Nguyên nhân các Phi tần Trung Hoa không được phép trực tiếp nuôi dưỡng con ruột

Quy định của triều đại nhà Thanh trong việc nuôi dạy các Hoàng tử, Công chúa vô cùng khắt khe. Theo đó, không ai được phép nuôi dạy con ruột của chính mình kể cả Hoàng hậu. Tại sao lại như vậy? Mời du khách cùng chúng tôi tìm hiểu lý do nhé!

Trong lịch sử phong kiến Trung Hoa, những tiểu Hoàng tử, Công chúa ngay từ khi lọt lòng đã sống trong nhung lụa, tuy nhiên, họ lại không có được niềm hạnh phúc được được lớn lên trong vòng tay chăm sóc, yêu thương của mẹ đẻ. Bởi tất cả họ phải được nuôi dưỡng bởi các “Nãi ma”, còn gọi là Nãi nương, Nãi tử, Nhũ mẫu, Nhũ nương,… Công việc chính của những nữ nhân này là cho Hoàng tử và Công chúa bú sữa. Điều này khiến không ít người phải thắc mắc, tại sao các Hoàng đế lại không cho phép phi tần đích thân cho con ruột của mình uống sữa mà phải tìm nhũ mẫu? Nguyên nhân đơn giản nhưng lại phản ánh tâm tư thâm sâu của Hoàng đế.

Trước hết, trên thực tế, nữ nhân duy nhất trong hậu cung được Hoàng đế công nhận thật sự là Hoàng hậu. Những Phi tần khác dù có được nhiều sủng ái nhưng địa vị của họ hoàn toàn không sánh bằng Hoàng hậu. Thậm chí khi những Phi tần bình thường sinh con, Hoàng đế sẽ không cho phép Phi tần đích thân nuôi con mà đều được nuôi dưỡng dưới danh nghĩa Hoàng hậu hoặc một số vị Phi có địa vị cao trong hậu cung. Và để đảm bảo sinh hoạt thường ngày của các tiểu Hoàng tử, tiểu Công chúa, trong hoàng cung sẽ có những vị nhũ mẫu đặc biệt.

Tiếp theo đó, do điều kiện sống thời cổ đại không tốt, dù quyền cao chức trọng hay cực kỳ nhiều tiền, những gia đình giàu có, thậm chí là các Phi tần cũng không thể đảm bảo sau khi sinh song sức khỏe sẽ bình thường và người mẹ sẽ có đủ sữa để cho con bú. Để con có thể ăn no, tốt nhất nên thuê “vú nuôi”.

Thứ ba, thời cổ đại, phụ nữ nói chung coi chồng là tất cả, là bầu trời. Sau khi sinh xong mà mải chăm sóc con, không hầu hạ chồng thì sẽ có tội, mang lỗi. Ngoài ra, đàn ông luôn có nhiều thê thiếp, nên bị thất sủng là điều rất đáng sợ với phụ nữ thời xưa. Khi có vú nuôi chăm sóc con cái, phụ nữ sau sinh mới có thể bồi bổ sức khỏe, chăm sóc nhan sắc, chuyên tâm cung phụng, hầu hạ và lấy lòng chồng mình.

Hơn nữa, hầu hết các Phi tần hậu cung đều dựa vào nhan sắc mới có được ân sủng của Hoàng đế. Nhưng ai cũng biết rõ, sau khi sinh con, thân thể của các Phi tần đều sẽ có sự biến đổi. Lúc đó, nếu tiếp tục đích thân cho con bú thì rất có thể sẽ khiến sức khỏe lẫn hình thể xấu đi. Vì vậy, để đảm bảo vinh sủng về sau của mình, các Phi tần cũng sẵn sàng để nhũ mẫu giúp mình chăm con.

Cuối cùng là một nguyên nhân quan trọng hơn, đó là Hoàng đế muốn tránh tình trạng Hoàng tử dựa vào thế lực ngoại thích của mẹ ruột. Thực tế, gần như các vị Hoàng tử đều tham gia các cuộc đấu tranh giành ngôi báu. Tuy nhiên, ngôi Hoàng đế chỉ có một, chính vì vậy mà họ sẽ không ngần ngại dùng mọi nguồn lực xung quanh mình, trong đó có sự ủng hộ của mẹ ruột, và khi thừa kế ngai vàng Hoàng đế đó sẽ không dành quá nhiều ân sủng cho mẹ, tránh sự lộng quyền của hoàng thân quốc thích đối với việc triều chính. 

Từ những nguyên nhân trên có thể thấy rõ tâm tư của Hoàng đế, điều này không chỉ đảm bảo sự ổn định ở hậu cung mà còn có thể khiến các Phi tần xung quanh Hoàng đế có thể kéo dài dung mạo trẻ trung. Quan trọng nhất là việc để nhũ mẫu trực tiếp nuôi dưỡng Hoàng tử, Công chúa rất quan trọng với vấn đề thừa kế ngôi vàng.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về lịch sử triều đại của một đất nước đông dân nhất thế giới này. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn, hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! Chúc du khách có một chuyến đi vui vẻ và thú vị!

7 loại Bánh Ú trứ danh trong ẩm thực Trung Hoa

Tết Đoan ngọ hoặc Tết Đoan Dương, trùng vào ngày 5/5 âm lịch hàng năm, là một trong những dịp lễ tết lớn nhất ở Trung Quốc. Vào ngày này, người dân có tục lệ ăn Bánh Ú để tưởng nhớ đại thi nhân Khuất Nguyên. Bánh Ú do đó mà trở thành một trong những món ăn truyền thống, được truyền lại qua nhiều thế hệ con cháu Trung Hoa.

Theo chuyện xưa, vào cuối thời Chiến Quốc, nước Sở có một vị đại thần tên là Khuất Nguyên. Ông còn là một nhà thơ, nhà văn hóa nổi tiếng ở Trung Quốc. Vào năm 340 trước Công Nguyên, đại thi nhân Khuất Nguyên phải đối mặt với nỗi đau đất nước suy vong, vua làm sai nhưng ông không ngăn được, cộng thêm gian thần hãm hại. Ngày 5/5, ông uất ức tự vẫn tại sông Mịch La. 

Để tưởng nhớ một trung thần, hằng năm cứ đến ngày này người dân Trung Quốc thường dùng ống tre đựng gạo, quấn chỉ ngũ sắc bên ngoài rồi ném bánh ra giữa sông để tế cúng Khuất Nguyên. Đây được xem là nguồn gốc của Bánh Ú sớm nhất ở Trung Quốc.

Tuy nhiên, tại nhiều vùng ở Tô Châu và Gia Hưng, người dân đã ăn Bánh Ú để bày tỏ tiếc thương với tướng quốc nước Ngô Ngũ Tử Tư. Sau khi ông bị giết chết vào cuối thời Xuân Thu, thi thể của ông đã bị ném xuống dòng Tư Giang. Dân gian tương truyền, người dân nước Ngô đã ném Bánh Ú xuống sông để tránh tôm cá ăn tấn công thi thể Ngũ Tư Tư. 

Ngày nay, tại Trung Quốc, Bánh Ú có đa dạng về kiểu dáng, cách gói, nhân bánh, rồi khác nhau cả về vị ngọt, mặn. Nhưng tựu chung, đến nay, trong ẩm thực Trung Hoa có 7 loại Bánh Ú đặc trưng nhất, được nhiều người biết đến nhất bởi hương vị thơm ngon của nó. 

Bánh Ú Sơn Tây

Bánh Ú Sơn Tây là loại bánh Ú có lịch sử lâu đời nhất Trung Quốc. Bánh Ú Sơn Tây trước đây còn có tên là “Giác Thử”, với từ “Giác” ý chỉ hình dáng góc cạnh của chiếc bánh, còn “Thử” là tên gọi của nguyên liệu làm nên bánh, “Thử” chính là hạt kê. Loại hạt này có đặc tính mềm dẻo giống nếp (nguyên liệu chính để làm Bánh Ú) khi được nấu chín. Nhân Bánh Ú Sơn Tây thường là táo đỏ, bánh thường ăn kèm với đường trắng hoặc mật ong, cho một vị ngọt đậm đà tự nhiên.

Bánh Ú nhân đậu Bắc Kinh

Bánh Ú nhân đậu Bắc Kinh có phần đỉnh bánh thường khá to, chứ không nhỏ và nhọn như những loại Bánh Ú khác ở Trung Quốc. Bánh thường có hình chữ nhật hoặc hình khối tam giác cân, với nhân bánh thường là táo đỏ hoặc đậu đỏ. Một số gia đình ở Bắc Kinh còn dùng các loại mứt hoa quả để làm nhân bánh. Chính vì vậy, đây là loại Bánh Ú có vị ngọt nhất.

Bánh Ú Gia Hưng

Bánh Ú Gia Hưng ở tỉnh Chiết Giang là một trong những loại Bánh Ú có tiếng nhất Trung Quốc xưa nay. Loại bánh này đặc biệt ở chỗ tuy khá dẻo nhưng lại vẫn có độ giòn nhất định, càng thú vị hơn nữa là bánh có rất nhiều dầu mỡ nhưng lại không mang lại cảm giác ngấy cho người ăn, vị của bánh cũng lạ không kém, không quá mặn mà cũng không quá ngọt.

Bánh Ú Gia Hưng thường có nhân thịt, thường được mọi người khen là “vua của làng Bánh Ú” vì quy trình làm bánh hết sức công phu. Phần nếp trước khi được gói làm bánh sẽ được đem đi tẩm ướp gia vị truyền thống của Giang Nam cùng với lòng đỏ trứng gà. Sau cùng là sẽ nấu nếp chung với đùi heo, mỡ trong đùi heo sẽ ngấm dần vào nếp, do đó mà khi ăn sẽ thấy bánh tiết ra rất nhiều dầu mỡ.

Bánh Ú thịt quay Phúc Kiến

Nếu như ở miền Bắc Trung Quốc có sự đại diện của Bánh Ú nhân đậu Bắc Kinh thì Bánh Ú thịt quay Phúc Kiến lại là đại diện cho làng Bánh Ú miền Nam Trung Quốc. Bánh nổi tiếng với nhân thịt quay Tuyền Châu nhưng vẫn giữ nguyên hương vị bánh đậm đà của vùng Mân Nam (phía nam tỉnh Phúc Kiến).

So với những loại Bánh Ú hết sức dân dã của miền Bắc Trung Quốc, Bánh Ú thịt quay Phúc Kiến thường được xem là loại Bánh Ú thượng hạng. Bánh ngoài nguyên liệu chính là nếp ra thì còn có thịt ba rọi đã được tẩm ướp gia vị, nấm hương, hến khô, tôm khô.

Trong quá trình chế biến, phần nếp sau khi ngâm nước sẽ được để cho ráo, kế tiếp sẽ được trộn đều với nước xốt, dầu hành, công đoạn tiếp theo là rang nếp sao cho vừa khô tới, tiếp tục ngâm nếp với thịt kho, rồi dùng lá trúc gói bánh. Sau cùng là luộc bánh.

Đúng là bánh thượng hạng có khác, công đoạn chế biến đã phức tạp, mà cách thưởng thức cũng cầu kì không kém. Bánh Ú sau khi luộc chín là phải phết ngay một lớp tương đậu, tương ớt rồi tỏi hấp nữa. Đầy đủ hương và vị hấp dẫn để du khách trải nghiệm đấy!

Bánh Ú Quảng Đông

Bánh Ú Quảng Đông hay còn gọi là Bánh Bá Trạng, là loại bánh theo cách gói truyền thống của người Quảng Đông. Hình dáng của Bánh Ú Quảng Đông như một khối kim tự tháp.

Ngoài những nguyên liệu thường gặp như nếp, đậu xanh và thịt, Bánh Ú Quảng Đông còn được thêm vào tôm khô, hạt dẻ hay đậu phộng, nấm đông cô, lòng đỏ trứng muối. Bánh thường được gói bằng lá tre và được cột bằng một loại cỏ nước, giúp cho bánh khi nấu lên có mùi thơm đặc trưng. Sự kết hợp của các loại nguyên liệu này làm nên chiếc Bánh Ú mang đậm bản sắc ẩm thực của người Hoa. Và, một khi du khách đã thưởng thức chiếc bánh này, hương vị của nó sẽ để lại dấu ấn khó phai trong tâm trí của du khách.

Bánh Ú cay Tứ Xuyên

Ẩm thực Tứ Xuyên vốn nổi tiếng với các món ăn cay và Bánh Ú cũng không ngoại lệ. Loại Bánh Ú này thường sẽ nấu cùng tiêu bột, đặc sản muối Tứ Xuyên, mì chính (bột ngọt) và thịt heo phơi khô. Bánh sau khi luộc chín sẽ đem đi nướng thêm lần nữa với than củi. Do trải qua quá trình nướng mà Bánh Ú cay Tứ Xuyên thường xốp giòn, nhân khá mềm, vị cay xé lưỡi. Đây hẳn là món dành cho tín đồ thích ăn cay đấy!

Bánh Ú Quảng Tây

Bánh Ú Quảng Tây có hình dạng khác hẳn với 6 loại Bánh Ú kể trên, trông giống như là một chiếc gối nằm kê đầu vậy. Đặc biệt, mỗi chiếc Bánh Ú Quảng Tây có thể nặng gần 1,5kg. Phải dùng tới tận 10 lá dong mới gói đủ một chiếc Bánh Ú Quảng Tây, ăn bao no!

Phần nhân bánh Ú Quảng Tây cũng khá phong phú, thường thì sẽ có miếng thịt heo to, nửa nạc nửa mỡ, đi kèm với hạt dẻ, đậu đỏ, đậu xanh. Hình dáng và hương vị của loại Bánh Ú độc đáo này sẽ khiến du khách thích thú và phát “ghiền” khi thưởng thức!

Như vậy là chúng tôi đã giới thiệu với du khách 7 loại Bánh Ú ngon nức tiếng của ẩm thực Trung Hoa. Nếu có dịp du lịch Trung Quốc, du khách hãy thử qua chúng để có sự cảm nhận hương vị riêng của từng loại nhé! Chúc du khách có một hành trình khám phá ẩm thực Trung Hoa đầy thú vị! 

Nụ cười của một mỹ nhân làm diệt vong một triều đại trong lịch sử Trung Hoa

Trên đời này chỉ có một mỹ nhân với nụ cười hiếm hoi khiến cho vương triều diệt vong, đó chính là Bao Tự. Nàng mang vẻ đẹp “hồng nhan họa thủy”, là Vương hậu của Chu U Vương trong lịch sử Trung Hoa cổ đại.

Theo phong tục của người Hoa, ngày “Tam Nương” là khoảng thời gian đem lại sự xui xẻo cho gia chủ, một tháng sẽ có một tháng có 6 như vậy, tính theo lịch âm là các ngày 3, 7, 13, 18, 22, 27. Những ngày đó chính là ngày sinh và mất của 3 đại mỹ nhân đã khiến cả một vương triều sụp đổ, gồm có Muội Hỉ, Đắc Kỷ và Bao Tự.

Trong khi Muội Hỉ và Đắc Kỷ đều khiến vị Vua của mình yêu say đắm và bỏ bê việc nước, lũng đoạn triều đình, thì có lẽ Bao Tự là trường hợp đặc biệt nhất khi nàng gần như chẳng cần phải làm gì, chỉ cần cười cũng khiến cả vương triều nhà Chu phải diệt vong. 

Bao Tự, hay Tụ Tự hoặc Ly Bích, là Vương hậu thứ hai của Chu U Vương, vị Thiên tử cuối cùng của giai đoạn Tây Chu trong lịch sử Trung Hoa. Bao Tự là một mỹ nhân cực kỳ xinh đẹp và quyến rũ, khiến Chu U Vương mê đắm.

Bao Tự là người nước Bao (nay là khu vực Hán Trung, tỉnh Thiểm Tây), họ Tự. Cũng như hầu hết phụ nữ thời Tiên Tần, phụ nữ nước này được gọi bằng tên nước nơi mình sinh ra kèm theo họ gia tộc đằng sau, do đó nàng được gọi luôn là Bao Tự. Một số phụ nữ nổi bật có thuỵ hiệu sẽ được gọi theo thứ tự: nước – hiệu – họ, ví dụ như Tề Văn Khương, trong đó “Tề” là nước bà sinh ra, “Văn” là hiệu, còn “Khương” là họ gia tộc của Tề vương.

Nguồn gốc của Bao Tự được Sử ký Tư Mã Thiên ghi lại mang màu sắc truyền thuyết. Đông Chu Liệt Quốc của Phùng Mộng Long cũng thêm bớt một vài tình tiết nhưng về đại thể vẫn giữ nét truyền thuyết đó. Chu bản kỉ trong Sử ký Tư Mã Thiên chép:

“Thời Hạ Hậu thị (nhà Hạ) suy vi, có hai con rồng thần vào sân đình của vua tự xưng là vua nước Bao. Triều đình bèn tế lễ, rồng thần nhả lại dãi và được lưu vào hộp gỗ. Từ đời nhà Hạ qua đời nhà Thương không ai dám mở hộp dãi rồng. Đến thời Chu Lệ Vương mở hộp ra xem, nước dãi biến thành con thằn lằn đen chạy vào hậu cung, làm một cung nữ mới 12 tuổi mang thai. Sau 38 năm, người cung nữ đó sinh ra một bé gái đẹp như thiên thần, sợ là vật tai dị nên vứt đứa trẻ xuống sông Thanh Thủy.

Thời Chu Tuyên vương, có câu đồng dao: “Gỗ dâu làm cung, gỗ cơ làm bao, bao đựng tên sẽ diệt nhà Chu”. Một đôi vợ chồng không biết có lệnh cấm bán gỗ dâu và gỗ cơ, mang ra chợ bán liền bị triều đình truy bắt. Họ chạy trốn giữa đường thì gặp đứa trẻ bị thả trôi sông, bèn ôm mang theo đến Bao quốc. Khi người nước Bao có tội, bèn lấy một cô gái dâng hiến cho Chu U Vương chuộc tội. Cô bé lớn lên chính là Bao Tự”. Cũng từ đây, cuộc đời nàng Bao Tự sang một trang mới, bắt đầu kéo theo những sóng gió cho nhà Chu.

Từ khi nhập cung, Bao Tự được Chu U Vương sủng ái bởi nàng là một mỹ nhân duyên dáng, xinh đẹp tuyệt trần. Nhưng khổ thay, Bao Tự không bao giờ cười và điều này làm Chu Ung Vương rất là đau lòng, tìm mọi cách để khiến nàng cười.

Một trong những cách vua dùng để “mua” nụ cười của nàng Bao Tự đó là xé lụa. Chuyện kể rằng, khi Chu U Vương dò hỏi mãi về chuyện nàng không chịu cười, Bao Tự đã nói: “Tiện thiếp chẳng thiết gì cười. Hôm trước có người xé lụa, nghe tiếng cũng lấy làm vui”. U Vương như bắt được vàng, ông bèn truyền lệnh cho viên quan giữ kho mỗi ngày phải dâng vào cung 100 tấm lụa rồi sai cung nữ đứng xé. Dù phải bỏ cả ngàn vàng để mua một nụ cười của mỹ nhân nhưng khi hàng ngàn tấm vải lụa bị xé nát tan, nàng Bao Tự mới chỉ tươi vui hơn một chút chứ vẫn chưa chịu nhoẻn miệng cười với nhà vua.

Không chịu thua cuộc, vị vua mê gái đã tuyên bố sẽ tìm cách để làm ái khanh cười. Ông bèn truyền cho quần thần xem ai có cách gì làm Bao Tự cười thì sẽ được thưởng. Trong đó có một viên quan đã hiến kế giả đốt lửa báo tin có giặc. Kế sách này đã chinh phục được nụ cười của Bao Tự nhưng chính nó lại khiến vua mất nước.

Sử sách chép lại, một hôm Chu U Vương dắt Bao Tự đến đài phong hỏa Ly Sơn chơi. Thời đó, đài phong hỏa là công trình để truyền tin tức chiến tranh, có binh sĩ đóng ở đó suốt ngày, nếu có địch xâm phạm biên giới, binh sĩ sẽ đốt khói lửa ngay, truyền tin báo động. Và khi kinh đô bị đe dọa thì đài phong hỏa Ly Sơn đốt khói lửa làm hiệu truyền tin cho các nước chư hầu biết để đem quân đến giúp đỡ.

Bao Tự không tin rằng chỉ cần một ngọn lửa như thế mà quân ở các nước chư hầu cách xa cả nghìn dặm sẽ đến kịp thời. Và để chứng minh cho Bao Tự thấy, cũng là để nàng nở nụ cười hiếm hoi, Chu U Vương đã lập tức sai quân đốt lửa ngay. Quân chư hầu mấy nước lân cận trông thấy các cột lửa cháy, ngỡ là có giặc bèn mang quân ứng cứu. Đến kinh thành, thấy mọi người vẫn đi lại bình thường, không có giặc giã gì, Chu U Vương thì đang uống rượu mua vui với Bao Tự nên các chư hầu ngơ ngác nhìn nhau, biết là mình bị vua đùa giỡn. Bao Tự ở trên đài, tận mắt trông thấy các chư hầu ngày thường phong độ, giờ ai cũng ngơ ngác, lúng túng đã không nhịn được cười. Nhìn Bao Tự cười khanh khách, Chu U Vương vô cùng vui sướng. Sau này, để mang tiếng cười cho người đẹp, Chu U Vương thi thoảng lại thắp tháp dầu và các chư hầu lại bị lừa.

Chu U vương say mê Bao Tự, xa lánh vương hậu họ Thân. Con trai của Bao Tự được U vương rất yêu quý, định lập làm Thái tử và muốn phế truất thái tử Nghi Cữu. Cha Thân Hậu bèn liên hệ với quân Khuyển Nhung bên ngoài kéo vào đánh úp Cảo Kinh.

Chu U Vương vội cho đốt lửa hiệu triệu chư hầu tới cứu, nhưng các chư hầu cho rằng lần này cũng là trò đùa nên chẳng chút bận tâm. U Vương mang Bao Tự và con nhỏ bỏ chạy, bị quân Khuyển Nhung đuổi theo giết chết. Riêng Bao Tự bị vua Khuyển Nhung bắt về cung để mua vui.

Quân Khuyển Nhung cướp phá giết người kinh thành. Thân Hậu ân hận mang họa cho dân Cảo Kinh bèn viết thư triệu các nước chư hầu Tấn, Tần, Trịnh đến đánh quân Khuyển Nhung. Quân ba nước kéo đến đánh tan quân Nhung. Vua Nhung bỏ chạy. Bao Tự thấy quân các nước kéo vào cung bèn thắt cổ tự vẫn, kết thúc một đời mỹ nhân làm khuynh quốc khuynh thành.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về lịch sử triều đại của một đất nước đông dân nhất thế giới này. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn, hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! Chúc du khách có một chuyến đi vui vẻ và thú vị!

Ẩm thực Chiết Giang – “cái nôi” của nhiều món ăn đặc sắc

Tại Trung Quốc, Chiết Giang được biết đến với vẻ đẹp non nước hữu tình. Không chỉ có thế, vùng đất này còn là cái nôi của nhiều món ăn đặc sắc.

ĐẶC TRƯNG CỦA TRƯỜNG PHÁI ẨM THỰC CHIẾT GIANG

Trường phái ẩm thực Chiết Giang còn gọi là “Triết Thái”, là tổng hợp những món ăn đặc sản của Hàng Châu, Ninh Ba, Thiệu Hưng; nhưng nổi tiếng nhất vẫn là các món ăn Hàng Châu.

Đặc điểm chính của các món ăn thuộc trường phái ẩm thực Chiết Giang là thường không dầu mỡ, chú trọng đến độ tươi ngon, mềm mại, hương thơm nhẹ và thanh đạm. 

Các kỹ thuật nấu ăn rất phong phú, đặc biệt là nấu các món hải sản. Triết Thái cũng chú trọng bày trí món ăn trang nhã, đa dạng trên các loại bát đĩa tinh xảo, vì thế các món ăn ở đây không chỉ có hương vị ngon mà còn vô cùng bắt mắt.

NHỮNG MÓN ĐẶC SẢN NỔI TIẾNG CỦA CHIẾT GIANG

Chiết Giang nằm ở ven biển, là một nơi có non xanh nước biếc, sản vật phong phú, còn được gọi là “vùng đất lắm cá nhiều gạo”. Người dân nơi đây rất coi trọng bữa cơm cũng như các món ăn của họ. Dưới đây là 11 món ăn của vùng Chiết Giang được liệt vào danh sách top các món ngon nhất:

Cá giấm Tây Hồ

Đây là một món ăn nổi tiếng ở khu vực Tây Hồ, thành phố Hàng Châu thuộc tỉnh Chiết Giang có từ đời nhà Tống. Cá giấm Tây Hồ từ tháng 10 năm 2018 được liệt vào danh sách 10 món ăn kinh điển của trường phái ẩm thực Chiết Giang.

Nguyên liệu chính để chế biến là cá chép, cá trắm cỏ hay cá quế được bắt lên từ Tây Hồ. Món ăn này đặc biệt ở chỗ người ta sẽ không nấu cá luôn sau khi bắt về, mà để cá đói 1 – 2 ngày, khi đó cá mới tiết ra một loại tạp chất từ ruột (đây là cách để loại bỏ các chất bùn, cho ruột cá không còn thức ăn dư thừa nữa).

Trong quá trình nấu, món ăn này đòi hỏi rất nghiêm khắc về độ lửa. Cá sẽ được nấu trong nước dùng có gừng, hành, tiêu trắng trong khoảng 3 – 5 phút là vừa tới. Sau đó, người ta sẽ rưới một lớp sốt chua ngọt chế biến từ gia vị và loại giấm thơm Trấn Giang, rượu Thiệu Hưng. Chính từ các gia vị này mang lại vẻ bóng mịn cho món ăn, vây ngực thẳng, thịt cá mềm, lại có vị chua ngon, tươi ngon rất đặc biệt.

Gà ăn mày

Gà ăn mày là một đặc sản rất nổi tiếng của Chiết Giang. Món ăn này mang hương vị thơm ngon với cách chế biến vô cùng độc đáo và cả một câu chuyện thú vị gắn liền với xuất xứ của nó. Món “gà ăn mày” xuất hiện từ thời nhà Thanh và cái tên “ăn mày” có liên quan đến người đã sáng tạo ra nó lần đầu tiên.

Theo sự tích kể lại thì một người ăn mày ở Hàng Châu, trong cơn đói kém, đành phải liều mình bắt trộm gà ở sân vườn một nhà ven đường. Trong khi đang nhóm lửa và chuẩn bị làm gà thì nhà vua và cận thần đi qua. Sợ quá, người ăn mày liền lấy bùn rồi bọc gà lại, ném vội vào lửa. Không ngờ, mùi thơm đã len lỏi qua lớp đất tỏa ra phưng phức thu hút sự chú ý của nhà vua dừng bước và dùng bữa cùng kẻ ăn mày kia. Thật ngạc nhiên, món ăn ngon đến mức nhà vua khăng khăng muốn biết cách chế biến món ăn này. Kết quả là món gà nướng này biến thành đặc sản quý, được đưa vào thực đơn trong cung và cứ thế trở thành món ăn nổi tiếng với tên gọi mỹ miều là “Gà nung đất sét”.

Ngày nay, gà ăn mày đã được biến tấu với nhiều loại nguyên liệu và gia vị khác nhau, tạo nên sự lạ miệng. Muốn món ăn này ngon cần chọn một con gà nặng hơn 1kg (là giống gà thả trong vườn để thịt săn chắc), vài lá sen khô, dầu mè và đất sét.

Thịt gà sau khi làm sạch được ướp với nước tương, hoa hồi, rượu, dầu đinh hương, hạt tiêu, muối, quê, đường và chút bột nêm cho đượm đà. Để nhồi, người ta cho thêm thịt heo, măng, gừng, tôm, hành củ,… xào qua rồi nhét trong bụng gà, khâu kín.

Ướp gà trong vài giờ để các loại gia vị ngấm sâu vào thớ thịt. Bọc bằng lá sen trước khi bọc đất sét để làm sạch lớp gà và thịt thoảng hương vị của lá sen. Tiếp đó, cho gà lên bếp nướng, đến khi phần đất sét nứt ra, mùi thịt thơm cùng các loại gia vị lan tỏa. Khi đó gà đã chín. 

Gà ăn xin chỉ ăn nóng mới cảm nhận hết vị ngon, ngọt. Du khách có thể cảm nhận được vị lá sen thoang thoảng, nấm hương, mùi thơm của tiêu, cay của ớt và miếng gà ăn không bị ngán. 

Thịt kho Đông Pha

Tên của món ăn này được đặt theo tên của một nhà thơ, nhà thi pháp rất giỏi của Trung Quốc có tên là Tô Thức (1037-1101). Ông còn được biết đến như một nhân vật có niềm đam mê nấu nướng khi trong các bài thơ ông viết đều có sự liên kết với các món ăn.

Tương truyền, ngày nọ có một người bạn cũ đến thăm Tô Đông Pha khi ông đang om thịt heo trên bếp, và thách thi sĩ này chơi cờ tướng. Ván cờ đòi hỏi sự tập trung cao độ, khiến nhà thơ quên cả chuyện bếp núc. Khi nồi thịt cạn nước, nó tỏa ra một hương thơm đặc biệt và lại có vị mềm ngọt đến bất ngờ. Nhiều năm sau đó, khi giám sát việc cải tạo Tây Hồ thành nơi trữ nước tưới tiêu, Tô Đông Pha được người dân dâng thịt heo để tỏ lòng biết ơn. Nhưng ông đem kho thịt và gửi lại cho từng hộ gia đình, và đãi công nhân nạo vét hồ như thay lời cám ơn vì họ đã chăm chỉ làm việc. Đó là cách Tô Đông Pha đưa món ăn của mình đến với tầng lớp lao động, và để lại một đặc sản như ngày nay.

Tuy là một món ăn ngon với hương vị đậm đà, thế nhưng nó có cách chế biến khá đơn giản. Món ăn được chế biến từ thịt ba chỉ cắt thành những miếng hình vuông, ướp với nước tương, xì dầu và rượu Thiệu Hưng (Shao Xing). Sau đó, đem thịt chiên trong dầu nóng sao cho giữ được lớp vỏ ngoài vàng ruộm và phần da hơi giòn, rồi kho cùng hỗn hợp nước ướp, hầm trong 3 tiếng để miếng thịt chín nhừ. Thịt kho Đông Pha có hương vị đậm đà và vị ngon khó cưỡng.

Chân giò Kim Hoa

Chân giò có vẻ ngoài bắt mắt, thịt tươi, hương thơm độc đáo, hương vị hấp dẫn, hội tụ cả 4 điểm về sắc, hương, vị, hình, vì vậy tên khác của món này là “Tứ tuyệt” được ra đời như vậy. Trước đây nó được coi là cống phẩm Trung Quốc, có ngấm tinh hoa của thịt.

Chân giò Kim Hoa được làm từ heo “chim hai đầu”, phần đùi sau, thịt non, rồi cho thêm muối, chỉnh hình, lật giở, phơi nắng, phơi gió, rất nhiều tháng mới làm ra nó.

Nghe nói thời Nam Tống Kháng Kim có danh tướng Tông Trạch là “tổ sư phụ” của món chân giò. Có truyền thuyết kể là ông ấy đem chế biến thịt heo ở quê nhà rồi mang vào cung để dâng lên vua. Nhà vua thấy thịt ở bên trong đỏ như lửa, từ đó đặt tên cho món ăn này là “Chân giò Kim Hoa”.

Mì Phiến Nhi Xuyên

Khi nói về ẩm thực Chiết Giang mà không nhắc đến cái tên “Mì Phiến Nhi Xuyên” thì đó là một thiếu sót lớn. Đây là một món mì rất nổi tiếng, bên trên có các loại nguyên liệu như rau cải chua, măng, thịt nạc thái miếng. Món ăn này có lịch sử hơn 100 năm. Đầu tiên là tiệm cổ Khuê Nguyên Quán ở Hàng Châu mở ra, điểm đặc biệt là rau và măng rất tươi, khiến cho thực khách vô cùng yêu thích.

Truyền thuyết khi Tô Đông Pha khi tới Hàng Châu làm quan đã từng nói một câu: “Không có thịt sẽ khiến người ta gầy đi, không có măng sẽ khiến người ta tầm thường”. Rau cải chua, măng, thịt,… những nguyên liệu mà họ dùng để chế biến món mì này, nghe nói cũng được qua nghiên cứu kỹ lưỡng. Ba nguyên liệu này cắt thành miếng, sau đó đem luộc trong nước sôi, người ta còn gọi đây là “Phiến Nhi Xuyên”.

Tôm Long Tỉnh

Đây là một đặc sản truyền thống mang đậm khí chất của Tây Hồ, Hàng Châu – Chiết Giang. Sự thơm ngon của tôm rang kèm lá trà Long Tỉnh chắc chắn sẽ khiến thực khách khó thể quên khi đã được trải nghiệm món ăn đó.

Tôm Long Tỉnh có cách làm rất đơn giản nhưng lại quan trọng trong cách lựa chọn nguyên liệu. Tôm được chọn phải là tôm sú còn tươi rói, bóc vỏ ướp cùng bột ngô rồi mang chiên trong chảo ngập dầu. Bước cuối cùng là cho tôm vào sốt với nước trà Long Tỉnh đã được pha sẵn cho đến khi nước sốt hơi sền sệt là dùng được.

Cua xanh Tam Môn

Tam Môn ở Chiết Giang là vùng đất nổi tiếng với hơn 200 năm kinh nghiệm nuôi cua xanh. Cua ở đây đặc biệt to, chắc thịt, khỏe, màu sắc tươi sáng và vị thịt tươi ngon. 

Cua Xanh Tam Môn, thích hợp với nhiệt độ từ 7 – 37℃, độ mặt là 2.6 – 55‰, là giống ăn thịt đào hang, ban đêm mới ra ngoài. Thịt cua xanh chứa đến 18 loại axit amin, giàu protein và ít chất béo nên món ăn này khá đắt đỏ. Ngoài chế biến thức ăn, người dân ở đây còn sử dụng cua xanh như một dược liệu quý hiếm có giá trị dinh dưỡng rất cao.

Đậu hũ chiên giòn

Đậu hũ chiên giòn là một món ăn rất được ưa chuộng ở Hàng Châu, Chiết Giang bởi vì vị thanh và dễ gây nghiện của nó. Da đậu phụ được làm từ sữa đậu nành đun sôi. Khi luộc, một lớp màng mỏng xuất hiện ở phía trên của nồi sữa và được vớt ra để làm thành các tấm da đậu phụ. Ở Hàng Châu, loại da đậu phụ này được cuộn, thường là với thịt heo băm nhỏ bên trong, và chiên cho đến khi giòn. Những cuộn đậu phụ rán vàng ươm và thanh nhẹ, thường được ăn kèm với nước chấm chua ngọt.

Bánh lúa mạch thịt viên

Trong ẩm thực Chiết Giang, bánh lúa mạch thịt viên là một trong những món ăn dân dã thu hút được rất nhiều thực khách.

Như tên gọi, món bánh này có phần vỏ bánh được làm từ bột lúa mạch dẻo thơm và phần nhân là thịt heo băm nhỏ. Cách chế biến bánh lúa mạch thịt viên cũng giống như cách mà mọi người thường làm bánh lúa mạnh nhân rau, chỉ có điều là kích thước của bánh nhỏ hơn một chút. 

Điều thú vị khi thưởng thức món bánh này là người ta dùng 3 chiếc đũa, tay trái cầm một chiếc đũa để giữ cố định chiếc bánh trong đĩa, tay phải sẽ cầm một đôi đũa để gắp bánh, rồi chấm nước tương, dấm, tùy theo khẩu vị.

Bánh Ú Gia Hưng

Đây là đặc sản nổi tiếng và có truyền thống từ lâu đời ở vùng Gia Hưng, Chiết Giang. Loại bánh này đặc biệt ở chỗ tuy bánh khá dẻo nhưng lại vẫn có độ giòn nhất định, càng thú vị hơn nữa là bánh có rất nhiều dầu mỡ nhưng lại không mang lại cảm giác ngấy cho người ăn; vị của bánh cũng lạ không kém, không quá mặn mà cũng không quá ngọt.

Bánh Ú Gia Hưng thường có nhân thịt, được mọi người khen là “vua của làng bánh Ú” vì quy trình làm bánh hết sức công phu. Phần nếp trước khi được gói làm bánh sẽ được đem đi tẩm ướp gia vị cùng với lòng đỏ trứng gà. Sau cùng là sẽ nấu nếp chung với đùi heo, mỡ trong đùi heo sẽ ngấm dần vào nếp, do đó mà khi ăn sẽ thấy bánh tiết ra rất nhiều dầu mỡ.

Bánh xốp Ngô Sơn

Bánh xốp Ngô Sơn còn có nhiều tên gọi độc đáo: “Đại Cứu Giá”, “Bánh Áo Tơi”. Đến nay nó đã có 700 đến 800 năm lịch sử, được mệnh danh là “Ngô Sơn đệ nhất điểm tâm”.

Bánh có màu vàng, xếp lớp nhiều tầng, trên nhọn dưới tròn (hình giống Kim Sơn), có phủ một lớp đường trắng như bông, giòn mà không vỡ, có dầu mà không ngấy, hương vị thơm ngọt.

Bánh trôi nước Ninh Ba

Bánh trôi nước Ninh Ba được bắt nguồn từ triều Tống. Khi đó, người dân các vùng đều thích ăn một món ăn mới, dùng một loại mứt quả để làm nhân, bên ngoài dùng bột gạo nếp nặn thành hình tròn. Bánh ăn có vị thơm ngọt, rất thú vị. Bởi vì viên gạo nếp này khi nấu chín ở trong nồi vừa nổi vừa chìm, cho nên còn được gọi là “Phù Viên Tử” (viên nổi), sau này có nơi sửa “Phù Nguyên Tử” thành Nguyên Tiêu. 

Củ ấu Nam Hồ

Củ ấu Nam Hồ còn gọi là “củ ấu vàng”, “củ ấu hoành thánh”, “củ ấu hoà thượng”. Thường thì củ ấu cũng có góc nhọn, nhưng củ ấu Nam Hồ thì có góc tròn, vỏ màu xanh lục, 2 cạnh tròn trơn, vỏ mỏng, thịt mềm, nhiều nước, ngọt, thơm, đặc sắc hơn rất nhiều loại khác.

Củ ấu Nam Hồ không chỉ dùng để ăn, nấu món ăn, mà còn dùng để làm bánh, ủ rượu, nấu đường,… Người nấu nướng sẽ chọn củ ấu non có màu xanh biếc, đặc biệt là khi vừa luộc thì vị rất tuyệt, nấu chín thì sẽ chọn củ ấu già có màu vàng nâu, rửa sạch rồi nấu chín, sẽ có vị đậm đà, thịt và gạo vừa miệng.

Ẩm thực Chiết Giang với nhiều món đặc sản trứ danh quả thực khiến người ta phải “mê mẩn”. Hãy chọn một Tour Trung Quốc của chúng tôi để có cơ hội khám phá và trải nghiệm nền ẩm thực Chiết Giang nhé! 

Hiếu Trang Duệ Hoàng hậu dù bị mù nhưng vẫn được hoàng đế sủng ái cả đời

Nhắc đến vị trí mẫu nghi thiên hạ, người ta thường nghĩ ngay tới những người phụ nữ sắc nước hương trời mới có thể được Hoàng đế sủng ái, hết mực yêu chiều. Tuy nhiên, Hiếu Trang Duệ Hoàng hậu lại là một ngoại lệ. Mặc dù bà bị mù một bên mắt, tàn phế một chân nhưng vẫn được Hoàng đế Minh Anh Tông yêu thương trân trọng cả đời.

Hiếu Trang Duệ Hoàng hậu hay Tiền Hoàng hậu (02/8/1426 – 15/7/1468) là Hoàng hậu duy nhất của Minh Anh Tông Chu Kỳ Trấn và là đích mẫu của Minh Hiến Tông Chu Kiến Thâm.

Hiếu Trang Duệ Hoàng hậu mang họ Tiền, nguyên quán ở vùng Hải Châu. Tuy ghi chép gia cảnh hàn vi, nhưng “hàn vi” của nhà quan trường so với nhà bình dân học vụ thì cũng rất khác biệt. Ông cố nội là Tiền Chỉnh, phục vụ Minh Thành Tổ khi còn là Yên vương, nhậm “Yên Sơn hộ vệ Phó thiên hộ”, ông nội Tiền Thông làm quan đến “Kim Ngô Hữu vệ Chỉ huy sứ”, cha bà là Đô đốc đồng tri Tiền Quý, một tước quan võ hàng Chính nhị phẩm, từng nhiều lần cùng Thành Tổ và Minh Tuyên Tông tòng giá Bắc chinh. Vào thời điểm Tiền thị trưởng thành thì Tiền Quý đã là “Trung phủ Đô đốc đồng tri”.

Mùa xuân năm Chính Thống thứ 7 (1442), Tiền thị thông qua tuyển mỹ nhập cung, được Trương Thái hoàng Thái hậu chọn làm Hoàng hậu. Khi đó, Minh Anh Tông 15 tuổi, còn Tiền thị 16 tuổi.

Minh Anh Tông là Hoàng đế đầu tiên của nhà Minh đăng cơ khi tuổi còn nhỏ, khi chỉ vừa 9 tuổi. Do vậy, vị thê tử nguyên phối của ông chính là Hoàng hậu chính thức đầu tiên, không phải do sách phong từ vị trí Thái tử phi hay Vương phi hoặc tần phi. Bà nội của Anh Tông, Trương Thái hoàng Thái hậu là một người phụ nữ kiệt xuất, khi bà giúp chồng Minh Nhân Tông Chu Cao Sí giữ vững vị trí Thái tử, phò trợ con trai Minh Tuyên Tông và giờ là cháu trai. Từ vị trí của mình, bà biết rõ vị trí Hoàng hậu có ảnh hưởng đến thế nào đối với Hoàng đế, vì vậy việc tuyển chọn cháu dâu do đó cũng rất tỉ mỉ.

Tiền thị khi đó so với những mỹ nhân tham gia tuyển cùng không phải có xuất thân quá nổi bật hay vẻ đẹp sắc nước hương trời, tuy nhiên, Trương Thái hoàng Thái hậu đã cảm nhận được nhân phẩm xuất chúng của bà.

Minh Anh Tông có được người vợ thông tuệ, hết mực nết na thì rất vui sướng. Hai người sống những ngày tháng tân hôn vô cùng hạnh phúc và vui vẻ.

Một lần, Minh Anh Tông chợt để ý rằng gia tộc của Hoàng hậu đều chỉ giữ những chức quan khá tầm thường, không quan trọng. Thế nên, ông muốn cất nhắc, phong tước một số người trong gia tộc Tiền thị để Hoàng hậu được nở mày nở mặt. Thế nhưng khi nhà vua đề cập việc này với Hoàng hậu thì bà ngay lập tức từ chối. Bà nói rằng, trong gia tộc, chưa ai có công lao, đóng góp to lớn trong triều đình hoặc có tài năng xuất chúng để xứng đáng được phong tước cả. Về sau, nhà vua cũng nhắc lại việc này thêm vài lần nữa và lần nào Hoàng hậu cũng một mực khước từ, qua đó mà Minh Anh Tông càng hiểu thêm về tấm lòng và tính cách công bằng, chính trực của bà. Bà cũng rất thông cảm chuyện nạp phi, nên không bao giờ ngăn cản Minh Anh Tông sủng hạnh phi tử, do vậy số con cái của Anh Tông khai chi tán diệp cũng không tệ. Tình cảm Đế – Hậu từ đó mà càng trở nên sâu nặng, thắm thiết.

Chỉ có một điều đáng tiếc, đó là dù Minh Anh Tông hết mực sủng ái và rất mong chờ, nhưng Tiền Hoàng hậu vẫn không thể sinh cho ông một vị Hoàng tử nào, trong khi các phi tần khác đều liên tục sinh nở. Nhà Vua ngày đêm mong ngóng, không phải vì muốn có Đích tử mà sợ rằng nếu truyền ngôi vị cho Hoàng thứ tử, thì sinh mẫu sẽ lạm quyền, ức hiếp Tiền Hoàng hậu.

Năm Chính Thống thứ 14 (1449), xảy ra Sự biến Thổ Mộc bảo. Lúc đó, Minh Anh Tông thân chinh cầm quân xuất trận để bảo vệ bờ cõi trước sự xâm lược của các bộ lạc Mông Cổ. Ông để cho em trai Chu Kỳ Ngọc ở lại trấn thủ kinh thành. Thái giám Vương Chấn khi ấy ngang nhiên mượn danh Hoàng đế chỉ huy quân đội tùy tiện, phong tỏa hết thảy những thông tin bất lợi với Minh Anh Tông khiến quân nhà Minh liên tiếp bại trận, thương vong vô số.

Mãi cho đến khi thấy tình hình chiến sự trở nên vô cùng bất lợi, Vương Chấn bèn tìm cách thoát li khỏi nhà vua, thế nhưng trên đường tẩu thoát, hắn bị quân Mông Cổ bắt được và giết chết. Về phần Minh Anh Tông, ông bị bắt giữ làm con tin.

Ngày 18/8, tin tức Minh Anh Tông bị bắt lan đến kinh thành. Trong triều chấn động, Tôn Thái hậu mệnh Thành vương Chu Kỳ Ngọc giám quốc, lại huy động các quan công khanh vơ vét tài sản để chuộc Hoàng đế. Tiền Hoàng hậu bán hết tài sản riêng, cốt để mong chuộc được Minh Anh Tông. Nhưng Khả Hãn Mông Cổ là Dã Tiên lại thấy có thể lấy Minh Anh Tông uy hiếp nhà Minh, vừa có thể mượn sức nhà Minh hoàn thành việc thống nhất Mông Cổ, lại có thể uy hiếp đến Bắc Kinh. Trước tình thế đó, ngày 6/9, Tôn Thái hậu gấp gáp khuyên mời Thành vương Chu Kỳ Ngọc lên ngôi, tức Minh Đại Tông, còn Minh Anh Tông trở thành Thái thượng hoàng nhằm ổn định tình hình, tổ chức đánh trả quân Mông Cổ.

Nhận được hung tin chồng bị bắt làm tù binh, anh trai Tiền Khâm và em trai Tiền Chung cũng tử trận, Tiền Hoàng hậu đau đớn đến độ chỉ muốn chết đi. Điều duy nhất mà Tiền hậu có thể làm đó là ngày ngày quỳ gối dập đầu trước Phật, thành tâm khẩn cầu hi vọng trượng phu có thể bình an trở về. Suốt một thời gian dài cầu khấn, mùa đông với cái lạnh cắt da cắt thịt đã khiến tình hình sức khỏe của Tiền Hoàng hậu suy giảm đến mức không thể tự đứng dậy được. Không ngừng quỳ lạy bất kể ngày đêm, không ngừng khóc thương người chồng đang bị bắt, vậy nên một chân bà đã bị thương nặng dẫn đến tàn phế, một bên mắt cũng đã bị mù. Năm đó, bà mới chỉ 24 tuổi.

Có lẽ tấm lòng son sắt, kiên trinh của Tiền Hoàng hậu đã lay động trời xanh nên Minh Anh Tông cuối cùng cũng được quân Mông Cổ trao trả cho nhà Minh. Năm đầu Cảnh Thái (1450), ngày 3/8, Minh Anh Tông từ Mạc Bắc trở về kinh, được tôn làm Thái thượng hoàng và bị giam lỏng ở Nam Cung. Gặp lại Tiền thị, Minh Anh Tông không khỏi xót xa. Bà giờ đã tàn phế, dung mạo tiều tụy nhưng tấm chân tình của bà vô cùng đáng quý. Lúc này, Tiền Hoàng hậu dọn đến Nam Cung để sống cùng trượng phu của mình, thậm chí phải có lúc bán đồ thêu để có tiền sinh sống qua ngày.

7 năm sau (tháng Giêng, năm Cảnh Thái thứ 8 – 1457), Minh Đại Tông bạo bệnh qua đời. Ngày 17 tháng Giêng, Minh Anh Tông lần nữa lại lên làm hoàng đế.

Hoàng đế phục vị, vì vậy cần sắc phong một vị Hoàng hậu mới. Mọi người đều nghĩ Chu Quý phi, người đã sinh ra trưởng tử Chu Kiến Thâm sẽ ngồi lên ngôi vị Hoàng hậu. Thành thật mà nói, so với Tiền thị tàn tật, không sinh cho nhà vua một đứa con nào thì Quý phi Chu thị có ưu thế hơn hẳn: không những có nhan sắc mà lại sinh cho nhà vua đến 3 Hoàng tử, trong đó con trai của Chu Quý phi là Chu Kiến Thâm đã được phong làm Hoàng thái tử. Bản thân Chu Quý phi sinh hạ Hoàng thái tử nên cũng nôn nóng muốn trở thành Hoàng hậu. Nhìn thấu được dã tâm của Chu thị, Anh Tông vẫn kiên quyết giữ Tiền thị làm Hoàng hậu. Với ông, tình nghĩa sâu nặng và tấm lòng sắt son của Tiền thị vượt lên trên tất thảy những tính toán thông thường. Dù rằng bà không có con nhưng sự trân quý của nhà vua dành cho bà chưa khi nào suy chuyển. Chu Quý phi tham vọng cũng vì thế tiêu tan.

Tháng 12, năm Thiên Thuận thứ 8 (1464), Minh Anh Tông đã mắc bệnh nặng. Đến ngày 6 tháng Giêng, đã không thể thượng triều, phải truyền Thái tử đến Văn Hoa điện xử lý quốc sự. Ngày 16 tháng ấy, Minh Anh Tông trước mặt bá quan công bố di chiếu, rồi băng hà. Di chiếu cho Hoàng thái tử Chu Kiến Thâm kế vị, tức Minh Hiến Tông.

Minh Anh Tông từ trước đã không vừa mắt Chu Quý phi, nhưng vì địa vị của Thái tử mà bỏ qua không so đo, cũng một phần vì không nghĩ mình sẽ qua đời sớm. Vào lúc này, Minh Anh Tông sợ mình băng hà thì Chu phi sẽ gây khó dễ Tiền Hoàng hậu, nên trước khi lâm chung đã nói với Thái tử: “Hoàng hậu danh vị đã định, phải tẫn hiếu thiên niên”. Nhưng Minh Anh Tông chính là không yên tâm Chu phi sẽ tác oai tác oái, khiến Thái tử sợ mẹ mà làm bậy, bèn quyết định kéo tay Đại học sĩ Lý Hiền mà dặn dò: “Sau khi Tiền hoàng hậu thiên thu, phải cùng Trẫm hợp táng!”. Đại học sĩ Lý Hiền khóc không thành tiếng, cũng lấy lời này viết lên di chiếu.

Năm Thành Hóa nguyên niên (1465), tháng 3, tức 2 tháng sau khi Minh Anh Tông băng hà, triều thần tôn Tiền Hoàng hậu là Hoàng Thái hậu, gọi là Từ Ý Hoàng Thái hậu, còn Chu Quý phi cũng được tôn là Hoàng Thái hậu nhưng không có tôn hiệu.

Ngày 26 tháng 6 (âm lịch), năm Thành Hóa thứ 4 (1468), Tiền Thái hậu qua đời, thọ 42 tuổi. Theo di chiếu cũng như quy tắc đích – thứ, Tiền Thái hậu là người duy nhất có thể “hợp song táng” cùng Minh Anh Tông vào Dụ lăng.

Nhưng quyền lợi đáng có này của Tiền Thái hậu khiến Chu Thái hậu tức giận, yêu cầu Minh Hiến Tông xây chỗ khác mà an táng Tiền Thái hậu, chỉ một mình Chu Thái hậu tương lai có thể hợp táng với Anh Tông. Hiến Tông răm rắp nghe theo mẹ đẻ, tìm đủ loại lý do để không theo di chiếu của Tiên hoàng. Sự việc này khiến hơn 99 đại thần, đứng đầu là Đại học sĩ Bành Thời liền thượng tấu về chuyện phải hợp táng Tiền Thái hậu cùng Minh Anh Tông như di chiếu. Chu Thái hậu biết tin này cực kỳ phẫn nộ. Đối với hành động trắng trợn quái ác của Chu Thái hậu, Chấp sự trung Ngụy Nguyên cùng đồng liêu hơn 39 người, Ngự sử Khang Doãn Thiều cùng đồng liêu hơn 41 người quyết định đòi lại công đạo cho Tiền Thái hậu, ngay khi hạ triều liền ở ngoài Văn Hoa điện quỳ khóc. Bắt đầu một chiến dịch đình công trong triều đình để buộc Chu Thái hậu đồng ý việc hợp táng của Tiền Thái hậu. Đó là tháng 6 âm lịch, trời Bắc Kinh nắng hạ, quần thần 99 người quỳ từ giờ Tỵ (tức 9 giờ đến 11 giờ buổi sáng) đến giờ Thân (tức khoảng 5 giờ chiều), khóc lóc thảm thiết bao trùm toàn bộ hậu cung. Chu Thái hậu nhiều lần bắt Hiến Tông buộc quần thần thoái lui, nhưng họ kiêng quyết: “Không có ý chỉ hợp táng Tiền Thái hậu thì không dám lui”. Chu Thái hậu không ngờ một Tiền thị tàn phế lại có thể khiến các đại thần đồng lòng đòi công đạo, nên cảm thấy ức chế nhưng vẫn không còn cách nào khác gật đầu việc hợp táng của Tiền Thái hậu.

Tháng 7 năm đó, Minh Hiến Tông chính thức dâng thụy hiệu cho Tiền Thái hậu, là Hiếu Trang Hiến Mục Hoằng Huệ Hiển Nhân Cung Thiên Khâm Thánh Duệ Hoàng hậu. Tháng 9 năm đó, Tiền Thái hậu được hợp táng cùng Minh Anh Tông, đưa vào địa lăng bên trái.

Dù cuối cùng Tiền Thái hậu đã được đưa vào Dụ lăng hợp táng với Minh Anh Tông, song Chu Thái hậu vẫn uất ức. Do khi xây dựng Dụ lăng không có dự lưu việc sẽ an táng thêm 1 Hoàng hậu nữa, nên không thiết kế thích hợp cho trường hợp đồng táng “Nhất đế Nhị hậu”. Để hợp táng Tiền Thái hậu, và tương lai là Chu Thái hậu, triều đình lại lần nữa thi công, đào thông một đường hầm từ phần mộ Tiền Thái hậu đến phần mộ của Anh Tông.

Chu Thái hậu lúc này mua chuộc thái giám làm việc đào mộ, không chỉ khiến đường hầm đi chệch so với mộ của Minh Anh Tông mười mấy trượng, mà giữa đường còn lấy đất đá chèn ngăn lại. Còn phần mộ tương lai của Chu Thái hậu thì thẳng tắp đến mộ của Anh Tông, lối mộ cũng rộng rãi thoáng đãng. Ngoài ra, mỗi dịp có hiến tế trong Phụng Tiên điện, Chu Thái hậu còn không cho phép bày bức họa của Tiền Thái hậu cùng thần vị. Đến sau khi Chu Thái hậu qua đời vào thời Minh Hiếu Tông, Hoàng đế theo lệ mở Dụ lăng để đưa bà nội của mình vào, thì kinh ngạc phát hiện sự tình mà bà nội mình làm năm xưa.

Biết sự việc đã rồi, Minh Hiếu Tông đã có ý cho sửa lại đường thông, triệu tập các Đại học sĩ bàn nghị một cuộc họp rất lớn, muốn vì Tiền Thái hậu mà khai thông đường hầm. Nhưng những vị Âm dương sư và các quan viên của Khâm thiên giám không tán đồng vì ảnh hưởng phong thủy, sự việc bèn thôi. Đường thông của Tiền Thái hậu mãi mãi bị ngăn lấp, không thông được với mộ phần của Minh Anh Tông.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về lịch sử triều đại của một đất nước đông dân nhất thế giới này. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn, hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! Chúc du khách có một chuyến đi vui vẻ và thú vị!

Shui Zhu Yu – Món canh cá tràn ngập ớt và dầu mỡ của ẩm thực Tứ Xuyên, Trung Quốc

Ẩm thực Tứ Xuyên từ lâu đã nổi tiếng với các món ăn cay xé lưỡi bởi sử dụng những loại gia vị đặc trưng như hạt tiêu Tứ Xuyên kết hợp cùng với ớt đỏ cay nồng. Đặc biệt, ngoài món lẩu cay lừng danh thì một trong những món cay nổi tiếng khác của Tứ Xuyên đó chính là “Shui Zhu Yu” – món canh cá tràn ngập ớt và dầu mỡ.

Ở Tứ Xuyên, Shui Zhu Yu có lịch sử ra đời từ rất sớm, thậm chí đến nay người dân cũng không rõ món ăn này đã xuất hiện từ khi nào. Thế nhưng, từ những năm 1990 thì món Shui Zhu Yu đã trở thành món ăn cực nổi tiếng hơn hẳn nhiều món ngon khác ở Tứ Xuyên.

Shui Zhu Yu có nghĩa là “cá nấu trong nước”, tuy nhiên khi thưởng thức món này thì du khách sẽ nhận ra phần nước dùng này không hẳn là nước mà thực chất lại được sử dụng rất nhiều dầu thực vật. Đó là lý do tại sao nồi cá Shui Zhu Yu lúc nào cũng trông đẹp mắt và hấp dẫn không thể tả. 

Điểm nhấn quan trọng của món ăn này là cá và phần nước dùng được nấu từ dầu thực vật, hạt tiêu Tứ Xuyên, cải thảo, tỏi, hồi, gừng khô và tất nhiên sẽ có rất nhiều ớt đỏ tươi bên trong.

Với phần nguyên liệu cá thì có thể sử dụng từ nhiều loại cá chứ không hẳn chỉ riêng một loại cá nào. Cá có thể được cắt lát cho dễ ăn nhưng cũng có khi được để nguyên cả con. Đôi khi, người ta còn sử dụng nguyên liệu thịt heo, thịt bò để thay thế cho cá. Tuy vậy, Shui Zhu Yu nấu từ cá sẽ cho vị ngọt thanh hơn cả.

Mặc dù Shui Zhu Yu đã được công nhận là món ngon nổi tiếng ở Tứ Xuyên nói riêng và Trung Quốc nói chung, thế nhưng đây sẽ là một trở ngại lớn đối với những ai không ăn cay được. Món ăn này cay đến mức thậm chí nhiều người còn kháo nhau rằng, chỉ cần bạn thưởng thức được món Shui Zhu Yu này là bạn đã đủ trình độ thưởng thức tất cả các món cay khác ở Tứ Xuyên.

Bởi thành phần gây cay của món Shui Zhu Yu không chỉ có ớt đỏ mà điểm nhấn ở đây chính là tiêu hạt Tứ Xuyên Majiao có màu xanh hoặc Huajiao có màu đỏ tươi. Hai loại tiêu này đẳng cấp đến mức không chỉ tạo vị cay xé mà còn gây tê cả đầu lưỡi khi thưởng thức. Đối với những người thưởng thức quen món Shui Zhu Yu thì chính vị càng cay của tiêu mới càng khiến họ hài lòng.

Nước dùng thì cay xé lưỡi nhưng phần cá lại rất thanh đạm, đây là sự kết hợp hoàn hảo tuyệt vời của món ăn Shui Zhu Yu. Nếu có dịp du lịch Trung Quốc và ghé thăm vùng đất Tứ Xuyên, du khách đừng bỏ qua cơ hội thưởng thức món Shui Zhu Yu trứ danh này nhé! Chắc chắn du khách sẽ phải “ghiền” ngay sau đó.

Tào Đằng – hoạn quan duy nhất trong lịch sử Trung Hoa được truy tôn là Hoàng đế

Hoạn quan là một chức quan trong nội đình, không có quyền can dự chính sự. Nhưng do là người thân cận Hoàng đế, được tin dùng nên nhiều Hoạn quan đã nắm luôn đại quyền chính trị, lũng đoạn triều cương, song không có ai dám nhòm ngó ngôi thiên tử. Thế nhưng, trong lịch sử 3.000 năm của Trung Hoa vẫn có một người đường đường chính chính được truy phong làm Hoàng đế, đó là Cao Hoàng Đế Tào Đằng.

Tào Đằng, tự Quý Hưng, người Tiêu Bái, là một hoạn quan nổi tiếng thời Đông Hán. Tào Đằng là con thứ 3 của Tào Tiết, từ nhỏ đã bị đẩy vào cung làm hoạn quan. Tào Đằng chính thức nhập cung làm Hoạn quan thời vua Hán An Đế (107-126). Không chỉ là một trong những Hoạn quan phục vụ nhiều đời Vua nhất (tổng cộng qua 5 triều đại) trong lịch sử Trung Hoa, Tào Đằng còn được chính sử ghi nhận như một vị đại thần có nhiều công lao thời Đông Hán.

Lúc bấy giờ, Tào Đằng vào cung để làm người hầu cho Thái tử (sau này là Hán Thuận Đế) đọc sách. Tào Đằng làm việc cẩn thận chu đáo nên rất được Thái tử yêu quý, sau đó cùng kết đôi với con gái nhà họ Ngô và nhận con nhà Hạ Hầu làm con nuôi – tức là Tào Tung, cha của Tào Tháo.

Sau khi Hán Thuận Đế lên ngôi, Tào Đằng được nhận chức Trung thường thị. Làm việc hơn 30 năm đều rất cẩn thận nên được hoàng đế rất ưu ái. Rồi khi Hán Thuận Đế băng hà, con trai mới vừa đầy 2 tuổi kế vị, chưa đầy một 1 sau đã bị chết. Sau những cuộc tranh giành ngai vị trong hoàng tộc, các vị đại thần đều muốn lập Lưu Toán lên ngôi nhưng Đại tướng quân là Lương Ký không chấp nhận và lập con của Bột Hải Hiếu Vương là Lưu Tán lên ngôi.

Hoàng đế Lưu Tán tuy nhỏ tuổi nhưng khá thông minh, nhiều việc đã làm cho Lương Ký lo sợ, nên cuối cùng y tìm cách đầu độc chết vị hoàng đế lên ngôi chưa đầy 1 năm này. Tới lúc này các đại thần càng tăng áp lực để đưa Thanh Hà vương Lưu Toán lên ngôi, Lương Ký thì muốn lập em rể của mình là Lưu Trí, nhưng thấy thái độ của các đại thần nên vẫn loay hoay chưa biết nên làm thế nào.

Thanh Hà Vương Lưu Toán tuy là người cẩn trọng, đại thần trong triều đều ủng hộ thế nhưng khi Tào Đằng và một số hoạn quan khác đến gặp Lưu Toán thì lại bị y coi thường là lũ hoạn quan ái nam ái nữ. Điều này làm cho bọn Tào Đằng vừa uất hận vừa sợ hãi nên không muốn Lưu Toán lên ngôi.

Tào Đằng liền cùng các hoạn quan khác tới nhà Lương Ký để khuyên nhủ rằng: “Tướng quân lâu nay vẫn làm hoàng thân quốc thích quản lý triều chính, quan hệ trong triều phức tạp, không thiếu những sai sót. Thanh Hà vương lại là người nghiêm minh, nếu như lên ngôi thì việc tướng quân gặp nạn chỉ là chuyện sớm muộn mà thôi. Chẳng bằng lập Lưu Trí lên ngôi, như thế có thể bảo vệ được vinh hoa phú quý”.

Lương Ký quả đã nghe theo lời kiến nghị của Tào Đằng, lập Lưu Trí lên ngôi – tức Hán Hoàn đế (146-167). Tào Đằng nhờ thế mà được phong đến tận chức Đại trường thu, tước Phí Đình Hầu.

Trong thời gian phục vụ trong cung, Tào Đằng đã tiến cử nhiều nhân sĩ cho triều đình nhà Đông Hán như: Ngu Phóng ở Trần Lưu, Biên Thiều, Diên Cố ở Nam Dương, Trương Ôn, Trương Miễn ở Hoằng Nông, Đường Khê ở Đồi Xuyên Đích… Ngay cả Chủng Cáo – một người từng nghi oan Tào Đằng nhận hối lộ sau đó cũng được ông đánh giá cao năng lực – làm tới chức Tư đồ.

Về cơ bản, Tào Đằng không chỉ là một Hoạn quan tuyệt đối trung thành qua các đời vua mà còn là người nhân đức, lại kết giao rộng rãi, có ơn tiến cử với nhiều nhân sĩ trong triều Đông Hán và được người đương thời rất kính phục. Đấy là những thứ mà phàm kẻ là Hoạn quan hiếm khi có được.

Nhưng Hoạn quan tốt, trong lịch sử Trung Quốc cũng đâu phải là hiếm nên việc Tào Đằng được truy tôn Hoàng đế hàng chục năm sau khi mất dĩ nhiên không can hệ tới tài năng hay đức độ của ông lúc còn sống. Tào Đằng là Hoạn quan duy nhất xưa nay có được tước hiệu cao quý này là bởi những thành công chính trị tột bậc đời con cháu ông.

Sau khi Tào Đằng chết, con nuôi là Tào Tung kế thừa tước vị. Những năm cuối thời Hoàng đế, Tào Tung được phong làm Tư lệ hiệu úy, đến khi Hán Linh Đế lên ngôi, lại thăng chức Đại tư nông, Đại hồng lô, quản lý các việc lễ nghi và tài chính trong nước, chức thuộc hàng cửu khanh. Cuối thời Đông Hán còn có chế độ dùng tiền để mua chức, Tào Tung không vừa ý với chức Đại hồng lô của mình, bỏ ra tiền vạn để mua cho mình chức Thái Úy – đứng đầu Tam công. Có thể nói Tào Tung đã đạt đến đỉnh điểm trong con đường chính trị của mình.

Về sau, khi thấy thế cuộc hỗn loạn, Tào Tung từ quan mà trở về Lạc Dương. Khi Đổng Trác tiếm quyền, Lạc Dương trở thành một nơi hỗn loạn, Tào Tung đem gia quyến về huyện Hoa ở Thái Sơn tránh nạn. Về sau lại đưa con là Tào Đức cùng vợ trở về đại bản doanh của Tào Tháo ở Duyễn Châu. Nhưng mới đi tới Từ Châu thì Trương Khải, người được giao nhiệm vụ hộ tống Tào Tung, không cưỡng nổi sự quyến rũ của vàng bạc châu báu của họ Tào nên đã sai binh lính giết chết y, cướp đi tài sản và chạy về Hoài Nam. Tào Tháo sau đó đã hai lần phát động binh mã đánh Từ Châu để trả thù cho cha của mình.

Dưới sự chỉ huy của Tào Tháo, thế lực của Ngụy càng ngày càng hùng mạnh, cho tới khi Tào Tháo chết (năm Kiến An thứ 25, tức năm 220), Vương thế tử Tào Phi kế nghiệp chức Thừa tướng nhà Hán, nhận danh hiệu Ngụy vương. Tháng 10/220, Tào Phi ép Hán Hiến Đế Lưu Hiệp nhường lại ngôi vị, tự xưng là Ngụy Đế, trở thành vị Hoàng đế đầu tiên của Tào Ngụy.

Tháng 5/226, Văn Hoàng Đế Tào Phi bệnh tình nguy kịch, trước khi chết đã hạ chiếu lập con trai mình là Bình nguyên vương Tào Duệ làm Hoàng Thái tử. Tào Duệ sau đó chính thức lên ngôi, lấy hiệu Minh Hoàng Đế, trị vì nhà Tào Ngụy từ 226 đến 239, tổng 11 năm.

Tào Duệ sau khi lên ngôi đã truy tôn Tào Đằng thụy hiệu “Cao Hoàng Đế”, đời sau thường gọi là “Ngụy Cao Đế”. Sau đó nhà Tây Tấn thay Ngụy song danh hiệu này vẫn được giữ. Chính vì vậy, hoạn quan Tào Đằng trở thành một trong năm hoàng đế của vương triều Tào Ngụy và cũng là hoạn quan duy nhất trong lịch sử Trung Hoa được phong là Hoàng đế.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về lịch sử triều đại của một đất nước đông dân nhất thế giới này. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn, hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! Chúc du khách có một chuyến đi vui vẻ và thú vị!

Nét tinh túy của ẩm thực Tứ Xuyên, Trung Quốc

Ẩm thực Tứ Xuyên là một trong 4 hệ ẩm thực lớn của nền ẩm thực Trung Hoa. Ẩm thực ở nơi dây mang trong mình những nét tinh túy riêng, đặc trưng mà không vùng nào có được.

Tứ Xuyên là một tỉnh nằm ở Tây Nam của Trung Quốc. Đây chính là một trong những trung tâm kinh tế trọng yếu của miền Tây Trung Quốc. Ngoài ra, Tứ Xuyên còn là nơi định cư của rất nhiều dân tộc thiểu số như người Tạng, người Di và người Khương. Chính điều này góp phần tạo nên sự phân hóa về văn hóa sâu sắc ở Tứ Xuyên.

Là một trong 3 thành phố có khí hậu nóng nhất và là trung tâm kinh tế, Tứ Xuyên nổi tiếng với nền ẩm thực dồi dào nguyên liệu và thực phẩm thuộc loại tươi ngon bậc nhất.

Ẩm thực Tứ Xuyên gồm hai trường phái: Thành Đô và Trùng Khánh. Các món ăn Tứ Xuyên đặc biệt chú trọng về sắc, hương, vị, và hình; nhất là có khá nhiều vị và nồng đậm gồm: tê, cay, mặn, ngọt, chua, đắng, thơm, trộn lẫn khéo léo, biến hóa linh hoạt, đã pha chế ra mấy chục vị phức hợp rất độc đáo như: tê cay, chua cay, dầu đỏ, dầu trắng… Nhiều khẩu vị lại khéo chế biến, nên đã được xếp hàng đầu trong các món ăn ở trong và ngoài nước, được gọi là “mỗi món một khác, trăm món trăm vị”. 

Phương pháp nấu của các món ăn Tứ Xuyên là khéo dựa vào các điểu kiện nhiên liệu, khí hậu và thực khách, vận dụng linh hoạt tình hình cụ thể, trong cách nấu ăn có hơn 30 phương pháp gồm: xào, rán, chiên, kho, ướp, nộm, muối,…

Theo đà sản xuất phát triển và kinh tế phồn vinh, các món ăn Tứ Xuyên trên cơ sở vốn có, đã hấp thu sở trường của các món ăn Nam Bắc, cũng như ưu điểm của các bữa tiệc quan chức và nhà buôn, hình thành đặc điểm món ăn miền bắc nấu theo kiểu Tứ Xuyên, món ăn miền nam mang hương vị Tứ Xuyên, nên mới được gọi là “Thực tại Trung Quốc, vị tại Tứ Xuyên”.

Các món ăn Tứ Xuyên rất coi trọng về thay đổi mùi vị, phân biệt rõ đậm nhạt, nặng nhẹ. Món ăn Tứ Xuyên không thể tách rời với ớt, hoa tiêu và hạt tiêu. Có khá nhiều cách sử dụng ớt và rất linh hoạt, khi thì dùng làm nguyên liệu chính, khi thì chỉ dùng làm phối liệu, nhưng phần lớn là dùng làm gia vị. Món ăn Tứ Xuyên cũng có khá nhiều kiểu cách đổi mùi vị, vừa phù hợp với từng khẩu vị của người ăn, cũng thích hợp với mỗi mùa khí hậu khác nhau như: mùa đông và mùa xuân khí hậu rét mướt thì dùng vị ớt nhiều hơn. Còn mùa hạ và mùa thu khí hậu nóng bức thì vị ớt phải giảm đi ba phần. Một đặc điểm lớn nhất của món ăn Tứ Xuyên là khéo điều chỉnh mùi vị, khẩu vị có nồng có nhạt, trong nhạt có nồng, nồng nhưng không ngấy, nhạt nhưng không bạc. Do đó, món ăn Tứ Xuyên không những lắm vị và nồng hậu, mà còn có sở trường về mặt thanh, tươi, đạm, nhã, khiến người ăn đều tấm tắc khen ngợi và thật khó quên.

Dưới đây là 18 món ăn nổi tiếng nhất (không theo thứ tự) mà du khách có thể thưởng thức nếu dịp nào đó đến Tứ Xuyên. Những đầu bếp Tứ Xuyên thật xuất sắc trong việc kết hợp các món gia vị nóng, cay, mặn, chua và đậm đà để tạo ra những hương vị đáng ngạc nhiên.

Lẩu Tứ Xuyên (Ma La Huo Guo)

Nổi tiếng với các món ăn cay, Tứ Xuyên là địa chỉ du lịch tuyệt vời dành cho các tín đồ ẩm thực thích vị cay nồng nàn của các món ăn. Tứ Xuyên cũng là quê nhà của món lẩu cùng tên rất được lòng thực khách.

Món ăn dân gian này bắt nguồn tại các bến cảng vùng Trường Giang vào đầu triều Thanh. Nó nhanh chóng được các thuyền viên yêu thích bởi sự tiện lợi, dễ làm và khả năng làm ấm cơ thể hiệu quả.

Nồi lẩu Tứ Xuyên thường được phục vụ trong loại nồi hai ngăn. Một ngăn có chứa nhiều gia vị cay nóng, ngăn còn lại thì không cay để phù hợp với khẩu vị của khách và trung hoà bớt vị cay. Tuy nhiên, cũng có những nồi lẩu có đến 9 ngăn.

Có hai loại lẩu Tứ Xuyên nổi tiếng là lẩu Thành Đô và lẩu Trùng Khánh. Hai loại lẩu này rất khó phân biệt vì cách chế biến và nguyên liệu như nhau, nhưng lẩu Trùng Khánh cay nồng và đậm đà hơn. Những du khách không quen ăn cay sẽ không tài nào nếm nổi phần nước lẩu cay chảy nước mắt của nồi lẩu Trùng Khánh.

Tuy lẩu Tứ Xuyên cay là thế nhưng lại không hề gây nhiệt cơ thể bởi được chế biến với 89 nguyên liệu khác nhau, giúp người ăn cảm thấy vị cay nhưng không gây ảnh hưởng tới sức khỏe dạ dày.

Lẩu xiên (Chuan chuan xiang)

Món ăn này thực chất là một biến thể của món lẩu truyền thống trứ danh của Tứ Xuyên. Mặc dù sinh sau đẻ muộn nhưng lại rất được thực khách yêu thích. Khác với lẩu truyền thống, các thành phần ăn kèm được xiên vào que, từ rau củ cho đến các loại thịt sau đó được nhúng vào sốt ăn kèm nấu trong nồi đất hoặc sắt, giúp cho việc thưởng thức món ăn dễ dàng hơn.

Cá nhúng trong dầu ớt (Shui zhu yu)

Khi cơn sốt các món ăn Tứ Xuyên làm mưa làm gió vào cuối những năm 1990 thì món Shui zhu yu đã trở thành trung tâm của mọi loại ẩm thực.

Shui zhu yu có nghĩa là “cá nấu trong nước”, tuy nhiên khi thưởng thức món này thì du khách sẽ nhận ra phần nước dùng này không hẳn là nước mà thực chất lại được sử dụng rất nhiều dầu thực vật. Đó là lý do vì sao nồi cá Shui zhu yu lúc nào cũng trông đẹp mắt và hấp dẫn không thể tả.

Nguyên liệu phổ biến làm nên món Shui zhu yu này là cá và phần nước dùng được nấu từ dầu thực vật, hạt tiêu Tứ Xuyên, cải thảo, tỏi, hồi, gừng khô và tất nhiên sẽ có rất nhiều ớt đỏ tươi bên trong. Phần nguyên liệu cá ở đây có thể sử dụng từ nhiều loại cá chứ không hẳn chỉ riêng một loại cá nào. Cá có thể được cắt lát cho dễ ăn nhưng cũng có khi được để nguyên cả con. Đặc biệt, ngoài cá ra thì đôi khi nhiều quán ăn ở Tứ Xuyên còn sử dụng nguyên liệu thịt heo, thịt bò để thay thế, tuy nhiên du khách nhất định phải thử món Shui zhu yu nấu từ cá bởi khi được nấu từ cá thì vị ngọt thanh của món ăn chắc chắn sẽ khiến du khách hài lòng hơn hẳn.

Đậu phụ Mapo (Mapo Doufu)

Đậu phụ Mapo là một trong những món ăn nổi tiếng của Tứ Xuyên được lưu truyền cách đây hàng trăm năm. “Mapo” là cái tên được lấy theo người sáng lập ra món ăn. Chuyện kể rằng, vào thời nhà Thanh, có một cặp vợ chồng nọ mở quán bán thức ăn. Và một trong những món đặc sản của quán chính là đậu phụ sốt cay mà ai ghé quán cũng muốn một lần nếm thử. Lúc này, người vợ cũng là đầu bếp chính của nhà hàng nhưng không biết do nguyên nhân gì mà mặt bà có rất nhiều mụn rỗ nên mọi người quen gọi là Mapo (“ma” trong tiếng Trung có nghĩa là mụn rỗ, “po” có nghĩa là người đàn bà). Dần dần, cái tên mới này cũng gắn liền với món ăn mà bà làm ra, ai cũng quen gọi là đậu phụ Mapo và tương truyền cho đến ngày nay.

Nguyên liệu chính làm nên món đậu phụ Mapo không thể bỏ qua đậu phụ non. Đậu phụ trắng được cắt ra thành từng miếng vuông nhỏ rồi xào chung với thịt (heo hoặc bò) băm nhỏ. Ngoài ra, một gia vị không thể thiếu là tương đậu, một loại tương được ủ lên men trong thời gian dài. Đặc biệt, trong món ăn này không thể thiếu đi các gia vị cay đặc trưng từ ớt và tiêu. Đặc biệt, đậu phụ trắng lại được cho nhiều ớt đỏ, hai màu sắc tương phản nhau càng khiến cho món đậu phụ Mapo thêm nổi bật và đẹp mắt hơn.

Mặc dù được làm từ đậu phụ trắng khá nhạt nhẽo nhưng do món ăn này kết hợp hài hòa các nguyên liệu khác như thịt băm và nhiều loại gia vị cay nồng nên không chỉ vô cùng hấp dẫn mà hương vị món ăn còn rất tinh tế. Đậu phụ mềm và có vị hơi beo béo kết hợp với vị ngọt của thịt, vị cay của ớt tiêu lại thêm vị chua, hăng của đậu tương khiến món đậu phụ Mapo rất dễ đi vào lòng người và làm hài lòng mọi thực khách mới nếm qua lần đầu tiên.

Gà xào ớt đậu phộng (Gongbao Jiding)

Gongbao Jiding là món ăn cực kỳ phổ biến trong ẩm thực Tứ Xuyên. Món ăn hấp dẫn này gồm gà chặt thành miếng nhỏ nấu với ớt, đậu phộng nên có vị cay đặc trưng. Thêm một chút nước sốt vị ngọt và chua nhẹ, chút tiêu, món ăn này sẽ làm hài lòng hầu hết các khẩu vị.

Món Gongbao Jiding rất được ưa chuộng tại các nhà hàng của người Hoa trên thế giới. Hiện nay ngoài thịt gà, người ta còn sáng tạo ra nhiều món ăn bằng các loại thịt khác như thịt heo, thịt bò và thậm chí cả các loại hải sản; tuy nhiên món ăn với nguyên liệu thịt gà vẫn luôn được nhiều người yêu thích nhất.

Gà nguội với nước sốt cay (Liang Ban Ji)

Liang Ban Ji là một món ăn hòa quyện giữa lạnh và nóng. Món ăn nổi tiếng này được chế biến từ thịt gà luộc được tẩm gia vị cay, rất đơn giản nhưng lại vô cùng hấp dẫn.

Không có công thức cố định, gà thường được chặt nhỏ và một loại nước sốt đặc biệt gồm giấm, đường, nước tương, dầu ớt, dầu vừng và rắc lên tiêu Tứ Xuyên. Đậu phộng rang hoặc hạt vừng và hành lá cắt lát được thêm vào như là bước trang trí cuối cùng.

Vịt hun khói trà (Zhang Cha Ya)

Ngoài các món gà trứ danh, ẩm thực Tứ Xuyên còn nổi tiếng với các món được chế biến từ vịt, chẳng hạn như Vịt hun khói trà (Zhang Cha Ya). 

Người đầu bếp Tứ Xuyên cần thời gian vài ngày để hoàn thành món này. Con vịt sẽ được ướp và hun khói bằng lá trà để hấp thụ những hương vị tươi mới. Sau đó là công đoạn hấp và chiên giòn nhưng không quá lâu. Nếu du khách muốn đổi khẩu vị các món ăn Tứ Xuyên cay nồng sang đồ ít gia vị hơn thì Zhang Cha Ya là một lựa chọn tuyệt vời.

Thịt heo nấu hai lần (Hui Guo Rou)

Sở dĩ món ăn này được đặt tên như vậy vì những miếng thịt ba chỉ béo ngậy lần đầu tiên được luộc lên, sau đó đem chiên trong chảo với các loại gia vị và tỏi tây. Đây là một món ăn Tứ Xuyên ít cay và khiến cho thịt có hương vị ngon ngọt.

Không còn gì tuyệt vời bằng khi thưởng thức những miếng thịt thơm ngon này kèm với cơm trắng và có lẽ là thêm một ít nước súp, một bữa ăn hấp dẫn đã hoàn tất.

Lưỡi và lòng bò (Fu Qi Fei Pian)

Fu Qi Fei Pian là một món ăn lạnh với thịt bò, lòng, gân, sách bò trộn với nước sốt cay. Món ăn này kèm rau mùi, lạc, vừng ở trên.

Cặp vợ chồng phát minh ra món ăn này được cho rằng đã có được một cuộc hôn nhân hài hòa nên món ăn còn được đặt tên là “miếng phổi vợ chồng” dịch đúng nghĩa theo tiếng Trung Quốc.

Mì Dan Dan (Dan Dan Mian)

Nhắc đến ẩm thực Tứ Xuyên mà bỏ qua món mì Dan Dan thì là một thiếu sót lớn. Cái tên “Dan Dan” còn có nghĩa là gánh, bắt nguồn từ những người bán rong gánh mì rao khắp phố phường. Đến năm 2013, mì Dan Dan trở thành một trong 10 món mì nổi tiếng nhất Trung Quốc.

Nguyên liệu của mì Dan Dan vô cùng đơn giản bao gồm mì trứng, thịt xay, tỏi tươi, rau mùi, đậu phộng rang cùng loại sốt cay đặc trưng của người Tứ Xuyên. Đầu tiên, phần sốt thịt sẽ được cho xuống cuối bát, tiếp đến là phần mì trứng tươi đã được chần nóng, và cuối cùng là nêm nếm gia vị, rắc hành lá, mùi và đậu phộng rang lên trên bề mặt. Khi ăn, khách sẽ dùng đũa để trộn món mì lên và thưởng thức.

Gia vị bí mật của món ăn này là hạt cải muối (Yacai) và ớt chưng chuẩn Tứ Xuyên. Hạt cải muối là một trong những loại thực phẩm phổ biến nhất Tứ Xuyên, những hộ gia đình thường muối cả hũ to để ăn dần quanh năm. Ớt chưng Tứ Xuyên cũng là loại gia vị được làm khá cầu kỳ từ nhiều loại gia vị khác nhau như ớt, lá nguyệt quế, hồi, thảo quả, nhục đậu khấu, đinh hương… Ớt chưng Tứ Xuyên có hương vị khá phức tạp và chúng chính là bí quyết để đem đến vị cay tê và tạo nên mùi thơm đặc trưng cho mọi món ăn ở vùng đất này.

Mì Choushou

Mì Choushou là một trong những món ăn nổi tiếng về độ cay và ngon của ẩm thực Tứ Xuyên nói riêng và ẩm thực Trung Quốc nói chung. Điểm đặc biệt ở món mì này không chỉ là gia vị “siêu cay”, mà còn ở độ đặc biệt của hoành thánh, khi ăn, du khách sẽ cảm nhận được độ “cực mỏng” của lớp vỏ hoành thánh, kết hợp với nước dùng được ninh từ các loại thịt gia cầm, rồi thêm các loại gia vị khác cho món ăn dậy mùi thơm đặc trưng.

Mì khoai lang chua cay (Suan La Fen)

Suan La Fen không chỉ phổ biến ở Tứ Xuyên mà còn được ưa chuộng rộng rãi ở khắp nơi trên toàn Trung Quốc. Món ăn có phần thanh đạm này đặc trưng bởi vị cay nóng và chua hòa quyện với vị ngọt của sợi mì tươi và màu đỏ bắt mắt của ớt sa tế tạo cảm giác vừa ngon mắt vừa ngon miệng.

Thành phần chính của Suan La Fen là tinh bột khoai lang và đậu Hà Lan. Sau khi trộn hai loại bột này theo tỷ lệ nhất định, người ta sẽ làm sợi mì bằng cách rây bột lỏng vào nước sôi, kích cỡ của sợi mì sẽ phụ thuộc vào đường kính của những lỗ nhỏ trên rây.

Gia vị chính tạo nên đặc trưng của món mì này chính là dầu ớt, hạt tiêu Tứ Xuyên và giấm có tác dụng làm dậy hương vị món ăn và kích thích vị giác. 

Miến cuộn rong biển sốt Tứ Xuyên

Miến cuộn rong biển bề ngoài ăn giòn rụm nghe thích tai. Bên trong xúc xích cắn mềm, bùi, có chút béo ngậy vừa đủ, phần miến mềm dai, đậm vị sốt cay Tứ Xuyên. Món ăn này cực kì thích hợp với những tín đồ “hảo cay”.

Chân vịt cay

Chân vịt cay là một trong những những món ăn vặt thích hợp cho du khách bởi hương vị đậm đà và cảm giác giòn dai thích thú khi thưởng thức.

Bên ngoài mang màu vàng óng ả, tự nhiên từ màu dầu điều phi lên, trông rất bắt mắt và cuốn hút người ăn về phần nhìn. Không những vậy, ăn còn ngon và vui miệng, cực kì thích hợp cho những cuộc tụ tập nhâm nhi, tâm tình cùng bạn bè.

Sủi cảo sốt cay (Zhong shui jiao)

Zhong shui jiao là há cảo thịt heo nhỏ ngập trong nước tương ngọt, tỏi nghiền và dầu ớt. Được đặt tên theo một quầy ăn vỉa hè địa phương, món há cảo này đã trở thành một trong những món ăn vặt nổi tiếng nhất Tứ Xuyên.

Mala Liangfen

Một món ăn nhẹ đơn giản nhưng rất được ưa chuộng tại Tứ Xuyên vào mùa hè chính là món thạch đậu được phủ một lớp dầu ớt cùng với nước tương, giấm và tỏi. Sở dĩ món ăn này được yêu thích chính bởi vị thanh mát và ngọt dịu hòa quyện với vị cay nồng đặc trưng của ẩm thực Tứ Xuyên cực phù hợp với khí hậu ẩm và có phần ngột ngạt của vùng đất này.

Cà tím vị cá (Yu xiang qie zi)

Món cà tím vị cá có thể khiến cho người không thích ăn cà tím trở nên yêu thích loại thực phẩm này, thậm chí có thể “gây nghiện”. Ẩm thực Trung Hoa có rất nhiều cách chế biến cà tím, tạo nên một món ăn ngon tuyệt mà du khách chắc chắn phải thay đổi những định kiến của mình. Ở vùng Tứ Xuyên, món ăn hấp dẫn này được làm từ ớt ngâm chua, sốt chua ngọt vị cá nấu cùng cà tím.

Rau xanh theo mùa (Shi ling shu cai)

Các món ăn cay cay Tứ Xuyên thường được mọi người chú ý đến nhưng bữa ăn sẽ không hoàn chỉnh nếu thiếu đi các món ăn nhẹ – đặc biệt là rau theo mùa.

Tỉnh Tứ Xuyên từ lâu đã nổi tiếng là một vùng đất màu mỡ trong sự phong phú tuyệt vời của sản phẩm tươi sạch. Ví dụ như cải dầu hoặc cải xoong Trung Quốc, một loại rau trộn salad có vị chua đặc biệt.

Khi đặt chân tới Tứ Xuyên trong hành trình du lịch Trung Quốc, du khách hãy nhớ thưởng thức qua các món ăn thơm ngon mà chúng tôi đã vừa giới thiệu trên đây nhé! Nhâm nhi, thưởng thức những món ăn tại mảnh đất này, du khách sẽ cảm nhận được hương vị bùng nổ trong miệng. Đặc biệt với những món ăn ở Tứ Xuyên – nét đặc biệt trong văn hóa ẩm thực Trung Hoa, chắc chắn sẽ khiến du khách phải chảy nước mắt khi ăn những món ăn này.

Những nét thú vị trong nghi thức chào hỏi của người Trung Hoa

Lễ nghi được xem là nét đặc trưng và quan trọng nhất của người Trung Hoa. Trong đó, lễ nghi sẽ tạo ra một xã hội hài hòa, giúp mọi người tôn trọng lẫn nhau. Chính vì vậy, nghi thức chào hỏi là một văn hóa tốt đẹp, đã ăn sâu vào máu thịt của con người nơi đây. 

Nếu như ở phương Tây dùng ôm hôn hoặc bắt tay khi chào hỏi, lúc gặp gỡ nhau, thì người phương Đông lại có cách chào hỏi nhau rất khác biệt. Kỳ thực, từ trước đến nay, bắt tay hay ôm hôn không phải là truyền thống của phương Đông nói chung và Trung Hoa nói riêng. Chúng ta đều biết Trung Quốc có lịch sử lâu đời, được xem là “lễ
nghi chi bang”, còn có câu: “Trung Quốc hữu lễ nghi chi đại, cố xưng Hạ” (Trung Quốc có lễ nghi to lớn, nên gọi Hạ – chữ Hạ trong Hoa Hạ).

Trong thực tế, từ khi có “Chu lễ” của Chu Công, cổ nhân Trung Quốc đã cố một hệ thống quy phạm những phương thức chào hỏi khi gặp nhau, có nghi lễ ngang hàng, hoặc nghi lễ của vãn bối với trưởng bối, còn có hoàn lễ của trưởng bối dành cho vãn bối. Những lễ nghi này đều không có tiếp xúc, phóng khoáng mà đẹp mắt, đơn giản mà hàm súc.

Khi gặp nhau, người Trung Hoa thường cúi đầu chào (Cúc cung), hai tay đặt áp vào hai bên đùi, thân trên hơi nghiêng về phía trước. Tư thế này thường thể hiện sự tôn trọng với người đối diện mình. Người Trung Hoa quan niệm, cúi người càng thấp, càng thể hiện được sự tôn trọng với người kia. Nếu gặp người lớn tuổi hay những người có chức vị cao hơn mình mà không cúi chào, sẽ bị coi là không có văn hóa.

Khi gặp những vị giáo sư, thầy giáo hay những học giả, phải nhanh chóng đi tới đứng đối diện với họ và chắp tay hành lễ (Củng thủ). Tư thế này thường dùng để biểu đạt sự biết ơn, chúc mừng, xin lỗi, hay phổ biến nhất là biểu thị cầu xin người khác giúp đỡ.

Khi chắp tay, người nam thường dùng lòng bàn tay trái nắm lấy nắm tay phải. Còn đối với nữ thì ngược lại, dùng lòng bàn tay phải ôm lấy nắm tay trái. 

Lễ nghi chào hỏi phổ biến dành cho người tập võ là “ôm quyền”, bởi người tập võ, toàn thân mặc giáp, tay cầm binh khí, không tiện khom người cúi chào. 

Khi ôm quyền, bàn tay trái (hoặc tay phải) duỗi thẳng, tay còn lại nắm chặt lại, lòng bàn tay đặt sát với nắm tay. Người xưa quan niệm, tay trái là văn, tay phải là võ, ý nghĩa là văn võ song toàn. Do đó lễ nghi ôm quyền thường dùng tả chưởng hữu quyền (tay trái thẳng, tay phải nắm), biểu thị hữu hảo, ẩn giấu tài năng. Ngược lại, tả quyền hữu chưởng (tay trái nắm, tay phải thẳng) lại mang tính công kích

Với nữ giới Trung Hoa, người ta sẽ dùng một phương thức chào hỏi rất độc đáo và đẹp mắt, đó là “Vạn phúc”. Nữ nhi thời xưa thường nói: “Vạn phúc” vấn an, đồng thời hai tay đặt chồng lên nhau và đặt ở trước bụng, đầu gối hơi khom lại để hành lễ.

Nghi thức chào hỏi này bắt đầu thịnh hành từ thời Đại Tống, nhưng hiện nay chúng ít được sử dụng trong xã hội hiện đại.

Trong văn hóa Trung Hoa cũng tồn tại nghi thức “Tác ấp” (Vòng tay thi lễ). Đây là cách gọi chung của lễ nghi cổ xưa được thực hiện khi người ta gặp nhau. Nó đã trở thành tập tục từ khoảng 3.000 năm trước đây, vào thời Tây Chu.

Thời sơ khai, lễ nghi này được phân thành thổ ấp, thì ấp, thiên ấp. Thổ ấp là hai tai ôm ở phía trước, khi hành lễ hai tay hơi đưa về phía dưới. Hiện tại thường sử dụng khi trưởng bối gặp vãn bối, thượng cấp gặp hạ cấp. Thì ấp là hai tay ôm đẩy về phía trước, hiện tại thường sử dụng giữa hai người ngang hàng. Thiên ấp là hai tay ôm ở phía trước,
hơi đẩy lên phía trên, hiện tại thường sử dụng khi vãn bối gặp trưởng bối.

Khi hành lễ, người nam tay trái để phía ngoài, người nữ tay phải để phía ngoài, cúi đầu khom người về phía trước thể hiện sự khiêm nhường.

Cổ nhân rất coi trọng thi lễ chào hỏi, cho rằng đây là hành vi thể hiện tâm thành kính, do đó mới có câu: “Ấp nhượng nhi thiên hạ trị”.

Trong Phật gia, người ta sẽ áp dụng nghi lễ “Hợp thập”. Hòa thượng thường hợp thập để chào người đối diện. Tất nhiên không chỉ dùng để chào hỏi, mà còn dùng để cầu nguyện, khi gặp bậc tôn giả hoặc Phật thì cũng sử dụng nghi lễ này.

Trong truyền thống của Yoga hoặc một số khu vực ở Nam Á cũng thường dùng nghi lễ này. Cách thực hiện là hai tay chắp nhẹ vào nhau, đặt nghiêm chỉnh trước ngực, ngón tay nhẹ nhàng đặt cùng nhau, tạo ra khoảng không ở giữa hai bàn tay. Cẳng tay thả lỏng, khuỷu tay hướng ra hai bên gần như thành một đường thẳng.

Trên đây là một vài lễ nghi chào hỏi, không chỉ an toàn, lịch sự, mà cũng phù hợp với nhiều hoàn cảnh khác nhau. Quan trọng hơn, những lễ nghi này có thể thể hiện nội tâm tôn kính và khiêm nhường. Mọi người khi thực hiện vẫn có thể đảm bảo cự ly xã giao, đồng thời cũng nhắc nhở bản thân không quên sự chân thành và kính trọng lẫn nhau!

Văn hóa Trung Hoa quả thật có rất nhiều nét đặc sắc, là “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về vùng đất giàu truyền thống này. Nếu du khách muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn thì hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! Chúc du khách có một chuyến đi vui vẻ và thú vị!

11 món ăn đặc sản làm nên danh tiếng ẩm thực Nam Kinh

Thành phố Nam Kinh ở Trung Quốc nổi tiếng với nhiều danh lam thắng cảnh, bên cạnh đó ẩm thực của vùng đất này cũng là điều thu hút khách du lịch mỗi khi tới đây. 

Từng là thủ đô của một số triều đại ở Trung Quốc, Nam Kinh có một bối cảnh ẩm thực đa dạng như chính lịch sử của thành phố. Điều đặc biệt, các món ngon nổi tiếng của thành phố không phải là món chính, mà là những món ăn đường phố thơm ngon, hấp dẫn. Dưới đây là một số món ăn đặc sản nổi bật nhất mà du khách nên thử khi đặt chân đến Nam Kinh:

1. Vịt Jinling (Vịt muối)

Một trong những món ăn được yêu thích nhất của Nam Kinh là vịt Jinling. Mặc dù có thể vịt muối Nam Kinh có thể không nổi tiếng bằng vịt quay Bắc Kinh nhưng chắc chắn sức hấp dẫn là khó chối từ.

Để có món vịt Jinling chuẩn bị, người đầu bếp phải tiến hành nhiều công đoạn chế biến. Sau khi sơ chế sạch sẽ, cánh và chân của vịt được làm sạch được lấy ra. Cơ thể đã lột bỏ thực quản và khí quản, phần thân vịt được ngâm trong nước để được làm sạch thêm một lần nữa cho ráo nước.

Gia vị và công thức nấu ăn thường khác nhau, nhưng một cách ướp hương liệu đơn giản là dùng hạt tiêu tẩm ướp bên ngoài thân vịt, đồng thời bên trong cũng được nhồi các hạt tiêu. Sau đó, vịt được nấu trong nồi chừng 1-2 giờ vào mùa hè, khoảng 4 giờ vào mùa đông, rồi treo để khô tại một nơi thoáng gió.

Nước dùng gồm gừng, hành tây, hoa hồi được chuẩn bị xong. Đầu bếp đảm bảo rằng toàn bộ con vịt được ngâm hoàn toàn trong nước dùng và đun sôi trong một khoảng thời gian chừng 20 phút hoặc tối đa tới 45 phút. Cuối cùng, thịt vịt được cắt thành dải và được bày biện lên đĩa.

Vịt muối thường được người dân Nam Kinh ăn vào khoảng tháng 9, gần thời điểm Trung thu. Món ăn này thường được phục vụ như một món khai vị hoặc như một món ăn nhẹ để đi kèm với rượu. Không giống như tên gọi, vịt muối không có vị mặn mà được ướp và thường có mùi thơm từ hoa osmanthus ngọt. Osmanthus ngọt có mùi thơm tương tự như một quả cam ngọt nhưng rất nhẹ và không quá mạnh, được sử dụng trong các món ngon và trà nổi tiếng khác ở Trung Quốc. 

2. Súp huyết vịt

Tên của món ăn này nghe có vẻ kỳ lạ, chắc hẳn du khách sẽ rất thắc mắc, tự hỏi làm thế nào huyết và súp lại được kết hợp. Thật ra, người Trung Hoa ăn máu vịt, ngỗng và gà nhưng theo một cách độc đáo. Họ thu thập máu của một con vịt hoặc ngỗng mới bị giết và khuấy, sau đó đậy kín và làm lạnh cho đến khi sẵn sàng để sử dụng.

Súp huyết vịt có vị cay, được nêm muối, hạt tiêu và gia vị tinh tế. Đun nhỏ lửa trong vài phút và phục vụ với trứng, mì và Caraway – một loài thực vật thuộc họ hoa tán. 

3. Bánh vừng mỡ vịt

Ở Nam Kinh, mỡ vịt được dùng để làm một loại bánh đặc biệt – Bánh vừng mỡ vịt. Món ăn vặt truyền thống này thường được ăn vào bữa sáng.

Bánh được thoa một lớp mỡ vịt khiến bánh có hương vị thơm ngon cùng lớp vừng hấp dẫn. Bánh được nướng theo từng mẻ, được bán ở Phu Tử Miếu, một quần thể đền Khổng Tử nằm bên bờ sông Tần Hoài. Đây cũng là khu chợ mua sắm và ăn uống nổi tiếng.

4. Tangbao (Bánh bao súp)

Bánh bao là món ăn phổ biến của người Trung Hoa nói chung và Nam Kinh nói riêng. Ở Nam Kinh, Tangbao được chế biến theo hương vị đặc trưng chỉ có nơi này mới có.

Tangbao có lớp vỏ mỏng nhẹ, bên trong là phần nhân, trông giống như một “túi thịt” ngộ nghĩnh. Du khách hãy cắn một miếng nhỏ phần trên, uống nước dùng, nhúng phần còn lại vào giấm và thưởng thức hương vị đậm đà của thịt heo cùng nước sốt, hương vị chắc chắn sẽ không thể quên được!

5. Bánh bao thịt bò áp chảo

Với màu vàng đậm của Niurou Guotie, bánh bao chiên đầy thịt bò băm, mô phỏng cả màu sắc và hình dạng của các thỏi vàng từ Trung Quốc. Lớp vỏ giòn rụm, thịt bò thơm lừng cùng với hành tây và súp hấp, không có gì lạ khi bánh bao thịt bò áp chảo là niềm tự hào của Nam Kinh.

Thưởng thức chiếc bánh bao thịt bò áp chảo, thực khách sẽ rất thỏa mãn với cảm giác vị giác tương phản: bên ngoài giòn, trong khi bên trong thì ẩm và mềm. Để có trải nghiệm hoàn chỉnh, bánh nên được ăn kèm với súp thịt bò hoặc Niurou Fensi Tang có hương vị đầy đủ. Độ mặn phù hợp của bánh cũng khiến nó tuyệt vời hơn khi kết hợp cùng với một lý bia lạnh.

6. Bánh bao thịt bò chiên

Bánh bao thịt bò chiên được xem là một trong 3 báu vật của khu vực Qinhuai – Nam Kinh và được biết đến là một món ăn nhẹ truyền thống nổi tiếng của thành phố. Món bánh bao này có thể rất phổ biến khắp Trung Quốc và thậm chí tại Việt Nam cũng sẽ tìm thấy, nhưng ở Nam Kinh du khách sẽ được thưởng thức bánh với một hương vị đạt chuẩn và thơm ngon nhất.

Món bánh này được làm với phần vỏ bánh là bột mì, nhân bên trong là thịt bò băm nhỏ trộn với gừng thái hạt lựu và hành lá. Bánh sẽ được gói thành hình trăng khuyết và chiên lên cho tới khi vàng giòn. Khi thưởng thức, thực khách sẽ cảm nhận được phần vỏ bánh giòn ngon và phần nhân mềm, đậm vị bên trong. Bánh bao thịt bò chiên thường đặc ăn kèm với xì dầu hoặc một loại thức chấm đặc trưng.

7. Xíu mại trứng

Đây là loại xíu mại ngon và đắt nhất ở Nam Kinh. Món ăn này có cách làm và cách trình bày tinh tế, đẹp mắt. Cách làm xíu mại trứng là sử dụng vỏ bánh mỏng để bọc phần nhân có thể là tôm tươi, thịt heo, cá. Có thể khẳng định rằng, sự kết hợp hoàn hảo này rất được lòng thực khách, ngay cả những người khó tính nhất. Khi thưởng thức, du khách sẽ có cảm giác như đang thưởng thức trứng tráng vị hải sản, hương vị rất đặc biệt. 

8. Cá kèo chua ngọt

Cá kèo chua ngọt được coi là món ăn tinh túy của ẩm thực Nam Kinh. Việc chuẩn bị món ăn này đòi hỏi kỹ năng tinh tế và sự khéo léo trong khâu chế biến. Con cá được tách xương và thịt được cắt theo mô hình lưới, để lại đầu và đuôi. Sau đó cho vào chảo. Các thành phần như tôm, các loại hạt và nấm được thêm vào để đun sôi nước sốt chua ngọt và đổ lên cá, tạo ra một âm thanh mê hoặc và mùi hương khó cưỡng. 

9. Đậu phụ Gansi

Gansi, hay còn gọi là đậu phụ xắt nhuyễn, là một loại thực phẩm Nam Kinh được luộc trong nước dùng gà cùng với rất nhiều món ngon như: giăm bông, măng và tôm bóc vỏ. Các lát đậu phụ cứng, có thể mỏng đến 1mm, hấp thụ hương vị thịt của nước dùng mang đến cảm giác ngon miệng, đậm đà.

10. Chè nếp đậu đỏ

Chè nếp đậu đỏ – món tráng miệng ngọt ngào được lòng của rất nhiều thực khách. Món chè này được nấu với phần nếp bọc nhiều loại nhân khác nhau bên trong. Phần nếp sẽ được vò thành từng viên tròn nhỏ, nấu chín đến khi mềm cùng với đậu đỏ. Món chè nếp đậu đỏ thưởng thức khi còn nóng là ngon nhất, nhưng thực khách cũng có thể ăn kèm với đá nếu muốn. 

11. Bánh mận

Tại Nam Kinh, bánh mận là một món ăn đường phố phổ biến, được nhiều người đánh giá cao bởi hương vị thơm ngon, đặc biệt.

Bánh mận có nguồn gốc từ thời nhà Minh, được tìm thấy ở vùng Giang Nam, phía nam của hạ lưu sông Dương Tử. Món bánh này được nướng trong một cái khuôn hình hoa mận được sắp theo hình lục giác và chứa rất nhiều nguyên liệu khác nhau như thịt heo băm nhỏ, trái cây sấy. 

Không phải chế biến kỳ công hay sử dụng nguyên liệu đặc biệt, nhưng các món ăn đặc sản Nam Kinh kể trên đều mang đến một hương vị tuyệt vời khó quên. Book Tour Trung Quốc của chúng tôi, nhất định hãy tìm và thưởng thức những món ngon khó quên này của thành phố Nam Kinh nhé!