muc thu nhap cua thai giam 4

Mức thu nhập của các thái giám Trung Hoa xưa

Thái giám là một nhóm người tương đối đặc biệt nhưng cũng là một bộ phận vô cùng quan trọng trong hoàng cung. Thái giám phải hầu hạ tất cả các thành viên hoàng tộc mỗi ngày. Vậy thì họ sẽ có mức thu nhập như thế nào? Mời du khách cùng chúng tôi tìm hiểu nhé!

Trong lịch sử Trung Quốc, thái giám đã có từ thời Tây Chu, đường thời gọi là “tử nhân” hoặc “hạng nhân”, “yêm doãn”, “nội tiểu thần”. Họ được tuyển vào cung để làm một số công việc như: truyền lệnh của nhà vua đến các quan, canh gác hậu cung, quét dọn phòng ốc, liên lạc giữa các vua và phi tần…

Đến thời nhà Tùy, nhà Đường, nhà Tống đặt ra cơ cấu Nội thị tỉnh do hoạn quan đảm nhiệm, trông coi các việc nội bộ ở trong cung đình. Hoạn quan ở hai triều Đường, Tống có người trực tiếp thống lĩnh quân đội. Vào thời nhà Minh, đặt ra Thập nhị giám, Tứ ty, Bát cục gọi là Nhị thập tứ nha môn, trông coi về việc phục dịch trong cung đình, mỗi cơ cấu có thái giám trông coi. Đến đời nhà Thanh có Tổng quản thái giám, người đứng đầu thái giám, trực thuộc Nội vụ phủ.

muc thu nhap cua thai giam 1

Để bước chân vào “nghề” thái giám, những người đàn ông đều phải trải qua quá trình tịnh thân (thiến) đầy đau đớn và nguy hiểm. Cũng bởi vậy mà con đường của các hoạn quan, thái giám tại Trung Hoa xưa không phải là lối đi mà nhiều người sẽ lựa chọn nếu như không bị đẩy vào tình cảnh khốn cùng.

Thế nhưng, trái ngược lại với suy nghĩ cho rằng đây là một nghề nghiệp thấp kém, trên thực tế, các thái giám thời xưa lại sở hữu tiền đồ được cho là rộng mở với mức lương bổng và những nguồn thu ngoài luồng khác mà ít ai có thể tưởng tượng tới.

Về thu nhập của tầng lớp thái giám bình thường, ta có thể lấy quy định của Thanh triều nói riêng để làm ví dụ. Bấy giờ, các thái giám trong hoàng cung nhà Thanh được chia làm 20 cấp bậc. Dù có lên được phẩm cấp cao nhất thì quyền lợi của họ cũng chỉ tương đương với chức quan tứ phẩm thời ấy.

muc thu nhap cua thai giam 3

Phạm vi công việc của thái giám rất rộng nhưng có thể tạm chia thành 2 nhóm. Một nhóm là thái giám hầu hạ bên cạnh Thái hậu, Hoàng đế, Hoàng hậu và các phi tần. Nhóm còn lại sẽ đảm nhận các công việc nặng nhọc hơn trong hoàng cung. Tuy nhiên, dù thuộc nhóm nào thì thái giám cũng đều có phân bậc rõ ràng, tạm chia thành 3 loại: Tổng quản, Thủ lĩnh, thái giám thông thường. Nhóm thái giám bên cạnh Thái hậu, Hoàng đế và Hoàng hậu đều là Tổng quản thái giám và Thủ lĩnh thái giám.

Thái giám với cấp bậc càng cao thì thu nhập càng nhiều. Thái giám tổng quản lương tháng là 8 lượng bạc, 8 đấu gạo, 1 quan 300 văn tiền (Văn tiền: Trên đồng tiền có văn tự nên gọi là “Văn”). Còn đối với thái giám thông thường thì con số này ở mức 2 lượng bạc, 2 đấu gạo và 600 văn tiền.

Vào thời nhà Thanh, 1 lượng bạc tương đương khoảng 500 NDT ngày nay, mỗi đấu gạo xấp xỉ 15 tệ. Nếu quy đổi dựa trên con số này, thì thu nhập của thái giám tổng quản Thanh triều sẽ là 4.000 NDT (xấp xỉ khoảng 13.600.000 VNĐ) cho mỗi tháng. Tương tự như vậy, thu nhập của thái giám bình thường sẽ vào khoảng hơn 1.000 NDT/tháng, tức là xấp xỉ khoảng hơn 3.400.000 VNĐ.

muc thu nhap cua thai giam 2

Thế nhưng, nguồn thu của các thái giám không chỉ dừng lại ở lương bổng chính thức, mà họ còn nhận được nhiều khoản khác như thưởng Tết, thưởng sinh nhật,… Đặc biệt nhất là đến lúc đại hôn của Hoàng đế hoặc Hoàng tử, ban thưởng sẽ càng nhiều hơn. Ngoài tiền và bạc, thái giám còn có thể nhận được tơ lụa, lông thú, châu báu, ngọc bích và nhiều bức tranh thư pháp có giá trị.

Trên thực tế, thái giám còn được xem là cầu nối giữa các nhân vật trong bộ máy thống trị. Do đó, cơ hội để có các khoản thu ngoài luồng cũng là không hề ít.

Nếu có thể hoàn thành nhiệm vụ mà chủ tử giao cho, những thái giám này sẽ còn có cơ hội được thưởng tiền hoặc tài vật.

3 vat bat ly htan cua thai giam 2 e1627989480353

Đặc biệt, thái giám còn được biết tới là người truyền tin của hoàng đế đến với các đại thần. Vì vậy mỗi lần đi truyền thánh chỉ, tầng lớp này cũng sẽ có nguồn thu nhập không công khai nhưng vô cùng hậu hĩnh. Ví dụ như ở thời nhà Thanh, khi các quan đại thần phạm sai lầm, nhà vua sẽ phái thái giám tới phủ đệ của họ để tuyên đọc thánh chỉ trách phạt. Mỗi lần như vậy, các quan viên này đều sẽ biếu thái giám tiền trà nước để duy trì mối quan hệ, dò hỏi thông tin hoặc nhờ họ nói đỡ dăm ba câu với nhà vua. Số tiền trà nước này có khi lên tới 400-500 lượng bạc, hoặc ít thì cũng khoảng 40-50 lượng. Từ đó không khó để nhận thấy, chỉ nhờ vào tuyên đọc một đạo thánh chỉ, các hoạn quan thời xưa đã có thể thu về tới 20 vạn NDT, bằng với mức thu nhập cả năm của một trí thức bình thường tại Trung Quốc ngày nay.

Có lẽ đúng như câu nói bỏ ra càng nhiều thì thu về càng lớn, các hoạn quan, thái giám thời xưa tuy phải trải qua tịnh thân mới có thể bước đi trên con đường này, thế nhưng nếu khôn khéo thì họ có thể kiếm được khối gia tài mà thường dân bách tính thời ấy cả đời cũng không dám mơ tới.

Vậy là qua bài viết này, du khách đã hiểu thêm được phần nào về cuộc sống sinh hoạt của tầng lớp thái giám trong lịch sử Trung Hoa. Nếu du khách là người có niềm đam mê với văn hóa, lịch sử của đất nước này thì hãy thực hiện một chuyến du lịch Trung Quốc nhé! Chắc chắn du khách sẽ có được nhiều khám phá và trải nghiệm thú vị khi đặt chân đến vùng đất rộng lớn này!

3 vat bat ly htan cua thai giam 7

3 vật bất ly thân của thái giám Trung Hoa xưa

Trong phim ảnh Hoa ngữ, thái giám cũng là một đề tài được khai thác khá nhiều. Họ thường có tạo hình là những người ái nam ái nữ, mặc trang phục chỉnh tề và tay luôn phải cầm một cây phất trần. Ngoài ra, các thái giám còn luôn mang theo hai thứ khác bên cạnh mà không phải ai cũng biết.

Thái giám (còn gọi là hoạn quan, công công, nội quan, nội thần, nội giám) là những người đàn ông đã trải qua quá trình “tịnh thân” (cắt bỏ bộ phận sinh dục) để phục vụ trong cung đình Trung Hoa. Nhiệm vụ của thái giám là hầu hạ hoàng đế và hoàng tộc trong cung nhưng quan trọng nhất là canh giữ không để bất kỳ người đàn ông nào khác “chạm” vào cung tần mỹ nữ của vua.

Theo ghi chép, những nam nhân phục dịch hoàng đế đã có từ thời Tây Chu (440 TCN) nhưng lúc này họ chưa bắt buộc phải tịnh thân. Cho đến đầu đời Đông Hán mới yêu cầu toàn bộ nam giới hầu hạ trong cung đều phải trở thành thái giám để tránh rắc rối trong các mối quan hệ với số lượng lớn phụ nữ trong cung. Có nhiều nguyên nhân khiến đàn ông Trung Quốc thời xưa trở thành thái giám. Có thể là do bị cha mẹ bán vào cung từ lúc nhỏ, do gia đình quá nghèo không còn sự lựa chọn, là tội nhân bị phạt hoặc tự nguyện xin làm hoạn quan để mưu cầu phú quý.

3 vat bat ly htan cua thai giam 2 e1627989480353

Tuy không được tham gia vào chính sự nhưng các thái giám lại có uy quyền mạnh mẽ. Họ là người kề cận vua nên nắm được nhiều thông tin bí mật thậm chí còn có thể can thiệp vào chuyện lập hoàng đế. Do vậy, hình ảnh thái giám cũng được khai thác khá nhiều trong phim ảnh Trung Quốc.

Ngoài trang phục chỉnh tề, mũ đội đầu thì trên tay các thái giám thân cận bên Hoàng đế Trung Hoa xưa luôn có cây phất trần. Chúng dài khoảng 50cm, một đầu làm bằng gỗ được trang trí đẹp và một đầu là những chiếc lông vũ nhỏ màu trắng hoặc các sợi gai được bó với nhau. Khi đi lại, các thái giám luôn đặt cây phất trần trên cánh tay. Trước khi thông báo điều gì, họ sẽ phất chúng một lần.

3 vat bat ly htan cua thai giam 1

Phất trần nguyên là cây chổi quét bụi, đuổi muỗi mòng, một trong những vật tùy thân của các Tỷ kheo ở Ấn Độ, thường được làm từ lông dê, gai vải bông xé nhỏ, vải hoặc vật cũ rách, nhánh cây, ngọn cây và có chức năng như một vật tùy thân cần thiết để bảo vệ sức khỏe cho đời sống du hành. Sau khi Phật giáo truyền sang Trung Quốc, phất trần là pháp khí biểu tượng cho sự tu tập đoạn trừ phiền não, chướng nạn đồng thời là vật trang nghiêm của các bậc cao tăng trong khi thực thi pháp sự. Từ thời xa xưa, phất trần đã được xem là một thánh vật gắn liền với hình tượng của các đạo sĩ trong văn hóa Trung Hoa. Cũng bởi vậy mà cổ nhân khi nói tới vật dụng này vẫn thường có câu: “Tay cầm phất trần, không phải người phàm”.

Một giả thuyết khác cho rằng hình ảnh cây phất trần này từng đi vào trong đời sống nghệ thuật của nhân dân, thường xuất hiện trong kinh kịch hay tuồng Quảng. Trong 2 loại hình nghệ thuật này, phục trang và khuôn mặt của các nhân vật được hóa trang khá giống nhau, nên những ai vào vai thái giám cầm thêm cây phất trần để người xem dễ phân biệt.

Vào thời xưa, thường dân bách tính cũng thường giữ trong nhà những chiếc phất trần dùng để đuổi muỗi hoặc lau dọn, công dụng cũng không khác biệt nhiều so với chổi lông gà.

Trên thực tế, cây phất trần thường thấy của các thái giám mặc dù có hình thức cầu kỳ hơn, tuy nhiên công dụng cơ bản nhất cũng không khác với phất trần của người bình thường là bao.

3 vat bat ly htan cua thai giam 3

Đối với các thái giám, họ cũng sử dụng cây phất trần này thể phủi bụi bẩn, vệ sinh đồ đạc ở những địa điểm mà hoàng đế sắp ghé qua. Nếu trên người hoàng đế có vết bẩn hay bụi, thái giám cũng chỉ được dùng cây phất trần chứ không được tự ý dùng tay để làm sạch. Bởi nếu trực tiếp dùng tay để chạm hoặc vỗ vào người Thiên tử sẽ bị coi là một hành động đại bất kính.

Sau này vì tính năng và độ thông dụng, cây phất trần được dùng làm chiếc roi phạt những ai vi phạm phép tắc trong cung và được sử dụng trong cả các gia đình thường dân. Trong mỗi gia đình, nếu có người không giữ gìn phép tắc gia quy cũng sẽ dùng phất trần để trị tội.

Ngoài những công dụng cơ bản trên đây, phất trần của các thái giám còn được xem như một loại vũ khí “tạm thời”. Theo ghi chép trong Minh sử và Thanh sử, thái giám cấp cao kề cạnh Hoàng đế không cần phải cầm phất trần, trong khi đó thái giám thấp hơn một bậc phải cầm phất trần và quan sát mọi tình huống xung quanh Hoàng đế. Tất cả thái giám này đều đứng kề cận hai bên trái phải của Hoàng đế, có thể theo Hoàng đế vào những nơi không thích hợp cho thị vệ tiến vào. Nếu thấy tình huống nguy hiểm, khi có thích khách xuất hiện thì những thái giám cầm phất trần sẽ dùng chúng làm vũ khí chống trả, kéo dài thời gian để các thị vệ có thể ứng cứu.

3 vat bat ly htan cua thai giam 4

Bên cạnh đó, thái giám là những người thường xuyên kề cận phi tần và cung nữ trong hậu cung, dù đã mất đi một bộ phận nam giới trên cơ thể nhưng không có gì đảm bảo thái giám sẽ không làm ra chuyện không phù hợp. Lúc này, phất trần được xem là một lời nhắc nhở. Xét cho cùng, trong Đạo giáo và Phật giáo, phất trần còn có ý nghĩa đoạn tuyệt hồng trần. Nhìn thấy phất trần trong tay cũng có thể khiến thái giám quên đi mọi tâm tư không đứng đắn.

Theo quan niệm của Đạo giáo, phất trần thường được biết tới là pháp khí của các nhân vật thần thoại. Ví dụ tiêu biểu là chính là Thái Thượng Lão Quân – vị thần tiên luôn đem theo cây phất trần bên mình. Cũng bởi vậy mà vật dụng ấy thường đem tới cho người khác cảm giác siêu phàm, thoát tục, thậm chí cổ nhân còn tin rằng nó có sức mạnh để trừ tà.

3 vat bat ly htan cua thai giam 5

Vào thời cổ đại, vương thất, hoàng gia của mọi vương triều đều hi vọng rằng hoàng cung của họ sẽ luôn đầy ắp những điều cát tường, như ý. Cũng vì vậy mà giai cấp thống trị thời bấy giờ sẵn sàng làm mọi việc để tăng thêm vận may cho bản thân. Và việc để cho các thái giám cầm phất trần cũng nằm trong số đó. Họ tin rằng, việc biến phất trần trở thành vật bất ly thân của tầng lớp này sẽ gia tăng may mắn, đồng thời còn có công dụng diệt trừ những thứ tà ma quỷ quái hoặc những điều xui xẻo. Đây cũng là một trong những lý do khiến phất trần trở thành một thứ “vũ khí” thường gắn liền với hình tượng của các hoạn quan, thái giám Trung Hoa vào thời xưa.

Ngoài cây phất trần, các thái giám còn luôn mang theo bên mình một chiếc khăn nhỏ và bao đầu gối.

Nhiều người cho rằng chiếc khăn nhỏ để các thái giám lau mồ hôi nhưng không phải vậy. Sau quá trình tịnh thân, các thái giám thường bị tiểu nhiều lần trong ngày nhưng số lượng nước tiểu ít. Để tránh mùi khai, họ phải dùng khăn lau bộ phận sinh dục sau khi đi vệ sinh.

Dù ở bên cạnh Hoàng hậu hay Hoàng thượng nhưng thân phận của thái giám cũng chỉ là tôi tớ trong cung. Vì vậy, khi gặp những người này, họ vẫn phải hành lễ. Có ngày họ phải hành lễ hàng chục lần chưa kể mỗi lần làm sai việc gì có thể phải quỳ gối xin lỗi hoặc quỳ phạt nhiều giờ. Do đó, họ luôn mang theo bao đầu gối để việc quỳ không gây tổn thương cho da đầu gối.

Bao đầu gối là một dụng cụ hình vuông, bên ngoài bọc vải, bên trong nhét các loại giẻ hoặc các vật làm mềm. Các thái giám sẽ buộc chúng chắc chắn vào đầu gối. Trong các bộ phim dã sử Trung Quốc, nhiều cô gái cũng áp dụng cách này nhưng thường bị phát hiện.

3 vat bat ly htan cua thai giam 6

Nhìn chung, cuộc đời thái giám không ít những nỗi buồn phiền và sự tự ti, trừ những thái giám lộng quyền để vươn đến đỉnh cao quyền lực. Hầu hết họ không có tài sản gì đáng giá. Sống trong cung cả đời cho đến khi về già, tưởng sẽ an nhàn nhưng thực ra họ không có đất đai hay gia sản gì to tát ngoài đồng lương ít ỏi hàng tháng nhận được trong cung.

Thời Minh – Thanh, hoạn quan khi xuất cung thường vào làm việc trong miếu, chùa hoặc nhận bố thí sống qua ngày. Tuổi già của họ là những ngày tháng cô đơn, không người thân nương tựa.

Vậy là qua bài viết này, du khách đã hiểu thêm được phần nào về cuộc sống sinh hoạt của tầng lớp thái giám trong lịch sử Trung Hoa. Nếu du khách là người có niềm đam mê với văn hóa, lịch sử của đất nước này thì hãy thực hiện một chuyến du lịch Trung Quốc nhé! Chắc chắn du khách sẽ có được nhiều khám phá và trải nghiệm thú vị khi đặt chân đến vùng đất rộng lớn này!

le hoi thuyen rong 7

Lễ hội thuyền rồng sôi động và đầy màu sắc văn hoá truyền thống Trung Hoa

Trung Quốc được biết đến là một trong những đất nước có nền văn hóa lịch sử lâu đời và có nhiều di tích lịch sử nổi tiếng. Không chỉ vậy đất nước này còn có những lễ hội truyền thống rất đặc sắc mà du khách có thể tìm hiểu trong chuyến du lịch của mình. Trong những lễ hội đó không thể không nhắc đến Lễ hội thuyền rồng được diễn ra vào mỗi dịp Tết Đoan Ngọ.

Lễ hội thuyền rồng là nét văn hoá đặc sắc, có ý nghĩa và truyền thống lâu đời đối với người dân Trung Quốc. Theo tài liệu ghi chép, lễ hội thuyền rồng được tổ chức lần đầu tiên ở Phiên Ngu (nước Sở xưa – nay là tỉnh Quảng Châu), đây chính là nơi đã sản sinh ra một nền văn hoá truyền thống mang đậm bản sắc văn hoá của người dân Trung Quốc. 

le hoi thuyen rong 4

Lễ hội thuyền rồng được tổ chức vào ngày 5/5 âm lịch hàng năm, diễn ra trên khắp các con sông của đất nước Trung Hoa. Cứ vào dịp này là trên các con lại xuất hiện hàng dài những chiếc thuyền đầy màu sắc. Người dân ngồi trên thuyền mặc những bộ trang phục truyền thống và ném bánh đậu nếp xuống sông.

Có rất nhiều giải thích cho nghi thức đặc biệt này, nhưng theo sử sách Trung Quốc thì lễ hội thuyền rồng được tổ chức nhằm mục đích để tưởng nhớ một vị quan văn thanh liêm của nước Sở vào thế kỷ thứ 4 TCN, đó là Khuất Nguyên.

Khuất Nguyên chủ trương khôi phục quan hệ giữa nước Sở và nước Tề láng giềng. Thời kỳ này được biết đến trong lịch sử Trung Quốc là Thời Chiến Quốc, lý do là 7 nước, hay 7 vương quốc xâu xé lẫn nhau trong suốt 200 năm, cho đến khi Tần Thuỷ Hoàng thống nhất Trung Hoa. Lúc bấy giờ, Vua nước Sở đã phá hỏng mối bang giao với nước láng giềng, nhưng Khuất Nguyên đã tự nỗ lực khôi phục sự hoà hảo với nước Tề và mang lại hoà bình tạm thời cho đất nước của ông. Tuy nhiên, triều đình nước Sở khi đó đầy rẫy tham nhũng, nhiều viên tham quan bị kẻ thù mua chuộc. Khuất Nguyên bị những viên tham quan gièm pha hãm hại, khiến vua Sở nổi giận không tin dùng Khuất Nguyên nữa.

le hoi thuyen rong 6 e1627984554509

“Chúng chen chúc trên đường vụ lợi,
Tấm lòng tham, tham mãi tham hoài!
Đem dạ mình đọ bụng người,
Sinh lòng ghen ghét, đặt lời gièm pha.”

Những dòng thơ trên đây nằm trong bài “Ly tao” của Khuất Nguyên, trong đó ông đã giãi bày câu chuyện bị đày ải của mình. Ông viết:

“Lòng chính trực bị xéo giày,
Tai nghe xiểm nịnh, lòng đầy lửa sân.”

Vua Sở đã đày Khuất Nguyên đến vùng quê Giang Nam, nơi đó ông dành nhiều tháng ngày để sáng tác thơ và suy
ngẫm trong cay đắng. Thơ của ông phản ánh tấm lòng trung thành với nhà vua, mặc dù bị hắt hủi.

“Chín lần trời hãy chứng minh,
Chỉ vì ta quá trung thành đấy thôi.”

Khi không còn những trung thần và nhân tài xung quanh nhà vua nữa, nước Sở nhanh chóng bị Tần đánh bại. Sau khi hay tin, Khuất Nguyên vô cùng đau xót:

“Biệt ly ta chẳng quản nài;
Xót mình lòng dạ đổi dời bao phen.”

le hoi thuyen rong 3 e1627982988565

Trong tuyệt vọng, Khuất Nguyên gieo mình xuống sông Mịch La tự vẫn. Khi người dân địa phương biết tin ông tự vẫn, họ vội lao ra sông trên những con thuyền gỗ, đánh trống và dùng mái chèo đập mạnh vào mặt nước để xua đuổi tà ma và cá, nhằm tìm kiếm và cứu ông trong tuyệt vọng. Khi không thể tìm thấy vị cố quan, họ đã ném cơm nắm xuống dòng sông. Một trong những lý do là để cúng cơm cho cô hồn của Khuất Nguyên. Theo tục lệ ở Trung Quốc, người chết vì tự vẫn sẽ trở thành cô hồn đói khát, phải đợi cho đến khi tiến trình sinh mệnh đặc định nơi dương gian kết thúc. Một lý do khác của việc rắc cơm xuống sông là để cho cá ăn mà không rỉa thi thể của Khuất Nguyên nữa.

Theo truyền thuyết, một đêm, Khuất Nguyên báo mộng cho một ngư ông rằng ông không thể ăn được cơm mà họ rắc xuống vì có một con rồng đã ăn hết. Vị quan nói với ngư ông hãy gói cơm trong lá cây ngải cứu thành hình kim tự tháp, bên ngoài buộc bằng chỉ ngũ sắc. Chỉ như vậy mới có thể xua đuổi con rồng và ông mới có thể ăn được cơm. Đây là câu chuyện đằng sau cuộc đua thuyền và những chiếc bánh làm từ gạo nếp mà người dân thường ăn trong dịp lễ hội thuyền rồng.

Với người dân Trung Quốc, lễ hội thuyền rồng không chỉ là dịp để tưởng nhớ vị anh hùng yêu nước Khuất Nguyên, mà đó cũng là ngày để xua đuổi tà ma, bệnh tật và cầu bình an trong cuộc sống. Bởi vậy mà người dân cũng thực hiện rất nhiều phong tục độc đáo: dọn dẹp nhà cửa và tắm nước thảo mộc giúp ngăn ngừa các bệnh ngoài da; treo cây ngải cứu và lá ngải cứu lên khung cửa nhà để xua đuổi sâu bọ và các động vật có độc; mang theo túi đựng nước hoa để khỏi bị côn trùng cắn và các vấn đề về da khác; chuẩn bị trước đầy đủ nước và tránh lấy nước từ giếng (vì theo mê tín dị đoan, nước trong giếng vào ngày đó rất độc); Dán chân dung các vị thần có hình dáng xấu xí, hung dữ lên cửa hoặc treo trong phòng để xua đuổi tà ma, bảo vệ ngôi nhà của mình; đeo vòng tay chuỗi ngũ sắc cho trẻ em với hi vọng may mắn và sức khỏe…

le hoi thuyen rong 5

Lễ hội thuyền rồng gồm có 2 phần chính: phần lễ và phần hội. Trong phần lễ những ngư dân tại đây sẽ dâng hương cúng nhằm thể hiện sự kính trọng của họ đến tổ tiên, cùng với các vị thần linh của sông nước. Nó được xem là phần quan trọng, tất yếu không thể thiếu trong lễ hội. Tiếp theo đó sẽ diễn ra phần hội, đó chính các cuộc thi đua thuyền được diễn ra rất gay gắt, và thu hút được rất nhiều sự chú ý của người dân. Các nhóm sẽ cùng cạnh tranh quyết liệt cùng tiếng trống vang dội khắp dòng sông.

Không chỉ có thi đua thuyền, trong lễ hội còn có rất nhiều hoạt động vui nhộn và hấp dẫn khác như: thi uống rượu, thi nấu cơm trên thuyền, thi điêu khắc đầu rồng,…

le hoi thuyen rong 1 1 e1627982702103

Tham gia lễ hội thuyền rồng ngoài việc được hoà mình không khí, sôi động náo nức của lễ hội. Bên cạnh đó, trong lễ hỗi còn có sự xuất hiện của nhiều món ăn mang đậm màu sắc ẩm thực của truyền thống Trung Quốc. Trong đó không thể thiếu món bánh Zongzi (Bánh đậu nếp). Những chiếc bánh nếp hình tam giác xinh xinh với nhân đậu đỏ thơm ngon đã chứa đựng trong mình một truyền thống đề cao tiết tháo, cũng như góp phần tô điểm cho lễ hội thuyền rồng thêm phần rực rỡ, phong phú. Ở mỗi địa phương khác nhau lại có phiên bản Zongzi khác nhau. Nhưng về cơ bản, Zongzi là bánh nếp hấp lá tre có nhân đậu. Để tạo hình tam giác thật đúng chuẩn cho bánh, người ta thường cuốn lá tren vào một vật hình phễu, đổ nhân vào rồi mới gói lại. Bánh có lớp vỏ bằng nếp dẻo bùi, thơm mùi lá non, cùng lớp nhân đậu beo béo sần sật, tuy cách làm đơn giản nhưng hương vị thơm ngon khó quên.

le hoi thuyen rong 2 e1627982808334

Theo phong tục của người Trung Quốc, ngoài ăn bánh Zongzi, người ta còn ăn Jiandui (Bánh rán mè). Cũng như Zongzi, nhân chính của Jiandui là đậu, và loại đậu được ưa thích nhất là đậu đỏ. Màu đỏ tượng trưng cho sự thịnh vượng, dồi dào và may mắn rất được người Trung Hoa ưa dùng vào những dịp lễ lạc, đặc biệt là trong lễ hội thuyền rồng náo nhiệt với hàng trăm con thuyền khoe sắc.

Ngoài ra, các món ăn từ lươn, món trứng hấp trà, và bánh Dagao (làm bằng cách đập gạo nếp luộc thành bột nhão) cũng là những món ăn “có mặt” trong mỗi dịp lễ hội thuyền rồng.

Nếu du khách là một người yêu thích văn hoá Trung Quốc thì vào 5/5 âm lịch hãy đến và hoà mình vào lễ hội thuyền rồng sôi động này nhé! 

hao tuu trung quoc 8a

Du lịch Trung Quốc, “ngây ngất” trong hương vị men nồng của các loại hảo tửu

Từ hàng ngàn năm nay, rượu đã trở thành loại thức uống quan trọng trong đời sống của người dân Trung Quốc. Rượu được dùng để thờ cúng, chữa bệnh hay thưởng thức hàng ngày. Rượu của Trung Quốc có rất nhiều loại khác nhau, mỗi loại rượu có bề dày lịch sử và hương vị riêng.

Rượu Mao Đài

Rượu Mao Đài chính hiệu được làm ra tại trấn Mao Đài, cách trung tâm huyện Nhân Hoài, tỉnh Quý Châu 13km về phía Tây Bắc. Nơi đây có con sông Xích Thủy với dòng nước trong vắt suốt 4 mùa từ trong hang núi chảy qua. Rượu Mao Đài được sản xuất trực tiếp từ nước sông Xích Thủy và chính nó đã làm thành hương vị tự nhiên độc nhất vô nhị của loại rượu này.

Rượu Mao Đài là rượu chưng cất từ cao lương lên men. Rượu này có đặc trưng là trong vắt, không màu, có mùi thơm đặc trưng và có độ cồn cao (truyền thống là 65%, song gần đây có nhiều loại Mao Đài chỉ từ 35 đến 47%).

hao tuu trung quoc 1

Rượu Mao Đài được công nhận là “thực phẩm xanh”, “thực phẩm hữu cơ” và được xếp hạng sản phẩm quốc gia toàn Trung Quốc. Qua nghiên cứu, phân tích trong thời gian dài, người ta đã tìm ra: trong rượu Mao Đài, ngoài rượu tinh khiết và nước ra, còn có rất nhiều chất có lợi cho sức khỏe, nó được bắt nguồn từ những yếu tố như: Công nghệ độc đáo; có các chất khó bay hơi nhiều; có độ toan cao gấp 3-4 lần các loại rượu trắng khác; sự có mặt của nhiều hợp chất phenol trong rượu Mao Đài; độ cồn tinh khiết trong rượu Mao Đài là khoa học và hợp lý; rượu Mao Đài để lên men tự nhiên, không cho phép thêm thắt bất kỳ hương vị hay hương liệu nào, cũng không cho thêm chất điều chỉnh độ rượu nào; trong rượu Mao Đài có SOD có thể thúc đẩy sự sản sinh lượng lớn các anbumin.

Rượu Mao Đài là thần bí, hương thơm của nó làm say đắm lòng người, phong cách của nó khuynh đảo bao người, công hiệu của nó làm người đời ca ngợi. Uống một lượng rượu Mao Đài vừa độ làm người ta khỏe lên. Và, đã từ rất lâu, rượu Mao Đài trở thành đặc sản nổi tiếng của Trung Quốc. Đã có nhiều khách du lịch nước ngoài có dịp du lịch Trung Quốc mong muốn được một lần thưởng thức chén rượu Mao Đài làm say đắm lòng người và không quên mua về làm quà tặng người thân.

Rượu Nữ Nhi Hồng

Rượu Nữ Nhi Hồng có nguồn gốc từ vùng đất Giang Nam là một trong những loại rượu cổ truyền hàng đầu Trung Quốc, còn có cái tên khác đầy quyền quý là “Hoàng Tửu Triệu Hưng”.

Xếp ngang hàng với rượu Mao Đài Quý Châu hay Ngũ Lương Dịch, sau khi được ngâm ủ thêm mười mấy năm, Hoàng Tửu Triệu Hưng lúc này mới trở thành Nữ Nhi Hồng, được sử dụng như của hồi môn khi con gái đi lấy chồng. Cũng vì tượng trưng cho sự trinh trắng của người thiếu nữ và có cách pha chế đầy kỳ công, nên Nữ Nhi Hồng “hàng xịn” chỉ được sử dụng trong những dịp đặc biệt và rất rất khan hiếm.

hao tuu trung quoc 2

Rượu Hoàng Tửu Triệu Hưng có lịch sử từ rất lâu đời, là một trong những loại rượu ngon nổi tiếng. Nguyên liệu để chế biến loại rượu này chính là gạo nếp, và nước suối có vị ngọt tinh khiết mà tạo thành. Khi chế biến xong có sắc màu hơi vàng, hương thơm nồng. Muốn ủ được loại Hoàng Tửu ngon thì cần phải ủ trong một một cái hũ làm từ gốm, sau đó dùng bùn trát lên đậy chặt hũ lại.

Các hũ rượu này sẽ được chôn dưới đất khoảng từ 3-5 năm, nhiều nhất là khoảng từ 10-20 năm, cho nên loại rượu này còn được gọi bằng một cái tên khác là “Lão Tửu”. Hoàng Tửu có một số loại rượu ngon nữa như: rượu cơm, hoa điều tửu, trang nguyên hồng tửu, hay tuyết hương tửu… Người ta gọi là rượu cơm là bởi vì trong qua trình lên men, người chế biến rượu cho thêm một số lượng gạo nếp tương đối nhiều nên mới có cái tên như vậy. Nó là loại rượu ngon nhất của Hoàng Tửu Triệu Hưng.

Rượu Đồ Tô

Trong mỗi dịp Tết Nguyên Đán ở Trung Quốc có rất nhiều thức uống được yêu thích, trong đó đặc biệt nhất có lẽ chính là rượu Đồ Tô. Đây là một loại rượu trắng thường được cất giữ trong những chiếc bình làm bằng gốm sứ.

Công thức pha chế rượu Đồ Tô: Xích mộc quế (lõi) 7 tiền 5 phân, Phòng phong 1 lạng, Bát tiết 5 tiền, Thục tiêu, Cát cánh, Đại hoàng mỗi thứ 5 tiền 7 phân, Ô đầu 2 tiền 5 phân, Xích tiểu đậu 14 hạt. Các thứ trên đem đựng trong một túi nhỏ hình tam giác, đem treo xuống giếng, đêm giao thừa ngâm vào rượu, hâm nóng. Thời cổ, khi uống rượu Đồ Tô, cả nhà già trẻ lớn bé hướng về phía Đông, lần lượt uống. Sau đó, bã rượu đem quẳng xuống giếng, trong năm ngày ngày đem uống, bách bệnh tiêu tan.

hao tuu trung quoc 3

Theo tập tục, uống rượu Đồ Tô, người già cả sẽ là người uống trước, sau đó là trẻ em, tiếp đến mới là các hạng trung niên, thanh niên. Điều này thể hiện ý nghĩa mong muốn người già trẻ lại, cải lão hoàn đồng.

Rượu Đồ Tô là thần bí, hương thơm của nó làm say đắm lòng người, phong cách của nó khuynh đảo bao người, công hiệu của nó làm người đời ca ngợi. Uống một lượng rượu Đồ Tô vừa độ làm người ta khỏe lên. Và, đã từ rất lâu, rượu Đồ Tô trở thành đặc sản mùa xuân nổi tiếng của Trung Quốc. 

Bạch Tửu

Bạch Tửu hay còn được gọi là “Thiêu Tửu” là một trong những loại rượu nổi tiếng của Trung Quốc. Đây là rượu khá nặng với nồng độ cao, với khoảng 80-120 Proof, tương đương độ cồn đạt 40-60% thể tích rượu.

Bạch Tửu nói chung được chưng cất chủ yếu từ lúa Miến. Tuy nhiên, đôi khi cách làm ra rượu trắng Bạch Tửu có chút khác nhau ở mỗi vùng miền. Nếu như ở Hoa Nam được làm từ lúa nếp thì Hoa Bắc lại sử dụng lúa Miến, Kê, lúa Mì, lúc Mạch và đôi khi họ còn sử dụng cả Bo Bo để nấu rượu nữa.

hao tuu trung quoc 4

Vì có màu trắng trong nên rượu được gọi là Bạch Tửu và cảm quan có thể giống với nhiều loại rượu nổi tiếng khác trên thế giới, nhưng rượu trắng luôn luôn có nồng độ cồn ở mức cao và đặc biệt mùi vị của nó luôn luôn tại ra sự khác biệt độc đáo đến kinh ngạc. Có thể lấy ví dụ như Voka 30-50%, Sochu Nhật chỉ 25% hay như Soju Hàn 20-45%.

Nhiều người uống không quen thì thường nhận xét Bạch Tửu có mùi vị như nước pha sơn hay mùi dầu cặn. Nhưng với những người yêu thích thì với họ đây là một mùi vị đặc trưng, rất khác biệt là được nhiều người Trung Quốc yêu thích.

Rượu trắng Bạch Tửu thường thường sẽ được uống ở mức hơi ấm hoặc ở nhiệt độ phòng trong một bình rượu Ceramic. Sau đó họ đổ rượu Bạch Tửu vào trong các ly nhỏ. Theo tục lệ thông thường của người Trung Hoa, Bạch Tửu được uống trong các bữa ăn hơn là uống rượu riêng biệt.

Rượu Trúc Diệp Thanh

Rượu Trúc Diệp Thanh cũng là một cái tên khiến nhiều người thương nhớ khi nói đến Trung Quốc, nhất là vùng Phương Hoàng Cổ Trấn. Loại rượu này ở thời xa xưa là loại rượu quý hiếm, chỉ có Vua chúa mới được sử dụng.

hao tuu trung quoc 5

Rượu Trúc Diệp Thanh được ủ với lá trúc, rượu có vị ngọt nhẹ tinh khiết và mùi thơm kích thích vị giác. Không chỉ vậy, điểm đặc biệt nhất của loại rượu này chính là khả năng biến hoá màu sắc vô cùng độc đáo, thông thường rượu sẽ có màu vàng nhạt, cho đến khi đặt dưới ánh mặt trời thì rượu sẽ chuyển sang màu ánh xanh lạ mắt.

Loại rượu này rất có lợi cho sức khoẻ và đường ruột, hỗ trợ con ngừoi ăn ngon miệng và tinh thần tỉnh táo hơn.

Rượu Vang

Tại Trung Quốc, rượu Vang cũng là dòng rượu được đánh giá cao. Loại rượu này có nguồn gốc từ Châu Âu, từ thời Tây Hán được du nhập vào Trung Quốc thông qua giao thương. Rượu Vang ở Trung Quốc được ủ tương đối ngon.

hao tuu trung quoc 6

Ở Trung Quốc, rượu Vang được sản xuất nhiều tại phía Bắc Trường Giang. Ngày nay, nhà máy rượu Vang lớn nhất ở Trung Quốc nằm ở thành phố Yên Đài, thuộc tỉnh Sơn Đông. Nhà máy này sản xuất được một loại rượu Vang đỏ nổi tiếng khắp trong và ngoài nước nhờ có hương vị hết sức đặc biệt. Ngoài ra, rượu Vang đỏ ở Bắc Kinh cũng rất ngon. Bên cạnh đó, Vang trắng của Thanh Khê và Thiên Tân kết hợp với nhau tạo thành một loại rượu vang trắng có hương vị rất thơm ngon.

Rượu tre

Rượu vốn là thức uống xuất hiện ở tất cả các quốc gia trên thế giới, nhưng rượu tre tại Trung Quốc lại là món uống mới, được nhiều khách du lịch nước ngoài lần đầu thưởng thức khen ngợi.

Bằng phương pháp sử dụng kỹ thuật phun áp lực cao, rượu được bơm trực tiếp vào thân rỗng của những cây tre non. Đây là loài cây có khả năng tự phục hồi cao. Sau 10 ngày, các lỗ rượu dần được lấp kín. Và như thế, rượu được ủ tự nhiên trong môi trường kín từ vài tháng đến hơn 1 năm. Trong thời gian này, avone (một loại chất lỏng từ trong thân cây) và nhựa cây tre sẽ hòa cùng với rượu. Những chất đặc biệt từ cây tre hòa cùng rượu tạo ra một mùi thơm tinh khiết, dễ chịu hơn so với rượu thường. Đặc biệt, rượu ủ trong cây tre cũng có nồng độ cồn thấp hơn vì một phần đã được cây tre hấp thụ. Nếu đưa rượu có độ cồn khoảng hơn 50% vào trong thân tre, sau khi thu hoạch, rượu sẽ chỉ còn 30%.

Ủ rượu là một chuyện và quy trình lấy rượu khỏi thân cây tre cũng khá đặc biệt và thu hút nhiều du khách. Họ sẽ có cơ hội xem các công nhân gõ vào các phần khác nhau của cây tre để kiểm tra xem bên trong tre có ủ rượu hay không. Sau đó, họ sẽ đục một lỗ nhỏ để lấy rượu ra ngoài.

hao tuu trung quoc 7a

Kỹ thuật ủ rượu trong ống tre tươi ban đầu xuất hiện ở tỉnh Phúc Kiến, sau đó được dân làng ở những vùng lân cận
như Quảng Tây, Tứ Xuyên áp dụng. Những rừng tre tự nhiên được biến thành xưởng sản xuất rượu, ủ trong ống tre tươi.

Loại rượu ủ từ ống tre có màu sắc vàng nhạt, được giới thiệu là bổ phổi, giúp giải độc. Nó có hương thơm tinh khiết đã làm say đắm lòng người, công hiệu của nó làm người đời ca ngợi. 

Rượu Trung Quốc len lỏi vào mọi ngóc ngách đời sống hàng ngày, văn hóa nghệ thuật, các hoạt động dân gian hay lễ hội một cách mật thiết. Rượu tạo ra một nét văn hóa riêng biệt, mang đậm tinh thần dân tộc người Trung Hoa. 

Nếu có dịp du lịch Trung Quốc, du khách hãy thử một lần “ngây ngất” trong hương vị men nồng của các loại “hảo tửu” và tìm mua về làm quà sau chuyến du lịch của mình nhé! Chắc chắn đây sẽ là một điều thú vị dành cho du khách.

mi truong tho 5

Mì trường thọ – món ăn đem lại may mắn và thịnh vượng

Ẩm thực Trung Hoa đa dạng, phong phú như một quyển tiểu thuyết dài tập, không bao giờ kể hết được. Những món ăn ở đây đều có ý nghĩa của nó. Mì trường thọ là một trong những món như vậy.

Tương truyền rằng cách đây từ 300 năm trước, trong triều đại nhà Đường, tại làng Nam Sơn thuộc tỉnh Chiết Giang, sau nhiều biến loạn thì thực phẩm trở nên rất khan hiếm. Lúc này vợ của Hoàng đế Đường Minh Hoàng phải dùng một chiếc khăn tay thêu của mình để đổi lấy một bát mì để tặng cho chồng vào đúng ngày sinh nhật. Từ đó về sau, món ăn thấm đượm tình nghĩa phu thê đó được gọi là “mì trường thọ”.

mi truong tho 2

Mì trường thọ được xem là biểu tượng cho sự mạnh khoẻ, tuổi thọ cao. Thế nên vào mỗi dịp mừng tuổi mới một ai đó, người ta thường nấu món mì trường thọ để ăn thay vì bánh sinh nhật. Người Trung Quốc quan niệm rằng khi ăn một bát mì trường thọ thì người đó sẽ gặp nhiều may mắn, luôn khỏe mạnh và sẽ sống lâu trăm tuổi. Ngoài ra, không chỉ mang ý nghĩa về tuổi tác, mì trường thọ còn được cho là đem lại may mắn và thịnh vượng, thế nên nó còn xuất hiện trong những dịp đầu năm mới nữa.

mi truong tho 3

Chính bởi ý nghĩa đặc biệt này, người chế biến không được cắt sợi mì, vì làm vậy đồng nghĩa với việc tuổi thọ bị rút ngắn, mang theo xui rủi cho người ăn. Khi ăn mì trường thọ, phải ăn một hơi hết cả sợi mì và trước khi đưa mì vào miệng, không được cắn đứt sợi mì. Nét độc đáo trong văn hoá này ngày nay vẫn được người Trung Hoa duy trì và mang ý nghĩa đặc biệt trong đời sống tinh thần của họ.

mi truong tho 1

Trước đây, những sợi mì dai và dài được người dân nơi đây chế biến với quy trình thận trọng, tỉ mỉ. Chúng được làm bằng một loại bột đặc biệt, sau khi cán mỏng sẽ được cắt thành từng sợi nhỏ, đan chéo và phơi dưới nắng vài giờ đồng hồ. Ngày nay, bất cứ loại mì nào cũng có thể được sử dụng làm nên món ăn thơm ngon này, nhưng phổ biến nhất có thể kể đến là mì Yi Mein (một loại mì trứng Quảng Đông có màu vàng hấp dẫn và vị dai, xốp đặc trưng nhờ dùng nước soda trong quá trình chế biến). Để làm loại mì đặc biệt này, đầu bếp cần có kỹ thuật cao. Khâu nhồi bột cũng được chú trọng kỹ lưỡng để đảm bảo đủ độ dai, khiến sợi mì có thể kéo dài. Sợi mì trường thọ sẽ có độ dài khoảng 3m chứ không ngắn như mì bình thường. Từ xưa cho đến nay, người dân nước này đã có quan niệm sợi mì kéo càng dài được xem là biểu tượng cho sự mạnh khoẻ, tuổi thọ ngày càng cao.

mi truong tho 4

Sợi mì thường được xào với các loại rau củ, hải sản, hoặc nấu trong nước dùng được hầm từ gà. Nếu xào, các nguyên liệu phụ cần được để ráo nước và xào riêng, cho thêm dầu ăn để sợi mì không dính vào nhau. Một số nguyên liệu có thể ăn kèm cùng món này là thịt vịt quay, thịt xá xíu hoặc tôm sú, hoặc cũng có thể ăn riêng một mình. Khi ăn, người Trung Quốc cũng thường thêm một quả trứng gà vào vì trứng gà có hình tròn, là biểu tượng của sự viên mãn, đồng thời cũng tượng trưng cho sinh mạng.

Mì trường thọ có thời gian hình thành và tồn tại lâu dài, lại được giữ nguyên công thức chế biến đặc biệt, được lưu truyền từ đời này sang đời khác nên là món ăn có vị trí, vai trò quan trọng trong nền ẩm thực Trung Hoa. Nếu có dịp du lịch đất nước này, du khách đừng bỏ lỡ cơ hội thưởng thức một tô mì trường thọ thơm ngon, bổ dưỡng nhé!

nghe thuat cat giay 7

Nét tinh tuý trong nghệ thuật cắt giấy của Trung Hoa

Nói đến Trung Quốc – một đất nước với nền văn hóa đặc trưng thì không thể không nhắc đến một loại hình nghệ thuật hết sức đặc biệt: nghệ thuật cắt giấy. Đây là loại hình nghệ thuật dùng dao hoặc kéo để khắc hoa văn hình ảnh trên giấy. Giấy được cắt ra dùng để trang trí nhà, hoặc dùng trong các dịp lễ tết, thọ, hỉ khi phối hợp với các văn hóa dân gian.

Nghệ thuật cắt giấy ở Trung Quốc gần như song hành với lịch sử phát minh ra giấy thời nhà Hán. Các phát hiện khảo cổ cho thấy nghệ thuật truyền thống này bắt đầu từ thế kỷ thứ 6, thậm chí còn có thể sớm hơn, và rất thịnh hành ở đất nước gấu trúc từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ thứ 13. Đến thế kỷ thứ 14, nó bắt đầu được phổ biến ra thế giới…

Từ thời Tây Hán trước công nguyên, nghệ thuật cắt giấy với hình thức sơ khai là cắt hoa trên da động vật hoặc mảnh đồng. Nghệ thuật cắt giấy có nguồn gốc từ các nghi lễ cúng của người Trung Hoa với tổ tiên với ước mong bất tử. Từ đây phong tục cắt giấy theo các mẫu thiết kế được hình thành.

nghe thuat cat giay 6

Thời nhà Đường, nghệ thuật cắt giấy đã được nhà thơ Đỗ Phủ nhắc đến trong thơ: “Nước nóng cho rửa ráy / Tiểu chỉ để chiêu hồn”. Theo tục lệ địa phương thời đó, nếu viết chữ lên giấy và dán lên tường có thể trừ tà cho các vị khách. Vì vậy, ngày nay việc dùng giấy để trang trí cờ hiệu cũng khá phổ biến.

Vào khoảng thế kỷ V, tại ba ngôi mộ ở Thổ Lỗ Phồn khu tự trị Tân Cương cũng tìm ra dấu vết về nghệ thuật cắt giấy như hình mẫu “ngôi nhà và bó hoa”. Đến thế kỷ VI – IX, tranh giấy cũng được trang trí trên các đồ trang sức, nón, trống đồng… Ví dụ như các mẫu vẽ được dùng để trang trí nón được tìm thấy ở thành phố Tây An, những lá vàng và bạc được khắc sau gương đồng tìm thấy ở quận Giang Châu (Quảng Tây).

Trước thể kỷ XIII, con người đã sử dụng các mẫu vẽ để trang trí trên các đồ gốm. Ngoài ra, vải in màu chàm được tìm thấy ở tỉnh Sơn Tây cũng là nhờ việc đổ bột nhão vào các mẫu vẽ, sau đó đặt vải vào mà thành các mẫu vẽ độc đáo.

nghe thuat cat giay 3

Từ thế kỷ XIX đến thế kỷ XVII, nghệ thuật cắt giấy đã được sử dụng khá rộng rãi để trang trí dèn lồng và quạt xếp. Đến thế kỷ XX, hình giấy cắt lúc này đã được dùng trong hoàng tộc do độ độc đáo đã được nâng lên rất nhiều. Cung điện thời nhà Thanh được dán các hình vẽ rồng phượng. Và thay vì thêu các hình vẽ người ta đã cắt giấy và dán chúng lên áo hoàng bào.

Như vậy, có thể thấy rằng, nghệ thuật cắt giấy rất được coi trọng. Thậm chí, giới nữ trong Hoàng triều được đánh giá bằng khả năng cắt giấy và đây cũng từng là một trong những yếu tố để chọn dâu của người Trung Quốc.

Đa phần các nghệ sĩ cắt giấy là nữ giới, chủ đề của họ thường bao gồm mọi thứ từ bình dị đến phức tạp trong cuộc sống hàng ngày. Chính sự hiểu biết cuộc sống thường nhật đó khiến phụ nữ thấu hiểu và cảm nhận sâu sắc tinh thần thực sự của nghệ thuật này. Tuy nhiên, ngày nay những người thợ cắt giấy chuyên nghiệp lại là đàn ông. Họ có thu nhập ổn định và cùng làm việc trong các xưởng thủ công.

nghe thuat cat giay 4

Công cụ chính để tạo ra các tác phẩm cắt giấy không phải gì khác ngoài những chiếc kéo. Một khi được sở hữu bởi các nghệ nhân, chúng sẽ trở thành một vật dụng siêu phàm và những tác phẩm công phu dần hiện ra từ những nhát kéo đầy tính nghệ thuật. Một trong những dụng cụ khác không thể thiếu là những chiếc dao với các kích cỡ khác nhau, rất cần thiết để tăng cường độ sắc nét hoặc tạo ra những nét thanh nhấn tinh tế cho các tác phẩm cầu kỳ. Tranh giấy được cắt hoàn toàn bằng thủ công đòi hỏi sự cần mẫn, tỷ mỉ và tập trung của người thực hiện. Chúng ta có thể dễ dàng cắt tranh giấy nhưng rất khó để có thể đạt được trình độ kiệt tác. Bởi ngoài khả năng tưởng tượng phong phú, cũng cần phải biết cách làm chủ chiếc kéo, con dao, đưa những nhát cắt ngọt với những lực phù hợp để tạo được những đường cong mềm mại, không bị xiên xẹo, bờm xờm cho tác phẩm.

nghe thuat cat giay 2

Có hai kiểu cắt giấy là dùng kéo và dùng dao. Với kiểu dùng kéo, người ta có thể cắt chồng một lúc nhiều mảnh giấy cho nhanh, thậm chí lên tới 8 tờ. Để tác phẩm được đẹp, ngoài sự khéo léo đương nhiên của người thực hiện, bí quyết ở đây còn là mũi kéo phải thật sắc. Kiểu cắt thứ hai là bằng dao. Người ta sẽ đặt một vài lớp giấy trên một bề mặt phẳng mềm, sau đó người nghệ sĩ sẽ dùng dao nhọn, sắc rạch theo chiều thẳng đứng tạo nên những đường nét cho tác phẩm. Cắt bằng dao có một lợi thế là người sáng tạo có thể thực hiện hoàn hảo những chi tiết nhỏ, mảnh mà dùng kéo khó có thể làm được. Ngoài ra, màu giấy cũng rất được chú trọng, thực tế, các tác phẩm có thể được thực hiện ở bất cứ màu sắc nào nhưng màu đỏ luôn là ưu tiên hàng đầu.

nghe thuat cat giay 1

Đề tài cho nghệ thuật cắt giấy thì có muôn hình vạn trạng, từ động vật chim muông đến phong cảnh, con người và cả những nhân vật dân gian, nhân vật trong các tác phẩm văn học cổ, những hình tượng như 12 con giáp, cũng không thể thiếu những câu chúc như “An khang thịnh vượng”, “mọi điều tốt lành” và lồng vào đó là những hình cắt về những vật xung quanh như hàng cây, cánh đồng… những vật bình dị xung quang cuộc sống. Nói chung, bất cứ đề tài nào con người cũng có thể mô phỏng và hiện thực hóa trên những mảnh giấy màu theo những cung bậc sáng tạo riêng của từng người.

nghe thuat cat giay 5a

Không nghi ngờ rằng những mẫu giấy màu được cắt một cách công phu, cầu kì có khả năng tạo ra bầu không khí vui vẻ, một không gian truyền thống ấm cúng. Có lẽ chính vì vậy, các tác phẩm cắt giấy thường được dán ở đám cưới hay các lễ hội, tết nhất ở Trung Quốc cùng với những khao khát được mang lại may mắn, hạnh phúc bền lâu. Ngày nay, nghệ thuật cắt giấy chủ yếu là để trang trí, chúng được dán trên tường, cửa sổ, cột nhà, gương, đèn lồng ở nhà hay làm quà. Ngoài ra, các mẫu cắt giấy còn được sử dụng như làm mẫu thêu và tác phẩm sơn mài.

Ra đời từ thủa xa xưa, nhưng sự sáng tạo của nghệ thuật cắt giấy vẫn còn trường tồn với thời gian. Và Trung Quốc rất có ý thức bảo tồn nghệ thuật này qua rất nhiều hiệp hội tranh giấy cắt mang tính toàn quốc, các cuộc triển lãm, cuộc thi cắt giấy…

Nghệ thuật cắt giấy tinh túy đã góp phần tạo nên một nền văn hóa Trung Hoa đặc sắc, và đây cũng là một trong những lý do thu hút lượng lớn khách du lịch quốc tế tìm đến khám phá hàng năm. Nếu du khách cũng yêu thích nền văn hóa truyền thống của vùng đất rộng lớn này thì hãy tham gia ngay tour Trung Quốc nhé!

thu phap trung quoc 8

Thư pháp – môn nghệ thuật tinh tuý của đất nước Trung Hoa

Trung Quốc có nền văn hóa tồn tại qua hàng ngàn năm, thấm nhuần trong dòng máu của những người dân nơi đây. Một số nét văn hóa đã trở thành truyền thống và thói quen của người Trung Hoa trong đời sống, học tập và làm việc của họ. Một trong số đó là nghệ thuật thư pháp.

Thư pháp, nếu hiểu một cách nôm na theo cách chiết tự thì: “Thư” là viết, ghi chép lại; “Pháp” là hình pháp, mẫu mực, cách thức, phép tắc. Như vậy, “Thư pháp” là mẫu mực của chữ viết, hay hiểu cách khác là nó đã được nâng tầm lên thành một môn nghệ thuật riêng biệt. 

Thư pháp Trung Hoa được hình thành từ rất sớm: vào khoảng thế kỷ thứ II – IV. Từ đó, nó trở thành một môn nghệ thuật tao nhã của các tao nhân và người có học.

thu phap trung quoc 2a

Nghệ thuật thư pháp giúp người ta rèn luyện óc thẩm mỹ cũng như nâng cao tính kiên nhẫn của mỗi người theo học. Đối với người Trung Quốc, thư pháp không phải ai cũng học tập và lĩnh hội được hết cái hay của nó mà phải trải qua khổ luyện, tu tâm dưỡng tính, nuôi dưỡng tình cảm. Người Trung Quốc có câu: “Thư pháp khả dĩ tu tâm dưỡng tính, đào dã tâm tình” (Thư pháp có thể khiến người ta tu tâm dưỡng tính, rèn luyện tình cảm). Người chơi và viết thư pháp cũng lắm công phu: Phải biết cách đặt thân đúng, đặt bút đúng theo các quy tắc riêng, mắt nhìn thẳng, dụng bút phải chuẩn, thời gian luyện tập dài, không được nóng vội.

thu phap trung quoc 1 e1627717133857

Thư pháp gắn với “Văn phòng tứ bảo” gồm có: giấy, mực, nghiên, bút, mỗi thứ phải tuân theo quy cách, phải đúng loại thì chữ mới đẹp được. Giấy phải là loại giấy “xuyến chỉ” đắt tiền, mực thì dùng loại mực thỏi hoặc mực trấp pha theo tỉ lệ và phải điều tiết khi viết, nghiên mực phải có độ nghiêng nhỏ để tránh bị đọng mực. Bút lại càng phức tạp hơn, bút chuyên dụng để viết thư pháp gồm các loại tiểu, trung, đại, phải có mao quản (ngòi bằng lông để có thể thấm mực dễ dàng), phải có đủ các bộ phận: Đào tuyến (sợi dây để treo bút), bút quản (quản bút bằng trúc), bút hào (búp lông giống búp sen), bút căn (phần lông gắn với quản bút). Vậy mới thấy, thú chơi thư pháp công phu và tỉ mỉ như thế nào.

thu phap trung quoc 3

Chữ viết thể hiện trong thư pháp thường là chữ Hán hoặc chữ Nôm theo các phong cách khác nhau. Mỗi phong cách lại có những đặc trưng riêng về cách thể hiện. Ngày nay trên Thế giới có 5 phong cách viết thư pháp là Khải, Triện, Lệ, Hành và Thảo. Khải thư là kiểu chữ được sử dụng phổ biến và thông dụng nhất ngày nay. Nó được dùng trong lĩnh vực quảng cáo, in ấn. Đặc biệt là loại chữ dành cho những người mới bắt đầu học chữ Hán. Khải thư có bố cục ngay ngắn theo dạng hình vuông, được viết chậm rãi và cẩn thận. Khác với các loại chữ khác, khi viết thì ngòi bút được nhấc lên khỏi mặt giấy. Triện Thư là loại chữ thư pháp có lịch sử lâu đời và được lưu hành rộng rãi. Triện thư gồm 2 kiểu chữ là Đại Triện và Tiểu Triện. Đây là loại chữ thư pháp kiểu cổ, các nét thanh, bố cục đơn giản. Lệ thư là bước phát triển cao hơn của Triện thư. Hầu hết nét bút của Lệ thư là những nét vuông thể hiện sự mạnh mẽ, đơn giản về đường nét. Hành thư là loại chữ thư pháp gần giống với chữ viết tay thông thường. Khác với các kiểu chữ khác, chữ Hành thư khi viết thì ngòi bút ít nhấc lên khỏi mặt giấy. Chính vì thế các nét chữ trong cùng một chữ được viết nối liên tục nhau. Hành thư có đường nét phóng khoáng, dễ đọc, bố cục chữ tròn trịa, ít góc cạnh. Thảo thư là kiểu chữ mang tính nghệ thuật cao, thiên về cảm hứng của người viết. Các nét chữ được biến tấu đầy thi vị, thanh thoát, tốc độ viết nhanh chóng. Các nét chữ thể hiện sự liên kết, uyển chuyển tạo nên sự liên hoàn cho các bộ chữ. Khi viết, ngòi bút được hạn chế nhấc lên khỏi mặt giấy. Thảo thư được viết để thể hiện đại ý của văn tự, chính vì thế mà không phải ai cũng có thể thưởng thức được loại thư pháp này.

Một tác phẩm thư pháp là thể hiện giữa thư thể và thư gia. Nội dung và hình thức của thư pháp phải hòa hợp để xác định bố cục và thư thể trong tác phẩm. Người viết thư pháp phải trải qua thời gian tìm hiểu và khổ luyện lâu dài mới có thể vẽ nên những nét tựa “rồng bay phượng múa”. 

thu phap trung quoc 7 e1627718252819

Khi thưởng thức một tác phẩm thư pháp, người ta thường đánh giá nó qua bút pháp và sự sáng tạo của tác giả, thể hiện qua từng nét bút nhanh – chậm, độ đậm – nhạt của mực hay sự tương phản giữa giấy và mực.

Thư pháp của người Trung Hoa được xem như một loại hình nghệ thuật, thậm chí là một môn học với đầy đủ cơ sở lý luận mà người ta gọi là “Thư học”. Thư pháp đòi hỏi có sự khổ luyện cao, người viết nếu thiếu kiên nhẫn sẽ khó học thành, như câu nói: “Học thư vô nhật bất lâm trì” (Học thư pháp không có ngày nào mà không vào ao). Thuật ngữ “lâm trì” chỉ sự khổ luyện thư pháp xuất phát từ giai thoại của thư pháp gia Trương Chi mỗi ngày luyện tập viết chữ xong lại rửa bút ở ao khiến nước đen như mực (Lâm trì học thư, trì thủy tận mặc). Về sau này, “lâm trì” được dùng để chỉ sự luyện tập thư pháp. Ngược dòng lịch sử Trung Hoa, thời đại nào cũng có những nhà thư pháp lẫy lừng với phong cách rất riêng. Thời Hán với Trương Chi say mê thư pháp, không có giấy phải viết lên vải lụa cho đến khi không còn chỗ viết thì đem nhuộm để cắt may thành quần áo mặc. Sau này, thư pháp gia nổi tiếng Vương Hi Chi (nhà Tấn) noi gương Trương Chi mà bỏ đến 15 năm rèn luyện chữ nghĩa để trở thành “Thư thánh” (một trong Thập Thánh được dân gian Trung Quốc ca ngợi và truyền tụng). Thế mới thấy, nghệ thuật con chữ có sức hút thật mãnh liệt với người đời xưa.

thu phap trung quoc 4

Nghệ thuật viết chữ đẹp của người phương Bắc phải kể đến Vương Hi Chi và dòng dõi nhà ông. Vương Hi Chi ngày trước bắt đầu luyện chữ thư pháp bằng cách viết chữ “Vĩnh” (chữ hội tụ đầy đủ tám nét cơ bản trong cách viết chữ Hán), tạo nên “Vĩnh tự bát pháp” – bài học cơ bản cho người tập viết thư pháp. Không chỉ có Vương Hi Chi mà con cháu ông cũng say mê nghiên cứu thư pháp. Con trai ông Vương Hiến Chi cũng yêu thích viết chữ không kém gì cha nên ngay từ thuở nhỏ đã gánh nước đổ đầy 18 chum nước để mài mực. Hai cha con Vương Hi Chi và Vương Hiến Chi nổi tiếng với lối viết chữ Thảo, được người đời xưng tụng là “Thảo Thánh Nhị Vương” (Hai vị vua của lối viết chữ thảo), chữ thảo của hai ông mềm mại, uyển chuyển, trở thành khuôn mẫu của cách viết chữ thảo cho hậu thế luyện theo. Dòng dõi nhà Vương Hi Chi còn phải kể đến nhà sư Thích Trí Vĩnh (Vĩnh Thiền Sư), tương truyền là cháu bảy đời của Vương Hi Chi, sống đời nhà Tấn, là người khổ luyện thư pháp nhiều đến nỗi thoái bút (bút bị cùn do viết chữ) chất cao thành gò. Vĩnh Thiền Sư tu luyện ở chùa Vĩnh Hân, yêu thích thư pháp đến nỗi 40 năm luyện chữ trên lầu chùa mà không xuống đất (Đăng lâu bất hạ tứ thập niên, Thiền Sư cũng là người kế tục và nghiên cứu, phát triển “Vĩnh tự bát pháp” (Tám nét tạo thành chữ “Vĩnh”) đã được khởi xướng từ thời ông tổ bảy đời Vương Hi Chi. Giai thoại về Vĩnh Thiền Sư kể lại rằng: Khi nhà sư đã luyện chữ đạt đến mức độ điêu luyện, người người biết đến ông, ham thích và mong muốn sở hữu chữ ông đã chen lấn nhau xin chữ dẫm nát ngạch cửa đến nỗi phải lấy sắt bao lại, gọi là “Thiết môn hạn”. Nhà Đường có nhà sư Hoài Tố nhà nghèo không có tiền mua giấy, phải tập viết trên lá chuối mà được xưng tụng là “Thảo thánh”. Dần dần, người yêu thích thư pháp không chỉ là bậc vua chúa, kẻ sĩ mà còn có cả thứ dân cũng rất thích mà ngày nay còn lưu truyền nhiều câu chuyện thú vị: Đường Thái Tông rảnh rỗi lại luyện “Trừu không luyện tự” (lấy ngón tay mà viết chữ vào không khí), nửa đêm đốt đuốc luyện Lan Đình tự (chữ của Vương Hi Chi trong “Lan Đình tập tự”) thật đáng khâm phục. Lương Vũ Đế vì quá ham thích nét chữ Thư Thánh đã truyền lệnh thu thập bút tích và ra lệnh trong cung phải lấy chữ viết của Vương Hi Chi làm chuẩn, nhà vua còn sai Chu Hưng Tự soạn “Thiên tự văn” bằng bốn cách viết thư pháp của Vương Hi Chi, dùng nó làm phương tiện dạy chữ Hán và viết thư pháp trong cung còn lưu truyền tới ngày nay.

thu phap trung quoc 6

Thư pháp đồng hành với sự phát triển và ổn định của chữ Hán, có lịch sử trải dài và thời đại nào cũng có những thư gia tiêu biểu với dấu ấn cá nhân không pha trộn. Đời nhà Tần không thể không kể đến “đệ nhất thư pháp gia” – Tể tướng Lý Tư, Triệu Cao hay Mẫu Kính. Nhà Hán cũng góp mặt những thư gia như Sử Du, Trương Chi, Tào Hỷ, Sái Ung, Lương Hộc, Lưu Đức Thăng… Đời Tam Quốc và Tây Tấn có Hàm Đan Thuần, Vỹ Đản, cha con Vệ Ký – Vệ Cẩn, Lục Cơ… Đời Đông Tấn có gia đình Vương Hi Chi – Vương Hiến Chi – Vương Tuần – Vương Dân. Thư pháp đời Nam Bắc triều có Bạc Thiệu Chi, Vương Tăng Kiều, Đào Hoằng Cảnh, Vương Bao… Xuôi đến thời thịnh vượng nhất của thư pháp chữ Hán là đời Tùy – Đường cũng sản sinh nhiều cái tên như: Trí Vĩnh, Đinh Đạo Hộ, Âu Dương Tuân, Ngu Thế Nam, Lục Giản Chi, Vũ Tắc Thiên, Lý Ung, Trương Húc, Hàn Trạch Mộc, Hạ Tri Chương, Nhan Chân Khanh, Liễu Công Quyền, Đỗ Mục, Cao Nhàn… Đời Ngũ Đại với Dương Ngưng Thúc, Từ Huyễn… Đời Tống có Lý Kiến Trung, Vương An Thạch, Tô-Hoàng-Mễ-Sái (Tô Thức, Hoàng Đình Kiên, Mễ Phế, Sái Tương), Nhạc Phi, Lục Du, Vương Đình Quân… Đời nhà Nguyên có Triệu Mạnh Phủ, Tiêu Vu Khu, Nghê Tán,… Đời Minh – Thanh với những cái tên tiêu biểu như: Cha con Tống Liêm – Tống Thoại, Trần Hiến Chương, Thẩm Chu, Hình Đồng, Trương Thụy Đồ, Phó Sơn, Vương Đạc, Kim Nông, Bao Thế Thần, Hà Thiệu Cơ, Trần Diệc Hi, Tề Bạch Thạch, Trịnh Bản Kiều… Ngay cả đến thời hiện đại, số lượng thư gia cũng hết sức nhiều, có thể kể đến vài cái tên như: Trịnh Văn Trác, Tăng Hi, Hoàng Tân Hồng, Hồ Tiểu Thạch, Lỗ Tấn, Quách Mạt Nhược, Vu Hữu Nhiệm, Mã Nhất Phù,…

thu phap trung quoc 5 e1627717949872

Trên đây chỉ là vài cái tên tiêu biểu nhất của nghệ thuật thư pháp chữ Hán qua các triều đại. Kỳ thực, số lượng các nhà thư pháp Trung Hoa còn rất nhiều và ngày càng có nhiều người tiếp nối bộ môn nghệ thuật này. Điểm qua một số cái tên như vậy cũng đủ để thấy sức hấp dẫn lòng ham thích nghiên cứu, luyện tập của người Trung Quốc lớn thế nào. Thư pháp tinh tế không chỉ ở chỗ phải trải qua khổ luyện mới có nét chữ đẹp, có hồn, mà nghệ thuật “cho chữ” cũng là một nét văn hóa. Chữ được viết ra là kết tinh của những năm tháng khổ luyện không ngừng của người viết, nó còn thể hiện cảm xúc, tình cảm và suy nghĩ của người tạo chữ. Chính vì thế, việc cho chữ cho ai cũng là điều mà các thư gia hết sức coi trọng, không phải ai cũng được tặng chữ. Văn hóa Trung Quốc nặng lễ nghĩa, coi trọng sách vở, chữ nghĩa, người có học luôn được trọng vọng, làm quan cũng lấy chữ nghĩa làm đầu, lời nói của người nhiều chữ rất có trọng lượng… tâm lý ấy không chỉ tồn tại trong xã hội mà ngay trong cả phạm vi gia đình truyền thống người Hoa, kẻ thất học không bao giờ được xem trọng, khó có thể thay đổi địa vị của mình. Mặt khác, viết thư pháp lại được xem là nghệ thuật của chữ nghĩa, do đó người viết cũng không thể tặng chữ mình cho đối tượng mình không xem trọng. Rất khó để có thể ép một thư gia viết chữ khi tâm họ không mong muốn, vì khi đó nét chữ sẽ không đẹp vì tấm lòng không thỏa mãn. Truyền thống từ ngày xưa để lại, các nhà thư pháp chỉ tặng chữ chứ không đem ra bán như bây giờ, họ cũng chỉ tặng anh em, bạn bè thân hữu mà họ quý mến, tuyệt đối không cho chữ tùy tiện. Người được tặng chữ phải là người có học, biết quý trọng và nâng niu chữ mình được tặng. Người Trung Quốc thường treo chữ thư pháp ở giữa gian phòng khách, hay bên cột nhà chính, hay trước cửa, cổng nhà, đình, thể hiện sự trang trọng, đề cao chữ được tặng, xem chữ là một vật quý giá trong nhà, ở những vị trí đặc biệt quan trọng trong không gian sống.

Trên đây là một vài nét về nghệ thuật thư pháp của Trung Hoa. Nếu du khách là người yêu thích môn nghệ thuật  tinh túy này thì hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc để có cơ hội khám phá nhé! Chúc các du khách có một chuyến đi vui vẻ và thú vị!

gia toc nuu ho loc thi 3

Chuyện về gia tộc Nữu Hỗ Lộc thị có nhiều Hoàng hậu, Phi tần nhất Thanh triều

Dù không phải gia tộc có nhiều quyền lực trên chính trường, nhưng trong nhiều đời Hoàng đế Thanh triều, gia tộc Nữu Hỗ Lộc thị được xem là xuất sinh nhiều Hoàng hậu, phi tần của nhà Thanh. Trong đó, cái tên nổi bật xuất thân từ gia tộc này phải kể đến là Từ Hi Thái hậu.

Trong lịch sử Thanh triều, nhiều Hoàng đế khi đã nắm giữ ngai vàng vẫn phải đối mặt với nhiều thế lực chống đối, luôn tìm cách lật đổ. Bởi vậy, việc có được một gia tộc nhà vợ hùng mạnh, Hoàng đế sẽ có thể củng cố quyền lực, ngồi vững vàng trên ngôi vị cửu ngũ chí tôn. Như vậy, để lựa chọn một phi tần đưa lên ngôi vị “mẫu nghi thiên hạ”, Hoàng đế phải nhìn vào gia thế của nhà vợ. Từ đó có thể rút ra rằng, phi tần nào có gia tộc hùng mạnh chống lưng thì ắt sẽ được ưu tiên phần nào trên con đường tranh sủng. Đối với những gia đình nhà vợ này, Hoàng đế năm phần nể trọng, năm phần lo sợ.

gia toc nuu ho loc thi 1 e1627714377403

Cũng bởi được Hoàng đế sủng ái, gia tộc hiển hách, nắm trong tay nhiều quyền lực mà không ít người khi lên được ngôi vị đứng đầu hậu cung liền kéo bè kết phái, chèn ép người khác. Điều này khiến cho hậu cung dậy sóng, tạo nên nhiều áp lực cho Hoàng đế. Không dừng lại ở đó, khi thấy người nhà trở thành Hoàng hậu, nhiều mẫu tộc làm tới, lấn lướt làm lũng đoạn chính trường, gây hại cho quốc gia.

Bởi vậy, đến giai đoạn nhà Thanh, dù hôn nhân vẫn mang tính chính trị, ràng buộc, giúp đỡ lẫn nhau này vẫn tồn tại, song, bởi nhận thấy mặt hại của các mẫu tộc hùng mạnh mà rất nhiều đời Hoàng đế Mãn Thanh đều có xu hướng kết nạp nhiều phi tần chỉ thuần với mục đích duy trì nòi giống. Điều này giúp cho Hoàng gia vẫn có được con đàn cháu đống mà không phải vì quyền lực mà nể mặt bất cứ ai. Theo đó, họ sẽ chọn những nữ nhân có xuất thân trong sạch, nhưng mẫu tộc lại không có quá nhiều quyền lực trên chính trường.

mai quy phi tu giai thi 4 e1627714563620

Các Hoàng đế triều Thanh nếu ân sủng một phi tần nào đó còn có thể nâng tước vị cho họ trở thành Hoàng hậu. Ưu điểm của những phi tần không có gia thế là họ sẽ công bằng nghiêm minh, không có sự thiên vị, hống hách, kết bè phái sau lưng Hoàng đế. Điều này giúp cho hậu cung sẽ yên bình. Bởi biết gia tộc của mình hoàn toàn mờ nhạt nên nếu một Hoàng hậu, phi tần nào đó đắc tội với Hoàng đế thì sẽ dễ gây ra họa diệt vong, ảnh hưởng gia đình.

Trong số những gia tộc cao quý thuộc dạng không có quyền lực nhiều trên chính trường, nhưng lại sản sinh ra nhiều Hoàng hậu, phi tần cho các đời Hoàng đế Thanh triều, nổi lên cái tên rất nổi bật: Nữu Hỗ Lộc thị.

Nữu Hỗ Lộc thị cũng gọi Nữu Hỗ Lỗ thị hay Nữu Cổ Lộc thị, là một họ của người Nữ Chân rất phổ biến triều nhà Thanh. Độ phổ biến và nối tiếng của họ này được liệt vào một trong Bát Kỳ Mãn Châu.

he thong bat ky e1627714637148

Nữu Hỗ Lộc thị được cho là khởi nguồn từ vùng núi Trường Bạch, thuộc tỉnh Cát Lâm ngày nay, giữa hai con sông Tùng Hoa và Mẫu Đơn. Theo những ghi chép trong gia phả thị tộc, phả hệ được truy về Sách Hòa Tế Ba Nhan, ông tổ 6 đời của Ngạch Diệc Đô, thành viên Nữu Hỗ Lộc thị nổi tiếng đầu tiên được ghi lại trong tài liệu lịch sử đời Thanh. Với sự hỗ trợ đắc lực của Ngạch Diệc Đô và thị tộc Nữu Hỗ Lộc, Nỗ Nhĩ Cáp Xích lần lượt thống nhất được các bộ tộc Nữ Chân để hình thành nhà nước Hậu Kim. Khi hệ thống Bát Kỳ ra đời, để tưởng thưởng cho lòng trung thành và công lao của Ngạch Diệc Đô, Nỗ Nhĩ Cáp Xích đã xếp Nữu Hỗ Lộc thị thuộc vào Tương Hoàng kỳ, trong nhóm Thượng Tam Kỳ, biến thị tộc này thành một trong những thị tộc có thế lực nhất trong Bát Kỳ. Đến thời cực thịnh nhất của nhà Thanh, hầu như các kỳ trong Bát kỳ đều có các thành viên của Nữu Hỗ Lộc thị giữ những vị trí trọng yếu.

gia toc nuu ho loc thi 2 e1627714534536

Trong đời nhà Thanh, Nữu Hỗ Lộc thị là gia tộc vinh hiển nhất, mệnh danh “Danh môn trung danh môn”. Đồng thời, Nữu Hỗ Lộc thị cũng là gia tộc xuất sinh nhiều Hoàng hậu, phi tần của nhà Thanh nhất, với cả thảy 6 phi tần và 6 vị Hoàng hậu (bao gồm cả trường hợp được con trai sau khi lên ngôi hoàng đế truy phong cho mẹ mình). Bao gồm: Triều đại Hoàng Thái Cực (Thanh Thái Tông): Thái Tông nguyên phi; Khang Hi (Thanh Thánh Tổ): Hiếu Chiêu Nhân hoàng hậu (kế hậu); Ôn Hy Quý phi (em gái Hiếu Chiêu Nhân hoàng hậu), Thánh Tổ Thứ phi; Ung Chính (Thanh Thế Tông): Hi Quý phi (mẫu thân của Càn Long, truy phong là Hiếu Thánh Hiến hoàng hậu); Gia Khánh (Thanh Nhân Tông): Hiếu Hòa Duệ hoàng hậu (kế hậu), Cung Thuận hoàng quý phi; Đạo Quang (Thanh Tuyên Tông): Hiếu Mục Thành hoàng hậu (là phúc tấn lúc Đạo Quang còn là hoàng tử, về sau truy phong hoàng hậu), Hiếu Toàn Thành hoàng hậu (kế hậu), Tường phi, Thành quý phi; Hàm Phong (Thanh Văn Tông): Hiếu Trinh Hiển hoàng hậu (kế hậu).

Lịch sử Thanh triều nói riêng và lịch sử phong kiến Trung Hoa nói chung luôn có những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện ấy lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về vùng đất “đặc biệt” này. Hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc để tự mình khám phá được nhiều điều thú vị hơn nhé!

mai quy phi tu giai thi 4

Mai Quý phi Từ Giai thị – Vị phi tần duy nhất sống qua 4 đời nhà Thanh

Trong lịch sử hậu cung nhà Thanh có vô số phi tần bị giáng chức, nhưng những người bị giáng làm cung nữ thật sự rất hiếm hoi, một trong số đó là Mai Quý phi Từ Giai thị. Tuy nhiên, sau khi giáng chức, Từ Giai thị lại có cơ hội trở mình, một lần nữa được phong phi, trở thành vị phi tần đặc biệt sống qua 4 đời nhà Thanh.

Mai Quý phi Từ Giai thị là một phi tần của Thanh Văn Tông Hàm Phong Hoàng đế. Bà sinh ngày 5/8 (âm lịch) năm Đạo Quang thứ 18 (1839), là con gái của Từ Giai Thành Ý, từng giữ chức Lĩnh Thúc – một chức quan nhỏ trong quân đội bát kỳ. Gia tộc Từ Giai thuộc tầng lớp hạ nhân (Nội vụ phủ bao y) của Mãn châu Chính hoàng kỳ nên bà có xuất thân cực thấp kém, ban đầu chỉ là một cung nữ.

Như vậy, gia thế của Từ Giai thị không có gì đặc biệt nếu không muốn nói là vô cùng bình thường, theo đó làm mất đi lợi thế để được tấn phong ở địa vị cao hơn. Tuy nhiên bù lại Từ Giai thị nổi tiếng xinh đẹp tú lệ. Chính lợi thế này giúp bà thay đổi vận mệnh.

mai quy phi tu giai thi 3

Căn cứ tư liệu hiện có, Từ Giai thị vào năm Hàm Phong thứ 3 (1853) sơ phong Mai Thường tại (玟常在). Theo tài liệu Hồng xưng thông dụng (鴻稱通用) của Nội vụ phủ, phong hiệu “Mai” có Mãn văn là “Gehungge”, ý là “Quang huy”, “Sáng ngời”.

Nhờ được hoàng đế sủng ái, năm Hàm Phong thứ 4 (1854), bà tiếp tục được phong làm Mai Quý nhân. Tuy nhiên, đến năm Hàm Phong thứ 5 (1955), vào ngày 24/4 (âm lịch), không rõ nguyên nhân bà lại bị giáng xuống Thường tại. Chưa đầy 1 tháng sau, hoàng đế lại ra lệnh giáng bà xuống làm Quan nữ tử (cũng gọi Cung nữ tử 宮女子). Trong chiếu dụ ghi rõ, Từ Giai thị đã hành hạ cung nữ và thân mật với thái giám, cả 2 đều đã phạm đại kị trong hoàng cung. Có lẽ vì sự bất mãn khi bị giáng xuống Thường tại nên Từ Giai thị đã trút hết mọi bực tức lên các cung nữ xung quanh, phạm vào đại tội.

Chỉ trong vòng 1 tháng, Từ Giai Thị bị giáng liền 3 cấp, đang ở hàng phi tần phải xuống làm cung tỳ, hẳn trong lòng bà rất tủi nhục và phải lấy nước mắt “rửa mặt” hàng đêm. Bà biết rất rõ cơ hội có lại sự sủng ái của Hoàng đế một lần nữa là rất mong manh. Tuy nhiên, dù cơ hội nhỏ bé đến thế nào, Từ Giai thị cũng đã nắm bắt được.

mai quy phi tu giai thi 1a

8 ngày sau, Hàm Phong Đế mủi lòng, nghĩ mình đã quá nặng tay, bèn khôi phục lại thân phận Thường tại cho bà vào năm Hàm Phong thứ 6 (1856), ít lâu sau đó lại tái phong làm Quý nhân. 

Trải qua nhiều sóng gió, sau khi được tái phong, Mai Quý nhân đã lĩnh hội được thiên uy của hoàng đế nên hành sự ngày càng cẩn trọng, khéo léo hầu hạ phục tùng. Chẳng bao lâu sau đã lấy lại được cảm tình của Hàm Phong. Được tái đắc sủng, bà nhanh chóng mang long thai. Đến ngày 5/2 (âm lịch) năm Hàm Phong thứ 8 (1858), Mai Quý nhân sinh hạ hoàng nhị tử nhưng đứa trẻ chỉ sống được 3 giờ đồng hồ thì qua đời. Để an ủi bà, vào ngày 9/3 (âm lịch), Hàm Phong Đế phong bà lên làm Mai tần (玟嫔) trong cùng năm đó. Theo như sách văn phong Tần thì trước đó bà đã được phục vị Quý nhân. Ngày 24/12 (âm lịch), lấy Lễ bộ Thượng thư Chu Tôn (朱嶟) làm Chính sứ, Nội các Học sĩ Nghi Chấn (宜振) làm Phó sứ, tiến hành lễ tấn phong cho Mai tần. Sách văn viết:

“惟坤元翊治。还资襄赞之人。巽命扬休。用美柔嘉之德。芬流鸣瑀。典茂镌镠。尔玟贵人徐佳氏、敬慎持躬。谦冲蕴性。应四星而列耀。华选先膺。教九御以宣勤。芳型克树。是用晋封尔为玫嫔。申之册命。尔其含和履善。益昭雅度于珩璜。集祉延禧。永荷殊恩于纶綍。钦哉

Duy khôn nguyên dực trị. Hoàn tư tương tán chi nhân. Tốn mệnh dương hưu. Dụng mỹ nhu gia chi đức. Phân lưu minh vũ. Điển mậu tuyên lưu.

Nhĩ Mân Quý nhân Từ Giai thị, kính thận trì cung. Khiêm trùng uẩn tính. Ứng tứ tinh nhi liệt diệu. Hoa tuyển tiên ưng. Giáo cửu ngự dĩ tuyên cần. Phương hình khắc thụ. Thị dụng tấn phong nhĩ vi Mân tần. Thân chi sách mệnh.

Nhĩ kỳ hàm hòa lí thiện. Ích chiêu nhã độ vu hành hoàng. Tập chỉ duyên hi. Vĩnh hà thù ân vu luân phất. Khâm tai.”

mai quy phi tu giai thi 2

Năm Hàm Phong thứ 11 (1861), vua Hàm Phong băng hà, Hoàng đế Đồng Trị nối ngôi, hạ chỉ dụ tôn phong Mai tần là Hoàng khảo Mai phi và truy phong hoàng nhị tử là Mẫn quận vương, lúc này, bà mới 25 tuổi. Đến ngày 16/11 năm Đồng Trị thứ 13 (1874), Hoàng khảo Mai phi được hoàng đế tấn tôn là Hoàng khảo Mai Quý phi theo ý chỉ của lưỡng cung Hoàng Thái hậu Từ An và Từ Hi.

Mai Quý phi qua đời vào ngày 8/11 năm Quang Tự thứ 16 (1890), thọ 55 tuổi. Sau khi tạm an ở Điền thôn, ngày 13 tháng 4 năm Quang Tự thứ 19, kim quan của Từ Giai thị được đưa vào an táng tại Định lăng Phi viên tẩm, cùng Trang Tĩnh Hoàng quý phi Tha Tha Lạp thị.

Hậu cung Trung Hoa xưa luôn có những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện ấy lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về vùng đất “đặc biệt” này. Hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc để tự mình khám phá được nhiều điều thú vị hơn nhé!

ga an may 6

Du lịch Trung Quốc, không thể bỏ qua món “Gà ăn mày” độc lạ

“Gà ăn mày” là một món ăn rất phổ biến ở Trung Quốc và được thực khách trên khắp thế giới vô cùng ưa chuộng. Thoạt nhìn ban đầu, món ăn trông có vẻ không được bắt mắt lắm, nếu không muốn nói là hơi kì dị. Nhưng nó thực sự là một món ăn mang hương vị bản sắc Trung Quốc mà bất cứ ai cũng không nên bỏ lỡ.

Có những món ăn mà mới chỉ nghe tên gọi thôi cũng khiến người nghe cảm thấy tò mò và muốn được thưởng thức ngay lập tức. Có những món ăn có tên gọi giản dị, có món ăn lại có tên gọi đặc biệt, nghe một lần là nhớ, món “gà ăn mày” là một món ăn như vậy. Cái tên “gà ăn mày” thoạt nghe rất lạ tai nhưng là món ăn độc đáo trong ẩm thực Trung Quốc. 

ga an may 5

Món “gà ăn mày” mang hương vị thơm ngon với cách chế biến vô cùng độc đáo và cả một câu chuyện thú vị gắn liền với xuất xứ món ăn này. Món “gà ăn mày” xuất hiện từ thời nhà Thanh và cái tên “ăn mày” có liên quan đến người đã sáng tạo ra nó lần đầu tiên.

Theo sự tích kể lại thì một người ăn mày ở Hàng Châu (Giang Tô), trong cơn đói kém, đành phải liều mình bắt trộm gà ở sân vườn một nhà ven đường để xoa dịu những tiếng ùng ục phát ra từ cái dạ dày rỗng đã nhiều ngày qua. Trong khi đang nhóm lửa và chuẩn bị làm gà thì nhà vua và cận thần đi qua. Sợ quá, người ăn mày liền lấy bùn rồi bọc gà lại, ném vội vào lửa. Không ngờ, mùi thơm đã len lỏi qua lớp đất tỏa ra phưng phức thu hút sự chú ý của nhà vua dừng bước và dùng bữa cùng kẻ ăn mày kia. Thật ngạc nhiên, món ăn ngon đến mức nhà vua khăng khăng muốn biết cách chế biến món ăn này. Kết quả là món gà nướng này biến thành đặc sản quý, được đưa vào thực đơn trong cung, dùng trong các bữa tiệc tùng và cứ thế trở thành món ăn nổi tiếng cho đến ngày nay.

Mặc dù, lúc bấy giờ, nó đã trở thành món ăn quý tộc nhưng dân gian vẫn quen gọi cái tên “gà ăn mày”. Tuy nhiên, ngày nay nhiều hàng quán ở Trung Quốc lại gọi món ăn bằng cái tên mỹ miều hơn là “gà nung đất sét”.

ga an may 4

Và công thức làm món gà này cũng được chế biến cầu kỳ hơn chứ không chỉ đơn giản là đắp bùn lên con gà rồi nướng. Nó được được biến tấu với nhiều loại nguyên liệu và gia vị khác nhau, tạo nên sự lạ miệng: thịt săn chắc, vài lá sen khô, đất sét và dầu mè, và không thể thiếu là một con gà nặng hơn 1kg, là giống gà thả trong vườn.

Gà được để nguyên con, bỏ đi phần nội tạng, rồi rửa sạch bằng rượu gạo cho hết mùi tanh hôi. Sau đó đem hỗn hợp gồm hành lá, gừng, đậu tương, bột ngũ vị và vài loại thảo mộc của Trung Quốc đã được xào qua nhồi vào bụng gà để tăng vị thơm ngon, đậm đà. Sau đó lại ướp gà với nước tương, hoa hồi, dầu đinh hương, hạt tiêu, quế, muối, đường và chút bột nêm. Ướp gà trong vài giờ để các loại gia vị ngấm sâu vào thớ thịt.

ga an may 1

Công đoạn tiếp theo là bọc gà bằng lá sen trước khi bọc đất để làm sạch lớp gà và thịt phảng phất hương vị của lá sen. Thứ đất được dùng để bọc gà nhất định phải chọn loại đất sét được lấy từ khu vực ao hồ để đảm bảo độ kết dính, không quá khô hay ướt, khi nung ở nhiệt độ cao sẽ tạo nên mùi thơm vô cùng đặc biệt. Việc bọc đất cũng đòi hỏi phải rất tỉ mỉ để sao cho không chỗ nào bị mỏng quá hay dày quá khiến gà bị cháy xém hoặc không chín.

ga an may 2

Cuối cùng là cho gà lên bếp củi khô để nướng. Thời gian nướng khá lâu, có thể kéo dài tới 1-2 tiếng. Lửa ở mức vừa phải để món ăn chín dần dần. Đây cũng là bước quan trọng bởi người đầu bếp cần canh sao cho lửa không to quá. Nếu quá lửa, gà sẽ cháy sém, mất đi vị ngọt tự nhiên. Đến khi phần đất sét nứt ra, khi ấy thịt gà đã chín. 

ga an may 3

Khi chín, mùi lá sen thoang thoảng cùng các loại nguyên liệu và gia vị bên trong thấm đều vào từng thớ thịt gà nên ăn sẽ càng ngon hơn rất nhiều. Gà trở nên béo ngậy, mềm, ngọt, không hề bị khô và có mùi thơm rất hấp dẫn. Đặc biệt, tất cả xương gà đã róc hết thịt và chỉ cần dùng một đôi đũa nhỏ cũng có thể nhẹ nhàng tách riêng phần xương và phần thịt. Cảm giác, khi tách đôi con gà vàng ươm, thực khách nhẹ nhàng bóc lớp da béo ngậy rồi chấm với bát nước tương cay cay, mặn mặn, càng ăn lại càng thèm hơn nữa…

“Gà ăn mày” chỉ ăn nóng mới cảm nhận hết vị ngon, ngọt. Thực khách có thể cảm nhận được vị lá sen thoang thoảng, nấm hương, mùi thơm của tiêu, cay của ớt và miếng gà ăn không bị ngán. Món ăn này được nhiều khách du lịch nước ngoài đến Trung Quốc ưa thích. 

Hãy thực hiện một chuyến du lịch Trung Quốc đế có được một lần thưởng thức món ăn vô cùng độc đáo và đặc sắc này nhé!