long bao 6

“Bật mí” những điều thú vị về Long bào của các vị Hoàng đế Trung Hoa xưa

Trong triều đại phong kiến, Hoàng đế được xem là bậc chí tôn, cao cao tại thượng. Mọi đồ dùng mà nhà vua sử dụng đều là những đồ quý giá, độc đáo, được thiết kế riêng từ chất liệu, màu sắc đến họa tiết và bất cứ ai cũng không được phép dùng những màu sắc, chất liệu họa tiết đó. Biểu hiện rõ nhất của sự phân biệt này phải kể đến trang phục của hoàng đế Trung Hoa hay còn được gọi là Long bào.

“Long” có nghĩa là rồng. “Bào” có nghĩa là y phục, quần áo. Trong xã hội phong kiến thì rồng biểu tượng cho chân mệnh thiên tử, nên dùng để chỉ nhà vua hay còn gọi là Thiên tử (con trời). Thời phong kiến những đồ vật có hình rồng chỉ có vua mới được dùng. Như vậy, long bào là từ dùng để chỉ quần áo có thêu hình rồng cho hoàng đế mặc.

Trên chiếc long bào có những chi tiết cần phải chú ý như hoa văn 9 con rồng trên cả vạt trước và vạt sau áo. Trước thời nhà Đường, nhiều người có thể mặc áo có dạng tương tự long bào nhưng không được thêu hình rồng. Nhưng sau thời nhà Đường, người bình thường không chỉ không được phép thêu hình rồng lên quần áo mà ngay cả áo kiểu dáng long bào cũng không được mặc. Đường Cao Tổ còn quy định, màu vàng là màu của đế vương, chỉ được dùng bởi vương thất. Từ đó về sau, màu vàng đã trở thành màu sắc đặc trưng dùng riêng cho hoàng tộc. Hầu như long bào của các thế hệ sau đó đều lấy màu vàng sáng làm chủ đạo.

Long bào của Tần Thủy Hoàng có màu đen

Chúng ta vẫn thường thấy rằng những bộ quần áo mà vua Tần Thủy Hoàng mặc thường có màu đen, đến thời Hán Văn Đế áo long bào chuyển sang màu vàng; áo long bào thời Tấn, Tống, Minh thì có màu đỏ… Du khách có biết tại sao lại có chuyện như vậy không?

long bao 1

Dưới thời nhà Tần, các học thuyết về ngũ hành rất phát triển, vua Tần cho rằng cơ nghiệp của nhà Tần gắn liền với yếu tố nước trong ngũ hành. Nước sau khi dập lửa sẽ để lại những vết tro tàn màu đen, chính vì vậy mà Tần Thủy Hoàng chọn màu đen nhằm ngụ ý, cơ nghiệp nhà Tần mệnh nước sẽ dập tắt được ngọn lửa thôn tính của các nước, không cho họ cơ hội bùng cháy. Sau khi Tần Thủy Hoàng qua đời, nhà Tần nhanh chóng bị lật đổ, nhà Hán được thành lập thay thế vị trí của nhà Tần. Chính vì vậy mà các vua triều đại sau cho rằng không nên chọn màu đen, sẽ không may mắn đi theo vết xe đổ của nhà Tần. Sau này, các vua phong kiến đều chọn màu vàng, là màu của kim loại quý. Chọn màu vàng ngụ ý mong đất nước của mình sẽ được phồn thịnh, nhiều vàng, nhiều của.

Long bào với chất liệu, hình vẽ hoa mỹ, cầu kì và tinh tế

Long bào là trang phục của bậc đế vương thời cổ đại, hoa văn thêu trên long bào nằm ở vị trí nào đều có quy định rõ ràng, thậm chí có những hoa văn hoặc màu sắc chỉ được phép sử dụng trên trang phục của đế vương, vì đây là biểu tượng vương quyền tối cao.

Những chất liệu làm long bào đều phải lựa chọn chất liệu tốt nhất, mềm mại, thoải mái như lụa, tơ, gấm… thường sẽ là những vải thượng hạng chọn từ những cống phẩm của các nước tiến cống. Hầu hết long bào sẽ có màu vàng, thêu hoạt tiết hình rồng bằng chỉ vàng, chỉ bạc – loại chỉ quý hiếm ở thời phong kiến.

Hoa văn chủ yếu trên long bào là văn rồng, ngoài ra còn có văn phụng, văn mẫu đơn phú quý, văn ngọc tỉ, ở quanh văn rồng còn có văn mây ngũ sắc, văn dơi đỏ, văn thập nhị chương (nhật, nguyệt, tinh thần, sơn, long, hoa trùng, tông di, tảo, hỏa, phấn mễ, phủ, phất) tượng trưng cho điều lành. Dĩ nhiên những hoa văn này có ý nghĩa sâu xa, mây ngũ sắc là hoa văn trang trí thường thấy, tượng trưng cho may mắn; văn dơi màu đỏ là tượng trưng cho “phúc lớn”, cũng là hoa văn trang trí không thể thiếu trên long bào.

Nói riêng về văn rồng, thì trong một số tài liệu có mô tả như thế này: chín con rồng trên long bào có bốn con chính long thêu ở trước, lưng và hai vai. Vạt trước và sau long bào thì mỗi vạt có hai con hành long, như vậy nhìn từ trước hay sau đều thấy năm con rồng, hàm ý sự tôn quý (cửu ngũ). Nhưng tính ra tổng cộng mới chỉ có tám con rồng, còn một con ở đâu? Thật ra con rồng cuối cùng này thêu bên trong vạt trước, muốn trông thấy phải vén vạt áo lên mới được. Tất nhiên, việc thiết kế văn rồng trong mỗi triều đại cũng có sự đổi khác.

long bao 2

Ngoài chín con rồng ở trên thì văn rồng còn thể hiện trong những hình rồng nhỏ ở cổ áo, eo và cổ tay áo. Còn vô số đường uốn lượn dưới long bào gọi là “chân nước”. Trên chân nước thêu rất nhiều gợn sóng cuồn cuộn, còn báu vật đá dựng đứng gọi là “hải thủy giang nhai”, không chỉ tượng trưng cho may mắn bất tận mà còn hàm nghĩa “thống nhất giang sơn”, “mãi mãi thái bình”.

Người xưa gọi ngôi vị hoàng đế là “Cửu ngũ chí tôn”. Trong “Dịch kinh – Càn Long – Cửu ngũ” có ghi: “Rồng bay trên trời, phúc cho bậc đại nhân khi nhìn thấy”. Số chín là số dương, trong Dịch kinh biểu thị bằng một vạch liền (─); số năm là hào vị thứ năm trong quái tượng tính từ dưới lên. Khổng Dĩnh Đạt ghi trong “Ngũ kinh chính nghĩa” rằng: “Lời cửu ngũ, dương khí mạnh ngút trời, vì rồng ở trên trời. Hiện tượng này ví như thánh nhân có đức rồng, bay cao ở ngôi vị trên trời”. Chính vì thế, sau này “cửu ngũ” dùng để ví ngôi vua. Cũng từ văn hóa Đạo gia như vậy mà long bào có thêu chín con rồng, tượng trưng cho hoàng đế.

Ngoài ra, một biểu tượng khác trên chiếc áo long bào là hình ảnh một con dơi đỏ – từ đồng âm của một nhân vật mang ý nghĩa là “ngập trong trận đại hồng thuỷ của sự may mắn”.

Áo lót bên trong cũng có hình ảnh của đại dương và núi non, vì theo quan niệm của người Trung Hoa, hoàng đế là thiên tử, là người có quyền lớn nhất thế gian.

Tay áo dài và cổ áo rời, nặng

Mặc dù người Mãn Châu từ vùng Đông Bắc tái chiếm và đóng đô ở Bắc Kinh từ tay nhà Minh vào năm 1644 nhưng nếu xét về các khía cạnh văn hoá, phong tục tập quán và lễ nghi, người Mãn Châu phải học rất nhiều từ đất nước phát triển như Trung Hoa. Họ không những nể phục Trung Hoa bởi thể chế chính trị mà còn khâm phục bởi những lễ nghi, văn hoá, phong tục tập quán và thậm chí tôn giáo của người dân nơi đây. Sau khi xâm chiếm, dù người Mãn Châu rất khâm phục văn hoá Trung Hoa, nhưng họ vẫn luôn tự hào về cội nguồn của chính mình. Do đó, việc du nhập những bộ y phục là một trong những yếu tố quan trọng nhất khi người Mãn Châu chuyển đến vùng đất này. Chúng được làm từ da động vật và có hình dạng của con thú ấy để tận dụng tối đa việc sử dụng nguyên liệu thô.

long bao 3

Y phục hoàng tộc của người Trung Hoa với tay áo hình móng ngựa cùng cổ áo rời và nặng được bắt nguồn từ truyền thống của người Mãn Châu. Kể từ khi người Mãn Châu sinh sống bằng việc săn bắn ở vùng Đông Bắc, họ phải tìm cách để chống chọi với cái lạnh thấu xương ở vùng đất này. Do đó, họ mặc những bộ y phục có tay áo dài để che hết phần tay, và cổ áo rời, nặng được dùng để tránh rét trong những chuyến đi dài.

Nhưng sau này, tay áo dài trở nên vướng víu trong cuộc sống thường nhật. Vì thế, triều đình đã quyết định cuốn tay áo lên, và chỉ thả tay áo xuống khi giao thiệp với một người lạ nào đó. Truyền thống này xuất phát từ hoàng tộc triều đình và dần dần trở thành nếp sống của tất cả mọi người.

Mỗi chiếc long bào được dùng cho từng dịp khác nhau

Các tủ quần áo hoàng gia trong thời nhà Thanh đều là những chiếc áo choàng và áo long bào. Nhiều long bào được dùng cho những dịp lễ lớn trong triều đình, y phục đi du ngoạn, y phục vào những ngày thời tiết xấu và thậm chí những bộ y phục dùng khi ăn và ra ngoài trời.

Tuỳ vào tình hình thời tiết mà sẽ có áo lót bên trong hay không và sẽ làm bằng những chất liệu khác nhau như lụa, da thuộc hay vải sợi. Màu sắc được chọn phải phù hợp với màu sắc hoàng gia. Một trong những màu sắc dành riêng cho hoàng đế là vàng tươi, đỏ, xanh và xanh sáng.

long bao 4

Màu vàng thường được sử dụng trong các buổi lễ. Những màu sắc còn lại được dùng trong những ngày lễ ở ba ngôi đền lớn: Long bào xanh ở Đền Cung đình, long bào đỏ ở Đền Mặt trời và long bào xanh sáng ở Đền Mặt trăng. Với mỗi chiếc áo long bào, hoàng đế cũng sẽ đeo đai và mũ phù hợp.

Những chiếc áo long bào được dùng trong những dịp hết sức đặc biệt thường có hoạ tiết con rồng vàng. Thông thường, hoàng đế chỉ mặc bộ y phục này vào những ngày lễ trọng đại.

Quá trình làm long bào rất phức tạp, rất nhiều thủ pháp

Trang phục của Hoàng đế ngày xưa đều do những người thợ có chuyên môn cao phụ trách, triều đình cũng sẽ phái người đến theo dõi và đốc thúc. Ngay cả khi có rất nhiều người cùng làm thì cũng cần đến vài năm để hoàn thiện một chiếc long bào. Thời nhà Thanh, có hơn 2.000 người chịu trách nhiệm làm long bào cho Hoàng đế, họ phải làm cả ngày lẫn đêm, có khi mất đến hơn 2,5 năm để hoàn thành. 

Kiểu mẫu và đường nếp phải nhận được sự chấp thuận của hoàng đế và các vị đại thần trong triều đình trước khi được phép hoàn thành. Sau đó, kiểu mẫu sẽ được chuyển giao đến các thợ làm lụa. Sau khi vải đã hoàn tất, một thợ thủ công sẽ cắt vải và sẽ chuyển đến một thợ may tiếp theo để hoàn tất phần thô của chiếc áo long bào. Sau cùng, chiếc áo sẽ được thêu thêm nhiều hoạ tiết cầu kì.

Chỉ những loại chỉ thượng hạng mới được sử dụng để thêu long bào và thậm chí còn phải làm từ vàng thật. Hoàng đế sẽ thuê 500 thợ thủ công và thợ thêu để khâu áo và 40 thợ khác để thêu chỉ vàng lên áo.

long bao 5

Chế tác long bào là một công việc đầy rủi ro nhưng lại có thu nhập cao. Và vì được trả công rất cao nên nếu xuất hiện một lỗi nhỏ trên long bào thì sẽ bị xử phạt nghiêm trọng. Nếu sai sót tương đối lớn, dẫn đến long bào bị hỏng thì có khả năng sẽ bị xử tội chết. Vì thế, người phụ trách chế tác long bào luôn phải cẩn thận, dồn hết sức vào trang phục trân quý trước mặt.

Một điều đặc biệt nữa là gần như tất cả long bào thời cổ đại đều không được giặt giũ. Một phần là vì người xưa ít chú ý đến vấn đề vệ sinh. Mặt khác, vì trên long bào có những họa tiết thêu rồng dễ bị biến dạng sau khi giặt. Hơn nữa, ngay cả khi trang phục bị bẩn hoặc có mùi lạ thì hầu hết người thời đấy sẽ sử dụng hương huân (xông hương) để khử. Dùng nước để giặt quần áo chỉ là hành động mà người nghèo mới làm.

Vậy thì câu hỏi được đặt ra là, nếu long bào thời cổ đại về cơ bản không bao giờ được giặt giũ thì làm sao Hoàng đế có thể chịu được mùi lạ khi mặc? Câu trả lời sẽ tiết lộ khả năng tài chính của hoàng gia.

Bởi vì phải mất nhiều năm mới sản xuất ra được một chiếc long bào nên nhiều người đã nghĩ Hoàng đế không có bao nhiêu long bào cả, họ sẽ mặc một chiếc long bào nhiều lần. Nhưng trên thực tế, với nỗ lực của hàng nghìn người tham gia quá trình chế tác ngày đêm, số lượng long bào chuyển đến hoàng cung mỗi năm rất lớn. Hoàng đế hoàn toàn có thể thay đổi long bào liên tục, thậm chí có người chỉ mặc long bào một lần duy nhất.

Vả lại, không phải lúc nào các Hoàng đế đều mặc long bào, họ chỉ mặc vào những dịp đặc biệt đã định. Những ngày bình thường, họ sẽ mặc thường phục. Nhưng trong lịch sử cũng có một số vị Hoàng đế tiết kiệm, khi trên long bào xuất hiện mùi lạ, cung nữ sẽ sử dụng hương để xông chiếc long bào đấy.

Lịch sử – đất nước – con người Trung Hoa quả thật có rất nhiều điều thú vị đáng để quan tâm phải không du khách? Hãy đặt tour Trung Quốc của chúng tôi để tự mình khám phá nhiều hơn về vùng đất rộng lớn này nhé!

nhung loai nuc sot 10

9 loại nước sốt – “linh hồn” của ẩm thực Trung Hoa

Trung Quốc là một quốc gia rộng lớn với nền ẩm thực vô cùng phong phú. Nơi đây có rất nhiều món ăn ngon đã làm hài lòng du khách mỗi bữa ăn. Các món ăn này sở dĩ cuốn hút du khách cũng bởi được nêm nếm hoặc dùng kèm với các loại nước sốt thơm ngon.

Một bữa ăn “thô” – nghĩa là chỉ có thức ăn mà không có bất kì loại sốt hoặc nước chấm nào ăn kèm – sẽ có mùi vị món ăn giảm hẳn độ ngon. Hẳn ai trong chúng ta cũng từng xuýt xoa, gắp không ngưng đũa khi dùng các món ăn có vị sốt hấp dẫn. Có thể nói, nước sốt là linh hồn của các món ăn giúp kích thích vị giác của thực khách một cách tinh tế, khiến người dùng đắm chìm trong hương vị của món ăn.

Có thể nói, nước sốt là linh hồn của các món ăn, giúp món ăn vừa đậm đà lại vừa bắt mắt. Nước sốt khá đa dụng. Bên cạnh công dụng thổi bùng hương vị món xào, nước sốt còn dùng để trộn với mì ăn ngay hoặc chấm Dimsum thay thế nước tương đều để lại hậu vị đặc biệt.

Nói về sốt tại châu Á, nền ẩm thực Trung Hoa gần như được xếp lên hàng đầu vì sự phối hợp đầy sáng tạo các nguyên liệu với nhau để chế biến ra rất nhiều loại sốt làm phong phú món ăn. Trong số đó, 13 vị sốt tiêu biểu được ưa chuộng hiện nay chính là: Xì dầu, Sốt sa tế, Sốt tiêu đen, Sốt dầu mè, Sốt dầu hàu, Sốt tương đen, Sốt mận, Sốt XO, và Sốt Jim Bang.

Xì dầu

Xì dầu hay còn gọi là nước tương được bắt nguồn từ phương pháp ủ lên men truyền thống của Trung Quốc từ nhiều năm về trước. Nếu du khách có xem bộ phim “Bão táp gia tộc” của TVB – một bộ phim nói về cách nấu xì dầu của Trung Quốc thời xưa thì du khách sẽ hình dung được sự công phu của mỗi lu ủ xì dầu.

nhung loai nuc sot 1

Với người Hoa, xì dầu không chỉ được sử dụng trong các món ăn nấu chín mà còn được dùng để tạo hương vị thơm ngon cho thực phẩm tươi sống. Tại đa số các nhà hàng Trung Hoa đều dùng xì dầu thay cho gia vị khi chế biến món cơm rang giúp món cơm tỏa mùi thơm đặc trưng và trở nên vô cùng hấp dẫn. Một bí quyết trong phong cách nấu ăn của người Hoa là họ thường dùng xì dầu nhạt để tạo hương vị và xì dầu đậm để tạo màu cho món ăn.

Sốt sa tế

Trung hoa vốn nổi tiếng đặc sản ớt, đây cũng chính là lý do mà sốt sa tế được mệnh danh là “linh hồn” của ẩm thực Trung Hoa. Vị cay ấm nóng của sốt sa tế khiến người dùng cảm thấy khoan khoái khi thưởng thức bữa ăn, đặc biệt là vào những ngày thời tiết se lạnh.

nhung loai nuc sot 6

Làm từ ớt và muối, với tỏi và gia vị khác, người Hoa có thể dùng loại sốt này để tẩm ướp tất cả các món thịt, cá để tăng thêm hương vị cay nồng cho món ăn. Bởi vậy, sốt sa tế rất kích thích vị giác.

Sốt tiêu đen

Vừa nồng vị, vừa ấm nóng – sốt tiêu đen được xếp vào danh sách top 3 loại sốt được yêu thích nhất hiện nay. Khác với sốt sa tế, vị cay the nhè nhẹ của sốt tiêu đen khiến người dùng cảm thấy khoan khoái khi thưởng thức bữa ăn. Khi dùng bữa, người ăn dù có thưởng thức món nhiều dầu mỡ cũng không thấy ngấy vì có vị tiêu điều tiết hương vị ở mức vừa đủ.

nhung loai nuc sot 4

Sốt tiêu đen the nồng không ngừng kích thích vị giác vì chứa nhiều gia vị giúp “dậy mùi” món ăn: tiêu đen, bơ lạt, hành tím, dầu hào thượng hạng.

Sốt dầu mè

Chỉ cần một lượng nhỏ “dầu bóng tối” này cũng đủ khiến món ăn trở nên hấp dẫn hơn với mùi hương đầy mê hoặc. Sốt dầu mè được làm từ hạt mè rang rồi ép lấy dầu.

nhung loai nuc sot 8

Trong ẩm thực Trung Hoa, dầu mè thường để thêm hương vị cho nước sốt, nước chấm và các món nấu chín. Tuy vậy, dầu mè nói chung không được sử dụng như một loại dầu ăn, vì hương vị mạnh hơn các loại dầu khác như dầu đậu nành, dầu đậu phộng, khi chiên xào bằng dầu mè sẽ làm át mùi của những nguyên liệu khác.

Sốt dầu hàu

Dầu hàu là một loại nước sốt sền sệt màu nâu, có vị ngọt, ban đầu được chiết xuất từ những con hàu nhưng ngày nay được làm theo kiểu công nghiệp với các nguyên liệu khác như muối, đường, nước, chất điều hương vị, hương hàu tổng hợp… Dầu hàu có công dụng chính là làm gia vị để chế biến món ăn, giúp món ăn tăng hương, tăng vị và trở nên hấp dẫn hơn.

nhung loai nuc sot 7

Dầu hàu ra đời từ năm 1888 ở Quảng Đông, do một người tên là Lee Kam Sheung làm ra sau khi người này vô tình để quên một nồi hàu nấu chín trong nước muối. Lee Kam Sheung thấy rằng mặc dù nồi hàu có mùi khét nhưng hương vị lên men lại rất đặc biệt. Sau này, Lee thành lập công ty chuyên sản xuất dầu hào và nước sốt gia vị, trở thành doanh nhân và phát triển thương hiệu ra toàn thế giới, chính vì vậy dầu hào mới phổ biến như hiện nay.

Sốt tương đen

nhung loai nuc sot 3

Sốt tương đen hay Hoisin là tên gọi để chỉ loại sốt có màu nâu sậm, hơi quánh đặc, vị ngọt nhẹ và cay the. Loại nước sốt này được làm từ nước, đường, đậu tương, giấm trắng, gạo, muối ăn, bột mì, tỏi và ớt, cùng một số chất tạo màu và chất bảo quản. Tuy tên trong tiếng Trung của tương đen là “hải tiên tương” nghĩa là “nước tương cá biển”, nhưng trong thành phần của tương đen không có hải sản. Trong ẩm thực Trung Hoa, tương đen được dùng cho các món vịt quay Bắc Kinh, nem rán, và xá xíu. 

Sốt mận

nhung loai nuc sot 9

Sốt mận có lẽ là món sốt độc đáo nhất trong số những loại vừa kể trên. Ở Trung Quốc, nước sốt mận với vị ngọt và chua được sử dụng trong các công thức nấu ăn hoặc làm sốt chấm đều ngon.

Sốt XO

nhung loai nuc sot 5

Sốt XO được biết đến là một loại tương sò điệp, thơm ngậy vị hải sản. Tên gọi XO có nguồn gốc từ một loại rượu lâu năm được người dân Hồng Kông sử dụng trong các bữa ăn, tiệc liên hoan. Người Hồng Kông cũng quen dùng từ XO để chỉ chất lượng cao, xa xỉ, thượng hạng. Sốt XO được làm từ các loại nguyên liệu thượng hạng như: sò điệp, thịt heo muối, giăm bông thượng hạng, cá muối nguyên con, dầu nành, dầu ớt, dầu mè.

Sốt Jim Bang

Sốt Jim Bang là một trong những loại sốt nổi tiếng nhất Trung Hoa, xuất hiện trong nhiều món ăn, đặc biệt là hải sản. Hương vị đậm đà của nước sốt hòa quyện vào từng thớ thịt, làm tăng thêm vị ngọt và tươi của hải sản, khiến cho thực khách không thể cưỡng lại.

9 loại nước sốt kể trên đều có nhiều thú vị mang hơi hướng ẩm thực Trung Hoa rõ rệt. Nó không chỉ ngon đối với người dân địa phương mà ngày nay đã tiến ra ngoài biên giới để chinh phục những thực khách quốc tế. Nếu có dịp du lịch Trung Quốc, du khách đừng quên tìm mua những loại nước sốt để các món ăn thêm thơm ngon nhé!

12 le hoi va su kien van hoa dac sac nhat thuong hai 14

13 lễ hội và sự kiện văn hoá đặc sắc nhất Thượng Hải, Trung Quốc

Thượng Hải của Trung Quốc là một điểm đến ưa thích của rất nhiều khách du lịch trên thế giới. Khi đến đây, du khách sẽ có những trải nghiệm tuyệt vời và đáng nhớ. Đặc biệt, Thượng Hải được biết đến là thành phố sở hữu những lễ hội tuyệt vời và vui tươi, nhộn nhịp nhất.

Lễ Giáng sinh

Giáng sinh mặc dù không phải ngày lễ chính thức của Trung Quốc nhưng điều đó không ngăn được người dân Thượng Hải tận hưởng một mùa Noel rực rỡ chẳng kém thành phố nào trên khắp thế giới.

12 le hoi va su kien van hoa dac sac nhat thuong hai 1

Từng con phố nới đây vốn đã đẹp bởi những ngôi nhà đầy màu sắc, nay càng thêm thu hút bởi ánh đèn lung linh, kim tuyến lấp lánh, ngay cả những hàng cây bên đường cũng được khoác lên mình tấm áo rực rỡ nhất.

Một trong những cách tuyệt vời để đón lễ Giáng sinh ở Thượng Hải là ghé thăm các khu chợ đông đúc và nhộn nhịp với nhiều hoạt động giải trí miễn phí thú vị. Không gian lung linh tại đây sẽ khiến du khách ngỡ như mình đang lạc vào những khu chợ Giáng sinh ở Đức hoặc Hà Lan.

Tết Nguyên đán

Cũng giống như ở Việt Nam, tết Nguyên đán cũng là ngày lễ lớn nhất trong năm, mang đậm nét văn hóa Trung Hoa. Vào dịp này, Thượng Hải là một trong những nơi tuyệt vời nhất để đón tết.

Đến đây, du khách sẽ trải nghiệm không khí tết xưa giữa một không gian hiện đại khi mà ai ai cũng chọn trang trí nhà cửa bằng những câu đối đỏ, đèn lồng đỏ và đốt pháo để cầu một năm mới vui vẻ, an lành và hạnh phúc.

12 le hoi va su kien van hoa dac sac nhat thuong hai 2

Nếu ghé Thượng Hải vào dịp tết cổ truyền, du khách sẽ được thưởng thức các loại bánh truyền thống, trong đó bánh tổ (Nian Gao) là đáng thử nhất bởi nó tượng trưng cho sự ấm cúng và gắn kết gia đình.

Cùng với việc xem đồ trang trí và pháo hoa, tại lễ hội lớn nhất Thượng Hải này, du khách còn được chiêm ngưỡng những màn múa lân, múa rồng tưng bừng trên khắp con phố.

Lễ hội đèn lồng

Lễ hội đèn lồng được tổ chức tại vườn Yu Yuan đến nay đã 20 năm tuổi. Lễ hội này thường được người dân Thượng Hải tổ chức trong tiết thu khi thời tiết chuyển giao giữa mùa hè và mùa thu. Mang phong cách nghệ thuật kết hợp giữa truyền thống và hiện đại nên sự kiện này thu hút rất đông đảo giới trẻ và người cao tuổi tới chiêm ngưỡng.

12 le hoi va su kien van hoa dac sac nhat thuong hai 6

Khi đêm rằm đến, khắp phố phường, quảng trường, công viên ở Thượng Hải đều sẽ được trang trí bằng những chiếc đèn lồng rực rỡ đủ màu bao gồm đèn hoa đăng, đèn hình người, đèn lâu đài, đèn bức tường, đèn con vật để tạo thành những mô hình đẹp mắt trang trí cho cảnh quan công cộng. Không khí đêm rằm náo nhiệt chẳng thua gì giờ phút đón chào năm mới của Tết Nguyên Đán.

Trong lễ hội đèn lồng, người dân Thượng Hải nói riêng và Trung Quốc nói chung thường có tục thả đèn trời. Bởi hình dáng giống chiếc mũ khổng lồ của Khổng Minh nên họ gọi đó là đèn Khổng Minh. Đèn được làm bằng giấy với một lỗ nhỏ ở đáy, người ta sẽ viết ước nguyện lên đó và thả chiếc đèn nhỏ bay lên trời. Như vậy hạnh phúc và may mắn sẽ tới trong cả năm. Mang phong cách nghệ thuật kết hợp giữa truyền thống và hiện đại nên sự kiện này thu hút rất đông đảo giới trẻ và người cao tuổi tới chiêm ngưỡng.

Liên hoan Văn học Quốc tế

Liên hoan Văn học Quốc tế là lễ hội sách lớn nhất tại Trung Quốc nói chung và Thượng Hải nói riêng, sẽ mang đến cơ hội cho rất nhiều bạn trẻ được ngắm thần tượng của mình ngay trong khoảng cách gần. Sự kiện văn hoá này kéo dài tới 1 tuần, thường tổ chức tại nhà hàng Bund. Không chỉ là cuộc gặp gỡ giữa các tác giả nổi tiếng mà còn là nơi tương tác giữa các nhà văn Trung Quốc và quốc tế, mang đến cơ hội giao lưu, học hỏi cho tất cả các nhà văn.

12 le hoi va su kien van hoa dac sac nhat thuong hai 3

Lễ hội này thường diễn vào tháng 3 hàng năm. Nếu muốn trải nghiệm hãy thử một lần ghé Thượng Hải vào thời điểm này. Không chỉ gặp các tác giả nổi tiếng bạn còn có thể sở hữu những cuốn sách có chữ ký của tác giả mình yêu thích. Đây là điều không dễ dàng.

Hội chợ đền Longhua

Hội chợ đền Longhua là một trong những lễ hội truyền thống lớn nhất của thành phố Thượng Hải vào tháng 4 hàng năm. Với lịch sử hơn 400 năm, hội chợ này là nơi du khách có thể xem các buổi biểu diễn về văn hóa dân gian, các điệu múa truyền thống, các nghi lễ ban phước và nhiều hơn thế nữa.

12 le hoi va su kien van hoa dac sac nhat thuong hai 7

Ngoài việc dùng thử các món ăn địa phương và xem các màn biểu diễn tung hứng hay đi cà kheo, du khách cũng có thể tham gia vào màn trình diễn võ thuật hoặc tham gia tour du lịch với hướng dẫn viên địa phương. Địa điểm của lễ hội này, đền Longhua, là một trong những đền Phật giáo nổi tiếng nhất trong thành phố – và nó cũng là đền cổ nhất. Hơn nữa, khu vực này có rất nhiều cây đào thường nở hoa cùng thời điểm với lễ hội.

Lễ hội Văn hoá trà Quốc tế

Diễn ra vào tháng 4 hoặc tháng 5 với thời gian tổ chức trong 4 ngày, lễ hội Văn hoá trà Quốc tế là một sự kiện lớn dành cho những người hâm mộ trà. Lễ hội này được bắt đầu từ những năm 1990 và đã phát triển thành một trong những lễ hội hàng đầu ở Thượng Hải. Tham gia vào lễ hội, bên cạnh những người yêu thích và buôn bán trà nổi tiếng còn có hàng ngàn du khách đến để tìm hiểu kiến thức về thức uống này.

12 le hoi va su kien van hoa dac sac nhat thuong hai 12

Tham gia lễ hội này du khách sẽ tìm thấy rất nhiều loại trà hảo hạng, thưởng thức trà và cả cơ hội xem các phong tục như nhảy trà. Để có chuyến đi thú vị nhất, lời khuyên dành cho du khách là ghé qua quán trà Song Nguyên ở quận Zhabei. Tại đây, ngoài việc trải nghiệm các nghi lễ trà thanh lịch, du khách còn có cơ hội thưởng thức các món ăn dựa trên trà, các món tráng miệng, các buổi biểu diễn và đặc biệt là vở opera về lịch sử của trà.

Lễ hội hoa anh đào

Từ giữa tháng 3 đến tháng 5, những cánh hoa anh đào đua nhau khoe sắc trên các nẻo đường, góc phố khắp đất nước Trung Quốc. Mặc dù mỗi vùng đất khoác lên mình một vẻ đẹp nhẹ nhàng, riêng biệt nhưng sắc hồng hoa anh đào ở Thượng Hải thường ghi được dấu ấn trong lòng du khách hơn cả.

12 le hoi va su kien van hoa dac sac nhat thuong hai 11

Nếu như ở Nhật Bản, người ta thường tổ chức lễ hội Hanami mỗi khi hoa anh đào bung nở thì vào thời điểm này, các công viên ở thành phố Thượng Hải cũng tràn ngập sắc hồng với lễ hội hoa đào hằng năm. Lễ hội này thường bắt đầu vào cuối tháng 3 hoặc đầu tháng 4 tùy thuộc vào thời điểm hoa nở rộ nhất. Du khách có thể dễ dàng tìm thấy hoa anh đào tại bất cứ con đường nào của Thượng Hải và ngửi thấy mùi thơm nhẹ, vấn vương của loài hoa này. Thông thường lễ hội này sẽ được tổ chức kèm những buổi biểu diễn trực tiếp.

Với hơn 10.000 cây anh đào, Công viên Gucun là địa chỉ lý tưởng nếu du khách muốn hòa mình vào lễ hội hoa anh đào lớn nhất Thượng Hải. Vào dịp tháng 4 hàng năm, hàng ngàn du khách đổ về đây tham quan và chụp ảnh. Ngoài ra, du khách có thể đến trường Đại học Đồng Tế tọa lạc ở đông bắc thành phố Thượng Hải, trong cả khuôn viên của trường những gốc cây anh đào lâu năm, tán cây phủ rộng và nở bung rực rỡ. Ngôi trường này nổi tiếng với con đường hoa anh đào.

Liên hoan Phim Quốc tế 

Là một liên hoan tập trung những bộ phim hay nhất, mang ý nghĩa nhân văn nhất của những tên tuổi lớn đến từ Hollywood. Liên hoan phim Thượng Hải thu hút rất nhiều các ngôi sao lớn nhỏ từ khắp nơi trên thế giới. Du khách có thể có cơ hội ngắm nhìn những thần tượng của mình ở cự ly gần.

12 le hoi va su kien van hoa dac sac nhat thuong hai 4

Sự kiện này mang tới hơn 500 bộ phim từ khắp nơi trên thế giới với giải thưởng xứng đáng, cao quý dành cho những bộ phim hay nhất. Liên hoan phim này đã dần trở thành liên hoan phim lớn nhất Đông Á.

Lễ hội thuyền rồng

Nhắc đến các lễ hội và sự kiện văn hoá của Thượng Hải không thể không nhắc tới lễ hội thuyền rồng. Đây được đánh giá là một trong những lễ hội nổi tiếng và thú vị bậc nhất của nơi đây. Khi tới Thượng Hải vào tháng 6, chắc chắn du khách sẽ có những trải nghiệm tuyệt vời và đáng nhớ.

12 le hoi va su kien van hoa dac sac nhat thuong hai 10

Lễ hội Thuyền rồng của Thượng Hải thu hút rất nhiều ngôi sao và đông đảo người dân. Lễ hội này sẽ là cuộc đua thuyền gỗ đầy màu sắc và sôi động. Du khách sẽ được chứng kiến những cảnh đua thuyền gay cấn đến nghẹt thở cùng với đó là sự cổ vũ của đông đảo người dân nơi đây. Chắc chắn du khách sẽ có những giây phút thư giãn, vui vẻ với không khí đầy sôi động này.

Liên hoan truyền hình

12 le hoi va su kien van hoa dac sac nhat thuong hai 8

Được thành lập vào năm 1986, Liên hoan truyền hình đã được tổ chức thành công trong hơn 20 năm vào tháng 6 hàng năm. Đây hiện là một trong những liên hoan truyền hình Trung Quốc có ảnh hưởng nhất, thúc đẩy sự phát triển của ngành truyền hình trong nước và tăng cường giao lưu và hợp tác giữa giới truyền hình Trung Quốc và nước ngoài. Cuộc thi và giới thiệu chương trình truyền hình quốc tế Magnolia Award là một điểm nhấn nổi bật của sự kiện này. Một số lượng lớn các chương trình truyền hình chất lượng tập trung tại đây để cạnh tranh cho những vị trí và giải thưởng xứng đáng. Diễn đàn truyền hình Magnolia là một hoạt động quan trọng khác, tập trung vào các chủ đề và tin tức nóng hổi của ngành công nghiệp truyền hình.

Photofairs Thượng Hải

Ra mắt vào năm 2013, lễ hội này trở thành điểm đến quen thuộc của rất nhiều nhiếp ảnh gia thuộc khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Với hơn 50 phòng trưng bày trên 16 quốc gia, các nhà nhiếp ảnh có thể mang tới những tác phẩm ưng ý nhất để chia sẻ tới tất cả mọi người.

12 le hoi va su kien van hoa dac sac nhat thuong hai 5

Không chỉ vậy các du khách khi tới đây sẽ được thưởng thức những tác phẩm mang đậm tính nghệ thuật và mãn nhãn với những tác phẩm đó. Du khách sẽ có cơ hội nhìn thế giới dưới góc độ nhiếp ảnh và những bức ảnh ấn tượng về thế giới. Chắc chắn rằng du khách sẽ cảm thấy mãn nhãn và bất ngờ với những bức ảnh từ khắp mọi nơi trên thế giới được quy tụ tại nơi đây.

Nếu muốn thưởng thức lễ hội này thì tháng 9 hàng năm là một lựa chọn thích hợp dành cho du khách. Đi vào thời điểm này du khách sẽ có cơ hội thưởng thức thêm nhiều lễ hội khác đầy sôi động tại Thượng Hải.

Liên hoan Nghệ thuật Quốc tế

12 le hoi va su kien van hoa dac sac nhat thuong hai 9

Bắt đầu từ năm 1999, đây là một hoạt động văn hóa nghệ thuật cấp cao ở Trung Quốc. Nó trưng bày nghệ thuật truyền thống Trung Quốc cũng như những thành tựu văn hóa rực rỡ từ các quốc gia trên thế giới, nhằm tăng cường giao lưu giữa văn hóa nghệ thuật Trung Quốc và nước ngoài. Trong sự kiện này, du khách có thể xem nhiều buổi biểu diễn âm nhạc, khiêu vũ và kịch, hoặc tham dự các triển lãm văn hóa nghệ thuật cũng như các hội chợ thương mại. Có những tuần văn hóa được tổ chức để giới thiệu văn hóa đặc sắc trong văn hóa của một thành phố trong nước, tỉnh, khu vực hoặc nước ngoài. Ví dụ, Tuần lễ Văn hóa Singapore và Tuần lễ Văn hóa Thanh Hải được tổ chức vào năm 2007 và Tuần lễ Văn hóa Mexico được tổ chức vào năm 2006. 

Lễ hội du lịch

Đây là lễ hội lớn nhất trong số các lễ hội và sự kiện văn hoá được tổ chức trong thành phố Thượng Hải. Lễ hội này thường bắt đầu từ giữa tháng 9 đến đầu tháng 10 hàng năm. Được thành lập vào năm 1990, nó thu hút cả người dân địa phương và du khách bằng cách trưng bày các sản phẩm và hoạt động du lịch đầy màu sắc của thành phố liên quan đến tham quan, giải trí, ăn uống, mua sắm và triển lãm. Ngoài ra còn có phong tục dân gian, ẩm thực, nghệ thuật, thời trang và văn hóa từ nhiều quốc gia khác để thưởng thức. Du khách có thể đến đây và tham gia những sự kiện độc đáo của lễ hội này:

Lễ diễu hành khai mạc: Nó bắt đầu tại đường Huaihai ở trung tâm vào khoảng 19:30 ngày khai mạc. Cùng với màn trình diễn tuyệt vời của các nghệ sĩ và các nhóm vũ công đến từ các quốc gia trên thế giới với trang phục đầy màu sắc bắt đầu từ đây và diễu hành trên các đường phố chính của thành phố, bao gồm Đường Huangpi, Đường Nam Trùng Khánh và Đường Maoming. 

12 le hoi va su kien van hoa dac sac nhat thuong hai 13

Lễ khai mạc Lễ hội: được tổ chức tại Quảng trường Thế kỷ trên Phố đi bộ Nam Kinh vào khoảng 21:00 giờ ngày khai mạc với sự xuất hiện của nhiều ngôi sao nhạc pop và các nghệ sĩ truyền thống Trung Quốc tham gia lễ hội này.

Cuộc diễu hành trên tàu sông Hoàng Phố: Được diễn ra trên hơn 20 tàu du lịch được trang trí tinh xảo trên sông Hoàng Phố. Những con tàu cùng với ánh đèn nhiều màu sắc, trang phục và pháo hoa hứa hẹn đem đến một đêm đáng nhớ cho khách du lịch. Du khách có thể đặt tàu du lịch và tham gia các bữa tiệc thú vị được tổ chức tại đây, hoặc đơn giản là thưởng thức cảnh đêm quyến rũ của thành phố trên Bến Thượng Hải.

Để có một chuyến du lịch thú vị tới thành phố Thượng Hải hòa mình vào không khí vui nhộn và chiêm ngưỡng khung cảnh tuyệt đẹp của những lễ hội, du khách hãy đặt ngay cho mình một tour Trung Quốc nhé! Chúc các du khách có một chuyến đi vui vẻ và thú vị!

don di hoang quy phi 1

Đôn Di Hoàng Quý phi – vị phi tử cả đời không có con nhưng được cả 3 hoàng đế sủng ái

Thời xưa, không con cái được coi là một trong những tội đại bất hiếu và không được coi trọng. Thế nhưng, với Đôn Di Hoàng Quý phi trong thời nhà Thanh thì lại là một trường hợp ngoại lệ. Cả đời bà không có nổi mụn con nhưng vẫn được cả ba vị hoàng đế là Khang Hi, Ung Chính, Càn Long yêu mến, chăm sóc chu đáo. 

Theo sử sách ghi chép, Đôn Di Hoàng Quý phi là một phi tần của Thanh Thánh Tổ Khang Hi Đế. Bà sinh vào ngày 16 tháng 10 (âm lịch) năm Khang Hi thứ 22, họ Qua Nhĩ Giai thị, thuộc Hoàng kỳ Mãn Châu. Họ này giàu có, phú quý, đứng đầu trong bát đại gia tộc thời nhà Thanh. Cha là Tam phẩm Hiệp lĩnh Dụ Mãn. 

Khi Qua Nhĩ Giai thị 17 tuổi, liền nhập cung tham gia tuyển tú. Nhờ gia thế hiển hách, dung mạo xuất chúng lại trổ hết tài năng, Qua Nhĩ Giai thị thuận lợi trở thành phi tử (Thứ phi) của Khang Hi Đế. 

don di hoang quy phi 4

Một số bản thoại có chép, Qua Nhĩ Giai thị rất xinh đẹp, vẻ đẹp của nàng không lộng lẫy kiêu sa nhưng vô cùng mềm mại, ngọt ngào, nhìn một lần là nhớ mãi. Cùng với xuất thân rất cao, nàng được Khang Hi rất coi trọng. Năm Khang Hi thứ 39 (1700), tháng 12, Qua Nhĩ Giai thị được sách phong Hòa tần, cùng lúc với Lương tần Vệ thị. Vừa vào cung đã được phong làm Hòa tần. Phong vị như vậy, đối với một phi tử mới nhập cung, thực sự khiến nhiều người ghen tị đỏ mắt. Xét về điểm này thì so với Vệ thị sinh được Bát a ca Dận Tự mới phong Tần, quả là có khác biệt.

Vậy nguyên nhân do đâu mà Qua Nhĩ Giai thị lại đắc sủng khi tuổi còn rất trẻ như vậy? Tương truyền Khang Hi đế có lần nằm mộng trông thấy một thiếu nữ ôm phượng cưỡi rồng ở Ninh Cổ Tháp. Thiếu nữ trong mộng có nụ cười duyên dáng, đôi mắt long lanh, xinh đẹp động lòng người. Sau giấc mộng Khang Hi vội sai người đi khắp nơi để tìm thì trông thấy Qua Nhĩ Giai thị ôm một con gà trống, nở nụ cười đẹp tựa hoa hồng bên sông Mẫu Đơn. Thế nên ngay khi nhập cung Qua Nhĩ Giai thị đã được Khang Hi sủng ái hết lòng. Tuy truyền thuyết này vẫn chưa rõ thực hư, nhưng sự sủng ái Khang Hi dành cho Qua Nhĩ Giai thị là điều không thể nghi ngờ.

Một năm sau khi phong Tần, Qua Nhĩ Giai thị sinh càng được sủng ái, liền nhanh chóng có thai và hạ sinh Hoàng thập bát nữ vào ngày 18 tháng 10 (âm lịch) năm 1701. Đáng tiếc, công chúa sau sinh còn chưa kịp đặt tên đã mệnh yểu qua đời. Bất hạnh hơn, vì quá đau thương, hơn nữa sinh con thân thể bị hao tổn, đời này Hòa tần không thể có con nữa.

don di hoang quy phi 3

Khang Hi Đế thấy nàng trẻ tuổi như vậy đã bị tổn thương nặng nề cả về thể chất lẫn tinh thần, vì vậy lại càng cực kỳ thương yêu, chiều chuộng nàng. Mặc dù sau Hòa tần vẫn không thể sinh con, Khang Hi vẫn không lạnh nhạt, quan tâm đầy đủ, thậm chí còn tấn phong nàng làm Hòa phi (tháng 4 năm 1718).

Từ khi nhập cung cho đến khi trở thành Hoà Phi, cuộc sống bà của không có tranh đấu, rất an nhàn. Thực tế, lúc đó, các hoàng tử tranh quyền đoạt vị, rất dễ liên lụy đến mẫu thân của mình. Hòa phi địa vị khá cao nhưng không con cái, cho nên đối với các phi tần khác, nàng không có uy hiếp, đối với các hoàng tử lại càng không có bất kỳ cản trở nào, cuộc sống ở nơi hậu cung của Hòa phi cực kỳ an nhàn. 

Năm Khang Hi thứ 61 (1722), Khang Hi Đế băng hà, thời điểm này, Hòa phi vừa 40 tuổi. Đến khi Ung Chính kế vị, đối với Hòa phi cũng cực kỳ tôn kính, tôn phong bà làm Hoàng khảo Quý phi. Kỳ lạ ở chỗ, Ung Chính đối với mẹ đẻ quan hệ không quá thân thiết, trái lại đối với Hoàng khảo Quý phi lại vô cùng yêu thương, tình như mẹ con ruột thịt.

Tính cách của Hoàng khảo Quý phi ôn hòa lại sảng khoái, hoàng đế Ung Chính có tâm sự trong lòng đều có thể tìm nàng để giải tỏa. Nói cách khác, Ung Chính rất tín nhiệm bà.

Sau, Ung Chính lại hạ lệnh, đưa hoàng tử Hoằng Lịch (hoàng đế Càn Long sau này) đến cho Hoàng khảo Quý phi nuôi dưỡng. Cũng nhờ vậy mà tình cảm của Càn Long và Hoàng khảo Quý phi cũng vô cùng gắn bó, thân thiết.

don di hoang quy phi

Thời điểm Càn Long lên ngôi, vì nhớ ơn dưỡng dục thời ấu thơ nên ông cũng quý trọng, hiếu thuận với Hoàng khảo Quý phi chẳng khác nào bà nội thực sự của mình. Cho rằng thế là không đủ, Càn Long phong tôn bà làm Ôn Huệ Quý Thái phi, và sau đó là Ôn Huệ Hoàng Quý Thái phi. Lúc này, trong hậu cung, bà có bối phận cao không ai sánh nổi.

Cứ như thế, Ôn Huệ Hoàng Quý Thái phi sống an nhàn sung túc cho đến lúc qua đời vào năm Càn Long thứ 33, thọ 86 tuổi. Mệnh tận, bà ở trong tẩm cung An Tường mà rời khỏi nhân thế. Kim quan của bà tạm quàn tại Cát An sở, Càn Long Đế đích thân đến tưới rượu. Cùng năm, hoàng đế làm lễ dâng thụy hiệu cho Ôn Huệ Hoàng Quý Thái phi là Đôn Di Hoàng Quý phi, tiến hành an táng vào Hoàng Quý phi viên tẩm trong Cảnh lăng.

Các sử gia cho rằng, mặc dù Đôn Di Hoàng Quý phi không con không cái, nhưng nhờ xinh đẹp lại tài đức, nhận được sự yêu thương, kính trọng của cả 3 vị hoàng đế nổi tiếng. Nàng cũng trở thành một trong những phi tần sống thọ nhất, sung sướng nhất, suốt đời bình an, trôi chảy, thực sự làm cho người khác ước ao.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất kỳ khách du lịch nước ngoài nào. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn thì hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc nhé!

bac co 5

Bạc Cơ – Thái hoàng Thái hậu đầu tiên của Trung Hoa với cuộc đời “an phận”

Mặc dù là Thái hoàng Thái hậu đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa, Bạc Cơ lại hầu như bị xem nhẹ cả đời, cho dù được tiên đoán là có thể sinh Thiên tử thì cũng không được người khác để tâm. Ngay cả khi đã trở thành thiếp của Hoàng đế, bà vẫn gần như bị bỏ quên. 

Bạc Cơ (? – 155 TCN), còn được gọi là Bạc phu nhân, là một phi tần của Hán Cao Tổ Lưu Bang, Hoàng đế sáng lập ra nhà Hán. Trước khi trở thành tần phi của Lưu Bang, bà là một thiếp thất của Ngụy Vương Báo. Sau khi con trai Hán Văn Đế lên ngôi, bà trở thành Hoàng Thái hậu. Sau khi cháu nội Hán Cảnh Đế lên ngôi, bà trở thành Thái hoàng Thái hậu, là Thái hoàng Thái hậu đầu tiên của nhà Hán và trong lịch sử Trung Quốc.

Theo sử sách ghi lại, cha của Bạc Cơ là người đất Ngô huyện, quận Cối Kê, mẹ là Ngụy Ổn, họ hàng tông thất Ngụy vương. Cha bà Bạc Công mất sớm, mai táng ở Sơn Âm.

bac co 3

Khi Trần Thắng khởi nghĩa chống nhà Tần, các chư hầu tự lập để hưởng ứng, trong đó có nước Ngụy. Bạc Cơ được mẹ đưa vào cung hầu hạ Ngụy Vương Báo. Trong số thê thiếp của Ngụy Vương Báo, Bạc Cơ xinh đẹp nhất nên nhanh chóng trở thành ái thiếp của ông. Sau, Ngụy Vương Báo chết, bà được Hán vương Lưu Bang đưa về hậu cung.

Về sau khi Hán vương xưng Hoàng đế, tức Hán Cao Tổ, bà ở lại Trường An cùng Hán Cao Tổ. Tuy có nhan sắc nhưng suốt một năm trời, Bạc Cơ không hề được sủng hạnh. Cùng nhập cung với bà có Quản phu nhân và Triệu Tử Nhi, từng ước hẹn ai có sủng hạnh thì sẽ không quên những người còn lại. Thế nhưng, cả Quản thị và Triệu thị đều được sủng hạnh trước, bỏ mặc Bạc Cơ.

Hán Cao Tổ năm thứ 4 (203 TCN), Hán Cao Tổ ngồi ở Cao Linh đài tại Hà Nam thành cung, có Quản phu nhân cùng Triệu thị bầu bạn. Đương khi đó cả hai đang gièm giễu việc ước hẹn với Bạc Cơ năm xưa, Hán Cao Tổ nghe thế bèn hỏi, cảm thấy thương xót Bạc Cơ nên tối đó cho triệu hạnh bà. Đêm đó, Bạc Cơ nhỏ to với Hán Cao Tổ rằng: “Đêm trước, thiếp thân mơ thấy có một con thương long (苍龙; rồng xanh) ở trên bụng”. Hán Cao Tổ cao hứng nói: “Đây là điềm lành!”. Đêm đó sau khi lâm hạnh, Bạc Cơ mang thai và sinh ra Lưu Hằng, hoàng tử thứ 4 trong số các hoàng tử của Hán Cao Tổ. Năm Hán Cao Tổ thứ 11 (196 TCN), khi Lưu Hằng được 8 tuổi, Hán Cao Tổ phong làm Đại vương. Nhưng cũng từ đó trở đi, Lưu Bang lại lạnh nhạt với bà, hai người rất ít có dịp gặp mặt nhau. 

bac co 6

Tuy rằng sinh hạ được Hoàng tử, nhưng Bạc Cơ không vì thế mà đòi hỏi Hoàng đế sủng hạnh, hết thảy đều để thuận theo tự nhiên. Bà lặng lẽ nuôi dưỡng con trai, đối xử lương thiện với mọi người. Cho dù là với những người có địa vị thấp nhất trong cung, bà cũng vô cùng lễ nhượng.

Lúc ấy, người được sủng ái nhất trong cung là Thích phu nhân, một người giỏi về múa. Người này nhận được nhiều ân sủng nhất nên ỷ sủng sinh kiêu, những người thị thiếp khác cũng a dua hùa theo phe bà, khiến Lữ hoàng hậu gai mắt. Sau khi Hán Cao Tổ băng hà, Thái tử Lưu Doanh con trai của Lữ hậu lên ngôi, hiệu là Hán Huệ đế.

Lữ thị trở thành Hoàng Thái hậu bắt đầu chèn ép những phi tần từng được tiên đế sủng ái, cấm họ ra ngoài cung cũng như cấm họ về đất phong của con trai họ, đặc biệt là Thích phu nhân người mà Lữ Thái hậu ghét nhất. Năm 194 TCN, Thích phu nhân bị Lữ Thái hậu ra lệnh giết rất tàn bạo: bị chặt tứ chi, bị khoét hai mắt, bị cắt mũi và tai, bị cạo hết tóc, bị chuốc thuốc câm khiến bà không nói được, bị chết trong đau đớn. Sau đó Lữ Thái hậu còn bức hại nhiều Hoàng tử con của Cao Tổ như Lưu Như Ý, Lưu Hiển, Lưu Khôi.

bac co 2

Còn Bạc Cơ vốn không được sủng, địa vị không cao. Thậm chí cho đến tận lúc Lưu Bang mất, Bạc Cơ cũng không được phong làm Phu nhân, chỉ làm thiếp. Hơn nữa, Bạc Cơ cũng không có tâm tranh đấu giành giật, không uy hiếp bất kỳ ai cho nên không bị Lữ Thái Hậu ganh ghét, đố kỵ. Bạc Cơ vì muốn né tránh mọi mâu thuẫn nên đã cầu xin được ra khỏi cung và về đất phong của con trai Lưu Hằng, được Thái hậu chấp thuận cho xuất cung, nhờ thế mà bình an yên ổn. Ở đất phong của con trai, tức Đại quốc, Bạc Cơ trở thành Đại Vương Thái hậu, sống hưởng phước con cháu đầy đàn.

Sau khi Hán Huệ đế và Lữ Thái hậu lần lượt qua đời, các quan trong triều lật đổ sự thống trị của gia tộc họ Lữ, bàn bạc xem nên đưa người con trai nào của Hán Cao Tổ lên ngôi, và cân nhắc đến cả vấn đề mẫu tộc của Tân đế không nên quá quyền lực để tránh tình trạng ngoại thích tiếm quyền tiếp tục tái diễn như thời Lữ Thái hậu, suy xét một hồi thì họ thấy Đại vương Lưu Hằng, con trai của Bạc Cơ là người phù hợp nhất.

Lưu Hằng lên ngôi, lấy hiệu Hán Văn đế, tôn phong mẫu thân làm Hoàng Thái hậu. Bạc Thái hậu chọn một đứa cháu trong gia tộc gả làm chính thất cho đứa cháu nội của bà, tức Thái tử Lưu Khải. Hán Văn đế băng hà, Thái tử Lưu Khải lên ngôi, lấy hiệu Hán Cảnh đế, tôn phong tổ mẫu làm Thái Hoàng Thái hậu. Bạc Cơ là người đầu tiên được phong làm Thái Hoàng Thái hậu trong lịch sử Trung Quốc.

bac co 1

Năm 155 TCN, Bạc Cơ qua đời. Thời nhà Hán chỉ có chính thất Hoàng hậu mới được phép hợp táng cùng Hoàng đế, còn phi tần thì không được và dù vị phi tần đó có là sinh mẫu của Hoàng đế thì sau khi qua đời cũng không được truy phong làm Hoàng hậu. Thế nên Bạc Cơ chỉ được gọi là Bạc Thái hậu hoặc Văn đế Thái hậu, được an táng ở Bạc lăng, thuộc Bá lăng – nơi chôn cất của người con trai bà là Hán Văn đế. Đến thời Hán Quang Vũ đế Lưu Tú, Bạc Cơ được truy tôn làm Cao Hoàng hậu, được hợp táng cùng Hán Cao Tổ trong Trường lăng, còn mộ của Lữ Thái hậu bị dời khỏi Trường lăng.

Hậu cung Trung Hoa xưa luôn có những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện ấy lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về vùng đất “đặc biệt” này. Hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc để tự mình khám phá được nhiều điều thú vị hơn nhé!

com chien duong chau 5

Cơm chiên Dương Châu – tinh hoa ẩm thực xứ Trung Hoa

Trung Quốc nổi tiếng là một quốc gia có bề dày lịch sử. Cộng thêm vào đó là diện tích rộng lớn nên ẩm thực nơi đây khá đa dạng và phong phú với rất nhiều món đặc sản. Trong số đó, phải kể đến món Cơm chiên ở Dương Châu tuyệt hảo. Và có lẽ cũng vì xuất phát từ Dương Châu nên người ta gọi luôn món ăn là Cơm chiên Dương Châu.

Cơm chiên Dương Châu, hay gọi bóng bẩy hơn là “cơm chiên vàng bạc” là một món ăn đã vượt xa biên giới Trung Quốc để trở nên nổi tiếng trên toàn thế giới. Đây là một trong những món cơm chiên được yêu thích nhất trên thế giới, ngon, rẻ và bất cứ ai cũng có thể làm được. Hầu như tất cả các nhà hàng Trung Quốc trên khắp thế giới đều phục vụ món ăn này trong thực đơn của nhà hàng mình.

Cơm chiên Dương Châu bắt nguồn là một món ăn gia đình của Trung Quốc, được chế biến từ cơm nguội và các thực phẩm còn thừa lại ở bếp và sau mỗi bữa ăn. Nguồn gốc của món ăn nổi tiếng này vẫn còn gây ra rất nhiều tranh cãi.

com chien duong chau 4

Một số nguồn thông tin cho rằng: sơ khai của cơm chiên Dương Châu là món cơm chiên với trứng. Hoàng đế nhà Tùy đã truyền bá món cơm chiên này tới Dương Châu, khi ông vi hành qua đây. Một số người lại tin rằng cơm chiên Dương Châu bắt nguồn từ dân gian.

Theo nghiên cứu của các học giả, ngay từ thời Xuân Thu, những người chèo thuyền trên kênh đào Dương Châu đã bắt đầu ăn cơm chiên trứng. Vào thời đó, cuộc sống còn khổ cực, nếu cơm thừa của ngày hôm nay sẽ được dành cho bữa trưa hôm sau. Họ chiên cơm với trứng cùng hành lá xắt nhỏ, món này gọi là Cơm chiên trứng.

Đến thời nhà Minh, các đầu bếp Dương Châu đã cho thêm vào món cơm chiên trứng một số loại gia vị khác để làm tăng mùi vị cho món ăn và tạo thành món Cơm chiên Dương Châu. Sau đó, đến thời Gia Khánh của nhà Thanh, Y Bỉnh Thụ bắt đầu thêm thịt nạc, tôm,… sau đó chiên với trứng cho một hương vị mới ngon hơn. Từ đó, món ăn này được truyền bá khắp nơi. Và trở nên nổi tiếng khắp Trung Quốc và cả thế giới.

com chien duong chau 1

Ngày nay, ở Trung Quốc, Cơm chiên Dương Châu thường được chọn làm khai vị trong các bữa tiệc, bữa ăn. Với nguyên liệu dễ dàng, chế biến nhanh chóng mà hương vị thơm ngon nên được nhiều người yêu thích. Các nguyên liệu khá phong phú. Trước hết, nguyên liệu không thể thiếu là gạo được chọn lựa cẩn thận để nấu thành cơm, cơm phải có độ săn chắc, độ bóng đầy đủ, đặc biệt là cơm phải tơi, mịn, không bị nát, không bị dính. Thịt heo nướng, vị ngọt nhẹ đặc biệt là một thứ nguyên liệu khác không thể thiếu được trong món Cơm chiên Dương Châu. Tuy vậy, ở một số nơi, thịt đùi heo được dùng thay cho thịt heo nướng. Bên cạnh đó phải còn có cà rốt, giá, cần tây, đậu phụ, đậu quả, trứng và một số loại thịt như tôm, thịt gà. Cơm được chiên bằng dầu thực vật hoặc mỡ động vật để giúp cho hạt cơm không bị dính và có mùi thơm ngậy.

Trứng đem lại màu vàng óng cho món cơm. Màu vàng nâu và một chút mặn được tạo bởi nước tương. Thêm hạt tiêu và nước sốt, món cơm sẽ có vị cay vừa phải, đậm đà mà rất dễ chịu. Hành và tỏi càng làm dậy lên mùi thơm hấp dẫn sẵn có. Ngoài ra, cũng có thể cho thêm hải sâm, đậu xanh, hành tăm và thịt đùi tuỳ theo sở thích của mỗi người để cơm chiên thêm phần quyến rũ và bổ dưỡng.

com chien duong chau 3

Chính sự kết hợp hài hòa của các nguyên liệu có trong món Cơm chiên Dương Châu mà làm cho món ăn không chỉ có hương vị thơm ngon mà còn có màu sắc rất bắt mắt nữa. Sắc tố trong món Cơm chiên Dương Châu đã thể hiện sự tương quan của tử vi ngũ hành âm khí và dương khí vô cùng rõ ràng. Người Trung Quốc thường rất xem trọng tử vi, chính vì vậy mà trong mỗi món ăn người ta cũng thường vận dụng quan niệm âm khí và dương khí tử vi ngũ hành để thực hiện món ăn. Như vậy mà món Cơm chiên Dương Châu không chỉ tạo được mùi vị ngon miệng, thơm ngon, hấp dẫn mà còn làm cân bằng âm khí và dương khí trong cơ thể con người. Cụ thể hơn, Cơm chiên Dương Châu là món ăn thơm ngon lại rất tốt cho sức khỏe. Nó cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho một bữa ăn, cung cấp cả chất đạm, chất béo, vitamine cho cơ thể mà không cần thêm ăn kèm thức ăn khác. Vì thế, Cơm chiên Dương Châu không những là món ăn ngon bổ dưỡng mà còn rất tiện lợi để thưởng thức. Múc muỗng Cơm chiên Dương Châu với màu sắc hấp dẫn của rau củ, cảm nhận vị thơm ngon tròn vị của các loại gia vị, vị bùi của các loại rau, vị béo ngậy thơm của trứng, dư vị để lại nhớ mãi không thôi.

com chien duong chau 2

Để món ăn không bị khô hay ngấy, thực khách có thể kết hợp ăn với dưa chuột, cà chua cắt lát hoặc các loại salad khác. Thêm chút xì dầu hoặc tương ớt sẽ làm món ăn ngon hơn nhiều. Hãy thưởng thức khi còn nóng để có thể cảm nhận được trọn vẹn hương vị thơm ngon đặc trưng của món Cơm chiên Dương Châu!

Du khách hãy du lịch Trung Quốc và đắm chìm trong những món ẩm thực đơn giản mà ngon đến tuyệt vời như món cơm chiên Dương Châu nhé! Chúc các du khách có một chuyến đi vui vẻ và thú vị!

bun oc 2

Bún ốc – đặc sản “nặng mùi” kén người ăn của vùng đất Liễu Châu, Trung Quốc

Cũng giống như trái sầu riêng khét tiếng, món Luosifen (bún ốc) đã tạo được tiếng vang trên mạng xã hội của đất nước Trung Quốc nhờ mùi hương mạnh mẽ của nó. Một số người ví von bún ốc như một loại “vũ khí sinh học” vì không thể chịu đựng được mùi vị của món ăn.

Bún ốc có nguồn gốc từ Liễu Châu – một thành phố thuộc tỉnh Quảng Tây, phía bắc Trung Quốc. Luosifen được ví von như “sầu riêng của các loại bún phở”, dù “nặng mùi” nhưng lại là món ăn yêu thích của rất nhiều người. Thậm chí với nhiều tín đồ của món ăn này, vị chua nhẹ và sự kết hợp hoàn hảo của các nguyên liệu trong món bún ốc đã “lấn át” luôn “mùi khó ngửi” và vô cùng gây nghiện.

Mặc dù có tên gọi là bún ốc nhưng thực tế một tô bún không hề có sự góp mặt trực tiếp của ốc. Người ta chỉ sử dụng ốc sông để tạo ra hương vị cho phần nước dùng của món ăn này. Ngoài ra, ở nước dùng còn được hầm từ xương heo hoặc bò, măng ngâm chua. 

bun oc 3

Một tô bún ốc thường là sự kết hợp của nhiều nguyên liệu địa phương như: măng, đậu que ngâm chua, lạc rang, váng đậu, rau… người ta cũng có thể thêm vào nhiều nguyên liệu tuỳ vào sở thích như nấm hương, tôm… Sau khi sắp xếp các nguyên liệu vào tô, phần nước dùng có mùi khá nồng, cay nóng và chua nhẹ sẽ được chan vào để tạo thành một tô bún ốc hoàn chỉnh. 

Trong khi ốc có thể được coi là thành phần lạ nhất trong món Luosifen (dù chỉ để tạo nên hương vị nước dùng), thì măng chua lên men (Suan Sun) là nguyên liệu thổi hồn cho món bún này. Suan Sun khiến món bún ốc có “mùi đặc biệt”, thế nhưng đó cũng là nét thu hút nhất của món ăn.

Suan Sun

Để măng giữ được độ tươi ngon nhất, những người nông dân ở vùng ngoại ô Liễu Châu phải thức dậy trước bình minh để thu hái. Họ chọn phần ngọn vừa trồi lên khỏi mặt đất, cẩn thận cắt bỏ các chồi phía trên thân rễ. Măng sau đó được gọt sạch vỏ, thái sợi và ngâm trong dung dịch ít nhất 2 tháng. Nước ngâm là sự pha trộn giữa nước suối Liễu Châu và nước ngâm măng lâu năm. Mỗi mẻ măng mới chứa từ 30 đến 40% lượng nước ngâm cũ. Quá trình lên men không chỉ đòi hỏi thời gian mà cũng cần được theo dõi một cách cẩn thận. Sau khi thành phẩm măng vẫn giữ được đồ giòn và vị chua “gây nghiện” vô cùng.

Bên cạnh măng chua, sợi bún để làm món bún ốc cũng khá đặc biệt, được làm từ gạo, to và có độ dai nên người ăn có thể ăn được khá nhiều mà không thấy ngán. Ngoài ra, phần nước dùng làm từ ốc có vị chua chua cay cay giúp món bún ốc khá trọn vị.

bun oc 1

Một tô bún ốc sẽ có vị chua cay của nước dùng, vị chua chua giòn giòn của măng ngâm, vị bùi của lạc rang… có thể khiến nhiều người ngại ngùng không dám thử, thế nhưng một khi đã thử qua, chắc chắn sẽ bị hấp dẫn và “mê mệt”.

Với thông tin về món bún ốc “đặc biệt” mà chúng tôi vừa chia sẻ trên đây chắc hẳn du khách đã rất nóng lòng muốn du lịch Trung Quốc và thưởng thức nó rồi phải không? Hãy xách balo lên và đi và tận hưởng thôi nào. Chúc các du khách có một hành trình trải nghiệm đầy tuyệt vời!

dan toc choang 8

Người Choang – dân tộc thiểu số đông nhất ở Trung Quốc

Dân tộc Choang là một nhóm dân tộc sống chủ yếu ở khu tự trị Quảng Tây phía nam Trung Quốc. Ngoài ra, một số sống ở các tỉnh Vân Nam, Quảng Đông, Quý Châu và Hồ Nam. Họ được xếp vào một trong số 55 dân tộc thiểu số được Cộng hòa nhân dân Trung Hoa chính thức công nhận.

Dân tộc Choang còn có hơn 20 tên gọi khác nhau như: Bố Tráng, Bố Nùng, Bố Liêu, Bố Thổ, Bố Việt, Bố Mạn, Bố Tày,… Dân tộc thiểu số này đã có lịch sử phát triển lâu đời với nguồn gốc từ cộng đồng dân cư Bách Việt thời cổ đại.

Theo số liệu thống kê năm 2006, dân số Choang ước tính khoảng 18.000.000 người, xếp thứ hai sau người Hán. 94% dân số Choang sống tại tỉnh Quảng Tây, tập trung ở phía tây và tây nam tỉnh. Theo Cục thống kê Quảng Tây 61,5% dân số toàn tỉnh là người Hán, người Tráng chiếm 32,6%, 6% còn lại là các sắc tộc thiểu số khác. 

dan toc choang 5

Theo phát hiện của các nhà khảo cổ học, cách đây mấy chục vạn năm, trên khắp vùng Quảng Tây đã có những hoạt động của người cổ đại. Lưu vực thung lũng sông Hữu nơi dân tộc Choang sinh sống đã phát hiện nhiều di chỉ thời đại đồ đá cũ cách đây 6-7 vạn năm của người cổ đại, trong đó có không ít di vật văn hóa. Đặc trưng thể chất của người cổ đại là đầu to, lưỡng quyền nhô cao, xương mũi thấp, sống mũi hơi lõm, hàm răng trên hình lưỡi cày… Những đặc trưng này thuộc về chủng người Mongoloit, giống với đặc trưng thể chất người Choang hiện nay.

Tổ tiên của người Choang đã sống ở Quảng Tây trải qua các triều đại Thương, Chu, thời kỳ Xuân Thu, Chiến Quốc, các triều đại Tần, Hán, Đường, Tống, với nhiều tên gọi khác nhau như Tây Âu, Lạc Việt, Ô Hử, Lý, Liêu, Lương, Thổ… Thời kỳ này, ảnh hưởng của người Hán còn rất hạn chế. Thời Nam Tống (1127-1279), mới bắt đầu có tên gọi Choang. Về sau, Choang dần trở thành danh xưng dân tộc thống nhất, cùng với những cư dân người Hán từ Trung nguyên đến sinh sống ở Quảng Tây ngày một nhiều.

Dân tộc Choang sử dụng ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Hán Tạng, nhóm ngôn ngữ Choang Động, chi tiếng Choang Thái, rất giống với tiếng dân tộc Tày, Nùng ở vùng núi phía Bắc Việt Nam, tiếng Thái Lan, tiếng Lào và tiếng Shan ở Myanmar. Dân tộc Choang có chữ viết riêng của mình. Từ thời Nam Tống đã xuất hiện một loại chữ được cấu thành trên cơ sở chữ Hán, gọi là “Thổ tục”, nhưng được sử dụng phố biến. Năm 1955, dân tộc Choang tạo ra chữ viết phiên âm dùng chữ cái Latinh là cơ sở, đến tháng 11/1957 được Quốc vụ viện Trung Quốc phê chuẩn và lưu hành rộng rãi cho đến ngày nay.

dan toc choang 6

Hình thức nhà ở của người Choang đa dạng với 3 loại: nhà sàn, nhà trệt và nửa nhà sàn, nửa nhà trệt. Hình thức an táng của người Choang là chôn, thiêu hay để quan tài ngoài trời.

Trang phục truyền thống của người Choang cách đây 100 năm về trước: nam giới mặc áo ngắn không cổ, cài khuy giữa, quần ống rộng, đầu quấn khăn; còn nữ giới thì mặc váy gấp nếp, áo ngắn không cổ có viền hoa, đầu quấn khăn hoa. Ngày nay, họ mặc áo dài hoặc ngắn có cổ, may bằng vải tự dệt màu xanh dương đậm, đen hoặc đỏ, hay mặc trang phục hiện đại.

Người Choang thực hiện chế độ hôn nhân một vợ một chồng, lưu truyền tập tục phụ nữ không về nhà chồng, vẫn ở nhà cha mẹ đẻ, chỉ những ngày lễ tết hay ngày mùa mới về nhà chồng ở một thời gian. Ngày xưa chồng phải theo họ vợ, ngày này có thể không cần đổi nữa nhưng vẫn phải theo tập tục ở rể. Đây được xem là tàn tích của chế độ mẫu hệ trong lịch sử dân tộc.

dan toc choang 4

Người Choang chủ yếu sinh sống bằng nông nghiệp trồng lúa nước. Nền nông nghiệp của họ đã có từ lâu đời và ngày càng phát triển. Thủ công nghiệp của họ cũng rất phát triển, thông qua các nghề dệt, nhuộm vải; làm đồ gốm sứ, đúc trống đồng. Kỹ thuật đóng thuyền của họ cũng được đánh giá cao.

Chợ (tiếng Choang gọi là “khư”) là hình thức giao thương buôn bán phổ biến nhất của người Choang. Người Choang trao đổi, mua bán vật dụng, hàng hóa ở chợ và thậm chí chợ còn biến thành nơi giao lưu văn hóa nghệ thuật thông qua các hình thức sinh hoạt ca hát.

Người Choang có một nền văn hóa nghệ thuật phong phú, nhiều màu sắc. Văn học dân gian, hội họa, âm nhạc,… đều có những thành tựu to lớn. Người Choang nổi tiếng thích ca hát nhảy múa, dùng lời ca tiếng hát miêu tả cuộc sống và biểu đạt tư tưởng, tình cảm của mình.

Mỹ thuật của người Choang có những biểu hiện đa dạng. Tranh vẽ trên vách ở Hoa Sơn, lưu vực sông Tả là di sản văn hóa quý báu do tổ tiên người Choang sáng tạo ra cách đây hơn 2.000 năm. Phạm vi tranh vẽ cao 40m, dài hơn 220 mét, có 1.800 hình vẽ khác nhau.

dan toc choang 3

Trống đồng là vật phẩm nghệ thuật quý báu của dân tộc Choang, vừa là nhạc cụ, vừa là vật tượng trưng cho quyền lực và sự giàu có. Những hoa văn đúc trên mặt trống đồng thể hiện trình độ nghệ thuật cao của người Choang từ mấy ngàn năm trước. Ở Bảo tàng Dân tộc Quảng Tây hiện đang bảo quản hơn 500 trống đồng.

Văn học dân gian của dân tộc Choang rất phong phú, đa dạng, đặc biệt là có những truyện kể dân gian được lưu truyền sâu rộng như câu chuyện thần thoại “Muliujia”, “Buluotuo” kể về các vị thần sáng thế tạo ra trời đất, vạn vật, sắp đặt lại trận tự của giới tự nhiên…; truyện anh hùng “Mạc Nhất đại vương”…

dan toc choang 2

Người Choang có hình thức sinh hoạt chợ phiên. Năm 1983, khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây định hội hát chợ phiên vào ngày 3 tháng 3 âm lịch hàng năm, từ đó còn gọi là “Tết 3 tháng 3”. Trong chợ phiên, thường có ca hát đối đáp và các cuộc vui dân gian như ném tú cầu, bắn pháo bông, múa lân, thi kéo co, bắn nỏ,… Đặc biệt, dân ca của dân tộc Choang có nội dung phong phú, được đánh giá là viên ngọc quý trong kho tàng văn nghệ dân gian của người Choang.

Hình thức nghệ thuật sân khấu dân tộc của người Choang là kịch Choang, bắt nguồn từ hình thức ca múa dân gian, ngày nay phát triển rất mạnh mẽ với nhiều đoàn kịch chuyên nghiệp.

Vải gấm Choang là sản phẩm thủ công mỹ nghệ nổi tiếng của người Choang, chất liệu bền chắc, hoa văn tinh xảo, sinh động, nhiều màu sắc, được người Choang tự hào và khách du lịch ưa chuộng.

Người Choang là dân tộc có phong vị ẩm thực phong phú. Những món ăn nổi tiếng là cơm nếp năm màu, cơm nếp bí đỏ, cơm nếp khoai lang, bánh tét, bánh dày, đậu hũ viên nhồi thịt, thịt heo quay,… Nhìn chung, những món ăn của người Choang thường chế biến theo kiểu chiên xào. Hương vị đặc trưng là vị ngọt, các món xào hơi nhiều mỡ một chút để tạo độ béo ngậy. 

dan toc choang 7

Những lễ hội quan trọng nhất của người Choang là “Tết 3 tháng 3”, “Trung nguyên”, “Hồn trâu bò”. Người Choang theo tín ngưỡng đa thần, họ thờ quỷ thần và tổ tiên. Hầu hết người Choang theo một tín ngưỡng vật linh truyền thống gọi là Sư Công giáo hay Mo Giáo, bao gồm nghi thức thờ cúng tổ tiên. Mo Giáo có các bài tế riêng và các thầy tế được gọi là Bu Mo. Trong các nghi thức Mo truyền thống, thầy Mo dùng xương gà để xem quẻ. Trong Mo Giáo, đấng tạo hóa là Bu Luotuo và vũ trụ gồm ba yếu tố với tất cả mọi vật được hình thành từ ba yếu tố này, gồm: trời, đất và nước. Người Choang cũng có một số theo Phật Giáo, Đạo Giáo và Thiên Chúa Giáo.

Người Choang có quan niệm đạo đức thuần hậu. Hiếu kính cha mẹ, kính già yêu trẻ là quan niệm đạo đức cơ bản của người Choang. Họ trọng danh dự, đề cao tình đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, nhiệt tình hiếu khách. Họ cũng rất xem trọng tinh thần lao động cần cù, chăm chỉ. Đối với họ, trộm cắp là đáng căm giận, lười biếng là đáng sỉ nhục.

Và khi nhắc tới dân tộc Choang, không thể không nói đến trình độ võ thuật của họ. Tranh vẽ trên vách đá Hoa Sơn là tư liệu vô cùng quý báu về nguồn gốc võ thuật người Choang. Tranh vẽ trên vách đá Hoa Sơn vẽ người với đường nét đơn giản, chắc khỏe, động tác chiêu thức rõ ràng, phát lực mạnh mẽ, thần thái oai phong. Phần lớn các hình người đứng tấn kiểu mã bộ và nửa mã bộ, linh hoạt ẩn hiện, sinh động phong phú.

Vật phẩm trong tranh vẽ trên vách Hoa Sơn cũng được tạo hình sống động, có trống đồng, đao, trường thương, thủ phiêu (phiêu ném), kiếm, mã tấu, nỏ núi (sơn nỗ), tên tre… đủ nói lên sự phát triển đa dạng trong văn hóa cũng như vũ khí của dân tộc Choang đã được hình thành với khí thế hừng hực từ ngàn năm trước.

Ngoài những thứ kể trên, trong nhóm tượng ở Ninh Minh Hoa Sơn có con vật 4 chân, tướng mạo như chó sói, một tay cầm phi đà (quả cân ném – một biến thể của chùy lưu tinh), lưng đeo bảo kiếm, hai chân gập gối dạng ra khuỵu xuống, ưỡn ngực, đè hông thành tấn mã bộ vững vàng trầm chắc. Đây được coi là vật tổ của dân tộc Choang có võ công phi phàm.

dan toc choang 1

Trong lịch sử, võ thuật dân tộc Choang đã phát huy uy lực cực lớn trong các cuộc chiến chống lại giặc lùn (Nụy khấu – cách gọi miệt thị người Nhật Bản) vượt biển sang cướp phá vùng Lưỡng Quảng. Theo sách “Quy thuận châu chí” viết: Năm Minh Gia Tĩnh thứ 34 (năm 1555), có một phụ nữ người Choang quen sử dụng song đao tên là Ngõa Thị phu nhân chỉ huy trai tráng người Choang dùng mộc chắn và mã tấu, trường thương phát huy tác dụng che chắn và sức tấn công dài của thương đã đại phá đội quân chủ lực dùng súng hỏa mai của Nụy khấu, chặt đầu thủ lĩnh và tiêu diệt hơn 300 kẻ địch.

Đời Thanh, năm 1851 Hồng Tú Toàn, Dương Tú Thanh thống lĩnh giáo dân làm cuộc khởi nghĩa từ thôn Kim Điền, huyện Quế Bì, tỉnh Quảng Tây nổi danh với tên gọi Thái Bình Thiên Quốc, thế lực lan ra 17/18 tỉnh của Trung Quốc, sau đó thành lập Thiên Quốc, đóng đô ở Thiên Kinh (tức Nam Kinh), đến năm 1854 bị nhà Thanh dựa vào các thế lực đế quốc dẹp tan. Trong các tướng sĩ Thái Bình Thiên Quốc có rất nhiều cao thủ người dân tộc Choang tham gia vào các cuộc chinh chiến như Tiêu Triều Quý, Đàm Thiệu Quang đã mang hết tài ba võ nghệ để cống hiến cho cuộc khởi nghĩa. Sau khi thất bại, hầu hết các cao thủ võ thuật người Choang lánh nạn vào những nơi hẻo lánh, hoang vu, tiếp tục truyền lại võ công ngàn đời cho hậu thế.

Còn rất nhiều điều thú vị về dân tộc Choang mà với giới hạn ở bài viết này không thể trình bày hết được. Du khách hãy thực hiện một chuyến du lịch Trung Quốc để tự mình khám phá nhiều hơn nhé! Chúc các du khách có một chuyến đi với nhiều trải nghiệm thú vị!

van hoa tra dao trung hoa 11

Nét tinh tế trong văn hoá trà đạo của người Trung Hoa

Trà vốn có ảnh hưởng lớn trong lịch sử văn hóa Trung Hoa, và nhiều người cũng nhận định Trung Quốc là một trong những cố hương của trà. Nơi này có một nền văn hóa trà đạo cực kỳ đặc sắc.

Trung Quốc là cái nôi của trà đạo, bởi đây là quốc gia đầu tiên phát hiện ra trà và sử dụng trà như một đồ uống. Trà không chỉ là thức uống thanh nhiệt mà còn chữa được bệnh. Đối với người Trung Hoa, thưởng trà đã trở thành nét văn hóa ngàn năm lịch sử. Việc thưởng trà cũng là một nghệ thuật. Nghệ thuật ấy bao gồm hai mặt: một mặt là nghi lễ gồm các khâu chuẩn bị để thưởng thức trà cũng như phương pháp thưởng thức; mặt khác là tư tưởng tu dưỡng, tức là phải thông qua uống trà tu thân, nuôi dưỡng tinh thần, nâng cao tư tưởng cá nhân lên trình độ hiểu biết triết lý.

Thưởng trà là một thói quen có từ ngàn đời

van hoa tra dao trung hoa 12 e1631607674124

Người Trung Quốc uống trà đã có hơn 4.000 năm lịch sử. Trong sinh hoạt hằng ngày của người Trung Quốc không thể thiếu một loại nước giải khát đó là trà, tục ngữ có câu: “Củi đóm, gạo dầu, muối, tương, dấm và trà”. Trà được liệt vào một trong 7 thứ quan trọng trong cuộc sống, có thể thấy được uống trà là điều rất quan trọng. Dùng trà để tiếp khách là thói quen của người Trung Quốc. Khi có khách đến nhà, chủ nhà liền bưng một chén trà thơm ngào ngạt cho khách, vừa uống vừa chuyện trò, bầu không khí rất thoải mái.

Tương truyền, trước năm 280, ở miền Nam Trung Quốc có một nước nhỏ gọi là nước Ngô, mỗi khi nhà vua thết tiệc các đại thần, thường ép các đại thần uống rượu cho say mềm. Trong số các đại thần có một đại thần tên là Vĩ Siêu không uống được nhiều rượu, nhà vua cho phép ông ta uống trà thay rượu. Từ đó về sau, các quan văn bắt đầu dùng trà để tiếp khách. Đến đời nhà Đường, uống trà đã trở thành thói quen của mọi người.

van hoa tra dao trung hoa 1

Cũng có ghi chép rằng, thói quen này còn có liên quan đến Phật giáo. Vào khoảng năm 713 đến năm 741, lúc đó các sư sãi và các tín đồ trong nhà chùa do ngồi tụng kinh trong thời gian dài, thường hay ngủ ngật và ăn vặt, nhà sư liền nghĩ ra cách cho họ uống trà cho tỉnh táo, từ đó, biện pháp này được lưu truyền đi khắp nơi.

Trong khi đó, những gia đình giàu có của nhà Đường, còn mở phòng chuyên pha trà, thưởng thức trà và đọc sách, gọi là phòng trà. Năm 780, ông Lục Vũ chuyên gia về trà của nhà Đường đã tổng kết kinh nghiệp trồng trà, làm trà và uống trà, viết cuốn sách về trà đầu tiên của Trung Quốc với tựa đề: “Kinh nghiệm về trà”. Ông được người đời tôn là Thánh trà.

Trong đời nhà Tống, nhà vua Tống Huy Tôn dùng tiệc trà để thết các đại thần, tự tay pha trà. Trong Hoàng cung đời nhà Thanh, không những uống trà, mà còn dùng trà tiếp khách nước ngoài.

Ngày nay, hàng năm vào những ngày tết quan trọng như: tết dương lịch hoặc tết xuân…, có một số cơ quan, đoàn thể thường tổ chức liên hoan tiệc trà.

Nghệ thuật pha và rót trà

Không chỉ đơn giản là một thói quen, thưởng trà còn được nâng lên thành một nét nghệ thuật từ cách pha trà cho đến uống trà. Có nhiều cách để pha một ấm trà. Đơn giản thì cho trà vào tách sau đó đổ nước sôi vào chờ vài giây rồi có thể mang ra thưởng thức.

Để có một ấm trà ngon, thì việc chuẩn bị nguyên liệu trà, nước, ấm pha trà, và chén dùng trà cũng phải tuân theo một yêu cầu nhất định.

van hoa tra dao trung hoa 3

Trước tiên, lá trà phải lựa để phơi khô phải là lá trà khỏe, tươi không bị dập nát, trải qua quá trình sơ chế, sao khô hạ thổ. Theo lý giải của người Trung Hoa xưa thì ngọn trà khi được hái xuống đã tiếp nhận dương khí của trời, để cân bằng âm dương, thì trà xao khô phải được hạ thổ để nhận tinh khí từ đất. Đồng nghĩa đất trời giao hòa, âm dương cân bằng.

van hoa tra dao trung hoa 2

Nước pha trà có thể là là nước giếng, nước mưa hay nước suối… Người xưa thường dùng một mạch nước nhỏ từ trong lòng núi chảy ra, hay nước từ băng tuyết tan từ những cành hoa, ngọn cây nên trà pha lên có hương vị đặc biệt khác lạ.

Ấm và chén dùng để pha trà thường được dùng là gốm sứ, có tính giữ nhiệt và đảm bảo vị tươi ngon và lưu giữ tốt nhất hương thơm của trà.Chén uống trà nên để chén loại nhỏ, chỉ vừa đủ 1-2 ngụm trà, uống trà nhâm nhi để cảm nhận hương vị của nó từ đầu lưỡi đồng thời chén trà nhỏ đủ uống để người uống được uống trà nóng.

van hoa tra dao trung hoa 5

Điều cần lưu ý, trước khi pha trà, nhất định phải rửa sạch sẽ dụng cụ pha trà, đặc biệt với những món đã lâu không dùng, bám đầy bụi bẩn thì càng phải dùng nước sạch rửa kỹ càng. Khi pha trà, trước khi rót trà tốt nhất nên dùng nước nóng tráng ấm và chén trà, để hương thơm của trà tỏa ra ngào ngạt. Làm như vậy vừa đảm bảo vệ sinh, lại vừa đúng lễ nghĩa. Ngoài ra, trước khi rót trà phải chuẩn bị lót chén, tránh phỏng tay và cũng tránh việc khiến khách nhất thời không thể bưng lên uống.

van hoa tra dao trung hoa 4

Lá trà không được bỏ quá nhiều, cũng không được bỏ quá ít. Nếu quá nhiều, vị trà sẽ rất đậm; nếu quá ít, trà pha ra cũng không có vị gì. Giả dụ khách chủ động giới thiệu thói quen bản thân thích uống trà đậm hay nhạt, vậy thì gia chủ sẽ dựa trên khẩu vị của khách mà pha. Lúc rót trà, dù là ly lớn hay nhỏ, đều không được đổ quá đầy, nếu đầy quá sẽ khiến nước tràn ra làm ướt cả bàn, ghế và sàn. Nếu bất cẩn còn có thể gây bỏng bản thân hay khách, khiến đôi bên đều khó xử. Đương nhiên, cũng không được rót quá ít.

Khi đã rót trà vào ly, gia chủ sẽ bưng ly trà mời khách. Dựa theo thói quen truyền thống của người dân Trung Hoa, gia chủ sẽ dùng hai tay bưng trà cho khách. 

Lễ nghi cơ bản trước và trong khi thưởng trà

Chỗ ngồi: Khi thưởng trà, việc khách ngồi ở đâu thường tùy theo ý gia chủ, nhưng vẫn nên tuân theo nguyên tắc: lấy gia chủ làm tâm, bên tay trái gia chủ là chỗ ngồi dành cho những vị khách có thứ bậc cao, thứ bậc càng cao thì ngồi càng gần chủ. Theo chiều kim đồng hồ từ trái qua phải, các chỗ ngồi lần lượt chia cho những người có thứ bậc từ cao đến thấp. Bất luận hình thức bàn trà thế nào thì đây cũng là quy tắc bất di bất dịch.

Về phương diện chỗ ngồi cũng cần tuân thủ theo tôn ti thứ bậc lần lượt: Người già, người trung niên, người lớn tuổi hơn gia chủ. Trong đó những ai là thầy, là trưởng thì sẽ xếp cao hơn. Nếu như tuổi tác cách nhau không quá lớn, nữ giới sẽ được ưu tiên ngồi ở những vị trí thứ bậc cao.

Còn có một quy định đặc biệt: kiêng kị ngồi đối diện nhau, chính là mặt đối mặt, ngồi trực diện với gia chủ. Dù cho chỉ có một vị khách và gia chủ thì cũng không thể ngồi đối diện nhau. Những vị khách hiểu lễ nghi nên ngồi ở chỗ thứ bậc thấp bên tay phải của gia chủ. Và khi số lượng khách quá nhiều, không tránh được chuyện phải có người ngồi đối diện gia chủ, thì nên để trẻ em ngồi vào vị trí này.

van hoa tra dao trung hoa 9

Đạo lễ tiết thứ nhất: Lễ tiết quan trọng nhất của khách là đáp lễ, còn gọi là hồi lễ. Cái gọi là đạo lễ tiết thứ nhất chính là chỉ việc gia chủ pha bình trà đầu tiên, đồng thời mời khách thưởng trà, xem như đây lần hồi lễ đầu đầu tiên của khách.

van hoa tra dao trung hoa 10

Lần hồi lễ đầu tiên một cách chính quy, chính thức của khách sẽ như sau: đứng dậy, nếu là nam thì chắp hai tay lại, tay cuộn tay thẳng; nếu là nữ thì hai tay chữ thập, cúi người, ngồi xuống, hai tay nhận (hoặc bưng) ly trà qua. Trước tiên là ngửi, sau đó nếm một ngụm nhỏ trà, đặt ly trà xuống, gửi lời khen gia chủ. Lưu ý: đối với nam nhân, tay cuộn là tay phải, tay trái bao bên ngoài, khi cúi người thì phải hành lễ, cúi càng thấp, thể hiện càng tôn kính gia chủ, nếu gia chủ là bề trên, khách là bề dưới, thì cúi người nên cúi ít nhất góc 45 độ.

Khấu chỉ lễ: Trong quá trình uống trà, lễ tiết hồi lễ quan trọng nhất của khách là “khấu chỉ lễ” (nắm tay lại để hồi lễ, dù thuận tay trái cũng phải dùng tay phải, đầu ngón cái hướng về đốt thứ 2 ngón trỏ, quặp thẳng vào ngón trỏ và ngón giữa, dùng mặt ngoài đốt thứ 2 của ngón trỏ và ngón giữa, gõ nhẹ 3 cái xuống mặt bàn trà; nhìn từ bên hông, sẽ thấy ngón trỏ và ngón giữa khi làm hành động này giống như đôi chân con người đang quỳ).

van hoa tra dao trung hoa 8 e1631607086551

Ngoài ra, trên bàn trà còn kiêng kỵ nói chuyện tình dục, nếu cứ nói thì khi thưởng trà sẽ cảm nhận được vị chua trong đó. Thưởng trà còn kỵ một hơi uống cạn.

Thưởng trà còn cấm kỵ hút thuốc. Nếu thực sự nhịn không được, thì sau khi mọi người đã thưởng qua 5 bình trà, hãy hỏi ý kiến gia chủ. Sau khi nhận được sự đồng ý thì có thể hút. Nếu mới ngồi xuống đã hút thuốc sẽ bị xem là vô lễ.

Tuyệt đối không được đối mặt với gia chủ phun ngụm trà đầu tiên của bình trà đầu tiên. Hành động này bị xem là cực kỳ vô lễ, thậm chí bị xem là bắt đầu gây hấn. 

Không gian thưởng trà

Theo người Trung Hoa cổ xưa, không gian thưởng trà thường là phòng kín hoặc hoa viên.

van hoa tra dao trung hoa 6

Nếu là phòng kín thì trong phòng thường được treo tranh, thơ, câu đối, những bức họa thư pháp, hay những lời dạy của cổ nhân, và thường không thể thiếu là một bức họa phong cảnh lớn. Phòng trà này thường được trang trí rất tinh tế và trang nhã. Mang lại cảm giác hòa mình vào thiên nhiên nhưng không kém phần ấm cúng. Đặc biệt hơn trong phòng thường được bày một lư trầm, hương thơm lan tỏa khắp phòng, cùng với phong thái thưởng một chén trà ngon, giúp cho con người cân bằng thân thể, thư thái và buông bỏ phần mệt nhọc.

Nhưng nếu không gian thưởng trà là hoa viên, hay còn gọi là viên trà, thì lại hoàn toàn khác, người thưởng trà được ngồi giữa một hoa viên có nước có hoa, phong cảnh hữu tình, trà lúc này không thể dịu nhẹ như trà dùng nơi thư phòng, ấm trà ở đây thường là đặc hơn, giữ nhiệt tốt hơn.

Tâm tĩnh lặng là nét đẹp trong trà đạo

Để pha được ấm trà ngon, người pha trà phải để tâm vào từng việc làm nhỏ, người xưa thường nói: dụng tâm chế trà. Hàm ý nhắc nhở từ việc nhỏ nhất cũng cần dùng tâm ý để làm. Khi người ta tâm huyết làm nên một điều gì đó, người thưởng ngoạn cũng cảm nhận được sự tinh tế và khéo léo của người làm ra nó. Bởi vậy mà người xưa thường dùng tâm mà làm mọi việc. Tâm càng tĩnh thì làm việc hiệu quả càng tốt đẹp. 

Trà đạo nghiên cứu “Hòa tĩnh di chân”, tức tâm tĩnh lặng không suy tư, toan tính, nghĩ suy, đạt trạng thái tĩnh như mặt hồ, gột sạch những kiến giải sai lầm, sáng tỏ con đường phải đi để đạt Đạo.

van hoa tra dao trung hoa 7

Nói đến cái “Tĩnh Hư”, một số thiền sư cho rằng, đó là trạng thái nhập tĩnh tới mức coi thảy mọi việc đều là hư không. Trong nghệ thuật trà đạo Trung Hoa thực chất là nói về sự tĩnh lặng của thế giới tâm hồn, đến mức tĩnh lặng với mọi hoàn cảnh bên ngoài. Lấy tĩnh chế động. Chỉ cần tâm hồn của bản thân không mất đi “Hư tĩnh”, thì uống trà cũng được, nói cười cũng được, nghe nhạc cũng được, xem kịch cũng được, không có gì là không thể được.

Trước khi nếm trà, cần buông bỏ những phiền muộn, những điều cố chấp trong lòng, tĩnh tâm lại, bắt đầu tiến vào cảnh giới thẩm mỹ nếm trà, lặng lẽ lĩnh hội sắc của trà, hương của trà, vị của trà, hình tượng của trà… từ đó mà tĩnh lặng quan sát, nghĩ lại về cuộc sống nhân sinh, bồi dưỡng tâm tính, đạt tới cảnh giới “Tĩnh Không động” trong tâm hồn, nhận thức được cái đẹp của “Tĩnh Hư”.

Trà đạo là một nét văn hóa truyền thống được lưu truyền bao đời của người dân Trung Hoa. Chính vì vậy, khi đi du lịch Trung Quốc, du khách đừng bỏ lỡ cơ hội trải nghiệm tinh hoa nghệ thuật trà đạo độc đáo này nhé! Chúc du khách có một hành trình vui vẻ và đầy thú vị!

cac loai tra tru danh 11

“Thập Đại Danh Trà” của vùng đất Trung Hoa

Trung Quốc được biết đến là vùng đất sản xuất ra nhiều loại trà quý với chất lượng tuyệt hảo làm say đắm biết bao con tim của dân sành trà. Những thức uống như trà Thiết Quan Âm, trà Phổ Nhĩ, trà Long Tỉnh, trà Trinh Nữ,… đã đi vào lịch sử Trung Hoa, trở thành vật phẩm tiến vua “chân ái” và thanh tao nhất.

Trà Thiết Quan Âm

Đâu đó trong các bộ phim Trung Quốc, du khách hay nghe các nhân vật nhắc đến cái tên Thiết Quan Âm như một bảo vật quý giá và chất lượng nhất. Nó được xếp vào hàng “Thập Đại Danh Trà”. Thật vậy, trong đời sống văn hóa của người dân Trung hoa, loại trà này rất tốt cho sức khỏe và được dùng để làm quà biếu trong các dịp lễ tết. Trà Thiết Quan Âm có từ thế kỷ 19 được sản xuất nhiều tại vùng An Khê, Phúc Kiến.

cac loai tra tru danh 3

Ngày nay, có nhiều địa phương sản xuất trà Thiết Quan Âm nhưng An Khê vẫn là nổi tiếng nhất. Tương truyền vào thời vua Càn Long tại một ngôi đền bỏ hoang thuộc trấn Tây Bình, An Khê có thờ cúng một bức tượng Quan Âm Bồ Tát. Một người dân nghèo tên Wei để tỏ lòng thành kính với tượng Phật đã thường xuyên đến đây quét dọn, thắp hương trong nhiều năm liền. Vào một đêm Wei nằm mơ thấy Quan Âm Bồ Tát nói về hang động sau đền thờ đang ẩn chứa kho báu. Theo lời dặn, Wei tìm được một cây trà và đã hái về chế biến. Sau khi cảm nhận được hương vị đậm đà của lá trà, Wei đã mang cây về để trồng và chăm sóc. Ông mời hàng xóm nếm thử và cho giống về gieo trồng. Từ đó, trà Thiết Quan Âm ra đời nổi danh khắp thiên hạ. Trà sau đó được tiến cung để phục vụ cho các triều đại hoàng đế nhà Thanh.

Trà Thiết Quan Âm có sợi cong, tròn đầy đặn xoắn chắc vào nhau trông rất đẹp. Cánh trà có màu xanh lục, nhỏ nhắn được thu hái cẩn thận trước khi bắt tay vào chế biến. Trà pha với nước sôi có mùi thơm nhẹ, nước trà ngả màu vàng tươi đậm, mang mùi thơm tự nhiên của hoa lan. Khi thưởng thức trà có vị dịu ngọt nơi đầu lưỡi tan nhanh trong miệng đậm đà và hấp dẫn vô cùng. 

Trà Đại Hồng Bào

Phúc Kiến không chỉ có Thiết Quan Âm mà còn có Đại Hồng Bào. Đây là một trong “Thập Đại Danh Trà” nổi tiếng với chất lượng tuyệt vời, mang hương hoa ngào ngạt, dai dẳng, vị trà dịu ngọt đượm hương lan. 

Trà Đại Hồng Bào xuất hiện vào thế kỷ 18 tại Vũ Di Sơn – thành phố với truyền thống sản xuất trà, là nơi sản sinh ra các loại trà ngon nhất. Theo dân gian xưa kể lại, triều nhà Đường ở Trung Quốc, Đại Hồng Bào được dùng làm quà tặng. Đến thời nhà Nguyên, trà được chọn là một trong những cống phẩm thượng hạng để tiến vua. Trải qua nhiều triều đại khác nhau đến đời Vũ Nguyên Tông, xưởng sản xuất và chế biến Đại Hồng Bào dành cho hoàng tộc được xây dựng nhằm đem đến các sản phẩm chất lượng nhất. Đến đời vua Khang Hy, loại trà này trở nên phổ biến, được xuất khẩu sang các nước Đông Nam Á, Bắc Mỹ và Tây Âu.

cac loai tra tru danh 1

Đại Hồng Bào được chế biến từ búp của những cây cổ thụ. Trà Đại Hồng Bào hiện tại có thể thu hoạch quanh năm nhưng chủ yếu vẫn là ba mùa xuân, hạ và thu. Mùa đông trà sẽ được thu hái ít hơn do điều kiện thời tiết. Trà khi thu hoạch tại thời điểm khác nhau sẽ cho ra đời chất lượng riêng biệt. Trong đó, trà thu hái vào mùa xuân sẽ có mùi thơm đặc biệt nhất. Lúc này tỷ lệ sâu bệnh trên lá trà được giảm thiểu rõ rệt.

Quy trình sản xuất trà Đại Hồng Bào được thực hiện rất nghiêm ngặt, tỉ mỉ với công nghệ chế biến trà truyền thống từ xưa. Vào những ngày xuân nắng ráo, những người thợ lành nghề sẽ chọn lọc và hái những búp trà ngon, chất lượng nhất để vận chuyển đến khu vực chế biến. Quy trình sản xuất trà Đại Hồng Bào được kết hợp giữa công nghệ sản xuất trà xanh và trà đen. Đây là quá trình sản xuất trà khá phức tạp, nó đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao. Quá trình sản xuất cơ bản bao gồm: làm héo lá trà; lắc, tung lá trà; oxy hóa lá trà từ 50-60%; cán lá trà; sao trà;…

Trà sau khi pha có màu đỏ cam, hương vị thơm ngon ngọt ngào rất tốt cho sức khỏe. Khi thưởng thức, du khách sẽ cảm nhận được cái vị chát nhẹ cuộn sánh, ngọt ngào nơi đầu lưỡi.

Trà Long Tỉnh

Trà Long Tỉnh là một trong những “danh trà” của thành phố Hàng Châu thủ phủ của tỉnh Chiết Giang. Trà được trồng ở vùng núi Long Tỉnh có nghĩa là Giếng Rồng gần Tây Hồ nơi thời tiết mát mẻ, sáng sớm thường có sương phủ do hơi nước từ hồ bốc lên. Hương trà Long Tỉnh thơm dịu, trà đắng nhưng dư vị ngọt ngào trong cổ và người ta cho rằng trị được nhiều chứng bệnh. 

Trước đây loại trà này chỉ dùng cho các các bậc vua chúa. Vào thời Mãn Thanh, Trà Long Tỉnh được Càn Long Đế phong là Hoàng Trà, là trà biểu trưng cho hoàng đế. Tương truyền rằng, khi vua Càn Long vi hành đi đến đền thờ Hồ Công dưới đỉnh núi Sư Tử ở thôn Long Tỉnh vào một trong những ngày lễ nổi tiếng, ông đã được uống một tách trà Long Tỉnh. Thoạt đầu khi thử trà, vua Càn Long chưa ấn tượng… nhưng rồi một lúc sau ngài cảm thấy hậu vị thanh ngọt ngấm trong cổ và rất thích. Khi ông nhìn xuống một giếng nước gần đó và thấy bóng của cây trà lung linh dưới nước, giống hình một con rồng đang bay lượn trong giếng, nên Càn Long đặt tên là Long Tỉnh Trà.

cac loai tra tru danh 2

Để chất dịp lục không bị phá huỷ và lá trà vẫn xanh, lá trà Long Tỉnh tươi sau khi chọn được hấp hoặc cho vào chảo sắt rang nóng với nhiệt độ đến nỗi đáy nồi có ám một lớp màu đỏ khoảng gần 200 độ C và đảo thật nhanh tay và sao lên để làm bay hơi nước trong lá trà trước khi chúng hoàn toàn khô để ngăn chặn quá trình oxy hóa tự nhiên, là quá trình do các hành động của các enzyme tự nhiên hiện diện trong mô của lá trà. Như các loại trà xanh hay trà trắng khác của Trung Quốc, lá trà Long Tỉnh không qua quá trình lên men như trà đen hay trà Oolong nên lá trà Long Tỉnh khi ngâm vào nước sinh ra màu vàng xanh lá cây, mùi thơm dịu, vị đậm, có chứa Vitamin C và Axít amin. Quá trình oxy hóa (lên men) là quá trình làm những lá trà tươi sau khi hái dần mất đi mùi vị và chất diệp lục của lá trà bị phá huỷ nên màu xanh của lá trà bị mất đi do sự oxy hóa enzyme của chất axít butyríc lá trà chuyển sang màu đỏ.

Trà Long Tỉnh có thể pha 5 lần mà vẫn còn hương vị, sắc trà có màu vàng tươi, hương trà thanh thoát, vị trà dịu ngọt có thể làm thứ nước giải khác bổ dưỡng, ngừa và chữa một số chứng bệnh. Ngoài ra, xác trà khô chưa pha rất dễ ăn, có vị thơm ngọt và giòn tan, nuốt vào rồi mà hương vị còn đọng ở cổ họng rất lâu. Trà Long Tỉnh được đóng hộp sang trọng, rất đắt tiền, riêng trà ở thôn Mai gia còn được xuất khẩu tại chỗ, trở thành món quà quý cho người thân, lãnh đạo… với hàm ý một món quà tốt cho sức khỏe và rất tịnh tâm.

Trà Ngân Châm

Ngân Châm là loại trà đại diện cho dòng trà trắng rất được ưa chuộng tại Trung Quốc. Loại trà này xuất hiện nhiều tại Đảo Quân Sơn, Nhạc Dương, Hồ Nam. Thời xưa đây vốn là nơi trú ẩn của rất nhiều đạo sĩ, được bao quanh bởi 72 đỉnh núi. Vua Minh Tông trong một hôm thiết triều được thái giám dâng cho chén trà quý với hương thơm dịu nhẹ, bọt nhỏ lăn tăn giống bông hoa tuyết. trà được pha bằng lông hạc để phục vụ vua. Hài lòng trước độ ngon của chén trà, vua Minh Tông đặt tên là trà Quân Sơn Ngân Châm. Chỉ có vua chúa mới được thưởng thức loại trà này.

Là loại trà của vua chúa, chắc chắn rằng Ngân Châm mang một sức hút đặc biệt làm say đắm biết bao con tim đam mê trà nghệ. Theo các nghệ nhân trồng trà chia sẻ, Ngân Châm sẽ nở vào tháng 6. Đây là lúc trà đạt được chất lượng tốt nhất. Thời điểm thu hái cũng phải là buổi sáng sớm mới có thể giữ được hết các chất dinh dưỡng và vị ngon của trà.

cac loai tra tru danh 4

Quy trình thu hái được tuyển chọn tỉ mỉ, sau khi hái cách mà các nghệ nhân chế biến trà cũng công phu không kém. Theo đó người dân Phúc Kiến không sử dụng bất kỳ loại dụng cụ hay máy móc nào, toàn bộ quá trình sản xuất, sao và sấy trà được thực hiện bằng hai bàn tay.

Trà Ngân Châm chuẩn được chia thành hai loại chính là trà búp và trà tơ. Thông thường thì những cây trà mọc ở phía đông của đảo Quân Sơn sẽ có chất lượng tốt hơn khi chúng đón được các tia nắng ban mai, sương đọng trên lá sẽ làm giảm lượng tơ trên thân. Trà trồng phía tây sẽ chịu cường độ ánh sáng mạnh hơn và ban đêm sẽ có nhiều sương nên búp sẽ rất nhiều tơ. Trà Ngân Châm không chỉ phổ biến ở Trung Quốc mà còn rất được lòng trà nhân đất Việt. Nước trà trong, hương thơm nhẹ, hơi chát rất phù hợp với những ai có sở thích thưởng trà.

Trà Phổ Nhĩ

Trà Phổ Nhĩ là đặc sản xuất xứ từ Phổ Nhĩ, tỉnh Vân Nam, có mùi vị khá giống với chè đen của Việt Nam nhưng nhờ cách chế biến công phu, nó không giống với bất kỳ loại trà nào khác và vì thế hấp dẫn du khách mỗi khi có dịp ghé ngang vùng đất này.

Loại trà này chỉ ở Vân Nam mới có. Tại Vân Nam, cây trà được trồng trên núi cao hàng chục năm rồi mới bắt đầu thu hoạch để chế biến. Sau khi tuyển những lá trà đủ chất lượng thì gốc trà vẫn được giữ nguyên, tiếp tục chăm sóc cho nhiều mùa sau bởi cây trà càng lâu năm thì sẽ càng cho ra loại trà thượng hạng. Có cây đến hàng trăm năm tuổi vẫn còn được sử dụng tốt. Tuy nhiên, điểm mấu chốt để tạo nên sự khác biệt của trà Phổ Nhĩ không phải ở lá trà ngon hay dở mà nằm ở khâu chế biến thành phẩm. Người Vân Nam có câu: “Trà sống ngon dễ kiếm, trà chín tốt khó tìm”, ý chỉ để tạo ra một bánh trà đủ chất lượng thì phải tốn nhiều công sức, nhiều năm.

Lá trà Phổ Nhĩ được lên men hoàn toàn ở trạng thái rắn và khô, tách hết nước trong lá trà, nhưng giữ lại các vi sinh vật có trong lá trà cổ thụ để chuyển loại bỏ hết chất xấu, giữ lại chất tốt trong lá trà. Quá trình lên men tự nhiên này rất tốn thời gian, có khi mất vài năm, nén lại thật chặt thành đủ hình dạng, phổ biến nhất là hình tròn với một lỗ hõm ở giữa mới tạo nên một bánh trà hoàn hảo. Đặc biệt, trà Phổ Nhĩ sau khi lên men đạt tiêu chuẩn thì càng để lâu, càng ngon, càng đắt tiền.

cac loai tra tru danh 8

Trà ngon và đủ chất lượng phải bảo có hương thơm trầm dịu, hậu vị sâu. Chất dinh dưỡng trong lá trà phải phong phú, nước trà đậm, khí trà mạnh mẽ và giữ được hương rất lâu trong miệng.

Có hai loại trà Phổ Nhĩ: giảm cân và thanh lọc cơ thể. Trà Phổ Nhĩ giảm cân có mùi thơm nhẹ, màu hồng trông đẹp mắt. Trà Phổ Nhĩ thanh lọc có màu hơi nâu và mùi hơi giống mùi khai.

Ngày nay, trà Phổ Nhĩ phân bố chủ yếu tại Lâm Thương và Tây Song Bản Nạp của Vân Nam với những hãng trà gia truyền nổi tiếng như Lão Ban Chương, Di Vũ, Băng Đảo, Tích Quy… Thú vui của người Vân Nam là ngồi đàm đạo, thẩm trà cùng khách thập phương. 

Kỳ Môn Hồng Trà

Kỳ Môn Hồng Trà thuộc loại trà đen có tiếng ở Kỳ Môn (An Huy), là cực phẩm trong các loại hồng trà (Điền Hồng), thường được gọi là “Hồng trà Hoàng Hậu”.

Trà được trồng ở nơi có nhiều mây mù, sương trắng bao phủ bốn mùa. Đặc điểm của loại trà này là có lông vàng bao quanh cánh trà, do trà được làm từ búp trà của cây trà cổ thụ. Do búp trà cổ thụ có nhiều lông trắng bao quanh, nên khi chế biến thì những lông trắng này biến thành màu vàng rất đẹp mắt. 

cac loai tra tru danh 6

Kỳ Môn Hồng Trà cho nước màu đỏ hồng, phảng phất hương hoa đào, hậu vị thanh ngọt. Đây là loại trà lên men trong quá trình hái, ủ và sấy. Các bước sản xuất trà đều được tính toán rất cẩn thận như phải chọn lá không quá non cũng không quá già, tốt nhất là một mầm nhị, ba mầm lá, rồi còn trải qua giai đoạn héo điêu, xoa vê, bán lên men, sử mầm lá từ xanh biếc sang đỏ đồng, và còn rất nhiều giai đoạn sau nữa.

Kỳ Môn Hồng Trà nổi tiếng trong việc làm đẹp và chăm sóc sức khoẻ: giải khát, giảm nhiệt, lợi tiểu, giải độc, kháng u, giảm nguy cơ huyết áp, giảm căng thẳng, nâng cao tinh thần.

Trà Bích Loa Xuân

Được mệnh danh là đệ nhất trà xanh, trà Bích Loa Xuân (hay còn gọi là “Bạch Trà Phổ Nhĩ”) mang màu xanh ngọc bích, hương thơm của trái cây và hương hoa hoà quyện. Đây cũng là loại trà được các vua chúa thời xưa vô cùng ưa thích.

Trà Bích Loa Xuân sinh trưởng ở núi Động Đình, huyện Ngô, thành phố Tô Châu, tỉnh Giang Tô, do đó còn có tên gọi “Động Đình Bích Loa Xuân”, nghĩa là: Mùi hương khiến người ta phải ngạc nhiên. Đặc điểm của Bích La Xuân là hương thơm nồng, do đó trong thời cổ đại bị dân chúng gọi là “Hách sát nhân hương”. Hoàng đế Càn Long nhà Thanh khi tới Giang Nam, quan phủ ở đó dùng trà này đón tiếp Càn Long, Càn Long nâng cốc lên chưa uống nhưng đã ngửi thấy mùi thơm xộc vào mũi, uống một ngụm liền khen danh bất hư truyền, nhưng Càn Long chê tên trà không hay nên đổi thành “Bích Loa Xuân” cho thơ mộng hơn.

cac loai tra tru danh 7

Trà được trồng làm hai vụ, xuân và đông, chỉ hái búp non và làm héo trong nhà. Bích Loa Xuân có chứa nhiều chất dinh dưỡng nhất trong thập đại danh trà. Hàng loạt các chất như axit amin, protein, vitamin E, polyphenol, etc. có tác dụng chống ung thư, lão hoá, chống các bệnh tim mạch, tai biến mạch máu não, đái đường, tăng huyết áp, phòng chống sâu răng, thải độc cơ thể, làm đẹp da (đặc biệt là da mặt) và còn vô vàn những công dụng khác.

Trà Bích Loa Xuân có màu xanh ngọc bích, hình như con ốc biển, bốn phía có nhiều lông mao dày. Uống trà Bích Loa Xuân ngon nhất là dùng cốc thủy tinh, lá trà sau khi ngấm nước sẽ dần dần dãn nở, lúc nổi lúc chìm, lông trắng lộ ra giống như tuyết đang múa trong gió, vừa mang lại cho con người sự thưởng thức về xúc giác và vị giác, lại có cảm giác đẹp về mặt thị giác.

Trà Trinh Nữ

Bên cạnh những “danh trà” đình đám như Long Tỉnh, Thiết Quan Ân, Phổ Nhĩ,… Trà Trinh Nữ cũng nổi tiếng không kém. Có tên gọi khác là “Bỉ Lộ Xuân”, loại trà này không chỉ nổi tiếng bởi vị thơm ngon, thuần khiết mà còn do phương thức chế biến cầu kỳ và độc đáo.

Tương truyền, từ thời các hoàng đế triều đại Trung Quốc, trà Trinh Nữ được hái bởi những cô gái đồng trinh, mặc áo rộng và quần buộc túm lại ở ống. Vào đầu xuân, khi cây chè vừa ra lá non, các trinh nữ dùng miệng nhẹ nhàng hái những lá tươi ngon nhất, sau đó bỏ vào trong quần áo hoặc kẹp vào những chỗ kín (như ngực hoặc nách) và lấy ra vào ngày hôm sau. Người ta cho rằng, lá trà sau khi ngấm nước bọt lại được “ướp” bởi nhiệt độ và mồ hôi trong cơ thể các trinh nữ sẽ có hương vị đặc biệt thơm ngon, thuần khiết. Nó đưa người thưởng trà chạm tới những cung bậc cảm xúc thăng hoa nhất của thú chơi xa xỉ chỉ dành cho giới thượng lưu.

cac loai tra tru danh 5

Nước pha trà phải là nước tuyết tan cất giữ lâu năm. Sau khi đun sôi, người ta cho thêm các loại hương liệu như hoa quế, bạch tùng hương, hoa kim tước, bách hợp, oải hương… 

Ngày nay, những cây chè dùng làm trà Trinh Nữ được trồng ở các trang trại trên dãy Động Đình San gần hồ Động Đình. Nơi đây có sương mù bao phủ quanh năm, khí hậu ôn hoà, rất phù hợp với cây chè và các loại hoa trái khác như đào, lê, mơ, táo… Vì vậy, vào mùa xuân là mùa hái trà, hương của các loại hoa quyện lấy lá chè ngay cả sau khi trà được sấy. Thực tế, hương vị đặc biệt của trà Trinh Nữ có được là do yếu tố này.

Trà Hoàng Sơn Mao Phong

Hoàng Sơn Mao Phong là một loại trà xanh trong “Thập Đại Danh Trà” nổi tiếng khắp Trung Quốc, có nguồn gốc từ khu Tân Minh Hương, Hoàng Sơn, An Huy. Sở dĩ Trà có tên là Hoàng Sơn Mao Phong vì được ghép lại từ tên của dãy núi Hoàng Sơn – nơi nó xuất xứ và từ Mao Phong. “Mao” có nghĩa là “lông”, ý chỉ là trà có nhiều tơ trắng. “Phong” trong câu thơ “Bạch hào phi thân, nha tiêm tự phong” ý chỉ đặc điểm hình dạng xanh biếc, mũi nhọn, chỉa lên trời như mũi kiếm của lá trà.

Trà Hoàng Sơn Mao Phong được phát triển từ năm 1998. Nó là một loại trà xanh tinh khiết từ thiên nhiên chất lượng cao, có mùi hương thơm lừng, thoang thoảng hương của vạn hoa, mùi vị thuần ngọt, hương thơm nồng nàng, như hương vị cây cỏ đơm chồi nảy lộc sau cơn mưa xuân, vương vấn nơi khoang miệng, thấm đẫm lạ thường. Nước trà Hoàng Sơn Mao Phong vàng nhạt, hơi trong suốt.

cac loai tra tru danh 9

Quá trình thu hái và chế biến trà Hoàng Sơn Mao Phong được kết hợp cả 2 công nghệ sản xuất thủ công truyền thống và công nghệ cao để có được chất lượng trà tuyệt vời. Từ việc thu hái lá tươi, làm héo lá trà, sao trà, hong khô, tạo hình, cất giữ.

Trà sau khi được chế biến xong không chỉ duy trì các chất dinh dưỡng tự nhiên ban đầu, mà còn có đầy đủ màu sắc, mùi thơm, hương vị và hình dạng vô cùng đặc sắc.

Trà Lục An Qua Phiến

Lục An Qua Phiến là một loại trà thuộc dòng trà xanh (lục trà) trong “Thập Đại Danh Trà” nổi tiếng Trung Hoa. Trà được trồng trên đỉnh núi Đại Sơn vùng Lục An, An Huy, Phúc Kiến. Từng được xưng là “Lư Châu Lục An Trà” vào đời Đường, đến thời nhà Minh trà có tên gọi “Lục An Qua Phiến”. Đây là loại trà xanh được xếp trong nhóm thượng phẩm trà, cực phẩm trà dùng tiến cung trong triều đình, trở thành “Ngự Trà” thời cổ đại.

Cái tên Lục An Qua Phiến được ghép từ “Lục An” – địa danh nơi trà sinh trưởng và “Qua Phiến” – “Qua” nghĩa là dưa, “Phiến” theo nghĩa đen là lá cây. Sở dĩ đặt tên là Qua Phiến bởi hình dạng của cánh trà tựa như phiến lá của cây dưa, cây mướp, bề ngoài cánh trà cuốn tròn, xanh mướt, được bao phủ bởi lớp lông trắng mỏng nhẹ.

cac loai tra tru danh 10

Được làm từ những lá non tươi mới, qua các giai đoạn chọn lọc và sao chế nghiêm ngặt, được thực hiện bởi những nghệ nhân trà có nhiều năm kinh nghiệm mới tạo thành những mẻ trà thơm lừng, phảng phất hương thơm từ gió và núi ở đỉnh Đại Sơn.

Lục An Qua Phiến có hình dạng khá đặc biệt, tựa như hình hạt dưa hoặc hình cánh quạt (phiến) đơn, bằng phẳng, rộng thoáng. Trà thành phẩm có cánh trà cuốn lại, nhìn rất đẹp và lạ mắt, màu sắc xanh biếc, kích thước đều đặn, không có gân lá cũng như trà ngạch. Khi pha trà mang mùi hương thơm ngát, không đắng chát, dư vị lâu dài. Nước trà trong xanh đẹp mắt, vị trà ngọt ngào mà không ngấy nồng, thuần hương, tư vị ngọt lành, tựa như cam lộ chốn thiên cung.

Nếu du khách là người thích thú với văn hóa đối ẩm và hương vị thơm ngon lưỡi sau mỗi lần nhấp những ngụm nước trà thì hãy book tour Trung Quốc của chúng tôi! Và du khách cũng đừng quên mua nó về làm quà tặng cho những người thân yêu của mình nhé!