy rối. Tần Thúc Bảo chính là Tả Môn Thần đứng canh ở phía tay trái, Uất Trì Kính Đức là Hữu Môn Thần đứng phía bên tay phải, hai ngài luôn trong tư thế nghiêm nghị, mặt đối mặt, nhằm tập trung ánh nhìn vào người đang đi tới và đi vào giữa cổng, đảm bảo người này luôn được theo dõi. Hình ảnh hai vị thường mặc giáp trụ, cầm vũ khí như đao, kiếm, thương, kích, chùy,… đôi khi còn cưỡi ngựa, hùm báo khoe diễu đầy sự hùng dũng – mạnh mẽ, một vị có sắc mặt đen xì hoặc đỏ rực, một vị lại có mặt trắng toát/ xanh đậm, một vị để râu rậm một vòm, vị kia râu lưa thưa ba chùm, song cả hai đều có mày xếch lên, gương mặt cương nghị hoặc tức giận.

mon than 5

Cùng là tướng quân, song theo quan niệm, tính khí của mỗi vùng, mỗi nhà hay mỗi người khác nhau, hình ảnh của Tần Thúc Bảo và Uất Trì Kính Đức sẽ mang các diện mạo, trang phục, sắc màu riêng, mà thông thường còn thêm nhiều yếu tố thần thoại, tức là đưa thần tiên vào con người thật, như để trên vai hai vị có các dải lụa bay bay như trên thiên đình xuống, và đồng hóa hai vị với tứ đại thiên vương theo tín ngưỡng đạo Lão.

Cũng từ đây, sinh ra văn thần và võ thần cùng là môn thần song thể hiện khác biệt; văn thần luôn có dáng vẻ nho nhã, dịu dàng, mặc triều phục, cầm lệnh bài, thẻ ngọc còn võ thần thì phương phi, quắc thước, vận vũ trang, lăm lăm trên tay đả khí. Song dù là hình hài chi, hai vị này đều có thần thái rất trang nghiêm, uy phong, lộng lẫy với những sắc màu trang phục như đỏ, cam, hồng, vàng… đem tới sự ấm cúng, ấm no, vui vẻ, hoạt bát cùng nhiều năng lượng tích cực trong ngày xuân. Với dáng vẻ lồng lộng ấy, dân gian tin rằng các ngài vừa bảo vệ toàn gia trong tân niên được bình yên, còn chiêu tài, tiến bảo, kích thích bổng lộc, công danh, phú quý.

mon than 3

Cũng có nơi, do cửa cổng chỉ có một cánh nên người ta chỉ dán một vị thần, mà thường là thần Chung Quỳ và Ngụy Trưng. Trong tín ngưỡng bản địa Trung Quốc, Chung Quỳ cai quản thế giới âm ty, chuyên bắt ma, trừng quỷ, những con vật từ cõi u minh lai vãng nhân sinh. Vì thế, ngài được gọi là một trong Tứ đại phúc đức trấn trạch thánh quân hay Khu ma đế vương. Chuyện kể rằng Chung Quỳ vốn là một người rất thông minh, giỏi giang nên đỗ trạng nguyên, song vì dung mạo gớm ghiếc, khó coi nêm không được triều đình trưng dụng. Buồn giận, ngài đã đập đầu vào cổng thành tự vẫn.

Ở địa phủ, thấy ngài nhân hậu – trí dũng, giỏi cả văn lẫn võ, diêm vương đã phong ngài là vua của mọi ma quái và cho cai quản tới 80 nghìn quỷ binh, cùng đó là nhiệm vụ giáng ma trừ yêu tại nhân gian, cứ có một ma tà nào trốn khỏi địa ngục là ông sẽ đi lên trần đuổi bắt. Đến thời Đường Huyền Tông, có một con quỷ bỗng dưng lẻn vào hoàng cung ăn trộm một cây trâm. Trong giấc mơ của mình, vua Đường thấy hiện ra hai con quỷ, một con quỷ bé nhỏ đang đánh cắp một cây trâm ngọc của Dương Quý Phi và một cây sáo ngọc của chính đức vua và bị con quỷ to lớn hơn chộp lấy, nuốt chửng.

Vua khiếp đảm vấn hỏi thì quỷ vương tự xưng là Chung Quỳ, kể lại nguồn cơn như đã thi đỗ ra sao rồi quyên sinh… và giờ nguyện đi bắt ma để phá bỏ mọi ma tà, tai ách cho đời, nói xong biến mất. Tỉnh dậy, ông lập tức cho họa sĩ vẽ lại và làm nên bức tranh Xu điện Chung Quỷ đồ đem treo ở bất cứ đâu, nơi ấy không có tà tính, không có tiếng người than khóc, đau buồn. Dân gian vì vậy thường vẽ Chung Quỳ như một quan nhân, đầu đội mũ ô sa tay cầm kiếm – quạt, tướng mạo rất dữ dằn, trấn giữ tại cửa để ngăn cản mọi điều hắc ám.

mon than 6

Tại miền Nam Trung Quốc, Chung Quỳ cũng hay được thờ với hai vị Huyền Quan và Quan Vũ tạo thành bộ ba trấn địa thánh quân. Từ Tết Nguyên đán cho tới hết rằm tháng Giêng (Tết Nguyên tiêu), mọi nhà ở đây từ nhà dân tới cửa hàng, cửa hiệu đều dán hình ngài ở cửa vì họ tin rằng, đây là lúc ma đói thượng trần, nên ai nấy có đồ ngon, của ngọt đều mang ra dâng cúng tổ tiên, bố thí cô hồn, song để tránh cảnh chen lấn xô đẩy, dành giật… họ cũng nghĩ tới Chung Quỳ như một vị thần trung chính, công minh và sự hiển hiện của thần ngoài trừng ma còn mang đến sự no đủ, thôi đói rét.

Tựu trung, mỗi Môn thần đều được thể hiện rất sặc sỡ, đa dạng, phong phú ngoài cửa, có bao nhiêu lớp cửa thì sẽ dán từng ấy hình tượng thần khác lạ. Riêng với văn thần, còn thấy trong từng phòng, nơi học tập, văn nghệ của gia đình, nhằm đi sâu vào từng khía cạnh đời sống, phù hộ người dân an khang, thịnh vượng.

Văn hóa Trung Hoa có rất nhiều điều thú vị và hấp dẫn đang chờ đón du khách đến tìm hiểu và khám phá. Vậy còn chần chờ gì nữa mà du khách không book ngay cho mình một Tour Trung Quốc để có được những trải nghiệm tuyệt vời khi đặt chân đến vùng đất rộng lớn này!