Ẩm thực Phúc Kiến với các món ăn đầy đủ sắc, hương và vị

Trung Quốc là quốc gia có nền văn hóa đặc sắc. Trong nền văn hóa ấy là một nền văn hóa ẩm thực hết sức phong phú. Khác với những quốc gia khác, nền văn hóa ẩm thực Trung Hoa có sự phân chia theo trường phái, mỗi trường phái đặc trưng cho những nét đặc sắc văn hóa ẩm thực riêng của từng vùng miền. Hôm nay, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về trường phái ẩm thực Phúc Kiến.

Phúc Kiến là một tỉnh của Trung Quốc, giáp với Chiết Giang, Giang Tây và Quảng Đông. Cái tên “Phúc Kiến” xuất phát từ sự kết hợp hai thành Phúc Châu và Kiến Châu trên vùng đất này. Lịch sử của Phúc Kiến bắt đầu từ khoảng thiên niên kỷ thứ 6 TCN. Trải qua nhiều biến cố, đến nay, Phúc Kiến thuộc khu kinh tế Bờ tây Eo biển của Trung Quốc. Bề dày lịch sử góp phần tạo nên nền văn hóa ẩm thực Phúc Kiến đa sắc màu.

Về mặt địa lý, Phúc Kiến nằm ở vùng ven biển phía Đông Nam Trung Quốc. Nơi đây có nhiều vịnh và bán đảo. Địa hình ở Phúc Kiến chủ yếu là đồi núi. Khí hậu ở Phúc Kiến thuộc loại cận nhiệt đới ẩm gió mùa. Điều này đã tạo thuận lợi để ngành nông nghiệp phát triển mạnh mẽ. Nhờ đó, nông sản ở Phúc Kiến đa dạng và phong phú vô cùng. Ngoài ra, ở Phúc Kiến cũng có hệ sinh thái phong phú với khu vực rừng thường xanh lá rộng cận nhiệt, rừng mưa nhiệt đới. Địa hình và khí hậu tác động không nhỏ tới đặc trưng ẩm thực Phúc Kiến.

Cũng do sở hữu nhiều vịnh và bán đảo nên Phúc Kiến nổi tiếng với hải sản. Đặc biệt, ở Phúc Kiến có rất hiều loài cá lạ làm nên những món ăn độc đáo. Ngoài ra, Phúc Kiến sở hữu rừng núi trù phú đem lại rất nhiều sản vật quý hiếm.

Hương vị đặc trưng trong các món ăn của Phúc Kiến chủ yếu là vị ngọt, chua, mặn, thơm. Đặc biệt, người Phúc Kiến rất coi trọng màu sắc của món ăn. Các món ăn ở đây chủ yếu có màu sắc tươi sáng, bắt mắt vô cùng. 

Các món ăn của Phúc Kiến bao gồm các món ăn đến từ Phúc Châu, Tuyền Châu và Hạ Môn. Trong đó, chủ yếu là món từ Phúc Châu. Đầu bếp ở Phúc Kiến rất coi trọng về kỹ thuật nấu nướng. Ngoài ra, việc sử dụng thành thạo dụng cụ làm bếp trong chế biến là yêu cầu bắt buộc với người đầu bếp. Người Phúc Kiến cho rằng, kỹ thuật chuyên nghiệp sẽ mang đến độ ngon đặc biệt cho món ăn.

Phúc Kiến có rất nhiều món ăn ngon và nổi tiếng. Có thể kể ra như: Mì xào, Xôi Phúc Kiến, Phật nhảy tường, Súp cá viên, Vịt hầm, Tôm Kim Sa, Chả giò, Bánh Pía chà bông,…

Mì xào Phúc Kiến

Mì xào Phúc Kiến là một món ăn khá phổ biến trong ẩm thực Trung Hoa nói chung và ẩm thực Phúc Kiến nói riêng. Món ăn này luôn để lại ấn tượng khó quên, bởi hương vị đặc trưng đối với bất cứ ai có dịp nếm thử. Món mì xào này xuất hiện từ những năm của thế kỷ 19 và đã phải trải qua một hành trình khá dài mới đến được đỉnh cao của sự phổ biến như hiện tại.

Điểm đặc trưng đầu tiên mà món mì xào này mang lại đó chính là những sợi mì dai ngon. Sợi mì được làm từ trứng, vàng óng nhìn rất đẹp mắt. Sợi mì đặc biệt có chút vàng và dai ngon, có vị béo kết hợp cùng các loại nguyên liệu khác như: giá, hẹ, thịt ba chỉ, mực tươi, tôm đất, trứng, một vài bông cải và ớt chuông sẽ tạo nên những món ăn ngon khó cưỡng. Gia vị dùng trong món mì xào Phúc Kiến có chút muối, tỏi, dầu hào, nước tương, tương ớt, một chút bột bắp, một ít nước dùng (nấu từ đầu tôm, nghêu và ít cá khô).

Công đoạn để chế biến ra món ăn đặc sắc không quá khó. Đầu tiên là ngâm mì để mì sạch và mềm hơn, sau đó đổ nước dùng vào mì và nấu trong vài phút. Tiếp đó cho hải sản vào và bắt đầu đảo đều lên. Công đoạn nấu cuối cùng đó là cho những nguyên liệu khác và gia vị vào rồi đảo cho đến khi trong chảo gần cạn nước, cũng có thể thêm ít bột bắp để làm nước nước thật sánh. Vậy là món ăn này đã được nấu chín, và bây giờ chỉ cần bày ra đĩa, trang trí một chút và thưởng thức món ăn mà thôi. Mì xào Phúc Kiến được dọn lên ăn nóng cùng chút tương ớt và chanh.

Du khách sẽ thấy mình dễ dàng bị hấp dẫn ngay từ khi mì đang được xào với mùi thơm ngào ngạt. Chính từ sự hấp dẫn thú vị của nó mà du khách sẽ bị mê hoặc ngay từ lần thưởng thức đầu tiên. 

Xôi Phúc Kiến

Nếu đến Phúc Kiến, du khách sẽ được giới thiệu và nếm thử món xôi đặc trưng của người dân nơi đây, như một niềm tự hào của địa phương. 

Xôi Phúc Kiến là loại xôi mặn được chế biến từ rất nhiều nguyên liệu kết hợp lại tạo nên một hương vị tuy đậm đà nhưng vẫn dân dã và rất dễ ăn. Món xôi mặn có mùi vị thơm ngon này rất thích hợp cho các buổi tiệc, hay họp mặt gia đình.

Cách nấu xôi Phúc Kiến cũng khá đơn giản, nếp trắng ngon được vo sạch và ngâm nước trong khoảng 4 tiếng đồng hồ. Phi thơm hành tím và xào sơ phần nguyên liệu gồm có nấm mèo, lạp xưởng và tôm khô. Sau đó trộn đều phần nguyên liệu này với gạo nếp đã nở và bắt đầu hấp. Hấp xôi trong khoảng 40 phút thì mở nắp, xới đều xôi bên trong và cho thêm chút nước tương, thêm vào các loại gia vị như đường, muối và hấp thêm 10 phút cho thấm gia vị. Vậy là món xôi thơm ngon này đã được hoàn thành. Món xôi này sẽ hấp dẫn thực khách ngay từ lần đầu thưởng thức. 

Phật nhảy tường

Phật nhảy tường (hoặc Phật khiêu tường – Fo tiao qiang) là một trong những món ngon danh tiếng trong danh sách ẩm thực Phúc Kiến với lịch sử tồn tại hơn 200 năm.

Phật nhảy tường thực chất là súp vi cá của người Phúc Kiến. Đây là một món ăn bổ dưỡng do một vị bếp trưởng nổi tiếng đồng thời cũng là chủ nhà hàng Tụ Xuân Viên ở Phúc Châu, Phúc Kiến là Trịnh Thuần Phát sáng chế vào thời nhà Thanh. Kể từ khi món ăn được tạo ra, nó được xếp vào hàng “cao lương mỹ vị” trong ẩm thực Trung Hoa, bởi mùi vị đa dạng, hương vị đa dạng mà tinh tế đến nỗi dân gian truyền hai câu thơ ngụ ý đến người tu hành cũng có thể bị “cám dỗ”: “Đàm khải huân hương phiêu tứ lân / Phật văn khí thiền khiêu tường lai” (tạm dịch: Mở nắp vung, mùi hương thơm lừng bay khắp xóm / Phật ngửi được, liền bỏ thiền nhảy tường sang).

Món “cao lương mỹ vị” này không chỉ nổi tiếng vì thơm ngon mà còn nổi tiếng bởi sự đa dạng của các nguyên liệu cũng như quá trình chế biến cầu kỳ, phức tạp. Các nguyên liệu chính để chế biến ra món ăn danh tiếng này gồm tới 18 loại, chủ yếu là sơn hào hải vị như: hải sâm, vây cá mập, bào ngư, nhân sâm, gân hươu, da cá, sò điệp,… cùng các nguyên liệu khác nọa: trứng cút, thịt gà, gân heo, nấm hương, khoai môn, hạt dẻ, táo đỏ. Mỗi loại đều được hấp riêng trong một hũ sau đó cho chung vào một thố bằng đất sét nhỏ miệng, thêm rượu Thiệu Hưng để dậy mùi thơm. Ngoài ra, đầu bếp còn phải cho thêm tới 30 thành phần và 12 gia vị khác như quế, gừng, lát,… thiếu một nguyên liệu cũng có thể khiến món ăn kém hấp dẫn. Sau đó, đầu bếp đậy kín thố đất cẩn thận bằng lá sen, hầm trên lửa nhỏ từ 5 – 6 tiếng. Trong quá trình hầm phải hạn chế để mùi thơm thoát ra. Tới khi mở ra chỉ thấy nước dùng màu nâu sánh đậm, nguyên liệu bên trong cho dù hầm rất nhiều giờ vẫn giữ được hình dáng vốn có. 

Ngoài độ ngon khó cưỡng, món ăn độc đáo này còn rất bổ dưỡng. Nhiều tài liệu cho thấy, món “Phật nhảy tường” có tác dụng tăng trí nhớ, tăng thể lực, tăng cường hệ miễn dịch, chống lão hóa, chống viêm. Bên cạnh đó, nhiều người cho rằng món ăn còn giúp đàn ông tăng cường sinh lực, tráng dương bổ thận.

Vịt hầm

Vịt hầm là món ăn ngon khá độc đáo của ẩm thực Phúc Kiến. Sở dĩ món ăn này trở nên khác biệt so với nhiều nơi vì vịt được chế biến theo phong cách ẩm thực của riêng Phúc Kiến, ít dầu mỡ và không giòn như vịt quay Bắc Kinh nên không tạo cảm giác ngấy cho thực khách.

Vịt được chặt thành từng khúc rồi hầm cùng với các loại gia vị đặc biệt và nước sốt cho nhừ và thấm đều sẽ không còn mùi tanh đặc trưng. Khi chín, thịt mềm với hương thơm khá hấp dẫn, được ăn cùng nước sốt và nước tương pha hành, tỏi, thêm chút rau gém và dưa leo tạo nên một hương vị rất lạ.

Món ăn này đặc trưng cho phong cách ẩm thực vùng Phúc Kiến với vị ngọt và sự hài hòa về màu sắc. Đặc biệt, món này không được làm sẵn, chỉ khi thực khách đặt thì đầu bếp mới thực hiện, nên món ăn lúc nào cũng thơm ngon bởi sự tươi mới.

Súp cá viên

Phúc Kiến nổi tiếng với nhiều món ăn từ hải sản và món Súp cá là một đặc sản nằm trong số đó. Cá sau khi tách xương thì được băm nhuyễn, ướp thêm muối, nước gừng rồi nặn thành viên vừa ăn. Xương cá được dùng để ninh lấy nước. Món ăn này giữ được vị ngọt của cá mà lại không bị tanh. Những viên cá tròn vo, mềm, hương vị đậm đà. Món ăn này rất thích hợp để ăn cùng với lẩu. 

Tôm kim sa

Ngoài món Súp cá viên, ẩm thực Phúc Kiến còn mê hoặc thực khách gần xa bởi một món ăn từ hải sản, đó là tôm kim sa.

Món ăn này được chế biến rất đơn giản nhưng hương vị của nó thì khỏi phải chê vào đâu. Tôm sú sau khi được lực chọn kĩ càng sẽ được đem đi làm sạch. Ướp tôm với các loại gia vị đặc trưng. Sau đó lăn qua một hỗn hợp lòng đỏ trứng vịt muối nghiền nhuyễn. Đem tôm này đổ vào chảo chiên giòn lên cho tới khi lớp bột bên ngoài ngả màu vàng óng. Món này ăn cùng nước chấm làm từ me. Vị mặn của trứng vịt muối, vị ngọt thanh của thịt tôm cùng vị chua của mắm me tạo nên món ăn ít nơi nào có.

Chả giò

Tại Phúc Kiến, Chả giò thường xuất hiện trên bàn ăn của nhiều gia đình, nhiều nhà hàng cũng chọn chả giò làm món khai vị. Chả giò ở Phúc Kiến có hình dạng to hơn cá viên chiên một chút, và được chiên vàng giòn hấp dẫn. Hương vị hoà quyện của xá xíu kết hợp với phần nhân bên trong tạo nên đặc trưng của món ăn. Du khách hãy nếm thử món ăn này khi có dịp đến với Phúc Kiến nhé!

Chân, cổ, cánh vịt cay

Đây là một trong những món ngon Phúc Kiến – món ăn vặt, đồ nhắm lý tưởng với mọi người. Vịt được ướp cùng hoa hồi, quế chi, các loại thảo quả cùng cách hầm truyền thống cổ truyền Trung Quốc mà thịt vịt vừa thẫm vị, vừa giữ được độ mềm của thịt mà vỏ lại giòn giòn cay cay. 

Bánh Pía chà bông

Một đặc sản nổi tiếng trong những món ngon Phúc Kiến, bánh Pía chà bông với lớp vỏ xốp ngọt dịu, nhân chà bông mặn mặn rất cuốn miệng. Đây là món ăn nhẹ mà không thể thiếu trong gia đình ở nơi đây. Vị mặn ngọt hoà quyện với nhau tạo nên sức hấp dẫn và ngon miệng của món ăn vặt này.

Nó không chỉ là món ăn nhẹ hấp dẫn mà mua về làm quà cho gia đình bạn bè và người thân cùng thử chút đặc sản nơi đây cũng là một gợi ý rất tuyệt vời.

Ẩm thực Phúc Kiến với các món ăn đầy đủ sắc, hương và vị đã hấp dẫn du khách chưa nào? Cùng du lịch Trung Quốc và ghé thăm vùng đất Phúc Kiến xinh đẹp để có cơ hội thưởng thức nền ẩm thực độc đáo ở nơi đây nhé! Chúc du khách có một chuyến đi vui vẻ và nhiều điều thú vị!

11 Nhạc cụ cổ truyền Trung Quốc

Trung Quốc có nền văn hóa đa dạng và lâu đời. Do đó, từ xa xưa nhạc cụ của Trung Quốc đã rất đa dạng và gắn liền với cuộc sống của con người.

Những nhạc cụ cổ truyền Trung Quốc bao gồm rất nhiều loại khác nhau, từ nhạc cụ dây, hơi hay gõ. Chúng được chia làm 8 loại nhạc cụ dựa trên chất liệu, tạo nên 8 loại âm sắc cho dàn nhạc, được gọi là “bát âm” (八音). 8 loại này bao gồm: kim (nhạc cụ bằng kim loại), thạch (bằng đá), thổ (bằng đất nung), ti (Nghĩa là nhạc cụ có dây; trước đây làm bằng tơ, sau đó dùng dây bằng thép), trúc (bằng tre, trúc), bào (bầu), cách (da), và mộc (gỗ). Dù vậy, vẫn có những nhạc cụ khác không được xếp vào các loại trên.

1. Đàn Tỳ Bà

Vào thời nổi tiếng tột đỉnh khoảng 1.300 năm về trước, Đàn Tỳ Bà là một nhạc cụ không thể thiếu trong cung điện triều đại nhà Đường. Thật vậy, qua hàng ngàn năm nay, Đàn Tỳ Bà ngự trị như “vua” của nhạc cụ Trung Hoa. 

Bức tranh tường cổ xưa trong các hang động Đôn Hoàng dọc theo Con Đường Tơ Lụa mô tả nhạc cụ này trong tay của các tiên nữ. Âm nhạc tuyệt trần được khảy từ những ngón tay thanh tao của họ trôi dạt xuống trần gian như hoa vẫy cánh.

Hình dạng của Đàn Tỳ Bà đối ứng với tam tài (Thiên, Địa, Nhân), ngũ hành (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) và tứ quý (bốn mùa). Chiều dài của nó là 3 thước 5 tấc (khoảng trên dưới 1m), 3 thước tượng trưng cho tam tài, 5 tấc thể hiện ngũ hành, 4 sợi dây đàn lại thể hiện cho tứ quý. 

Đàn Tỳ Bà được chế tác bằng gỗ cây ngô đồng. Cần đàn và thùng đàn liền nhau có dáng như hình quả lê bổ đôi. Mặt đàn bằng gỗ nhẹ, xốp, để mộc. Phía mặt cuối thân đàn có một bộ phận để mắc dây gọi là ngựa đàn. Âm thanh của đàn Tỳ Bà trong sáng, vui tươi, thể hiện tính chất tươi sáng và trữ tình.

Kỹ thuật gảy Đàn Tỳ Bà có độ khó khá cao với hai kỹ thuật cơ bản nhất: “Tỳ” (búng ra ngoài) và “bà” (khảy vào trong). Trên thực tế, dù vậy, hàng chục kỹ thuật (lướt – glissando), rung – vibrato), khảy – pizzicato, và luyến ngắt – portamento) được sử dụng thường xuyên, tạo cho nó trở thành một trong những nhạc cụ cổ đại khó nhất. Thân bằng gỗ của Đàn Tỳ Bà cũng có thể được gõ vào, và dây của nó được xoắn lại để tạo ra âm thanh như tiếng cymbal. 

2. Cổ Cầm

Cổ Cầm còn được gọi là dao cầm, ngọc cầm, tơ đồng hoặc thất huyền cầm, là một nhạc cụ truyền thống của tộc người Hán, đã có lịch sử hơn 3.000 năm.

Loại nhạc cụ này thuộc bộ dây dạng gảy gồm có 7 dây đàn. Cổ cầm có âm vực rộng, âm sắc sâu lắng và tiếng vọng ngân dài. Cổ cầm không chỉ đơn giản là một loại nhạc cụ dùng để biểu diễn những khúc nhạc đi vào lòng người mà âm nhạc của cổ cầm tạo một sự yên tĩnh cao thâm, diễn tấu thanh tâm, có thể thông thấu đến trời đất.

3. Đàn Cổ Tranh

Đàn Cổ Tranh còn có tên là Đàn Thập Lục, đây là một nhạc cụ dân tộc cổ đại được sinh ra và lớn lên gắn liền với nền văn hóa lâu đời Trung Hoa, có lịch sử hơn 2.500 năm. Đàn truyền thống có 16 dây nên nó có tên gọi là Thập Lục.

Đàn Cổ Tranh thường được làm bằng gỗ cây phượng. Cấu tạo của đàn gồm một hộp âm thanh hình chữ nhật và một bề mặt trong một đường cong với chuỗi chặt chẽ, đó là một bộ có 13 dây trong triều đại nhà Đường và sau đó tăng lên 16. Ngày nay, có một số loại Đàn Cổ Tranh hiện đại có đến 21 dây. Âm sắc đàn cổ tranh trong trẻo, sáng sủa thể hiện tốt các điệu nhạc vui tươi.

4. Đàn Nhị Hồ

Đàn Nhị Hồ là một trong những loại nhạc cụ thuộc bộ dây (nhạc cụ gảy) chủ yếu của Trung Hoa, đã có lịch sử hơn 4.000 năm.

Âm sắc thuộc loại âm vực trung cao, tiếng đàn êm ái du dương, cảm xúc mãnh liệt bi tráng, là một loại nhạc cụ có thể đại biểu cho lịch sử đầy biến động và tình cảm tinh tế nồng nàn của dân tộc Trung Hoa. Âm chất thường mang cảm xúc trầm lắng và bi thương.

Đàn Nhị Hồ chỉ có hai sợi dây, một sợi là sợi ngoài, một sợi là sợi trong. Sự cọ sát giữa hai sợi dây đàn có độ dày khác nhau được buộc vào trục đàn tạo nên độ rung và phát ra âm thanh. Đối với những người mới học Đàn Nhị Hồ thì hai vấn đề hóc búa là nắm vững âm chuẩn và kỹ thuật nhấn dây đàn, đặc biệt là khi chuyển từ vị trí âm vực thấp thành vị trí âm vực cao lại càng khó khống chế hơn.

5. Nguyệt Cầm

Nguyệt Cầm (Đàn Nguyệt) cũng là loại nhạc cụ thuộc bộ dây (nhạc cụ gảy). Loại đàn này có hộp đàn hình tròn như mặt trăng nên mới có tên là “Đàn Nguyệt”. Theo sách xưa, đàn nguyên thủy có 4 dây, sau rút lại còn 2 dây. Nó là một nhạc cụ quan trọng trong dàn nhạc Kinh Kịch Bắc Kinh, thường đảm nhận vai trò là nhạc cụ giai điệu chính thay cho phần dây cung.

Loại đàn này rất phổ biến dùng để độc tấu, hòa tấu với nhiều kỹ thuật chơi độc đáo như luân chỉ (vê), đàn khiêu (gảy),… Âm sắc Đàn Nguyệt tươi sáng, rộn ràng, tình cảm, đa dạng trong diễn tả các trạng thái cảm xúc âm nhạc.

6. Tần cầm

Tần Cầm là nhạc khí dây gảy, có tên gọi khác là Đàn Hoa Mai. Đàn xuất phát từ thời nhà Tần nên đàn mới có tên gọi là “Tần Cầm”. Đàn ra đời vào năm 223 TCN và chưa biết ai chế tác ra nó. Tần Cầm thường diễn tấu theo hình thức độc tấu hay hoà tấu trong các buổi lễ lớn của cung đình Trung Hoa. Nó cũng là nhạc cụ đệm hát trong Kinh Kịch hay các bài dân ca Trung Quốc. 

Tần Cầm với hộp đàn hình hoa mai sáu cánh hoặc hình lục giác, đường kính 28cm. Mặt đàn và đáy đàn làm bằng gỗ nhẹ, xốp, để mộc. Thành đàn dày 6cm, làm bằng gỗ cứng. Cần đàn dài 70cm, trên mặt đàn có 17 phím bấm. Phím đàn được gắn dựa theo thang âm 7 cung chia đều. Tần Cầm có 3 hoặc 4 trục gỗ và số dây cũng tương ứng. Dây đàn là nilon bọc thép, nó được lên cách nhau một quãng 4 hoặc quãng 5: Do – Fa – Do1 hoặc Do – Sol – Do1. 

Khi diễn tấu, nhạc công sẽ gảy Tần Cầm bằng tay không, ít khi chơi đàn với móng gảy làm từ nhựa tạo ra âm sắc trong trẻo, tươi sáng.

Các kỹ thuật chơi Tần Cầm gồm luân chỉ (vê ngón), luân chỉ hòa khiêu (gảy và vê ngón), “tỳ”, đẩy những ngón tay của bàn tay phải từ phải sang trái và có thể sử dụng một hoặc vài ngón tay theo cách đó để đánh cùng lúc nhằm cho việc tạo đa âm (ngón bật), đánh chập nhanh bằng bốn ngón tay gọi là “tảo”. Kết hợp giữa vê và đánh chập gọi là “tảo luân”.

7. Đàn Không Hầu

Đàn Không Hầu hay Đàn Không là loại đàn gảy cổ xưa của Trung Quốc đã có lịch sử hơn 2.000 năm. Ngoài sử dụng trong giàn nhạc cung đình ra, đàn Không Hầu còn lưu truyền rộng rãi trong dân gian. Thế nhưng, cây đàn cổ xưa này từ sau thế kỷ 14 đã không còn lưu hành nữa, và dần dần không còn tồn tại nữa, mọi người chỉ có thể xem hình dáng một số đàn Không hầu từ trên bích họa và chạm nổi.

Đàn Không Hầu lưu hành vào thời cổ Trung Quốc chủ yếu là đàn nằm và đàn đứng. Đàn Không Hầu có hai hàng dây, mỗi hàng 36 dây, mỗi dây đều do trụ hình chữ nhân đỡ trên hộp đàn. Do hai hàng dây đàn đồng âm với nhau, khi gảy bản nhạc có giai điệu nhanh và âm rộng, rất tiện lợi, nó có thể gảy cùng lúc bằng hai tay, lại có thể dạo và đệm nhạc trong tầm âm vừa, là điều mà các lọai nhạc cụ khác khó mà so sánh được.

8. Huyên (Sáo huân)

Huyên là một trong những loại nhạc cụ từ thời cổ xưa, đã tồn tại khoảng 7.000 năm về trước. Tương truyền, cội nguồn của Huyên là công cụ của người đi săn có tên là “Đá Sao sa”. Ngày xưa, người ta thường thường buộc hòn đá hoặc hòn đất lên một sợi dây rồi ném chim ném thú, có hòn đá bên trong rỗng, khi ném gió lùa vào có thể phát ra âm thanh. Mọi người cảm thấy thú vị liềm đem thổi chơi. Sau này, mọi người thấy thú vị, bèn lấy quả bóng đó thổi chơi, sau đó dần dần nó trở thành một nhạc cụ.

Khoảng 4.000 đến 5.000 năm trước, Huyên đã phát triển từ có 1 lỗ âm thành có 2 lỗ âm, có thể thổi ra 3 âm điệu. Đến thời Xuân Thu, Huyên đã có 6 lỗ âm, có thể thổi ra 7 âm điệu hoàn chỉnh. Âm thanh của nó rất đơn giản mà độc đáo. Lúc đầu, Huyên phần lớn được làm từ đá và xương, sau đó dần dần phát triển thành làm bằng gốm. Huyên đã đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử nghệ thuật nguyên thủy trên thế giới.

9. Địch Tử (Sáo trúc)

Địch Tử được sử dụng trong âm nhạc dân gian, opera, dàn nhạc quốc gia, dàn nhạc giao hưởng và âm nhạc hiện đại. Nó thường được chia thành khúc địch phía nam và bang địch phía bắc, ngày xưa chữ “Địch” trong tiếng Hán cổ có nghĩa là “Rửa sạch sẽ”, vì tiếng sáo rất trong rất thanh. Sáo chủ yếu được làm bằng trúc, cũng có sáo làm bằng gỗ, ngọc bích hoặc các vật liệu khác.

10. Tiêu

Tiêu là một nhạc cụ thổi rất xa xưa của Trung Hoa cổ đại và xuất hiện trong nhiều tác phẩm văn học kinh điển. Trong đó Kim Dung có nhắc đến tiêu qua 2 câu thơ của “Đông Tà” Hoàng Dược Sư:

“Đào hoa ảnh lạc phi thần kiếm

Bích hải triều sinh án ngọc tiêu”.

Tiêu thường có dạng ống trụ tròn như sáo trúc, nhưng khi sử dụng lại để theo phương dọc và thổi dọc theo thân ống. Nó có âm sắc trang nhã, mộc mạc, phù hợp để diễn tả những giai điệu trữ tình, những tình cảm sâu sắc. Hai loại tiêu phổ biến nhất là C và D (tức tiêu đô và tiêu rê), các loại tiêu trầm hơn thường không phổ biến bằng vì khó sử dụng hơn: lỗ bấm cách nhau xa hơn, thổi tốn nhiều hơi…

11. Biên chuông (chuông nhạc)

Biên chuông là nhạc cụ gõ có quy mô lớn của người Hán cổ đại Trung Hoa bao gồm một bộ chuông chùm bằng đồng. Biên chuông còn là một nhạc cụ quan trọng trong nhạc cung đình và nhạc lễ Trung Hoa từ thời cổ đại. Biên chuông được phát triển nhất trong thời đại Tây Chu. Trung Hoa là quốc gia đầu tiên sản xuất và sử dụng loại hình nhạc cụ này.

Trên đây là một số trong những nhạc cụ được sử dụng ở thời Trung Quốc cổ đại và một số nhạc cụ vẫn còn đang được sử dụng cho đến ngày nay. Các nhạc cụ này đã góp phần làm sống lại nhiều truyền thống và văn hóa của Trung Hoa. Nếu du khách là người yêu thích âm nhạc và có hứng thú khám phá các loại nhạc cụ độc đáo, hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! 

23 món ăn mỹ vị của ẩm thực Quảng Châu, Trung Quốc

Tại Trung Quốc, Quảng Châu là vùng đất có lịch sử lâu đời về ẩm thực. Ẩm thực của thành phố này là sự kết hợp hài hòa giữa hương vị của các món ăn truyền thống vùng Quảng Đông và nét ẩm thực tinh tế phương Tây. Người Quảng Châu rất chú ý đến màu sắc, hương vị và cách trình bày, đặc biệt là trong các món ăn nhẹ hay đồ ăn vặt.

Các món ăn Quảng Châu không ngừng hấp thu tinh hoa của các trường phái ẩm thực lớn ở Trung Quốc. Nguyên liệu trong món ăn chính là ngũ cốc, hoa quả với các loại rau, cá, thịt tươi mới, tất cả đều được chọn lựa rất tỉ mỉ và hơi cầu kỳ. Món ăn ở đây có đặc điểm thanh đạm là chính và rất chú trọng đến độ lửa, màu sắc, hương vị và hình dạng bề ngoài.

Đã đến Quảng Châu, du khách sẽ không thể bỏ qua việc thưởng thức 23 món ăn mỹ vị sau đây:

1. China Winter Melon

China Winter Melon là một món súp thường được ăn trong mùa hè ở Quảng Châu. Tên này xuất phát từ loại dưa mùa đông được chạm khắc độc đáo và sử dụng như một cái bát sau khi đã đun sôi và nhúng vào nước lạnh để duy trì hình dạng. Các thành phần súp có thể bao gồm giăm bông, cua, hàu, ếch, thịt gà và một chút dưa ngọt ngào.

2. Cháo Tingzai (Tingzai congee)

Tingzai congee, có nghĩa là món cháo trên thuyền. Cái tên này cũng chỉ ra nguồn gốc của món ăn: Vào thời xa xưa, món cháo này được phục vụ cho những người vạn đò ở vùng ngoại ô phía tây Quảng Châu. Vì cuộc sống bận rộn, họ chỉ có thể chuẩn bị và ăn món cháo này ở trên chính con thuyền của mình.

Cháo Tingzai sử dụng tôm hoặc cá tươi làm nguyên liệu chính, được chế biến cùng với sứa, đậu phộng chiên, trứng, hành lá và gừng. Một bát cháo Tingzai được chuẩn bị tốt phải mềm và ngọt, và chứa một hương vị đậm đặc của tất cả các thành phần được thêm vào.

Ngày nay, cháo Tingzai có thể được tìm thấy trong nhiều nhà hàng ở Quảng Châu, từ các quán ăn ven đường cho đến các nhà hàng khách sạn sang trọng, nhưng nó không còn được phục vụ trên những con thuyền của người vạn đò nữa.

3. Cháo thập cẩm

Nghe qua món ăn chẳng có gì đặc biệt, thế nhưng phải đến tận nơi một hàng cháo thập cẩm ở Quảng Châu mới nhận ra cái sự cầu kì và lý do mà du khách nhất định phải nếm thử món ăn này.

Cháo thập cẩm được nấu riêng từng tô, khi khách đến gọi món, người bán sẽ múc cháo từ nồi lớn vào từng nồi nhỏ, cho thịt heo, tim, gan, cật heo… vào nồi nhỏ, đun cho sôi cháo và chín thịt rồi đổ ra bát. Do chế biến theo kiểu thủ công thế này nên mỗi bát cháo khi dọn ra đều có độ nóng hoàn hảo, từng thìa cháo ngọt lịm, các loại thịt dùng kèm đều ở độ vừa chín tới nên giữ nguyên độ vị ngọt và độ tươi.

Cháo thập cẩm khi dọn ra hay được ăn kèm với rau, đây có thể xem là một nét lạ trong việc thưởng thức cháo của người Quảng Châu, nhưng không thể phủ nhận rằng việc dùng cháo với rau làm món ăn này ngon và bớt ngấy hơn.

4. Lẩu cháo

Nhắc đến món ăn ngon, độc đáo ở Quảng Châu thì không thể không nhắc tới món Lẩu cháo cực hấp dẫn. Món này không cầu kì như lẩu nhưng cũng không quá đơn giản như cháo. Lẩu cháo vẫn là nước dùng ninh từ gà có gừng tươi cùng các loại gia vị nhưng lạ là có gạo được ninh nhừ, trắng đục, sánh và ngọt hơn nước lẩu thường.

Khi thưởng thức lẩu cháo, thực khách cũng sẽ cảm nhận được hương vị đặc trưng của lẩu Trung Quốc, bởi trong lẩu cháo có các nguyên liệu: nấm Đông Cô, thảo quả, hạt ý dĩ, hải sâm, táo tàu, ngân nhĩ, sâm non. Những thứ này hầu hết là những nguyên liệu phổ biến được dùng để chế biến thành món Lẩu.

Với món chảo lẩu, người Quảng Châu sẽ sử dụng loại gạo tẻ thường, hạt dài và trắng muốt. Nấu gạo này phải khoảng 30 phút cho gạo mềm ra rồi mới bỏ vào ninh nhỏ lửa. Như thế gạo mới nở bung, thật nhừ và thơm.

5. Long Hu Dou

Có lẽ đây là đặc sản Quảng Châu đáng sợ nhất (ít nhất là với người nước ngoài). Món ăn này được gọi là “Long tranh Hổ đấu”, vì nó được làm từ thịt rắn và thịt mèo hoang, giống như cả rồng và hổ. Gà đen có thể được thêm vào, cho món ăn thêm một thành phần của “phượng hoàng”. Tất cả được nấu trong một món súp với nấm mùa đông và chà là.

6. Gà Taiye

Tên món “Taiye Chicken” xuất phát từ Thị trưởng của một thành phố Quảng Châu cổ đại vào thời nhà Thanh, khi ông được cho là người đã phát minh ra món ăn này. Thịt gà được luộc chín khoảng 90% trong một món súp mặn đặc biệt sau đó hun khói với lá trà đen và mật ong. Sau đó, món ăn được làm lạnh, cắt lát và nấu tiếp trong một số món súp đặc biệt với mật ong để tăng thêm vị mặn và ngọt.

7. Gà trắng

Gà trắng là một món ăn cực kỳ đơn giản nhưng tươi ngon trong ẩm thực Quảng Châu. Gà đơn giản được luộc không thêm gia vị hoặc hương vị trong 15 phút. Bí quyết là sử dụng một con gà hữu cơ địa phương với hương vị tự nhiên của nó. Sau khi hoàn thành, dầu đậu phộng, gừng và hành lá được thêm vào chỉ để tạo ra một mùi vị rất nhẹ. Thịt gà thơm,mềm, ngọt sẽ khiến thực khách mê mẩn.

8. Kao Ru Zhu

Kao Ru Zhu (Heo sữa quay) là một món ăn ngon và thường góp mặt trong các bữa tiệc tại Quảng Châu trong hơn 1.400 năm qua. Theo ghi chép, heo sữa quay là món chính trong bữa tiệc nổi tiếng mang tên Mãn Hán toàn tịch, tức tiệc triều đình Hán Thanh, do vua Khang Hi tổ chức, với các món ăn cả Mãn và Hán.

Theo các đầu bếp Quảng Châu, chế biến heo sữa quay rất khó. Phải mất tới 3 năm học nghề mới có thể làm được. Tuy nhiên, cách chế biến món heo sữa quay có thể tóm tắt ngắn gọn như sau: Chọn một con heo sữa nặng khoảng 5kg. Nhúng vào nước lạnh và xẻ bụng làm đôi. Lọc tách bỏ xương. Nhồi gia vị vào trong con heo và ướp trong khoảng nửa tiếng, sau đó treo lên cho ráo nước. Nhồi tiếp gia vị vào trong con heo và để thêm 20 phút. Dội nước sôi bên ngoài cho tới khi da và thịt săn chắc lại. Xiên heo vào que và mang đi quay. Món ăn được coi là hoàn chỉnh là heo sữa có màu vàng đẹp mắt cũng như kết cấu da giòn, thịt mềm và ngọt thơm.

9. Ngỗng quay

Nếu du khách đã từng nghe hoặc từng thử qua món vịt quay Bắc Kinh trứ danh, thì ngỗng quay ở Quảng Châu cũng rất đáng để thử. Món ăn này được làm bằng cách quay nguyên con ngỗng đã được tẩm ướp gia vị trong lò than ở nhiệt độ cao. Ngỗng quay đạt chất lượng cao sẽ có màu đỏ với lớp da giòn rụm, lớp thịt ngon ngọt, béo ngậy, mềm và mọng nước. Những lát ngỗng quay có thể được ăn kèm với nước sốt mận. Những miếng thịt ngỗng quay vàng ươm, thơm phức, ngọt thơm, béo ngậy cùng loại nước sốt chua chua ắt hẳn sẽ chinh phục khẩu vị của bất kỳ thực khách nào.

10. Đầu vịt sốt ngũ vị

Đầu vịt những tưởng là phần xương xẩu, khó ăn, ấy vậy mà ở Quảng Châu nó lại là món ăn rất được ưa chuộng. Cái ngon của đầu vịt chính là những kẽ thịt ngọt ở phần xương xẩu ấy và các phần như óc, lưỡi… Tất cả đều có vị hấp dẫn khó tả.

Để chế biến món này, người đầu bếp phải chiên đầu vịt trong chảo dầu với nhiều gừng cho chín. Sau đó, xóc đầu vịt với hỗn hợp nước tương và nhiều loại thảo mộc, trái cây. Đầu vịt sốt ngũ vị rất kích thích vị giác bởi độ mặn, cay, chua, ngọt hòa quyện.

11. Mì hoành thánh

Các món ăn làm từ bột không phải là điển hình của ẩm thực Quảng Châu, nhưng mì hoành thánh thì lại khá được ưa chuộng ở đây. Tương truyền, trong một lần vi hành, vua Càn Long bị lạc đường và tìm được một quán nhỏ. Rủi thay, thức ăn lại hết, chủ quán vét vội còn ít bột mì, tôm và vài quả trứng. Ông ta liền nhanh tay nhào bột và chế biến ra một món ăn chưa có bao giờ. Vua Càn Long ăn hết sạch và cảm động mà đặt tên cho món ăn như vậy.

Một bát mì hoành thánh thường bao gồm 2 phần chính là vằn thắn và sợi mì, được đựng trong một bát nước dùng nóng hổi và được trang trí cùng hẹ, trứng và hành lá xắt nhỏ. Bên trong lớp vỏ mỏng của hoành thánh, phần nhân là hỗn hợp tôm, thịt heo và trứng, hoặc thậm chí là một con tôm hoàn chỉnh. Sợi mì được làm từ bột mì và trứng và được ép bằng tre, vì vậy chúng có thường có màu vàng, khá dai và trơn. Phần nước dùng được nấu với xương heo hoặc cá, nhưng công thức chi tiết thì mỗi nhà hàng giữ bí mật riêng. 

12. Mì gạo Henfen

Mì gạo có một lịch sử lâu đời ở Trung Quốc và mì gạo Henfen cũng không phải là ngoại lệ. Là món ăn nhẹ nổi tiếng nhất ở Quảng Châu, mì gạo Henfen còn có tên khác là Shahe, được đặt tên theo ngôi làng nơi đầu tiên sáng tạo ra nó, thị trấn Shahe, hiện là một phần của quận Thiên Hà ở Quảng Châu.

Mì gạo Henfen có màu trắng, mỏng và hương vị trơn. Chúng thường được xào với thịt (thịt bò trong hầu hết các dịp) và rau, nấu với lát cá và rau cùng với súp, hoặc ăn lạnh với nước trái cây hoặc rau. 

13. Sò điệp nướng phô mai

Sò điệp cắt bỏ phần lưỡi (có màu đỏ nhạt), rửa sạch, cho vào nồi nước sôi, chần qua, sau đó ướp sò với một chút mì chính, 3 thìa cà phê dầu ăn, và hành khô băm nhỏ. Sau đó xếp thịt sò vào vỏ của nó (mỗi vỏ khoảng 3-4 con) cho vào lò nướng. Khi thấy sò ngả màu vàng, có mùi thơm ta nhấc ra và cho lên bề mặt một lá pho mai rồi lại cho vào lò nướng tiếp cho đến khi thấy mùi thơm, pho mai chảy ra và ngả màu vàng là được. Người Quảng Châu thường ăn chúng khi còn nóng và dùng làm món chính trong bữa ăn.

14. Bánh cuốn

Bánh cuốn là món ăn lâu đời và được cả nền ẩm thực Trung Hoa ưa chuộng. Tại Quảng Châu, bánh cuốn xuất hiện từ lề đường, xe đẩy cho đến nhà hàng sang trọng. Đây cũng món ăn sáng hay ăn khuya quen thuộc của người Quảng Châu, bởi ít tinh bột, nhẹ bụng.

Phần quan trọng nhất của bánh cuốn là phần nhân bánh rất đa dạng, khi thì thịt bò, thịt gà, tôm,… đa số sẽ được xào sơ với gia vị cho đậm đà. Bánh cuốn có rất nhiều cách ăn và cách chế biến, nhưng tựu chung vẫn phải đảm bảo vỏ bánh mỏng, dai mềm vừa đủ, nhân đậm vị, nước sốt mặn mòi. Một phần bánh cuốn ngon nhất định phải còn nóng hổi, bởi thế nên nhiều nhà hàng khi dọn ra cho khách vẫn đặt bánh trong chõ tre, khi ra đến bàn thì mở vung và khói tỏa ra nghi ngút. Cắn vào miếng bánh như vậy, thực khách sẽ cảm thấy được cái thơm ngọt của bột gạo, vị mặn mòi của nhân. 

15. Phở cuốn hấp

Phở cuốn hấp có nguồn gốc ở Quảng Châu và đã trở lên phổ biến từ rất lâu. Vào khoảng một thế kỷ trước, món ăn này còn được bán rong trên bằng tiếng rao của những người bán bán phở cuốn hấp trên đường phố Quảng Châu.

Phở cuốn hấp với phần nhân được cuộn lại trong một lá phở mỏng. Phần lá phở được làm làm từ bột gạo xay nhuyễn và hấp chín trên những tấm vải mỏng, song chúng không được cắt thành sợi mà được tách thành từng lá phở mỏng lấp lánh. Sau đó, những người đầu bếp sẽ gói phần nhân chứa đầy thịt heo, thịt bò, tôm hoặc các nguyên liệu khác trong lá phở và cuộn lại. Khi ăn, người ta đổ ngập nước tương ngọt lên các cuốn phở cuốn hấp sáng lấp lánh. Chính vì thế, món ăn này có hương vị khá đậm đà, độc đáo.

Ở Quảng Châu, phở cuốn hấp là một món ăn giản dị rất phổ biến. Nó được phục vụ ở khắp mọi nơi, từ các nhà hàng khiêm tốn đến bữa sáng tự chọn được phục vụ trong khách sạn.

16. Dim Sum

Dim Sum là món ăn khá nổi tiếng của Quảng Châu, món ăn này bao gồm những phần ăn nhỏ với các món như bánh chiên, bánh hấp, cháo rắn và thường dùng với trà. Dimsum có nhiều tại Trung Quốc, nhưng món ăn này ở Quảng Châu đặc biệt hơn ở chỗ người ta sử dụng bột gạo và rau có tại địa phương chứ không sử dụng bột mì như nhiều nơi. Hương vị đa dạng và hấp dẫn của món ăn, khiến nhiều người thích thú.

17. Bánh Yujiao

Món bánh này có hình dáng như một chiếc tổ ong với hình khối bầu dục, bao bên ngoài là vỏ khoai môn giòn tan. Vỏ khoai môn làm bằng cách bào khoai ra thành dạng sợi thật nhuyễn rồi bao lấy nhân, thế nên sau khi chiên, vỏ ngoài có dáng vẻ xù xì lỗ rỗ, cắn vào giòn tan rất hấp dẫn. Nhân bánh là hỗn hợp thịt heo, tôm, nấm mèo đen và trứng. Chiếc bánh ngon phải đảm bảo được sự giòn tan ở phần vỏ bánh nhưng trong thì mềm bùi đúng kiểu khoai môn, phần nhân thịt đậm đà, chín tới. 

18. Bánh trứng

Bánh trứng thực sự được biết đến lần đầu tiên tại Quảng Châu vào những năm 1920 trong Chiến tranh thuốc phiện đầu tiên. Đây được coi như là sự hợp nhất giữa văn hóa phương Tây và Trung Quốc, phong cách và công thức bánh trứng đã thay đổi trong nhiều thập kỷ.

19. Bánh Pantang

Xuất phát từ cái tên của ngôi làng nơi sản xuất hạt dẻ nước tốt nhất, Pantang chắc hẳn sẽ là món ăn độc đáo chinh phục mọi thực khách. Cách làm bánh hạt dẻ nước khá đơn giản, chỉ cần trộn bột hạt dẻ với nước đường và hấp chín. Pantang thường được cắt thành lát hình vuông và hấp hoặc chiên trước khi phục vụ.

Món bánh này khá mềm, song vẫn giữ được hình dạng của nó khi thưởng thức. Bánh thường có màu nâu vàng, vị trơn, tươi và ngon, đậm đà hương vị hạt dẻ. Đôi khi, bánh còn có hạt dẻ xắt nhỏ nhúng vào từng kiếng vuông. Nếu du khách muốn có trải nghiệm tốt nhất với món ăn này tại Quảng Châu, hãy thưởng thức Pantang vào một buổi sáng nhé!

20. Jiang Zhuang Nai

Đây là một món tráng miệng được làm từ sữa và nước gừng. Cái tên “Jiang Zhuang Nai” trong tiếng Trung có nghĩa là sự hòa quyện giữa gừng và sữa ở dạng thạch. Sữa gừng Shawan là một món ăn nhẹ nổi tiếng của quận Panyu với lịch sử hơn 100 năm. Gừng trong y học Trung Hoa là một vị thuốc rất tốt cho dạ dày, lá lách và cũng có chức năng trừ phong, giải cảm lạnh. Kết hợp với sữa trâu giàu dinh dưỡng, sữa gừng mang nhiều lợi ích cho sức khỏe. Món ăn nhẹ này phù hợp uống vào những ngày đông lạnh giá, có tác dụng bồi bổ cơ thể, làm ấm tức thì.

21. Sữa trứng 2 lớp

Tương tự như bánh Pudding hoặc bánh Flan, sữa trứng hai lớp là một món tráng miệng rất đơn giản nhưng ngọt ngào, được làm từ sữa tươi, đường và lòng trắng trứng. Tại Quảng Châu, sữa trứng hai lớp là món tráng miệng được ưa chuộng nhất đối với các cô gái trẻ, và nó cũng là một món ăn ngon, bổ dưỡng và dễ tiêu hóa cho mọi người khác. Một bát sữa trứng có mùi thơm và hương vị tinh tế.

Đúng như tên gọi của nó, món tráng miệng này có hai lớp: Sữa được đun kĩ với một lớp đường và bên trên là hỗn hợp sữa và lòng trắng trứng. Sữa trứng 2 lớp khá mềm, có vị thơm ngọt, mềm mịn, dinh dưỡng phong phú và có hiệu quả trong việc chăm sóc da, bổ phổi. Khi thưởng thức, thực khách có thể thêm trái cây, hạt sen, nho khô hoặc đậu đỏ để ăn kèm. 

22. Quy phục linh

Quy phục linh hay còn gọi là quy linh cao, là một món ăn đặc sắc của người dân Quảng Châu. Đây là món ăn dược thiện, thành phần nguyên liệu bao gồm: bột mai rùa, thổ phục linh và một số loại thảo dược khác như: vỏ quế, cam thảo, trần bì, bồ công anh, sanh địa,… Có thể dùng quy phục linh với trái cây như một món tráng miệng, ăn vừa mát vừa lạnh rất ngon. Đây còn là món ăn giúp thanh nhiệt, tiêu mụn, dưỡng nhan nhuận trường và có tính giải độc.

23. Kem dừa Shunnj

Shunji là một thương hiệu kem lâu đời ở Quảng Châu. Trong đó, món nổi tiếng nhất là kem dừa, được phát minh đầu tiên bởi một nhà cung cấp có tên Lv Shun vào những năm 1920 bằng cách sử dụng nước dừa, sữa trâu tươi, trứng và đường trắng. Món kem này không chỉ bắt mắt mà còn mang mùi dừa tươi vô cùng đậm đà với hương vị riêng biệt. Nhiều vị khách vinh dự và nguyên thủ quốc gia từ nước ngoài khi đến đây đã thử thưởng thức món kem này và thực sự thích thú khi nếm thử nó.

“Muốn ăn ngon thì đến Quảng Châu” – quả thực, Quảng Châu không chỉ là thiên đường mua sắm, mà còn là thủ đô của ẩm thực Trung Hoa. Các món ăn ở đây chính là sự kết hợp hoàn hảo giữa hương vị truyền thống và hiện đại thông qua quá trình hội nhập của thành phố. Nếu có dịp du lịch Trung Quốc và ghé thăm Quảng Châu, du khách đừng quên thưởng thức những món ăn đặc sản của vùng đất sôi động này nhé! Chắc chắn đây sẽ là một trải nghiệm thú vị mà du khách lòng quên được!

Hoàng đế Khang Hy từng khiến hàng ngàn cung nữ phải bỏ mạng

Khang Hy là vị vua thứ 4 của nhà Thanh. Ông được đánh giá là một minh quân thông minh lỗi lạc giúp vương triều hưng thịnh. Ông cũng là người đã tìm ra phương pháp trị bệnh đậu mùa, nhưng để có được kết quả đó, hàng nghìn cung nữ đã phải bỏ mạng.

Thanh Thánh Tổ (4/5/1654 – 20/12/1722), Hãn hiệu “Ân Hách A Mộc Cổ Lãng hãn”, Tây Tạng tôn vị “Văn Thù Hoàng đế”, là vị hoàng đế thứ tư của nhà Thanh và cũng là một trong những vị vua có thời gian cai trị lâu nhất trong lịch sử Trung Hoa (tại vị trong 61 năm – từ năm 1661 đến năm 1722). Trong thời gian trị vì, ông dùng niên hiệu “Khang Hy”, nên thường được gọi là Khang Hy Đế.

Trong lịch sử nhà Thanh, Khang Hy được đánh giá là vị hoàng đế tài ba lỗi lạc nhất, là người đã thiết lập sự thịnh trị kéo dài 134 năm của nhà Thanh sau một loạt các cuộc chiến tranh và những chính sách tích cực khiến dòng họ Ái Tân Giác La giữ vững ngôi vị hoàng đế Trung nguyên. Ông được đánh giá là một trong những vị hoàng đế vĩ đại nhất lịch sử Trung Quốc và được xưng tụng là “Khang Hy Đại đế”. Dưới thời cai trị của ông, Đế quốc Đại Thanh đã hoàn thành thống nhất và kiểm soát toàn bộ lãnh thổ Trung Hoa, Mãn Châu, Đài Loan, nhiều phần của vùng Cận Đông nước Nga, bảo hộ Mông Cổ và Triều Tiên.

Ngoài những thành công về mặt chính trị, Khang Hy Đế còn có những đóng góp về mặt y học, được người đời sau ca ngợi. Điển hình như việc tìm ra phương pháp trị bệnh đậu mùa, nhưng để có được kết quả đó, hàng nghìn cung nữ đã phải chết thảm.

Vào thời kỳ Khang Hy, đậu mùa là một căn bệnh nguy hiểm chết người, người nào mắc bệnh này coi như cầm chắc cái chết trong tay. Căn bệnh này được phát hiện vào thời nhà Tấn và cho đến nhà Thanh cũng chưa có ai có thể tìm ra được phương pháp điều trị bệnh.

Nhưng, trước khi đánh bại nhà Minh, tiến vào Trung nguyên, người Mãn Thanh chưa từng mắc chứng bệnh này. Chỉ đến khi nhập quan, người Mãn Thanh mới mắc bệnh đậu mùa, chính vì thế họ luôn cho rằng chính người Hán đã lây căn bệnh độc hại này cho họ, nên vô cùng căm hận. Người Mãn Thanh đã đuổi hết những nhà có người bị bệnh đậu mùa ra khỏi kinh thành. 

Khang Hy Đế lúc nhỏ cũng từng bị đậu mùa, nhưng do không bị quá nặng nên vẫn sống sót nhưng vào lúc đó, mọi người lại không nghĩ như vậy. Khi đó, Thuận Trị Đế cho rằng Khang Hy mắc đậu mùa mà không chết, chứng tỏ số mệnh của ông là số đại quý, nên đã quyết định lập ông là người kế vị.

Sau khi Khang Hy kế vị, do nhiều người Mãn Thanh mắc bệnh đậu mùa, nên ông muốn tìm ra phương thuốc hiệu quả giúp cứu sống nhiều người. Vì vậy, ông ra lệnh cho các thái y trong cung tìm kiếm cách chữa khỏi căn bệnh này.

Về sau, Hoàng đế Khang Hy biết đến phương pháp “lấy độc trị độc” trong điều trị bệnh tật và cho rằng cách này có thể chữa tận gốc bệnh đậu mùa. Vậy nên, ông quyết định giao cho thái y dùng phương pháp tàn khốc trên để trị bệnh đậu mùa. Thái y chọn các cung nữ từ 16 đến 50 tuổi, nhốt bọn họ lại trong một căn phòng, sau đó dùng phương pháp lây nhiễm bệnh đậu mùa, nhưng chỉ có 13 người cung nữ bị nhiễm bệnh. 

Khang Hy Đế lại ra lệnh đưa 13 người cung nữ đến một nơi khác, bắt đầu dùng một loại thuốc độc đưa vào cơ thể của họ nhưng cuối cùng 13 người cung nữ kia cũng mất mạng. Khang Hy Đế vẫn không bỏ cuộc và tiếp tục sử dụng biện pháp trên. 3 năm sau, Khang Hy Đế mới phát hiện ra loại thuốc để điều trị bệnh đậu mùa. Trong thời gian 3 năm đó, có hàng ngàn cung nữ bỏ mạng, họ đều vừa bị bệnh đầu mùa vừa bị nhiễm chất độc vào trong người nên đã mất mạng. Điều đáng nói là những cung nữ đó đều là người Hán.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về lịch sử triều đại của một đất nước đông dân nhất thế giới này. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn thì hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! Chúc du khách có một chuyến đi vui vẻ và thú vị!

Khám phá trường phái ẩm thực Sơn Đông

Ẩm thực Trung Hoa được chia thành 8 trường phải lớn với những đặc trưng riêng về món ăn, cách chế biến và hương vị bao gồm: Sơn Đông, Quảng Đông, Tứ Xuyên, Hồ Nam, Phúc Kiến, Chiết Giang, Giang Tô và An Huy. Trong đó, trường phái ẩm thực Sơn Đông được coi như đệ nhất ẩm thực Trung Hoa với sự tinh túy và phát triển lâu đời.

Sơn Đông, một tỉnh ven biển phía Đông của Trung Quốc, phía hạ lưu sông Hoàng Hà. Địa hình chủ yếu của Sơn Đông là đồng bằng. Phía Tây Sơn Đông là một bộ phận của bình nguyên Hoa Bắc rộng lớn. Trung bộ Sơn Đông lại có địa hình núi non. Đông bộ là bán đảo Sơn Đông nhiều đồi núi kéo dài ra biển. Bán đảo này tách Bột Hải và Hoàng Hà. Địa hình thuận lợi này giúp khí hậu ở Sơn Đông ấm áp. Không những vậy, đất đai cũng được phù sa bồi đắp mà phì nhiều. Do đó, văn hóa ẩm thực Sơn Đông nổi bật với các sản phẩm làm từ lúa mì, rau củ quả đa dạng và chất lượng cao.

Dưới ảnh hưởng của các yếu tố lịch sử, văn hoá, địa lý, kinh tế và những phong tục địa phương của bán đảo Sơn Đông ấy, trường phái ẩm thực mang tên gọi của bán đảo này đã ra đời và phát triển và được người Trung Quốc yêu mến gọi bằng cái tên “chàng trai mạnh khỏe”.

Ẩm thực Sơn Đông bao gồm hai trường phái chính là Tế Nam và Dao Đông. Điểm đặc trưng trong các món ăn của vùng đất này là mang vị nồng đậm, nặng mùi hành tỏi, nhất là trong những món ăn về hải sản.

Người Sơn Đông có sở trường làm món canh và nội tạng động vật. Có rất nhiều biến hoá khác nhau từ thứ nguyên liệu mà người phương Tây thường bỏ đi như: dồi nhồi thịt nướng, dồi hấp, dồi quay, xào… mỗi món có hương vị và sự khoái khẩu riêng rất khó bắt chước.

Đặc biệt, họ mạnh về các món chiên rán, nướng và hấp. Bên cạnh đó, họ cũng rất chú trọng màu sắc của món ăn. Du khách sẽ dễ dàng nhận thấy các món ăn ở Sơn Đông đa phần đều có màu sắc tươi sáng. Các món ăn thường có rau và lúc nào cũng xanh mát, vô cùng bắt mắt.

Có thể nói, mỗi món ăn ở Sơn Đông đều là một tác phẩm nghệ thuật được người đầu bếp bỏ rất nhiều công sức vào đó. Dưới đây, chúng tôi sẽ giới thiệu đến du khách những món ăn ngon nổi tiếng của vùng đất này:

Gà hầm Đức Châu

Trong ẩm thực Sơn Đông, Gà hầm Đức Châu là một món ăn vô cùng nổi tiếng đã có lịch sử đã hơn 50 năm. Vào năm 1950, Tổng thống Mao Trạch Đông thưởng thức gà hầm Đức Châu và đã không ngớt lời khen ngợi nó. Sau đó, danh tiếng gà hầm Đức Châu nhanh chóng lan xa khắp cả nước.

Món gà hầm này được làm khá công phu và vẫn được thực hiện khá giống với đại đa số món ăn trong ẩm thực Sơn Đông là làm chín nguyên con. Thịt gà sẽ được hầm chung với mật ong, một chút đường và rau thì là trong nhiều giờ đồng hồ. Thịt gà sau khi hầm sẽ chín mềm, thịt mà tự tách được xương ra lại càng ngon.

Súp sữa ức gà

Có thể nói món Súp sữa là một trong những nét riêng của ẩm thực Sơn Đông mà không vùng nào khác có được. Để làm món ăn này, người đầu bếp phải khéo léo chọn ra ức gà dày thịt cùng củ mã thầy ngon thì nấu ra mới đúng vị. Hai nguyên liệu trên sẽ được tẩm ướp hỗn hợp gia vị địa phương rồi nấu chín đến khi hơi sền sệt thì đổ nước và sữa hầm liên tục trong nhiều giờ.

Khi món ăn đã hoàn thành, chúng ta sẽ có những bát súp nóng hổi với mùi thơm khó cưỡng. Món ăn này là sự kết hợp nhuẫn nhuyễn giữa vị ngọt thơm của sữa, vị thanh mát đặc trưng của củ mã thầy và sự ngọt mềm của ức gà. Nếu sử dụng món súp này đều đặn thì sức khỏe sẽ được cải thiện và nâng cao.

Đậu phụ Nhất Phẩm

Trong ẩm thực Sơn Đông, đậu phụ Nhất Phẩm là món đậu phụ thượng hạng, cao cấp nhất. Người đầu bếp phải chọn ra loại đậu phụ có cốt vừa ăn, thơm và phải dày. Kế đó, các loại nguyên liệu như sò điệp, hải sâm, măng, thịt lợn, rau củ,… được om chín tới, dậy mùi. Chúng được nhồi vào giữa miếng đậu phụ rồi thả vào hầm trong nước gà.

Mỗi miếng đậu hoàn thành sẽ mang phong vị của tất cả sản vật địa phương, quyện vào nhau để lại dư âm khó quên đối với tất cả thực khách có cơ hội nếm thử. Hiện nay đậu phụ Nhất Phẩm đã được phục vụ tại các nhà hàng cao cấp cũng như các quán ăn địa phương trong vùng. Thực khách có thể tùy theo khả năng tài chính mà chọn địa điểm thưởng thức.

Cá chép chua ngọt

Cá chép là một trong những sản vật nổi tiếng của vùng Sơn Đông. Những con cá chép này thường khá to, có lượng mỡ vừa phải. Người dân Sơn Đông xưa thường đem cá chép chế biến trong nước sốt chua ngọt để ăn chung với cơm trắng. Điểm đặc biệt của món ăn này chính là cá chép phải để nguyên con. Thông thường cá sẽ được chiên vàng trước khi đun cùng nước sốt pha theo tỷ lệ bí mật.

Ngoài món Cá chép chua ngọt, ẩm thực Sơn Đông cũng làm mê mẩn biết bao người bởi món canh cá chép, cá chép hóa rồng,… với dư vị đậm đà, khó quên.

Ốc kho

Có thể nói ẩm thực Sơn Đông được thừa hưởng nhiều sản vật đến từ sông Hoàng Hà – cái nôi của nền văn minh Trung Hoa. Từ hàng nghìn năm trước người dân địa phương đã đánh bắt thủy sản trên sông để cải thiện bữa ăn. Những món ăn này được tiếp nối qua nhiều thế hệ và dần đạt đến độ hoàn hảo. Một trong số đó chính là món ốc kho dân dã.

Theo chia sẻ của người dân bản địa, ốc sống tại khu vực sông Hoàng Hà to và ngọt thịt hơn hẳn ốc sống cả các vùng nước khác. Ốc này sau khi đánh bắt được nên chế biến ngay thành món ăn thì mới tươi, ăn vào mới ngon miệng. Các đầu bếp vùng Sơn Đông không tách thịt ốc ra mà kho nguyên con, khi ăn thực khách tự lọc lấy thịt ốc ăn cùng ớt tươi và nước sốt sánh mịn.

Khi nói về ẩm thực Sơn Đông mà không nhắc đến các món hải sản thì hẳn là một thiếu sót lớn. Có thể kể đến như ruột cá biển xào hành tỏi. 

Thêm một món ăn vô cùng bình dân của ẩm thực Sơn Đông mà du khách khó lòng bỏ qua đó là món Sủi cảo với đủ loại nhân như: sủi cảo hẹ, sủi cảo bắp cải, sủi cảo củ cải trắng.

Về các món mì, ẩm thực Sơn Đông sẽ khiến thực khách gần xa phải “ngây ngất” bởi món mì thịt heo, mì thịt bò, mì nước, mì xào,…

Ârm thực Sơn Đông tiếp tục chìu lòng thực khách bằng một số món chính tông như: dưa chua, phổ tai phá lấu, đậu hũ phá lấu, canh cà chua trứng, canh chua cay, bánh hành,…

Cũng đừng quên Sơn Đông còn nổi tiếng là vựa trái cây phong phú bậc nhất ở Trung Quốc. Táo Yên Đài, lê Lai Dương, đào Phì Thành, lựu Táo Trang, nho Đại Trạch Sơn, hành Chương Khưu, gừng Lai Vu, củ cải Duy Phường,… đều là những đặc sản nổi tiếng của nơi này. Đến Sơn Đông vào mùa hè, tức là du khách đã chọn đúng mùa quả chín để hưởng thụ. May mắn hơn, du khách còn có cơ hội tham gia lễ hội trái cây thường diễn ra ở Thọ Quang, Sơn Đông vào đầu tháng 5. Hội chợ này sẽ phô diễn những loại cây trái trĩu trịt, những giống quả lạ, đẹp và còn phổ biến khá nhiều cách trồng trọt kỹ thuật cao…

Giờ thì du khách đã phần nào hình dung và hiểu được nguyên nhân tại sao trường phái ẩm thực Sơn Đông lại được mệnh danh là “đệ nhất ẩm thực Trung Hoa” rồi đúng không nào? Chính sự bắt mắt và tươi ngon của nguyên liệu, kết hợp với phong cách chế biến phong phú đa dạng đã đưa Sơn Đông trở thành nền ẩm thực mạnh mẽ nhất Trung Quốc từ trước đến nay. Hãy thực hiện một chuyến du lịch Trung Quốc để có những trải nghiệm đầy thú vị khi khám phá nền ẩm thực Sơn Đông nhé!

Đặc sắc văn hóa tặng quà của người Trung Hoa

Quà tặng là một trong những điều gắn kết các mối quan hệ, là một cách thể hiện tình cảm giữa người tặng và người được tặng. Trong từng nền văn hoá khác nhau, văn hoá tặng quà cũng khác nhau. Văn hóa tặng quà của người dân Trung Hoa cũng có những nét độc đáo riêng.

THỜI ĐIỂM PHÙ HỢP ĐỂ TẶNG QUÀ

Theo phong tục người Trung Quốc, vào các dịp lễ kỷ niệm như sinh nhật, kỷ niệm ngày cưới, mừng thọ hay các sự kiện cần thiết như khai trương công ty, tân gia,… người Hoa thường dành tặng nhau những món quà thay cho lời chúc mừng với hàm ý cầu mong những điều tốt đẹp may mắn sẽ đến với người được nhận. Những dịp như mừng năm mới hay đám cưới cũng là những sự kiện người Trung Quốc thường hay tặng quà.

NHỮNG QUÀ TẶNG ĐƯỢC NGƯỜI HOA YÊU THÍCH 

Một món quà truyền thống mà tất cả mọi người Trung Quốc thích là phong bì đỏ gọi là “红包” (hóng bāo). 红包 là phong bì màu đỏ hình chữ nhật nhỏ chứa tiền (không có tiền xu). Đó là một món quà phổ biến được tặng trong các ngày lễ, đám cưới, lễ tốt nghiệp, cho em bé chào đời và các dịp đặc biệt khác. 

Trái cây tươi là một món quà phổ biến của Trung Quốc để cho một ai đó thấy sự quan tâm khi đến thăm bạn bè, người thân hoặc người lớn tuổi.

Các thực phẩm bổ dưỡng cho sức khỏe cũng là một lựa chọn không tồi mà người Trung Hoa thường dành tặng nhau. Từ xa xưa người Trung Quốc đã biết phối hợp các món ăn để cân bằng âm – dương, cân tính hàn, tính nóng vì thế có thể thấy người Trung rất chú trọng đến vấn đề dinh dưỡng và sức khỏe. 

Một món quà truyền thống khác của Trung Quốc là trà địa phương. Hộp trà (茶包裝盒 – chá bāo zhuāng hé) là một trong những món quà thể hiện sự thực tế, xác thực và thanh lịch. Hoặc một số vật phẩm phong thủy cũng được người Trung Quốc yêu thích.

Người Trung Hoa cũng rất thích được khách nước ngoài tặng các sản vật địa phương, như: cafe, rược, các loại bánh đặc sản,…

Quà cho người Trung Quốc có thể gói bằng giấy và nơ như bình thường. Tuy nhiên, cần chú ý một chút về màu sắc. Màu đỏ là may mắn. Màu hồng và vàng tượng trưng cho hạnh phúc. Vàng biểu trưng cho tài sản và của cải. Vì vậy, giấy gói và ruy-băng thuộc những màu này là tốt nhất.

12 THỨ KIÊNG KỴ TRONG VĂN HÓA TẶNG QUÀ CỦA NGƯỜI TRUNG HOA

Một số món đồ tưởng chừng như bình thường ở nhiều quốc gia, nhưng tại Trung Quốc lại trở thành thứ “cấm kỵ” tặng nhau.

Quả lê

Vào dịp đầu năm, việc tặng nhau những giỏ trái cây tươi là điều thường thấy, nhưng tặng trái lê lại là điều cấm kỵ. Cũng bởi theo tiếng Quảng Đông, quả lê có phát âm giống như “lei”, có nghĩa là “rời đi”, nên thứ quả này cũng bị xếp trong danh sách “đại kỵ”.

Đồng hồ

Trong tiếng Trung, câu nói “tặng đồng hồ” có phiên âm là “song zhong” đồng âm với ý nghĩa “tham dự buổi tang lễ”. Bởi vậy, việc tặng nhau đồng hồ cũng bị coi là điều kém may mắn.

Ngoài ra, đồng hồ còn là biểu tượng của thời gian. Với người lớn tuổi, việc tặng đồng hồ là điều rất cấm kỵ trong văn hóa Trung Quốc.

Ô (dù)

Trong tiếng Quảng Đông, cái ô phát âm đồng nghĩa với từ “chia xa” nên chắc chắn không phải món quà hợp lý để tặng trong ngày kỷ niệm hay lễ Valentine. Người Hoa sẽ hiểu rằng mối quan hệ giữa hai bên đã tan vỡ nếu họ được nhận một chiếc ô.

Giày

Một đôi giày da nghe có vẻ là món quà tuyệt vời, nhưng nó không phải là điều nên làm tại Trung Quốc. Từ “giày” có phát âm là “xie”, đồng nghĩa với từ “tai họa”. Vì thế, tặng giày ngụ ý với việc bạn chuyển xui xẻo của mình cho người đó hoặc mong người ta gặp điều bất hạnh. Ngoài ra, người dân còn quan niệm rằng, giày là thứ xỏ vào chân nên không phải là món quà tốt lành dành để tặng nhau, đặc biệt là vào dịp năm mới.

Ở một số địa phương, những người yêu nhau thậm chí kiêng tặng giày bởi nó mang hàm nghĩa người được tặng sẽ rời đi nơi khác và chia tay.

Theo nghi thức tang lễ của người Trung Quốc, khi trong gia đình có người qua đời, người thân sẽ mặc áo trắng và đội mũ chóp nhọn, vì vậy tặng mũ biểu thị cho điềm xui xẻo. Mũ màu xanh thậm chí còn càng là điều cấm kị bởi người Trung Quốc có câu “đội mũ xanh” ám chỉ việc bị “cắm sừng”.

Gương

Sẽ là “ý tưởng tồi” nếu dùng gương để làm quà tặng. Người Hoa quan niệm rằng, đồ vật này rất dễ vỡ nên sẽ trở thành “điềm xấu”.

Khăn tay

Trong văn hóa Trung Hoa, mọi người sẽ tặng nhau khăn tay vào ngày cuối của đám tang nên món vật này còn tượng trưng cho lời tạm biệt mãi mãi. Bởi vậy, tặng ai đó chiếc khăn tay giống như việc ám chỉ bạn đang muốn nói lời chia tay và cắt đứt mọi quan hệ.

Vật mang hình người

Theo tín ngưỡng của người Trung Quốc, tặng búp bê ngụ ý cho việc mời linh hồn xấu xa vào cư ngụ trong nhà người nhận.

Hoa cúc

Hoa cúc mặc dù nằm trong 4 loại hoa quý của Trung Quốc, là biểu tượng của giới quý tộc thì cũng không thể trở thành quà tặng. Nó mang hàm ý của sự đau buồn và cũng là loài hoa thường được mang theo khi viếng mộ.

Những vật sắc nhọn như dao, kéo

Nếu tặng ai đó món đồ sắc nhọn, người Hoa cho rằng đó là điều ám chỉ muốn “cắt đứt” mối quan hệ giữa đôi bên. Bởi vậy, du khách cần để ý món đồ mình định tặng cho một người bạn Trung Hoa nào đấy.

Không tặng thứ gì có 4 cái

Người Trung Quốc cực kỳ kiêng kị số 4. Đó cũng là lý do các tòa nhà tại đây thường không có tầng 4, 14 hay 24,… do cách phát âm đồng nghĩa với “cái chết”.

Tuy nhiên, trong trường hợp du khách trót tặng một trong số các đồ vật này cho người Trung Quốc, hãy yêu cầu họ đưa lại một số tiền nhỏ (khoảng 1 USD) và về cơ bản nó sẽ không còn là một “món quà” nữa.

Những đồ vật màu đen hoặc trắng

Đây là màu sắc thường dùng trong các đám tang của người Hoa. Bởi vậy vào ngày đầu xuân, họ sẽ tránh tặng nhau những món quà màu đen hoặc phần lớn màu trắng.

Thậm chí ngay cả với giấy gói quà hoặc phong bao lì xì họ cũng không dùng hai gam màu này. Thay vào đó, màu đỏ luôn là lựa chọn hàng đầu bởi mang ý nghĩa may mắn, thịnh vượng.

CÁCH THỨC TẶNG QUÀ

Tặng quà là cách bày tỏ tình cảm giữa người với người và sẽ là phù hợp nếu việc làm này được thực hiện một cách tế nhị, không phô trương, nhất là khi quà tặng của bạn là dành cho ai đó chứ không phải số đông. Người Trung Quốc cũng có chung quan điểm này. Một là bạn tặng một món quà cho một người nào đó ở một không gian riêng tư, hai là bạn chuẩn bị đủ quà cho tất cả mọi người trong không gian của một buổi gặp gỡ. Tuy nhiên, khi cùng bàn việc kinh doanh với nhiều người, nếu chẳng may bạn chỉ chuẩn bị một món quà thì cũng đừng lo lắng. Hãy dành tặng nó cho người có chức vụ cao nhất và nói rằng đây là món quà đại diện cho doanh nghiệp của bạn.

Khi tặng quà, bạn cũng nên đưa bằng cả hai tay và hơi cúi nhẹ người để thể hiện sự tôn trọng và thành tâm. Nếu đối tác từ chối nhẹ nhàng, hãy hiểu đó là phép lịch sự tối thiểu và thuyết phục họ bằng việc lặp lại thao tác một lần nữa. Khi ấy chắc chắn họ sẽ vui vẻ nhận món quà mà bạn đã dày công chuẩn bị. Tuy nhiên nếu người đó từ chối món quà nhiều lần, thì hãy tinh ý hiểu rằng họ không muốn nhận hoặc không thể nhận, đừng đẩy qua đẩy lại hay cố ép người đó nhận quà.

Trên đây là một số nét đặc sắc về văn hóa tặng quà của người Trung Hoa. Nếu du khách có hứng thú và muốn khám phá nhiều hơn nét văn hóa này, hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! Chắc chắn du khách sẽ có được trải nghiệm thú vị!

Người Trung Hoa quan niệm như thế nào về các con số?

Trong quan niệm của người phương Đông, con số không chỉ có ý nghĩa trong toán học. Mà nó còn là biểu tượng của quy luật ngũ hành, liên quan trực tiếp tới tài vận của mỗi người. Trong bài viết lần này, mời du khách cùng chúng tôi tìm hiểu quan niệm của người Trung Quốc về những con số là như thế nào nhé!

Vạn vật sinh ra đều gắn liền với các con số. Mỗi chúng ta sống trong vạn vật cũng đều có các con số gắn với mình. Qua thời gian nhân loại đã tổng hợp, đúc kết thành những quan niệm thể hiện qua các văn hóa vật thể và phi vật thể những công trình, kiệt tác ít nhiều có các con số gắn liền. Dưới đây là những quan niệm về các con số của người Trung Hoa:

Số 8 – số may mắn nhất theo quan điểm của người Trung Hoa

Người Trung Quốc coi con số may mắn như một tài sản quý của mình. Chính vì vậy, họ đã xây dựng lên một hệ thống ý nghĩa liên quan đến các con số. Mỗi khi có dịp quan trọng, người ta đều chú ý đến số may mắn đi kèm, ví dụ như họ mua nhà ở, chọn số điện thoại, mua xe, chọn ngày tổ chức lễ cưới,… Họ tin rằng những con số may mắn mang lại cho họ sự may mắn.

Trong văn hóa Trung Quốc, số 8 được đọc gần giống chữ “phát” – nghĩa là sự giàu có, tài lộc và thành công, nên đây được coi là số may mắn. Ngoài ra, lý do còn là số 8 có hình dạng đối xứng hoàn hảo. Trong Chiêm tinh học của người Trung Quốc, sự cân bằng hoàn hảo được coi là lý tưởng.

Ở Trung Quốc, mọi người thường chọn con số may mắn này trong số điện thoại, số nhà, địa chỉ làm ăn, mật khẩu wifi, ngày đính hôn, lễ kỷ niệm. Một vài ví dụ điển hình nhất cho quan niệm này của người Trung Quốc là: Vào năm 2003, số điện thoại +86 28 8888 8888 đã được hãng hàng không Tứ Xuyên mua trong một cuộc đấu giá đặc biệt với giá 280.000 USD. Số hiệu chuyến bay của nhiều hãng hàng không đi và đến quốc gia này thường mang theo số 8. Ví dụ số hiệu trên chuyến Thượng Hải – Toronto của Air Canada là AC88, chặng San Francisco – Bắc Kinh của United Airlines là UA888… Thế vận hội mùa hè Bắc Kinh 2008, ngày khai mạc là 20h (8h tối) 8 phút 8 giây ngày 8/8 (theo giờ địa phương). Các số điện thoại hay biển số xe có số 8 thường đắt hơn.

Số chẵn tốt hơn số lẻ

Người Trung Quốc thích sự hài hòa và cân bằng. Do đó, số chẵn thường được ưa chuộng hơn là số lẻ. Số 2 đại diện cho hài hòa, số 6 đại diện cho thành công. 

Số may mắn trong kinh doanh

Số may mắn trong kinh doanh đặc biệt quan trọng ở Hồng Kông. Ở thành phố thương mại và công nghiệp này, cạnh tranh giữa các doanh nhân, tiểu thương là rất khốc liệt. Do đó, họ thường chọn những ngày “đẹp” để khai trương cửa hàng hoặc ký hợp đồng. Nếu một ngày có số 8, đây được coi là dấu hiệu của sự may mắn. Nếu ngày có số 9, công việc làm ăn sẽ thuận lợi, dài lâu. Nếu ngày có số 6, công việc sẽ thuận lợi, phát lộc.

Những con số kiêng kị

Mỗi nền văn hóa có một con số kiêng kị khác nhau. Với người Trung Quốc, trong một số trường hợp sẽ có những lý do khác nhau do lịch sử văn hóa lâu đời và vùng miền đa dạng.

Số 1: Người Trung Hoa cho rằng vạn vật đều hài hòa, cân bằng. Do đó chúng luôn phải có đôi có cặp, song hành cùng với nhau. Chính vậy mà người Trung Quốc không thích số 1 và điều này thể hiện trong cuộc sống thường ngày của họ, ví dụ: nếu tặng quà với số lẻ trong hôn lễ hoặc mừng thọ thì đây là điều vô cùng cấm kị. Phải tặng quà thành đôi thành cặp tượng trương cho vợ chồng luôn có đôi có cặp. Đối với mừng thọ thì có nghĩa rằng tuổi thọ mãi mãi tăng lên.

Số 2: Đây là con số được coi là tốt trong hôn lễ, nhưng mà nếu là đi thăm bệnh hoặc làm tang lễ thì người ta không tặng đồ đôi. Bởi vì chẳng ai mong muốn chuyện xấu gấp đôi cả. Tóm lại, không cần biết quà tặng có số lượng, trị giá bao nhiêu nhưng phải thêm một chút số lẻ vào. Ngoài ra, người miền Bắc Trung Quốc thường dùng số 2 để hình dung những người ngốc nghếch lỗ mãng.

Số 3: Số ba hài âm với chữ “tán” trong từ “ly tán” (chia cách, chia xa), bởi vậy người Trung Quốc coi số 3 là con số không may mắn khi tặng quà cho bạn bè hoặc các cặp vợ chồng. Họ tránh tặng quà với số lượng là 3 như 3 quả cam, 3 bông hoa,…

Số 4: Đây được coi là con số đen đủi nhất trong quan niệm của người Trung Quốc. Trong tiếng Trung, số 4 có âm đọc giống như chữ “tử” có nghĩa là chết. Thêm nữa, số 4 ứng với thứ tự cuối cùng trong vòng tròn cuộc đời của mỗi con người: “Sinh – Lão – Bệnh – Tử”. Do đó, người Trung Quốc đặc biệt kiêng kị con số này. Ở nhiều ngôi nhà, khách sạn tại Trung Quốc đều bỏ qua phòng có mang số 4 và không đánh số tầng 4 mà thay bằng “3A”. Ngoài ra, khi tặng quà hoặc tổ chức các hoạt động hay sự kiện, người Trung Quốc cũng thường né tránh con số đen đủi này.

Số 5: Người Trung Quốc kị sinh con vào ngày 5/5 âm lịch. Lý do là bởi họ quan niệm số 5 là “nửa đời”, sinh ra vào ngày này thì con cái sẽ lận đận, vất vả, khó đạt được mục tiêu.

Số 7: Người Trung Quốc có câu rằng “Mùng bảy không đi, mùng tám không về”, ở đây có nghĩa là phụ nữ không được lựa ngày mùng bảy và ngày mùng tám để đi ra ngoài và trở về nhà.

Số 18: Người Trung Quốc quan niệm con gái kết hôn lúc 18 tuổi sẽ phải gánh đủ “18 kiếp nạn”.

Số 20: Vua Ngô Vương có con gái tên Nhĩ Thích từng chết vì hóc xương cá. Do đó, nhiều người Trung Quốc kiêng số 20 vì âm đọc giống từ “Nhĩ Thích” xưa kia.

Số 36: Chu Du thời Đông Ngô chết năm 36 tuổi nên nhiều vùng ở Trung Quốc rất kiêng số này. Ngoài ra, 36 được coi là giờ khắc nguy hiểm.

Số 73: Khổng Tử chết năm 73 tuổi nên 73 được coi là một cửa tử mà con người phải vượt qua. Vượt được tuổi này thì sẽ sống đến 84 tuổi.

Số 81: Nếu ai qua đời lúc 81 tuổi thì kiếp sau sẽ cực kì khổ sở, vì 9 lần 9 là 81. Khi đó, khí số đã tận, người đời sau sẽ lâm vào cảnh khốn cùng.

Số 250 cũng được xem là con số không may mắn đối với người Trung Quốc. Theo quan niệm của người dân, con số 250 đồng nghĩa với với sự sỉ nhục, mang ý nghĩa mắng chửi người đối diện. Vào thời xưa, người ta thường gọi một kẻ ngu ngốc hoặc nói chuyện không đứng đắn, làm việc không nghiêm túc, hành xử một cách tùy tiện là 250.

Du khách đã biết hết những quan niệm của người Trung Quốc liên quan đến con số chưa? Mong rằng bài viết này đã cung cấp đầy đủ những thông tin cần thiết cho du khách.

Nếu du khách muốn khám phá thêm về nền văn hóa đặc sắc của đất nước Trung Hoa rộng lớn này, hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! 

Quan niệm về màu sắc của người Trung Hoa

Trung Quốc là cái nôi của nền văn hóa Á Đông. Nền văn hóa Trung Hoa đã hình thành và phát triển hàng nghìn năm nay. Do đó, nhiều quan niệm truyền thống của người Trung Quốc vô cùng đặc sắc và khác biệt so với các quốc gia khác trên thế giới. Đặc biệt về màu sắc, người dân đất nước này cho rằng chúng luôn có sự tương quan với quy luật Ngũ hành kéo theo đó là sự liên quan về tài vận của mỗi người.

Màu đỏ

Người Trung Quốc đặc biệt yêu thích màu đỏ. Bởi trong quan niệm của họ, màu đỏ mang ý nghĩa tích cực. Màu đỏ giống với màu của máu nên thường khiến người ta liên tưởng đến sự hi sinh oanh liệt, sự trung thành.

Ngoài ra, màu đỏ là màu của lửa, đại diện cho sự ấm áp, nhiệt tình, sáng chói. Màu đỏ cũng đại diện cho những vẻ đẹp huyền ảo của cuộc sống “hạnh phúc, may mắn, thành công và sức sống mãnh liệt”. Bởi vậy, ngay cả Quốc kỳ của quốc gia này cũng đa phần toàn là màu đỏ.

Bên cạnh đó, nó còn là một sợi dây liên kết, tạo nên sự hài hòa giữa những yếu tố, sự kiện. Vì thế, trong các đám cưới hay từng lễ hội hoa đăng đèn lồng cũng được người ta sử dụng màu đỏ làm chủ đạo. Không chỉ có vậy, ngay cả những chiếc phong bao lì xì mừng tuổi trong dịp Tết Nguyên Đán cũng càng chứng tỏ cho cái sức mạnh tiềm ẩn mà màu đỏ mang lại.

Trong Kinh Kịch, màu đỏ đại diện cho tính cách nhiệt huyết, trung nghĩa, thẳng thắn như nhân vật Quan Vũ. Trong chính trị, màu đỏ đại diện cho hình ảnh người cách mạng tiến bộ, chính trực, lạc quan và trung thành. Tuy nhiên, màu đỏ vẫn tồn tại những mặt nghĩa tiêu cực, đó chính là đại diện cho sự đố kị và ghen ghét. Và trong văn hóa Trung Hoa có một điều cấm kỵ đó là dùng mực đỏ để viết tên, bởi họ cho rằng chỉ có người chết mới viết tên bằng mực đỏ; hoặc khi viết thư chia tay, chia buồn mới dùng mực đỏ. 

Màu vàng

Màu vàng hiện diện cho tiền tài và địa vị. Có nhiều quan niệm khác còn cho rằng đây là một màu đặc trưng cho sự vĩnh cửu trường tồn. Bởi thế, nhắc đến từ vàng truyền thống người ta thường liên tưởng ngay tới sắc màu của đế vương như: “Ngai Vàng” là chỗ ngồi cao quý của những bậc đế vương, thể hiện cho một quyền lực tối cao; vào thời nhà Tống (960-1279), gạch dát vàng thường được dùng để xây dựng cung điện; thời nhà Minh và Thanh, hoàng đế mặc những bộ hoàng bào lộng lẫy.

Không chỉ vậy, ranh giới giữa màu đỏ và vàng cũng rất gần nhau, chúng chỉ cách nhau bởi một “con sông” là “Da cam”. Thế nên, đôi khi người ta cũng phải giảm bớt ánh sáng để chuyển vàng thành đỏ, điều này cũng tương đồng với việc thà giảm bớt một chút tiền tài để níu chân, nâng niu hạnh phúc cũng là điều hiển nhiên. Đặc biệt, cứ mỗi lần chuyển mùa, sắc đỏ lá vàng đan xen nhau trên từng dãy phố còn khiến cho bối cảnh đậm chất phong thủy nhiều hơn.

Màu xanh

Màu xanh là màu của sự giàu có, khả năng sinh sản, sức mạnh tái tạo hay niềm hy vọng, mối quan hệ hài hòa đôi khi nó còn thể hiện cho sự tăng trưởng, tinh khiết, mạnh mẽ. Có lẽ đây chính là những lý do tại sao các ngôi nhà chọc trời thường được lắp kính trong suốt, đặc biệt là nếu ta đứng ở phía dưới thì vẫn có thể thấy được màu xanh, đơn giản bởi vì nó phản chiếu hình ảnh của một bầu trời trong xanh.

Bên cạnh đó, còn có những loại thực phẩm nổi tiếng với việc sử dụng bên ngoài bao bì là màu xanh chủ đạo như sữa chua, sữa tươi, là nhằm để chỉ cho khách hàng biết rằng: Chúng là những thực phẩm tươi sạch không bị ô nhiễm.

Tuy vậy, màu xanh lại là màu mà nam giới Trung Quốc thường không thích, bởi nó còn tượng trưng cho sự phản bội, có thể du khách chưa biết, “đội mũ màu xanh” là cụm từ khá phổ biến của giới trẻ Trung Quốc, đồng nghĩa với việc bị cắm sừng và thường chủ yếu để chỉ nam giới.

Màu tím

Trong văn hóa phương Tây, màu tím tượng trưng cho hoàng gia, trong khi đó ở Trung Quốc, nó lại tượng trưng cho sự linh thiêng và bất tử. Hiện nay, nó cũng được giới trẻ vô cùng yêu thích, bởi màu tím khiến ta liên tưởng đến một tình yêu đẹp, lãng mạn và chân thành. Thế hệ trẻ thường mượn màu tím để khẳng định sự chân thành của mình trong tình yêu. Màu tím cũng được xem là màu “hot” của các hãng thời trang nổi tiếng và được người tiêu dùng, giới trẻ săn đón nhiệt tình.

Màu đen

Với những quốc gia khác trên thế giới thì đây là một màu đen đủi và đầy bí hiểm, nhưng với Trung Quốc thì nó đại diện cho “Thủy – Nước”, nó là một màu trung tính, màu thiên đường, màu của sự vĩnh hằng, quyền lực, sự ổn định, thậm chí là cả về kiến thức.

Tuy nhiên, ngày nay, người Trung Quốc lại xem màu đen gắn với sự xui xẻo, ma quỷ… Nó đại diện cho những điều không may mắn nên thường bị kiêng kị trong các ngày vui, các sự kiện quan trọng như đám cưới…

Màu trắng

Trên thế giới, màu trắng được gọi là màu của sự thuần khiết, tinh khôi, sang trọng, quý phái. Tuy nhiên, theo quan niệm của người dân Trung Hoa, màu đen có lẽ đây là màu kém may mắn nhất.

Trong văn hóa Trung Hoa, màu trắng đại diện cho điềm xấu, chết chóc, vì màu trắng chính là hình ảnh năng lượng, sinh mệnh kiệt quệ. Trong lúc làm đám tang, người ta sẽ trang trí linh đường bằng vải trắng, người nhà cũng phải mặc đồ tang màu trắng và đeo khăn trắng. Về mặt chính trị, màu trắng đại diện cho sự mục nát, thất bại. Còn trong chiến tranh, phe yếu thế đầu hàng sẽ giơ “cờ trắng”. Còn trong Kinh Kịch, màu trắng đại diện cho kẻ gian xảo đa nghi như nhân vật Tào Tháo. Ngoài ra, màu trắng còn đại diện cho sự trống không, không được lợi ích gì hoặc ăn không lấy không, không chịu bỏ tiền hoặc công sức. Tuy nhiên, màu trắng cũng có mặt tốt chính là trong mắt các nhà thơ, trắng là màu của tuyết, đại diện cho sự thuần khiết, tinh tuý.

Màu xám

Màu xám trong tiếng Trung đại diện cho sự khiêm tốn và khiêm nhường. Trong thời đại ngày nay màu xám trong tiếng Trung có thể được dùng để miêu tả một thứ gì đó đen tối, đã bị ô uế hoặc đại diện cho thời tiết, tâm trạng u ám.

Vậy là với những thông tin chia sẻ trên đây, du khách đã phần nào hiểu thêm về nền văn hóa đặc sắc của đất nước Trung Hoa rộng lớn. Du khách hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi để có cơ hội khám phá nhiều điều thú vị hơn về văn hóa và con người nơi đây nhé!

Ẩm thực Giang Tô – một trong 8 trường phái lớn của ẩm thực Trung Hoa

Giang Tô không chỉ là một nơi có phong cảnh hữu tình vào bậc nhất Trung Quốc mà nơi đây còn có nền ẩm thực đặc sắc. Ẩm thực Giang Tô từ lâu đã được mệnh danh là một trong tám trường phái ẩm thực lớn nhất Trung Hoa. Ẩm thực của vùng đất sơn thuỷ hữu tình này được ví như một bức tranh đầy màu sắc.

Tỉnh Giang Tô (Jiangsu), tên gọi tắt là Tô, nằm ở vùng đồng bằng Hoa Đông, phía hạ lưu sông Trường Giang, bên bờ biển Hoàng Hải, có mạng lưới đường thủy dày đặc, ao hồ nhiều, dân cư đông đúc. Phía Bắc Giang Tô giáp tỉnh Sơn Đông; phía Tây giáp tỉnh An Huy; phía Nam giáp tỉnh Triết Giang và thành phố Thượng Hải. Lịch sử của Giang Tô bắt đầu từ thời thượng cổ. Trước kia, Giang Tô nằm cách xa trung tâm của nền văn minh Hoa Hạ cổ. Đến hiện tại, Giang Tô là một điểm nóng về phát triển kinh tế. Với bề dày lịch sử mấy nghìn năm, nơi đây hình thành và phát triển văn hóa ẩm thực Giang Tô đặc sắc.

Phía Nam và phía Bắc của Giang Tô có sông Trường Giang và Hoài Hà chảy qua. Giang Tô nằm ở vùng chuyển giao giữa miền Bắc và miền Nam Trung Quốc. Chính bởi nét đặc biệt này, ẩm thực nơi đây có sự giao thoa mạnh mẽ và tinh tế giữa ẩm thực hai miền Bắc Nam. Giang Tô chủ yếu là đồng bằng phù sa hạ du Trường Giang, Hoài Hà. Đất đai nơi đây phì nhiêu. Chính vì vậy, sản vật đa dạng và phong phú. 

Trung Quốc có câu: “Nhất phương thuỷ thổ dưỡng nhất phương nhân”, tức là người sinh ra và lớn lên tại một nơi thì sẽ được cái nôi ẩm thực, văn hoá của nơi đó nuôi dưỡng. Tương tự, món ăn của địa phương nào thì sẽ mang đặc điểm của địa phương ấy. Người Hoa thường khái quát hương vị của 4 miền bằng câu: “Đông chua, Tây cay, Nam ngọt, Bắc mặn”. Ẩm thực Giang Tô thuộc nhóm “Nam ngọt”.

Các món ăn Giang Tô chủ yếu thường có vị ngọt và thanh dịu. Đặc biệt, người Giang Tô rất chú trọng màu sắc, cách thức trình bày món ăn, cũng chính vì vậy mà các món ăn ấy không chỉ ngon miệng mà còn như một tác phẩm nghệ thuật cầu kì, công phu.

Ẩm thực Giang Tô chủ yếu gồm các món ăn đến từ ba vùng: Dương Châu, Nam Kinh và Tô Châu. Phương thức chế biến đặc trưng ở vùng này là hầm, ninh, tần. Nhờ nghệ thuật nấu nướng độc đáo, mà các món ăn của Giang Tô luôn đảm bảo nguyên chất, nguyên vị. Hương vị đặc trưng luôn chiếm trọn tình cảm của thực khách. 

Người Giang Tô “chú trọng kỹ thuật dùng dao, món ăn tinh tế, khẩu vị thanh đạm”. Nguyên liệu nấu ăn nơi đây thường là rau củ quả tươi, không thêm xì dầu khi chế biến mà chỉ nêm đường và giấm, cốt sao giữ được màu sắc nguyên bản, tự nhiên, để vị chua ngọt ngấm đều vào từng nguyên liệu.

Giang Tô có rất nhiều món ăn ngon đã chinh phục được những vị thực khách cho dù là khó tính nhất. Cái tên đầu tiên phải kể đến là “Đậu phụ Bình Kiều” rất nổi tiếng, từng là món yêu thích của cả cố Thủ tướng Chu Ân Lai và vua Càn Long thời nhà Thanh. Truyện kể rằng vua Càn Long vi hành Giang Nam, khi thuyền rồng của vua đi qua Bình Kiều, một thị trấn cổ thuộc Hoài An lúc bấy giờ, vua đã được thưởng thức món “Đậu phụ Bình Kiều” và khen tấm tắc. Từ đó món “Đậu phụ Bình Kiều” đã lừng danh Giang Tô và Hoài An, trở thành món ăn truyền thống nổi tiếng trong trường phái ẩm thực Giang Tô. Ngày nay, món Đậu phụ Bình Kiều không chỉ nổi tiếng trong nước mà còn là một món ăn lừng danh khắp nơi trên thế giới, được trải qua sự chế biến của những nhà đầu bếp khác nhau nhưng nếu muốn thưởng thức đúng vị bản chất của nó thì chỉ khi tìm đến Giang Tô ta mới có khoái cảm ăn món ăn này.

Đậu phụ Bình Kiều được chế biến vô cùng công phu. Nguyên liệu chính là đậu phụ, trứng và thịt gà. Ngoài ra còn có măng, nấm cùng các loại gia vị khác. Sau khi chế biến, những miếng đậu phụ nhỏ, trắng nõn, mềm mại sẽ được cắt thành hình kim cương đầy nghệ thuật. Khi đưa miếng đậu vào miệng, bạn sẽ cảm nhận được vị thanh mát, nhẹ nhàng. Miếng đậu phụ dường như tan ngay trên đầu lưỡi, để lại hương vị hoà quyện giữa trứng, gà, nấm và gia vị, khiến thực khách không khỏi say đắm, xiêu lòng.

Ẩm thực Giang Tô cũng chinh phục thực khách gần xa bằng món Vịt muối Nam Kinh trứ danh – một đặc sản của vùng Nam Kinh (thủ phủ của tỉnh Giang Tô). Lớp thịt vịt mang màu trắng ngà, rất mềm, có vị ngọt nhẹ, mỡ mà không ngấy. Món ăn nổi tiếng này có hương vị thơm ngon, đậm đà, có thể chính phục bất cứ ai, kể cả những thực khách khó tính nhất. Hàng năm, cứ vào khoảng giữa thu, khi hoa quế đang mùa nở rộ, người ta lại háo hức muốn được nếm thử món ăn “tuyệt hảo” này, vì đây chính là thời điểm lý tưởng nhất để chế biến vịt muối. Cũng vì lý do đó mà vịt muối Nam Kinh còn được gọi bằng cái tên mỹ miều là “vịt quế hoa”. 

Cơm chiên Dương Châu cũng nổi tiếng không kém bởi là món ăn có sự cân bằng dinh dưỡng nhất của Giang Tô. Cơm chiên Dương Châu, nghe thì đơn giản, mộc mạc, nhưng thực chất món này bao gồm các nguyên liệu rất đa dạng: trứng, giăm bông, sò điệp, cà rốt, đậu xanh và nhiều loại thịt, rau củ khác. Đây không phải các nguyên liệu cố định mà người đầu bếp có thể biến tấu linh hoạt sao cho phù hợp với khẩu vị của thực khách và từng mùa trong năm. Chính sự kết hợp phong phú đó đã làm món ăn này có màu sắc bắt mắt, kích thích vị giác thực khách mãnh liệt, nhưng đồng thời vẫn vô cùng bổ dưỡng. 

Trong danh sách những món ăn nức tiếng của ẩm thực Giang Tô mà bỏ qua cái tên Bánh bột chiên trứng” thì đó là một điều thiết sót. Bánh bột chiến trứng, nghe tên thì tưởng chừng đơn giản, nhưng lại là một món ăn sáng hấp dẫn rất được ưa chuộng tại Giang Tô. Món ăn này có cách làm gần giống bánh cuốn trứng nhưng được nướng thay vì chiên giòn. Người ta sẽ tráng một lớp bột mỏng trên chiếc chảo dẹt, đợi đến lúc bột vừa khô thì đập vào một quả trứng, rắc thêm chút gia vị và thật nhiều hành lá rồi cuộn lại. Chiếc bánh bột chiên trứng mới ra lò nóng hôi hổi, cắn vào vừa cảm nhận được chút giòn tan của lớp vỏ, vừa thấy được hương thơm và vị béo mềm của trứng chín tới, đủ sức khiến những du khách yêu thích ẩm thực phải bỏng lưỡi vì nóng mà vẫn không thể ngừng.

Ngoài ra, còn các món ăn nhẹ của Giang Tô đã nổi tiếng khắp nơi như đậu hũ khô, hạt dưa hoa hồng, kẹo hạt tùng, bánh mặn mỡ heo – những món ăn từng một thời gợi một không khí ẩm thực đặc sắc trong truyện Kim Dung. Món nào cũng chứa đựng tất cả sự tươi mát của nguyên liệu, sử dụng cái ngọt của đường phèn để tạo nên sự thanh mát tột cùng cho người thưởng thức. 

Chưa hết, ẩm thực Giang Tô còn mang đến cho du khách thập phương với nhiều điều thú vị hơn thế nữa. Còn gì thú vị hơn khi bắt đầu một ngày mới với việc thưởng thức bữa sáng mang đậm chất truyền thống Trung Hoa bằng món dầu chá quẩy dân dã hiện diện ở mọi ngõ đường. Quẩy nóng giòn ăn kèm với tô cháo trắng hay ly sữa đậu nành, đạm bạc mà dễ ăn. Kế đến là các món bánh hấp từ bột gạo, đủ hình dạng, đủ loại nhân, được hấp trong xửng bốc khói nghi ngút, tỏa hương thơm lựng, đủ sức quyến rũ bất kỳ vị khách nào vô tình đi ngang.

Đến với vùng đất Giang Tô xinh đẹp, riêng những ai thích ẩm thực theo phong cách cung đình và sang trọng thì phải tìm đến 2 nhà hàng ẩm thực nổi tiếng là Đắc Nguyệt Lâu và Tùng Hạc Lâu. Nếu như Đắc Nguyệt Lâu cuốn hút thực khách bằng cách thay đổi món ăn đặc trưng theo từng mùa thì Tùng Hạc Lâu lại có một lịch sử hơn 200 năm từ đời vua Càn Long. Các phố ẩm thực Thập Toàn, Phượng Hoàng, đường Can Tương cũng ngày đêm nhộn nhịp du khách thưởng thức các món trứ danh thuộc trường phái hấp, ninh, tần, như: tùng thử quế ngư, canh suông vi cá, gà nấu dưa hấu, canh rau nhút Tây Hồ,…

Ẩm thực Giang Tô nổi tiếng với rất nhiều món ăn truyền thống thơm ngon dễ ăn, thì cũng không thiếu những món ăn “kinh dị” khiến cho khách du lịch nước ngoài phải sợ hãi. Liệu du khách có dám thử qua các món siêu kinh dị như: sâu nấu đủ kiểu (sâu xào trứng, sâu rán giòn, sâu nấu canh cải thảo…); mắt cừu (mắt cừu nướng, mắt cừu luộc, mắt cừu hầm canh…); Tảo địa bì có hương vị như mùi phân thoang thoảng; bong bong cá với mùi tanh và khó ăn?

Đúng là không lời nào có thể diễn tả hết những hương vị và nét quyến rũ của các món ăn Giang Tô. Để cảm nhận trọn vẹn nền ẩm thực nơi đây, đừng chỉ nhìn ngắm các món ngon qua màn hình điện thoại mà hãy xách balo lên, thực hiện một chuyến du lịch Trung Quốc và thẳng tiến Giang Tô nhé! Dạo một vòng với ẩm thực Giang Tô, thấy bụng đầy mà lòng thanh. Có lẽ, điều đó tạo nên một sức cuốn hút kỳ diệu của một vùng đất dành cho du khách… 

Các Hoàng đế Trung Hoa thường không thọ quá 40

Dưới thời phong kiến Trung Hoa, Hoàng đế là người đứng đầu đất nước có nắm trong tay quyền lực và tiền tài bậc nhất. Họ tận hưởng cuộc sống xa hoa quyền quý không ai sánh bằng. Thế nhưng, có một thực tế là đa phần các Hoàng đế đều không thể sống lâu, tuổi thọ trung bình là 39 tuổi.

Có thể xét đến triều đại nhà Minh, tình hình chính trị ở triều đại này tương đối tốt, không có nhiều sự thay đổi Hoàng đế nắm quyền. Tuy nhiên, tuổi thọ trung bình của 16 vị Hoàng đế nhà Minh chỉ là 42 tuổi và trong số đó chỉ có 5 vị Hoàng đế sống lâu hơn con số 42 tuổi.

Từ thời Hoàng đế Tuyên Đức đến thời Hoàng đế Chính Đức (từ Hoàng đế thứ 5 đến thứ 11 của triều nhà Minh), có đến 5 vị Hoàng đế qua đời trong năm đầu tiên tại vị. Thậm chí, Hoàng đế Thái Xương (tức Minh Quang Tông, Hoàng đế thứ 15 của triều Minh) chỉ cai trị đất nước chưa đầy 1 tháng thì băng hà.

Rốt cuộc thì tại sao lại vậy?

Theo các chuyên gia, nguyên nhân khiến nhiều vị Hoàng đế Trung Hoa băng hà trong độ tuổi trên là vì họ thường đối mặt với những âm mưu đầu độc hay ám sát. Do là người nắm trong tay quyền lực tuyệt đối nên Hoàng đế thường trở thành mục tiêu của một số thế lực thù địch tranh giành quyền lực. Các cuộc tranh đoạt ngai vàng diễn ra vô cùng khốc liệt. Đây chính là lý do nhiều ông hoàng bị đầu độc hoặc sát hại trong các cuộc chính biến. Thậm chí, có vị vua bị đẩy vào hoàn cảnh khốn cùng buộc phải tự sát như Hoàng đế Sùng Trinh.

Một lý do khác được cho là khiến hầu hết Hoàng đế sống không qua 40 tuổi là vì mắc bệnh tật. Ngay từ khi sinh ra, một số vị vua có cơ thể ốm yếu. Dù được các thái y chăm sóc tỉ mỉ nhưng vẫn không thể giúp hoàng đế khỏe mạnh.

Thêm nữa, một phần xuất phát từ áp lực công việc. Là Hoàng đế của một quốc gia rộng lớn như Trung Hoa, họ cần phải xử lý quá nhiều chính vụ quốc gia, vì quá bận rộn như vậy khiến chế độ ăn uống, nghỉ ngơi không điều độ. Và theo thời gian, cách sinh hoạt này đã khiến cơ thể của họ không thể chịu đựng thêm, ngày càng suy kiệt và qua đời khi còn tuổi còn tương đối trẻ.

Ngoài chính sự của đất nước, Hoàng đế còn phải để tâm đến an nguy của bản thân cũng như ổn định ngôi báu của mình. Sự căng thẳng trong tinh thần sẽ càng khiến cơ thể mệt mỏi hơn.

Không những vậy, có nhiều ông vua ham mê tửu sắc. Họ suốt ngày chìm đắm trong các buổi tiệc rượu và hoan lạc với hàng trăm, hàng ngàn mỹ nhân. Chính lối sống hoang dâm vô độ khiến Hoàng đế ngày càng lao lực, sức khỏe giảm sút và luôn ở mức thấp hơn sức khỏe của người bình thường.

Một nguyên nhân không kém phần quan trọng, đó là vị Hoàng đế nào cũng muốn trường sinh bất lão (trẻ mãi không già) nên đã tùy tiện uống các loại tiên đan, dược liệu. Chẳng những vậy, Hoàng đế phải sủng hạnh không ít phi tần hậu cung nên cần sử dụng nhiều loại thuốc để bồi bổ cơ thể. Nhưng, vào thời cổ đại những thuật sĩ điều chế thuốc gần như là kẻ lừa đảo, họ chỉ lấy cái mác “trường sinh bất lão” hay “Xuân dược” để lừa gạt Hoàng đế. Những viên thuốc đó có chứa một lượng kim loại nặng, nếu sử dụng trong thời gian dài, chất độc sẽ tích tụ trong cơ thể. Như thế thì làm sao Hoàng đế có thể sống lâu hơn?

Cuối cùng, đó là áp lực sinh con đẻ cái của Hoàng đế, ông cần phải có nhiều con cháu, càng nhiều càng tốt. Ai cũng biết rõ, trong hậu cung Hoàng đế có hàng nghìn mỹ nữ, nếu mỗi ngày Hoàng đế thị tẩm 1 người thì cũng khó mà thị tẩm toàn bộ nữ nhân hậu cung. Kéo dài tình trạng như vậy, cơ thể dù có khỏe mạnh đến thế nào cũng sẽ có lúc yếu đi.

Tóm lại, Hoàng đế vừa phải tiêu hao sức khỏe thể chất và tinh thần xử lý việc triều chính lại còn phải để tâm chiều chuộng phi tần, cố gắng sinh con đẻ cái, mỗi ngày đều phải tranh đấu với kẻ khác để giữ vững ngôi báu. Lâu ngày sẽ khiến sức khỏe suy yếu, dẫn đến tuổi thọ trở nên ngắn ngủi.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về lịch sử triều đại của một đất nước đông dân nhất thế giới này. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn thì hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! Chúc du khách có một chuyến đi vui vẻ và thú vị!