Khám phá trường phái ẩm thực Sơn Đông

Ẩm thực Trung Hoa được chia thành 8 trường phải lớn với những đặc trưng riêng về món ăn, cách chế biến và hương vị bao gồm: Sơn Đông, Quảng Đông, Tứ Xuyên, Hồ Nam, Phúc Kiến, Chiết Giang, Giang Tô và An Huy. Trong đó, trường phái ẩm thực Sơn Đông được coi như đệ nhất ẩm thực Trung Hoa với sự tinh túy và phát triển lâu đời.

Sơn Đông, một tỉnh ven biển phía Đông của Trung Quốc, phía hạ lưu sông Hoàng Hà. Địa hình chủ yếu của Sơn Đông là đồng bằng. Phía Tây Sơn Đông là một bộ phận của bình nguyên Hoa Bắc rộng lớn. Trung bộ Sơn Đông lại có địa hình núi non. Đông bộ là bán đảo Sơn Đông nhiều đồi núi kéo dài ra biển. Bán đảo này tách Bột Hải và Hoàng Hà. Địa hình thuận lợi này giúp khí hậu ở Sơn Đông ấm áp. Không những vậy, đất đai cũng được phù sa bồi đắp mà phì nhiều. Do đó, văn hóa ẩm thực Sơn Đông nổi bật với các sản phẩm làm từ lúa mì, rau củ quả đa dạng và chất lượng cao.

Dưới ảnh hưởng của các yếu tố lịch sử, văn hoá, địa lý, kinh tế và những phong tục địa phương của bán đảo Sơn Đông ấy, trường phái ẩm thực mang tên gọi của bán đảo này đã ra đời và phát triển và được người Trung Quốc yêu mến gọi bằng cái tên “chàng trai mạnh khỏe”.

Ẩm thực Sơn Đông bao gồm hai trường phái chính là Tế Nam và Dao Đông. Điểm đặc trưng trong các món ăn của vùng đất này là mang vị nồng đậm, nặng mùi hành tỏi, nhất là trong những món ăn về hải sản.

Người Sơn Đông có sở trường làm món canh và nội tạng động vật. Có rất nhiều biến hoá khác nhau từ thứ nguyên liệu mà người phương Tây thường bỏ đi như: dồi nhồi thịt nướng, dồi hấp, dồi quay, xào… mỗi món có hương vị và sự khoái khẩu riêng rất khó bắt chước.

Đặc biệt, họ mạnh về các món chiên rán, nướng và hấp. Bên cạnh đó, họ cũng rất chú trọng màu sắc của món ăn. Du khách sẽ dễ dàng nhận thấy các món ăn ở Sơn Đông đa phần đều có màu sắc tươi sáng. Các món ăn thường có rau và lúc nào cũng xanh mát, vô cùng bắt mắt.

Có thể nói, mỗi món ăn ở Sơn Đông đều là một tác phẩm nghệ thuật được người đầu bếp bỏ rất nhiều công sức vào đó. Dưới đây, chúng tôi sẽ giới thiệu đến du khách những món ăn ngon nổi tiếng của vùng đất này:

Gà hầm Đức Châu

Trong ẩm thực Sơn Đông, Gà hầm Đức Châu là một món ăn vô cùng nổi tiếng đã có lịch sử đã hơn 50 năm. Vào năm 1950, Tổng thống Mao Trạch Đông thưởng thức gà hầm Đức Châu và đã không ngớt lời khen ngợi nó. Sau đó, danh tiếng gà hầm Đức Châu nhanh chóng lan xa khắp cả nước.

Món gà hầm này được làm khá công phu và vẫn được thực hiện khá giống với đại đa số món ăn trong ẩm thực Sơn Đông là làm chín nguyên con. Thịt gà sẽ được hầm chung với mật ong, một chút đường và rau thì là trong nhiều giờ đồng hồ. Thịt gà sau khi hầm sẽ chín mềm, thịt mà tự tách được xương ra lại càng ngon.

Súp sữa ức gà

Có thể nói món Súp sữa là một trong những nét riêng của ẩm thực Sơn Đông mà không vùng nào khác có được. Để làm món ăn này, người đầu bếp phải khéo léo chọn ra ức gà dày thịt cùng củ mã thầy ngon thì nấu ra mới đúng vị. Hai nguyên liệu trên sẽ được tẩm ướp hỗn hợp gia vị địa phương rồi nấu chín đến khi hơi sền sệt thì đổ nước và sữa hầm liên tục trong nhiều giờ.

Khi món ăn đã hoàn thành, chúng ta sẽ có những bát súp nóng hổi với mùi thơm khó cưỡng. Món ăn này là sự kết hợp nhuẫn nhuyễn giữa vị ngọt thơm của sữa, vị thanh mát đặc trưng của củ mã thầy và sự ngọt mềm của ức gà. Nếu sử dụng món súp này đều đặn thì sức khỏe sẽ được cải thiện và nâng cao.

Đậu phụ Nhất Phẩm

Trong ẩm thực Sơn Đông, đậu phụ Nhất Phẩm là món đậu phụ thượng hạng, cao cấp nhất. Người đầu bếp phải chọn ra loại đậu phụ có cốt vừa ăn, thơm và phải dày. Kế đó, các loại nguyên liệu như sò điệp, hải sâm, măng, thịt lợn, rau củ,… được om chín tới, dậy mùi. Chúng được nhồi vào giữa miếng đậu phụ rồi thả vào hầm trong nước gà.

Mỗi miếng đậu hoàn thành sẽ mang phong vị của tất cả sản vật địa phương, quyện vào nhau để lại dư âm khó quên đối với tất cả thực khách có cơ hội nếm thử. Hiện nay đậu phụ Nhất Phẩm đã được phục vụ tại các nhà hàng cao cấp cũng như các quán ăn địa phương trong vùng. Thực khách có thể tùy theo khả năng tài chính mà chọn địa điểm thưởng thức.

Cá chép chua ngọt

Cá chép là một trong những sản vật nổi tiếng của vùng Sơn Đông. Những con cá chép này thường khá to, có lượng mỡ vừa phải. Người dân Sơn Đông xưa thường đem cá chép chế biến trong nước sốt chua ngọt để ăn chung với cơm trắng. Điểm đặc biệt của món ăn này chính là cá chép phải để nguyên con. Thông thường cá sẽ được chiên vàng trước khi đun cùng nước sốt pha theo tỷ lệ bí mật.

Ngoài món Cá chép chua ngọt, ẩm thực Sơn Đông cũng làm mê mẩn biết bao người bởi món canh cá chép, cá chép hóa rồng,… với dư vị đậm đà, khó quên.

Ốc kho

Có thể nói ẩm thực Sơn Đông được thừa hưởng nhiều sản vật đến từ sông Hoàng Hà – cái nôi của nền văn minh Trung Hoa. Từ hàng nghìn năm trước người dân địa phương đã đánh bắt thủy sản trên sông để cải thiện bữa ăn. Những món ăn này được tiếp nối qua nhiều thế hệ và dần đạt đến độ hoàn hảo. Một trong số đó chính là món ốc kho dân dã.

Theo chia sẻ của người dân bản địa, ốc sống tại khu vực sông Hoàng Hà to và ngọt thịt hơn hẳn ốc sống cả các vùng nước khác. Ốc này sau khi đánh bắt được nên chế biến ngay thành món ăn thì mới tươi, ăn vào mới ngon miệng. Các đầu bếp vùng Sơn Đông không tách thịt ốc ra mà kho nguyên con, khi ăn thực khách tự lọc lấy thịt ốc ăn cùng ớt tươi và nước sốt sánh mịn.

Khi nói về ẩm thực Sơn Đông mà không nhắc đến các món hải sản thì hẳn là một thiếu sót lớn. Có thể kể đến như ruột cá biển xào hành tỏi. 

Thêm một món ăn vô cùng bình dân của ẩm thực Sơn Đông mà du khách khó lòng bỏ qua đó là món Sủi cảo với đủ loại nhân như: sủi cảo hẹ, sủi cảo bắp cải, sủi cảo củ cải trắng.

Về các món mì, ẩm thực Sơn Đông sẽ khiến thực khách gần xa phải “ngây ngất” bởi món mì thịt heo, mì thịt bò, mì nước, mì xào,…

Ârm thực Sơn Đông tiếp tục chìu lòng thực khách bằng một số món chính tông như: dưa chua, phổ tai phá lấu, đậu hũ phá lấu, canh cà chua trứng, canh chua cay, bánh hành,…

Cũng đừng quên Sơn Đông còn nổi tiếng là vựa trái cây phong phú bậc nhất ở Trung Quốc. Táo Yên Đài, lê Lai Dương, đào Phì Thành, lựu Táo Trang, nho Đại Trạch Sơn, hành Chương Khưu, gừng Lai Vu, củ cải Duy Phường,… đều là những đặc sản nổi tiếng của nơi này. Đến Sơn Đông vào mùa hè, tức là du khách đã chọn đúng mùa quả chín để hưởng thụ. May mắn hơn, du khách còn có cơ hội tham gia lễ hội trái cây thường diễn ra ở Thọ Quang, Sơn Đông vào đầu tháng 5. Hội chợ này sẽ phô diễn những loại cây trái trĩu trịt, những giống quả lạ, đẹp và còn phổ biến khá nhiều cách trồng trọt kỹ thuật cao…

Giờ thì du khách đã phần nào hình dung và hiểu được nguyên nhân tại sao trường phái ẩm thực Sơn Đông lại được mệnh danh là “đệ nhất ẩm thực Trung Hoa” rồi đúng không nào? Chính sự bắt mắt và tươi ngon của nguyên liệu, kết hợp với phong cách chế biến phong phú đa dạng đã đưa Sơn Đông trở thành nền ẩm thực mạnh mẽ nhất Trung Quốc từ trước đến nay. Hãy thực hiện một chuyến du lịch Trung Quốc để có những trải nghiệm đầy thú vị khi khám phá nền ẩm thực Sơn Đông nhé!

Đặc sắc văn hóa tặng quà của người Trung Hoa

Quà tặng là một trong những điều gắn kết các mối quan hệ, là một cách thể hiện tình cảm giữa người tặng và người được tặng. Trong từng nền văn hoá khác nhau, văn hoá tặng quà cũng khác nhau. Văn hóa tặng quà của người dân Trung Hoa cũng có những nét độc đáo riêng.

THỜI ĐIỂM PHÙ HỢP ĐỂ TẶNG QUÀ

Theo phong tục người Trung Quốc, vào các dịp lễ kỷ niệm như sinh nhật, kỷ niệm ngày cưới, mừng thọ hay các sự kiện cần thiết như khai trương công ty, tân gia,… người Hoa thường dành tặng nhau những món quà thay cho lời chúc mừng với hàm ý cầu mong những điều tốt đẹp may mắn sẽ đến với người được nhận. Những dịp như mừng năm mới hay đám cưới cũng là những sự kiện người Trung Quốc thường hay tặng quà.

NHỮNG QUÀ TẶNG ĐƯỢC NGƯỜI HOA YÊU THÍCH 

Một món quà truyền thống mà tất cả mọi người Trung Quốc thích là phong bì đỏ gọi là “红包” (hóng bāo). 红包 là phong bì màu đỏ hình chữ nhật nhỏ chứa tiền (không có tiền xu). Đó là một món quà phổ biến được tặng trong các ngày lễ, đám cưới, lễ tốt nghiệp, cho em bé chào đời và các dịp đặc biệt khác. 

Trái cây tươi là một món quà phổ biến của Trung Quốc để cho một ai đó thấy sự quan tâm khi đến thăm bạn bè, người thân hoặc người lớn tuổi.

Các thực phẩm bổ dưỡng cho sức khỏe cũng là một lựa chọn không tồi mà người Trung Hoa thường dành tặng nhau. Từ xa xưa người Trung Quốc đã biết phối hợp các món ăn để cân bằng âm – dương, cân tính hàn, tính nóng vì thế có thể thấy người Trung rất chú trọng đến vấn đề dinh dưỡng và sức khỏe. 

Một món quà truyền thống khác của Trung Quốc là trà địa phương. Hộp trà (茶包裝盒 – chá bāo zhuāng hé) là một trong những món quà thể hiện sự thực tế, xác thực và thanh lịch. Hoặc một số vật phẩm phong thủy cũng được người Trung Quốc yêu thích.

Người Trung Hoa cũng rất thích được khách nước ngoài tặng các sản vật địa phương, như: cafe, rược, các loại bánh đặc sản,…

Quà cho người Trung Quốc có thể gói bằng giấy và nơ như bình thường. Tuy nhiên, cần chú ý một chút về màu sắc. Màu đỏ là may mắn. Màu hồng và vàng tượng trưng cho hạnh phúc. Vàng biểu trưng cho tài sản và của cải. Vì vậy, giấy gói và ruy-băng thuộc những màu này là tốt nhất.

12 THỨ KIÊNG KỴ TRONG VĂN HÓA TẶNG QUÀ CỦA NGƯỜI TRUNG HOA

Một số món đồ tưởng chừng như bình thường ở nhiều quốc gia, nhưng tại Trung Quốc lại trở thành thứ “cấm kỵ” tặng nhau.

Quả lê

Vào dịp đầu năm, việc tặng nhau những giỏ trái cây tươi là điều thường thấy, nhưng tặng trái lê lại là điều cấm kỵ. Cũng bởi theo tiếng Quảng Đông, quả lê có phát âm giống như “lei”, có nghĩa là “rời đi”, nên thứ quả này cũng bị xếp trong danh sách “đại kỵ”.

Đồng hồ

Trong tiếng Trung, câu nói “tặng đồng hồ” có phiên âm là “song zhong” đồng âm với ý nghĩa “tham dự buổi tang lễ”. Bởi vậy, việc tặng nhau đồng hồ cũng bị coi là điều kém may mắn.

Ngoài ra, đồng hồ còn là biểu tượng của thời gian. Với người lớn tuổi, việc tặng đồng hồ là điều rất cấm kỵ trong văn hóa Trung Quốc.

Ô (dù)

Trong tiếng Quảng Đông, cái ô phát âm đồng nghĩa với từ “chia xa” nên chắc chắn không phải món quà hợp lý để tặng trong ngày kỷ niệm hay lễ Valentine. Người Hoa sẽ hiểu rằng mối quan hệ giữa hai bên đã tan vỡ nếu họ được nhận một chiếc ô.

Giày

Một đôi giày da nghe có vẻ là món quà tuyệt vời, nhưng nó không phải là điều nên làm tại Trung Quốc. Từ “giày” có phát âm là “xie”, đồng nghĩa với từ “tai họa”. Vì thế, tặng giày ngụ ý với việc bạn chuyển xui xẻo của mình cho người đó hoặc mong người ta gặp điều bất hạnh. Ngoài ra, người dân còn quan niệm rằng, giày là thứ xỏ vào chân nên không phải là món quà tốt lành dành để tặng nhau, đặc biệt là vào dịp năm mới.

Ở một số địa phương, những người yêu nhau thậm chí kiêng tặng giày bởi nó mang hàm nghĩa người được tặng sẽ rời đi nơi khác và chia tay.

Theo nghi thức tang lễ của người Trung Quốc, khi trong gia đình có người qua đời, người thân sẽ mặc áo trắng và đội mũ chóp nhọn, vì vậy tặng mũ biểu thị cho điềm xui xẻo. Mũ màu xanh thậm chí còn càng là điều cấm kị bởi người Trung Quốc có câu “đội mũ xanh” ám chỉ việc bị “cắm sừng”.

Gương

Sẽ là “ý tưởng tồi” nếu dùng gương để làm quà tặng. Người Hoa quan niệm rằng, đồ vật này rất dễ vỡ nên sẽ trở thành “điềm xấu”.

Khăn tay

Trong văn hóa Trung Hoa, mọi người sẽ tặng nhau khăn tay vào ngày cuối của đám tang nên món vật này còn tượng trưng cho lời tạm biệt mãi mãi. Bởi vậy, tặng ai đó chiếc khăn tay giống như việc ám chỉ bạn đang muốn nói lời chia tay và cắt đứt mọi quan hệ.

Vật mang hình người

Theo tín ngưỡng của người Trung Quốc, tặng búp bê ngụ ý cho việc mời linh hồn xấu xa vào cư ngụ trong nhà người nhận.

Hoa cúc

Hoa cúc mặc dù nằm trong 4 loại hoa quý của Trung Quốc, là biểu tượng của giới quý tộc thì cũng không thể trở thành quà tặng. Nó mang hàm ý của sự đau buồn và cũng là loài hoa thường được mang theo khi viếng mộ.

Những vật sắc nhọn như dao, kéo

Nếu tặng ai đó món đồ sắc nhọn, người Hoa cho rằng đó là điều ám chỉ muốn “cắt đứt” mối quan hệ giữa đôi bên. Bởi vậy, du khách cần để ý món đồ mình định tặng cho một người bạn Trung Hoa nào đấy.

Không tặng thứ gì có 4 cái

Người Trung Quốc cực kỳ kiêng kị số 4. Đó cũng là lý do các tòa nhà tại đây thường không có tầng 4, 14 hay 24,… do cách phát âm đồng nghĩa với “cái chết”.

Tuy nhiên, trong trường hợp du khách trót tặng một trong số các đồ vật này cho người Trung Quốc, hãy yêu cầu họ đưa lại một số tiền nhỏ (khoảng 1 USD) và về cơ bản nó sẽ không còn là một “món quà” nữa.

Những đồ vật màu đen hoặc trắng

Đây là màu sắc thường dùng trong các đám tang của người Hoa. Bởi vậy vào ngày đầu xuân, họ sẽ tránh tặng nhau những món quà màu đen hoặc phần lớn màu trắng.

Thậm chí ngay cả với giấy gói quà hoặc phong bao lì xì họ cũng không dùng hai gam màu này. Thay vào đó, màu đỏ luôn là lựa chọn hàng đầu bởi mang ý nghĩa may mắn, thịnh vượng.

CÁCH THỨC TẶNG QUÀ

Tặng quà là cách bày tỏ tình cảm giữa người với người và sẽ là phù hợp nếu việc làm này được thực hiện một cách tế nhị, không phô trương, nhất là khi quà tặng của bạn là dành cho ai đó chứ không phải số đông. Người Trung Quốc cũng có chung quan điểm này. Một là bạn tặng một món quà cho một người nào đó ở một không gian riêng tư, hai là bạn chuẩn bị đủ quà cho tất cả mọi người trong không gian của một buổi gặp gỡ. Tuy nhiên, khi cùng bàn việc kinh doanh với nhiều người, nếu chẳng may bạn chỉ chuẩn bị một món quà thì cũng đừng lo lắng. Hãy dành tặng nó cho người có chức vụ cao nhất và nói rằng đây là món quà đại diện cho doanh nghiệp của bạn.

Khi tặng quà, bạn cũng nên đưa bằng cả hai tay và hơi cúi nhẹ người để thể hiện sự tôn trọng và thành tâm. Nếu đối tác từ chối nhẹ nhàng, hãy hiểu đó là phép lịch sự tối thiểu và thuyết phục họ bằng việc lặp lại thao tác một lần nữa. Khi ấy chắc chắn họ sẽ vui vẻ nhận món quà mà bạn đã dày công chuẩn bị. Tuy nhiên nếu người đó từ chối món quà nhiều lần, thì hãy tinh ý hiểu rằng họ không muốn nhận hoặc không thể nhận, đừng đẩy qua đẩy lại hay cố ép người đó nhận quà.

Trên đây là một số nét đặc sắc về văn hóa tặng quà của người Trung Hoa. Nếu du khách có hứng thú và muốn khám phá nhiều hơn nét văn hóa này, hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! Chắc chắn du khách sẽ có được trải nghiệm thú vị!

Người Trung Hoa quan niệm như thế nào về các con số?

Trong quan niệm của người phương Đông, con số không chỉ có ý nghĩa trong toán học. Mà nó còn là biểu tượng của quy luật ngũ hành, liên quan trực tiếp tới tài vận của mỗi người. Trong bài viết lần này, mời du khách cùng chúng tôi tìm hiểu quan niệm của người Trung Quốc về những con số là như thế nào nhé!

Vạn vật sinh ra đều gắn liền với các con số. Mỗi chúng ta sống trong vạn vật cũng đều có các con số gắn với mình. Qua thời gian nhân loại đã tổng hợp, đúc kết thành những quan niệm thể hiện qua các văn hóa vật thể và phi vật thể những công trình, kiệt tác ít nhiều có các con số gắn liền. Dưới đây là những quan niệm về các con số của người Trung Hoa:

Số 8 – số may mắn nhất theo quan điểm của người Trung Hoa

Người Trung Quốc coi con số may mắn như một tài sản quý của mình. Chính vì vậy, họ đã xây dựng lên một hệ thống ý nghĩa liên quan đến các con số. Mỗi khi có dịp quan trọng, người ta đều chú ý đến số may mắn đi kèm, ví dụ như họ mua nhà ở, chọn số điện thoại, mua xe, chọn ngày tổ chức lễ cưới,… Họ tin rằng những con số may mắn mang lại cho họ sự may mắn.

Trong văn hóa Trung Quốc, số 8 được đọc gần giống chữ “phát” – nghĩa là sự giàu có, tài lộc và thành công, nên đây được coi là số may mắn. Ngoài ra, lý do còn là số 8 có hình dạng đối xứng hoàn hảo. Trong Chiêm tinh học của người Trung Quốc, sự cân bằng hoàn hảo được coi là lý tưởng.

Ở Trung Quốc, mọi người thường chọn con số may mắn này trong số điện thoại, số nhà, địa chỉ làm ăn, mật khẩu wifi, ngày đính hôn, lễ kỷ niệm. Một vài ví dụ điển hình nhất cho quan niệm này của người Trung Quốc là: Vào năm 2003, số điện thoại +86 28 8888 8888 đã được hãng hàng không Tứ Xuyên mua trong một cuộc đấu giá đặc biệt với giá 280.000 USD. Số hiệu chuyến bay của nhiều hãng hàng không đi và đến quốc gia này thường mang theo số 8. Ví dụ số hiệu trên chuyến Thượng Hải – Toronto của Air Canada là AC88, chặng San Francisco – Bắc Kinh của United Airlines là UA888… Thế vận hội mùa hè Bắc Kinh 2008, ngày khai mạc là 20h (8h tối) 8 phút 8 giây ngày 8/8 (theo giờ địa phương). Các số điện thoại hay biển số xe có số 8 thường đắt hơn.

Số chẵn tốt hơn số lẻ

Người Trung Quốc thích sự hài hòa và cân bằng. Do đó, số chẵn thường được ưa chuộng hơn là số lẻ. Số 2 đại diện cho hài hòa, số 6 đại diện cho thành công. 

Số may mắn trong kinh doanh

Số may mắn trong kinh doanh đặc biệt quan trọng ở Hồng Kông. Ở thành phố thương mại và công nghiệp này, cạnh tranh giữa các doanh nhân, tiểu thương là rất khốc liệt. Do đó, họ thường chọn những ngày “đẹp” để khai trương cửa hàng hoặc ký hợp đồng. Nếu một ngày có số 8, đây được coi là dấu hiệu của sự may mắn. Nếu ngày có số 9, công việc làm ăn sẽ thuận lợi, dài lâu. Nếu ngày có số 6, công việc sẽ thuận lợi, phát lộc.

Những con số kiêng kị

Mỗi nền văn hóa có một con số kiêng kị khác nhau. Với người Trung Quốc, trong một số trường hợp sẽ có những lý do khác nhau do lịch sử văn hóa lâu đời và vùng miền đa dạng.

Số 1: Người Trung Hoa cho rằng vạn vật đều hài hòa, cân bằng. Do đó chúng luôn phải có đôi có cặp, song hành cùng với nhau. Chính vậy mà người Trung Quốc không thích số 1 và điều này thể hiện trong cuộc sống thường ngày của họ, ví dụ: nếu tặng quà với số lẻ trong hôn lễ hoặc mừng thọ thì đây là điều vô cùng cấm kị. Phải tặng quà thành đôi thành cặp tượng trương cho vợ chồng luôn có đôi có cặp. Đối với mừng thọ thì có nghĩa rằng tuổi thọ mãi mãi tăng lên.

Số 2: Đây là con số được coi là tốt trong hôn lễ, nhưng mà nếu là đi thăm bệnh hoặc làm tang lễ thì người ta không tặng đồ đôi. Bởi vì chẳng ai mong muốn chuyện xấu gấp đôi cả. Tóm lại, không cần biết quà tặng có số lượng, trị giá bao nhiêu nhưng phải thêm một chút số lẻ vào. Ngoài ra, người miền Bắc Trung Quốc thường dùng số 2 để hình dung những người ngốc nghếch lỗ mãng.

Số 3: Số ba hài âm với chữ “tán” trong từ “ly tán” (chia cách, chia xa), bởi vậy người Trung Quốc coi số 3 là con số không may mắn khi tặng quà cho bạn bè hoặc các cặp vợ chồng. Họ tránh tặng quà với số lượng là 3 như 3 quả cam, 3 bông hoa,…

Số 4: Đây được coi là con số đen đủi nhất trong quan niệm của người Trung Quốc. Trong tiếng Trung, số 4 có âm đọc giống như chữ “tử” có nghĩa là chết. Thêm nữa, số 4 ứng với thứ tự cuối cùng trong vòng tròn cuộc đời của mỗi con người: “Sinh – Lão – Bệnh – Tử”. Do đó, người Trung Quốc đặc biệt kiêng kị con số này. Ở nhiều ngôi nhà, khách sạn tại Trung Quốc đều bỏ qua phòng có mang số 4 và không đánh số tầng 4 mà thay bằng “3A”. Ngoài ra, khi tặng quà hoặc tổ chức các hoạt động hay sự kiện, người Trung Quốc cũng thường né tránh con số đen đủi này.

Số 5: Người Trung Quốc kị sinh con vào ngày 5/5 âm lịch. Lý do là bởi họ quan niệm số 5 là “nửa đời”, sinh ra vào ngày này thì con cái sẽ lận đận, vất vả, khó đạt được mục tiêu.

Số 7: Người Trung Quốc có câu rằng “Mùng bảy không đi, mùng tám không về”, ở đây có nghĩa là phụ nữ không được lựa ngày mùng bảy và ngày mùng tám để đi ra ngoài và trở về nhà.

Số 18: Người Trung Quốc quan niệm con gái kết hôn lúc 18 tuổi sẽ phải gánh đủ “18 kiếp nạn”.

Số 20: Vua Ngô Vương có con gái tên Nhĩ Thích từng chết vì hóc xương cá. Do đó, nhiều người Trung Quốc kiêng số 20 vì âm đọc giống từ “Nhĩ Thích” xưa kia.

Số 36: Chu Du thời Đông Ngô chết năm 36 tuổi nên nhiều vùng ở Trung Quốc rất kiêng số này. Ngoài ra, 36 được coi là giờ khắc nguy hiểm.

Số 73: Khổng Tử chết năm 73 tuổi nên 73 được coi là một cửa tử mà con người phải vượt qua. Vượt được tuổi này thì sẽ sống đến 84 tuổi.

Số 81: Nếu ai qua đời lúc 81 tuổi thì kiếp sau sẽ cực kì khổ sở, vì 9 lần 9 là 81. Khi đó, khí số đã tận, người đời sau sẽ lâm vào cảnh khốn cùng.

Số 250 cũng được xem là con số không may mắn đối với người Trung Quốc. Theo quan niệm của người dân, con số 250 đồng nghĩa với với sự sỉ nhục, mang ý nghĩa mắng chửi người đối diện. Vào thời xưa, người ta thường gọi một kẻ ngu ngốc hoặc nói chuyện không đứng đắn, làm việc không nghiêm túc, hành xử một cách tùy tiện là 250.

Du khách đã biết hết những quan niệm của người Trung Quốc liên quan đến con số chưa? Mong rằng bài viết này đã cung cấp đầy đủ những thông tin cần thiết cho du khách.

Nếu du khách muốn khám phá thêm về nền văn hóa đặc sắc của đất nước Trung Hoa rộng lớn này, hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! 

Quan niệm về màu sắc của người Trung Hoa

Trung Quốc là cái nôi của nền văn hóa Á Đông. Nền văn hóa Trung Hoa đã hình thành và phát triển hàng nghìn năm nay. Do đó, nhiều quan niệm truyền thống của người Trung Quốc vô cùng đặc sắc và khác biệt so với các quốc gia khác trên thế giới. Đặc biệt về màu sắc, người dân đất nước này cho rằng chúng luôn có sự tương quan với quy luật Ngũ hành kéo theo đó là sự liên quan về tài vận của mỗi người.

Màu đỏ

Người Trung Quốc đặc biệt yêu thích màu đỏ. Bởi trong quan niệm của họ, màu đỏ mang ý nghĩa tích cực. Màu đỏ giống với màu của máu nên thường khiến người ta liên tưởng đến sự hi sinh oanh liệt, sự trung thành.

Ngoài ra, màu đỏ là màu của lửa, đại diện cho sự ấm áp, nhiệt tình, sáng chói. Màu đỏ cũng đại diện cho những vẻ đẹp huyền ảo của cuộc sống “hạnh phúc, may mắn, thành công và sức sống mãnh liệt”. Bởi vậy, ngay cả Quốc kỳ của quốc gia này cũng đa phần toàn là màu đỏ.

Bên cạnh đó, nó còn là một sợi dây liên kết, tạo nên sự hài hòa giữa những yếu tố, sự kiện. Vì thế, trong các đám cưới hay từng lễ hội hoa đăng đèn lồng cũng được người ta sử dụng màu đỏ làm chủ đạo. Không chỉ có vậy, ngay cả những chiếc phong bao lì xì mừng tuổi trong dịp Tết Nguyên Đán cũng càng chứng tỏ cho cái sức mạnh tiềm ẩn mà màu đỏ mang lại.

Trong Kinh Kịch, màu đỏ đại diện cho tính cách nhiệt huyết, trung nghĩa, thẳng thắn như nhân vật Quan Vũ. Trong chính trị, màu đỏ đại diện cho hình ảnh người cách mạng tiến bộ, chính trực, lạc quan và trung thành. Tuy nhiên, màu đỏ vẫn tồn tại những mặt nghĩa tiêu cực, đó chính là đại diện cho sự đố kị và ghen ghét. Và trong văn hóa Trung Hoa có một điều cấm kỵ đó là dùng mực đỏ để viết tên, bởi họ cho rằng chỉ có người chết mới viết tên bằng mực đỏ; hoặc khi viết thư chia tay, chia buồn mới dùng mực đỏ. 

Màu vàng

Màu vàng hiện diện cho tiền tài và địa vị. Có nhiều quan niệm khác còn cho rằng đây là một màu đặc trưng cho sự vĩnh cửu trường tồn. Bởi thế, nhắc đến từ vàng truyền thống người ta thường liên tưởng ngay tới sắc màu của đế vương như: “Ngai Vàng” là chỗ ngồi cao quý của những bậc đế vương, thể hiện cho một quyền lực tối cao; vào thời nhà Tống (960-1279), gạch dát vàng thường được dùng để xây dựng cung điện; thời nhà Minh và Thanh, hoàng đế mặc những bộ hoàng bào lộng lẫy.

Không chỉ vậy, ranh giới giữa màu đỏ và vàng cũng rất gần nhau, chúng chỉ cách nhau bởi một “con sông” là “Da cam”. Thế nên, đôi khi người ta cũng phải giảm bớt ánh sáng để chuyển vàng thành đỏ, điều này cũng tương đồng với việc thà giảm bớt một chút tiền tài để níu chân, nâng niu hạnh phúc cũng là điều hiển nhiên. Đặc biệt, cứ mỗi lần chuyển mùa, sắc đỏ lá vàng đan xen nhau trên từng dãy phố còn khiến cho bối cảnh đậm chất phong thủy nhiều hơn.

Màu xanh

Màu xanh là màu của sự giàu có, khả năng sinh sản, sức mạnh tái tạo hay niềm hy vọng, mối quan hệ hài hòa đôi khi nó còn thể hiện cho sự tăng trưởng, tinh khiết, mạnh mẽ. Có lẽ đây chính là những lý do tại sao các ngôi nhà chọc trời thường được lắp kính trong suốt, đặc biệt là nếu ta đứng ở phía dưới thì vẫn có thể thấy được màu xanh, đơn giản bởi vì nó phản chiếu hình ảnh của một bầu trời trong xanh.

Bên cạnh đó, còn có những loại thực phẩm nổi tiếng với việc sử dụng bên ngoài bao bì là màu xanh chủ đạo như sữa chua, sữa tươi, là nhằm để chỉ cho khách hàng biết rằng: Chúng là những thực phẩm tươi sạch không bị ô nhiễm.

Tuy vậy, màu xanh lại là màu mà nam giới Trung Quốc thường không thích, bởi nó còn tượng trưng cho sự phản bội, có thể du khách chưa biết, “đội mũ màu xanh” là cụm từ khá phổ biến của giới trẻ Trung Quốc, đồng nghĩa với việc bị cắm sừng và thường chủ yếu để chỉ nam giới.

Màu tím

Trong văn hóa phương Tây, màu tím tượng trưng cho hoàng gia, trong khi đó ở Trung Quốc, nó lại tượng trưng cho sự linh thiêng và bất tử. Hiện nay, nó cũng được giới trẻ vô cùng yêu thích, bởi màu tím khiến ta liên tưởng đến một tình yêu đẹp, lãng mạn và chân thành. Thế hệ trẻ thường mượn màu tím để khẳng định sự chân thành của mình trong tình yêu. Màu tím cũng được xem là màu “hot” của các hãng thời trang nổi tiếng và được người tiêu dùng, giới trẻ săn đón nhiệt tình.

Màu đen

Với những quốc gia khác trên thế giới thì đây là một màu đen đủi và đầy bí hiểm, nhưng với Trung Quốc thì nó đại diện cho “Thủy – Nước”, nó là một màu trung tính, màu thiên đường, màu của sự vĩnh hằng, quyền lực, sự ổn định, thậm chí là cả về kiến thức.

Tuy nhiên, ngày nay, người Trung Quốc lại xem màu đen gắn với sự xui xẻo, ma quỷ… Nó đại diện cho những điều không may mắn nên thường bị kiêng kị trong các ngày vui, các sự kiện quan trọng như đám cưới…

Màu trắng

Trên thế giới, màu trắng được gọi là màu của sự thuần khiết, tinh khôi, sang trọng, quý phái. Tuy nhiên, theo quan niệm của người dân Trung Hoa, màu đen có lẽ đây là màu kém may mắn nhất.

Trong văn hóa Trung Hoa, màu trắng đại diện cho điềm xấu, chết chóc, vì màu trắng chính là hình ảnh năng lượng, sinh mệnh kiệt quệ. Trong lúc làm đám tang, người ta sẽ trang trí linh đường bằng vải trắng, người nhà cũng phải mặc đồ tang màu trắng và đeo khăn trắng. Về mặt chính trị, màu trắng đại diện cho sự mục nát, thất bại. Còn trong chiến tranh, phe yếu thế đầu hàng sẽ giơ “cờ trắng”. Còn trong Kinh Kịch, màu trắng đại diện cho kẻ gian xảo đa nghi như nhân vật Tào Tháo. Ngoài ra, màu trắng còn đại diện cho sự trống không, không được lợi ích gì hoặc ăn không lấy không, không chịu bỏ tiền hoặc công sức. Tuy nhiên, màu trắng cũng có mặt tốt chính là trong mắt các nhà thơ, trắng là màu của tuyết, đại diện cho sự thuần khiết, tinh tuý.

Màu xám

Màu xám trong tiếng Trung đại diện cho sự khiêm tốn và khiêm nhường. Trong thời đại ngày nay màu xám trong tiếng Trung có thể được dùng để miêu tả một thứ gì đó đen tối, đã bị ô uế hoặc đại diện cho thời tiết, tâm trạng u ám.

Vậy là với những thông tin chia sẻ trên đây, du khách đã phần nào hiểu thêm về nền văn hóa đặc sắc của đất nước Trung Hoa rộng lớn. Du khách hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi để có cơ hội khám phá nhiều điều thú vị hơn về văn hóa và con người nơi đây nhé!

Ẩm thực Giang Tô – một trong 8 trường phái lớn của ẩm thực Trung Hoa

Giang Tô không chỉ là một nơi có phong cảnh hữu tình vào bậc nhất Trung Quốc mà nơi đây còn có nền ẩm thực đặc sắc. Ẩm thực Giang Tô từ lâu đã được mệnh danh là một trong tám trường phái ẩm thực lớn nhất Trung Hoa. Ẩm thực của vùng đất sơn thuỷ hữu tình này được ví như một bức tranh đầy màu sắc.

Tỉnh Giang Tô (Jiangsu), tên gọi tắt là Tô, nằm ở vùng đồng bằng Hoa Đông, phía hạ lưu sông Trường Giang, bên bờ biển Hoàng Hải, có mạng lưới đường thủy dày đặc, ao hồ nhiều, dân cư đông đúc. Phía Bắc Giang Tô giáp tỉnh Sơn Đông; phía Tây giáp tỉnh An Huy; phía Nam giáp tỉnh Triết Giang và thành phố Thượng Hải. Lịch sử của Giang Tô bắt đầu từ thời thượng cổ. Trước kia, Giang Tô nằm cách xa trung tâm của nền văn minh Hoa Hạ cổ. Đến hiện tại, Giang Tô là một điểm nóng về phát triển kinh tế. Với bề dày lịch sử mấy nghìn năm, nơi đây hình thành và phát triển văn hóa ẩm thực Giang Tô đặc sắc.

Phía Nam và phía Bắc của Giang Tô có sông Trường Giang và Hoài Hà chảy qua. Giang Tô nằm ở vùng chuyển giao giữa miền Bắc và miền Nam Trung Quốc. Chính bởi nét đặc biệt này, ẩm thực nơi đây có sự giao thoa mạnh mẽ và tinh tế giữa ẩm thực hai miền Bắc Nam. Giang Tô chủ yếu là đồng bằng phù sa hạ du Trường Giang, Hoài Hà. Đất đai nơi đây phì nhiêu. Chính vì vậy, sản vật đa dạng và phong phú. 

Trung Quốc có câu: “Nhất phương thuỷ thổ dưỡng nhất phương nhân”, tức là người sinh ra và lớn lên tại một nơi thì sẽ được cái nôi ẩm thực, văn hoá của nơi đó nuôi dưỡng. Tương tự, món ăn của địa phương nào thì sẽ mang đặc điểm của địa phương ấy. Người Hoa thường khái quát hương vị của 4 miền bằng câu: “Đông chua, Tây cay, Nam ngọt, Bắc mặn”. Ẩm thực Giang Tô thuộc nhóm “Nam ngọt”.

Các món ăn Giang Tô chủ yếu thường có vị ngọt và thanh dịu. Đặc biệt, người Giang Tô rất chú trọng màu sắc, cách thức trình bày món ăn, cũng chính vì vậy mà các món ăn ấy không chỉ ngon miệng mà còn như một tác phẩm nghệ thuật cầu kì, công phu.

Ẩm thực Giang Tô chủ yếu gồm các món ăn đến từ ba vùng: Dương Châu, Nam Kinh và Tô Châu. Phương thức chế biến đặc trưng ở vùng này là hầm, ninh, tần. Nhờ nghệ thuật nấu nướng độc đáo, mà các món ăn của Giang Tô luôn đảm bảo nguyên chất, nguyên vị. Hương vị đặc trưng luôn chiếm trọn tình cảm của thực khách. 

Người Giang Tô “chú trọng kỹ thuật dùng dao, món ăn tinh tế, khẩu vị thanh đạm”. Nguyên liệu nấu ăn nơi đây thường là rau củ quả tươi, không thêm xì dầu khi chế biến mà chỉ nêm đường và giấm, cốt sao giữ được màu sắc nguyên bản, tự nhiên, để vị chua ngọt ngấm đều vào từng nguyên liệu.

Giang Tô có rất nhiều món ăn ngon đã chinh phục được những vị thực khách cho dù là khó tính nhất. Cái tên đầu tiên phải kể đến là “Đậu phụ Bình Kiều” rất nổi tiếng, từng là món yêu thích của cả cố Thủ tướng Chu Ân Lai và vua Càn Long thời nhà Thanh. Truyện kể rằng vua Càn Long vi hành Giang Nam, khi thuyền rồng của vua đi qua Bình Kiều, một thị trấn cổ thuộc Hoài An lúc bấy giờ, vua đã được thưởng thức món “Đậu phụ Bình Kiều” và khen tấm tắc. Từ đó món “Đậu phụ Bình Kiều” đã lừng danh Giang Tô và Hoài An, trở thành món ăn truyền thống nổi tiếng trong trường phái ẩm thực Giang Tô. Ngày nay, món Đậu phụ Bình Kiều không chỉ nổi tiếng trong nước mà còn là một món ăn lừng danh khắp nơi trên thế giới, được trải qua sự chế biến của những nhà đầu bếp khác nhau nhưng nếu muốn thưởng thức đúng vị bản chất của nó thì chỉ khi tìm đến Giang Tô ta mới có khoái cảm ăn món ăn này.

Đậu phụ Bình Kiều được chế biến vô cùng công phu. Nguyên liệu chính là đậu phụ, trứng và thịt gà. Ngoài ra còn có măng, nấm cùng các loại gia vị khác. Sau khi chế biến, những miếng đậu phụ nhỏ, trắng nõn, mềm mại sẽ được cắt thành hình kim cương đầy nghệ thuật. Khi đưa miếng đậu vào miệng, bạn sẽ cảm nhận được vị thanh mát, nhẹ nhàng. Miếng đậu phụ dường như tan ngay trên đầu lưỡi, để lại hương vị hoà quyện giữa trứng, gà, nấm và gia vị, khiến thực khách không khỏi say đắm, xiêu lòng.

Ẩm thực Giang Tô cũng chinh phục thực khách gần xa bằng món Vịt muối Nam Kinh trứ danh – một đặc sản của vùng Nam Kinh (thủ phủ của tỉnh Giang Tô). Lớp thịt vịt mang màu trắng ngà, rất mềm, có vị ngọt nhẹ, mỡ mà không ngấy. Món ăn nổi tiếng này có hương vị thơm ngon, đậm đà, có thể chính phục bất cứ ai, kể cả những thực khách khó tính nhất. Hàng năm, cứ vào khoảng giữa thu, khi hoa quế đang mùa nở rộ, người ta lại háo hức muốn được nếm thử món ăn “tuyệt hảo” này, vì đây chính là thời điểm lý tưởng nhất để chế biến vịt muối. Cũng vì lý do đó mà vịt muối Nam Kinh còn được gọi bằng cái tên mỹ miều là “vịt quế hoa”. 

Cơm chiên Dương Châu cũng nổi tiếng không kém bởi là món ăn có sự cân bằng dinh dưỡng nhất của Giang Tô. Cơm chiên Dương Châu, nghe thì đơn giản, mộc mạc, nhưng thực chất món này bao gồm các nguyên liệu rất đa dạng: trứng, giăm bông, sò điệp, cà rốt, đậu xanh và nhiều loại thịt, rau củ khác. Đây không phải các nguyên liệu cố định mà người đầu bếp có thể biến tấu linh hoạt sao cho phù hợp với khẩu vị của thực khách và từng mùa trong năm. Chính sự kết hợp phong phú đó đã làm món ăn này có màu sắc bắt mắt, kích thích vị giác thực khách mãnh liệt, nhưng đồng thời vẫn vô cùng bổ dưỡng. 

Trong danh sách những món ăn nức tiếng của ẩm thực Giang Tô mà bỏ qua cái tên Bánh bột chiên trứng” thì đó là một điều thiết sót. Bánh bột chiến trứng, nghe tên thì tưởng chừng đơn giản, nhưng lại là một món ăn sáng hấp dẫn rất được ưa chuộng tại Giang Tô. Món ăn này có cách làm gần giống bánh cuốn trứng nhưng được nướng thay vì chiên giòn. Người ta sẽ tráng một lớp bột mỏng trên chiếc chảo dẹt, đợi đến lúc bột vừa khô thì đập vào một quả trứng, rắc thêm chút gia vị và thật nhiều hành lá rồi cuộn lại. Chiếc bánh bột chiên trứng mới ra lò nóng hôi hổi, cắn vào vừa cảm nhận được chút giòn tan của lớp vỏ, vừa thấy được hương thơm và vị béo mềm của trứng chín tới, đủ sức khiến những du khách yêu thích ẩm thực phải bỏng lưỡi vì nóng mà vẫn không thể ngừng.

Ngoài ra, còn các món ăn nhẹ của Giang Tô đã nổi tiếng khắp nơi như đậu hũ khô, hạt dưa hoa hồng, kẹo hạt tùng, bánh mặn mỡ heo – những món ăn từng một thời gợi một không khí ẩm thực đặc sắc trong truyện Kim Dung. Món nào cũng chứa đựng tất cả sự tươi mát của nguyên liệu, sử dụng cái ngọt của đường phèn để tạo nên sự thanh mát tột cùng cho người thưởng thức. 

Chưa hết, ẩm thực Giang Tô còn mang đến cho du khách thập phương với nhiều điều thú vị hơn thế nữa. Còn gì thú vị hơn khi bắt đầu một ngày mới với việc thưởng thức bữa sáng mang đậm chất truyền thống Trung Hoa bằng món dầu chá quẩy dân dã hiện diện ở mọi ngõ đường. Quẩy nóng giòn ăn kèm với tô cháo trắng hay ly sữa đậu nành, đạm bạc mà dễ ăn. Kế đến là các món bánh hấp từ bột gạo, đủ hình dạng, đủ loại nhân, được hấp trong xửng bốc khói nghi ngút, tỏa hương thơm lựng, đủ sức quyến rũ bất kỳ vị khách nào vô tình đi ngang.

Đến với vùng đất Giang Tô xinh đẹp, riêng những ai thích ẩm thực theo phong cách cung đình và sang trọng thì phải tìm đến 2 nhà hàng ẩm thực nổi tiếng là Đắc Nguyệt Lâu và Tùng Hạc Lâu. Nếu như Đắc Nguyệt Lâu cuốn hút thực khách bằng cách thay đổi món ăn đặc trưng theo từng mùa thì Tùng Hạc Lâu lại có một lịch sử hơn 200 năm từ đời vua Càn Long. Các phố ẩm thực Thập Toàn, Phượng Hoàng, đường Can Tương cũng ngày đêm nhộn nhịp du khách thưởng thức các món trứ danh thuộc trường phái hấp, ninh, tần, như: tùng thử quế ngư, canh suông vi cá, gà nấu dưa hấu, canh rau nhút Tây Hồ,…

Ẩm thực Giang Tô nổi tiếng với rất nhiều món ăn truyền thống thơm ngon dễ ăn, thì cũng không thiếu những món ăn “kinh dị” khiến cho khách du lịch nước ngoài phải sợ hãi. Liệu du khách có dám thử qua các món siêu kinh dị như: sâu nấu đủ kiểu (sâu xào trứng, sâu rán giòn, sâu nấu canh cải thảo…); mắt cừu (mắt cừu nướng, mắt cừu luộc, mắt cừu hầm canh…); Tảo địa bì có hương vị như mùi phân thoang thoảng; bong bong cá với mùi tanh và khó ăn?

Đúng là không lời nào có thể diễn tả hết những hương vị và nét quyến rũ của các món ăn Giang Tô. Để cảm nhận trọn vẹn nền ẩm thực nơi đây, đừng chỉ nhìn ngắm các món ngon qua màn hình điện thoại mà hãy xách balo lên, thực hiện một chuyến du lịch Trung Quốc và thẳng tiến Giang Tô nhé! Dạo một vòng với ẩm thực Giang Tô, thấy bụng đầy mà lòng thanh. Có lẽ, điều đó tạo nên một sức cuốn hút kỳ diệu của một vùng đất dành cho du khách… 

Các Hoàng đế Trung Hoa thường không thọ quá 40

Dưới thời phong kiến Trung Hoa, Hoàng đế là người đứng đầu đất nước có nắm trong tay quyền lực và tiền tài bậc nhất. Họ tận hưởng cuộc sống xa hoa quyền quý không ai sánh bằng. Thế nhưng, có một thực tế là đa phần các Hoàng đế đều không thể sống lâu, tuổi thọ trung bình là 39 tuổi.

Có thể xét đến triều đại nhà Minh, tình hình chính trị ở triều đại này tương đối tốt, không có nhiều sự thay đổi Hoàng đế nắm quyền. Tuy nhiên, tuổi thọ trung bình của 16 vị Hoàng đế nhà Minh chỉ là 42 tuổi và trong số đó chỉ có 5 vị Hoàng đế sống lâu hơn con số 42 tuổi.

Từ thời Hoàng đế Tuyên Đức đến thời Hoàng đế Chính Đức (từ Hoàng đế thứ 5 đến thứ 11 của triều nhà Minh), có đến 5 vị Hoàng đế qua đời trong năm đầu tiên tại vị. Thậm chí, Hoàng đế Thái Xương (tức Minh Quang Tông, Hoàng đế thứ 15 của triều Minh) chỉ cai trị đất nước chưa đầy 1 tháng thì băng hà.

Rốt cuộc thì tại sao lại vậy?

Theo các chuyên gia, nguyên nhân khiến nhiều vị Hoàng đế Trung Hoa băng hà trong độ tuổi trên là vì họ thường đối mặt với những âm mưu đầu độc hay ám sát. Do là người nắm trong tay quyền lực tuyệt đối nên Hoàng đế thường trở thành mục tiêu của một số thế lực thù địch tranh giành quyền lực. Các cuộc tranh đoạt ngai vàng diễn ra vô cùng khốc liệt. Đây chính là lý do nhiều ông hoàng bị đầu độc hoặc sát hại trong các cuộc chính biến. Thậm chí, có vị vua bị đẩy vào hoàn cảnh khốn cùng buộc phải tự sát như Hoàng đế Sùng Trinh.

Một lý do khác được cho là khiến hầu hết Hoàng đế sống không qua 40 tuổi là vì mắc bệnh tật. Ngay từ khi sinh ra, một số vị vua có cơ thể ốm yếu. Dù được các thái y chăm sóc tỉ mỉ nhưng vẫn không thể giúp hoàng đế khỏe mạnh.

Thêm nữa, một phần xuất phát từ áp lực công việc. Là Hoàng đế của một quốc gia rộng lớn như Trung Hoa, họ cần phải xử lý quá nhiều chính vụ quốc gia, vì quá bận rộn như vậy khiến chế độ ăn uống, nghỉ ngơi không điều độ. Và theo thời gian, cách sinh hoạt này đã khiến cơ thể của họ không thể chịu đựng thêm, ngày càng suy kiệt và qua đời khi còn tuổi còn tương đối trẻ.

Ngoài chính sự của đất nước, Hoàng đế còn phải để tâm đến an nguy của bản thân cũng như ổn định ngôi báu của mình. Sự căng thẳng trong tinh thần sẽ càng khiến cơ thể mệt mỏi hơn.

Không những vậy, có nhiều ông vua ham mê tửu sắc. Họ suốt ngày chìm đắm trong các buổi tiệc rượu và hoan lạc với hàng trăm, hàng ngàn mỹ nhân. Chính lối sống hoang dâm vô độ khiến Hoàng đế ngày càng lao lực, sức khỏe giảm sút và luôn ở mức thấp hơn sức khỏe của người bình thường.

Một nguyên nhân không kém phần quan trọng, đó là vị Hoàng đế nào cũng muốn trường sinh bất lão (trẻ mãi không già) nên đã tùy tiện uống các loại tiên đan, dược liệu. Chẳng những vậy, Hoàng đế phải sủng hạnh không ít phi tần hậu cung nên cần sử dụng nhiều loại thuốc để bồi bổ cơ thể. Nhưng, vào thời cổ đại những thuật sĩ điều chế thuốc gần như là kẻ lừa đảo, họ chỉ lấy cái mác “trường sinh bất lão” hay “Xuân dược” để lừa gạt Hoàng đế. Những viên thuốc đó có chứa một lượng kim loại nặng, nếu sử dụng trong thời gian dài, chất độc sẽ tích tụ trong cơ thể. Như thế thì làm sao Hoàng đế có thể sống lâu hơn?

Cuối cùng, đó là áp lực sinh con đẻ cái của Hoàng đế, ông cần phải có nhiều con cháu, càng nhiều càng tốt. Ai cũng biết rõ, trong hậu cung Hoàng đế có hàng nghìn mỹ nữ, nếu mỗi ngày Hoàng đế thị tẩm 1 người thì cũng khó mà thị tẩm toàn bộ nữ nhân hậu cung. Kéo dài tình trạng như vậy, cơ thể dù có khỏe mạnh đến thế nào cũng sẽ có lúc yếu đi.

Tóm lại, Hoàng đế vừa phải tiêu hao sức khỏe thể chất và tinh thần xử lý việc triều chính lại còn phải để tâm chiều chuộng phi tần, cố gắng sinh con đẻ cái, mỗi ngày đều phải tranh đấu với kẻ khác để giữ vững ngôi báu. Lâu ngày sẽ khiến sức khỏe suy yếu, dẫn đến tuổi thọ trở nên ngắn ngủi.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về lịch sử triều đại của một đất nước đông dân nhất thế giới này. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn thì hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! Chúc du khách có một chuyến đi vui vẻ và thú vị!

Xường Xám – nét đẹp của người dân Trung Hoa

Mỗi quốc gia đều có một trang phục riêng cho mình mang đậm nét văn hóa và truyền thống đặc trưng cho con người của đất nước đó. Nếu Việt Nam có Áo Dài, Hàn Quốc có Hanbok, Nhật Bản có Kimono thì người Trung Quốc có Xường Xám. Hôm nay, chúng ta sẽ cùng đi tìm hiểu về trang phục Xường Xám nhé!

Xường Xám (hoặc Sườn Xám) là một loại trang phục truyền thống Trung Hoa, được gọi bằng nhiều tên khác như: Trường Sam và Kỳ Bào. Tên gọi “Kỳ bào” nghĩa là “chiếc áo khoác dài của người Mãn Thanh”. Trang phục này cũng được gọi là “Thượng Hải trường bì bào” (áo dài Thượng Hải) do xuất hiện nhiều ở Thượng Hải. Loại trang phục này rất thịnh hành của chị em phụ nữ Trung Hoa, bởi nó thể hiện được phong thái đoan trang, đường nét mĩ miều, yêu kiều, mềm mại của người phụ nữ.

Về nguồn gốc của Xường Xám, cho đến ngày nay vẫn có rất nhiều tranh cãi. Có rất người từng cho rằng xuất phát điểm của bộ trang phục này đã có từ thời Tây Chu, một triều đại phong kiến đã có từ rất lâu trong lịch sử của Hoa. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu chỉ ra rằng Xường Xám có xuất xứ từ trang phục của người Mãn dưới thời nhà Thanh. Tiền thân của Xường Xám được cho là trang phục đặc trưng của bát kỳ (chế độ phân chia người của người Mãn do vua Nỗ Nhĩ Cáp Xích lập ra) được gọi là Kỳ phục. Tuy nhiên, sau này do sự giao lưu văn hóa của người Mãn và người Hán, Kỳ phục dần dần thay đổi mang nét nhẹ nhàng, thướt tha hơn không còn quá rườm rà như Kỳ phục. Và đặc biệt là sự tiếp nhận văn hóa phương Tây càn khiến cho Xường Xám tách rời ra khỏi Kỳ phục ban đầu tạo thành một trang phục hoàn toàn mới vừa có vẻ đẹp Á Đông lại vừa có khí phái hiện đại đương thời.

Từ thời vua Đạo Quang (1821-1850) tới Quang Tự (1875-1908), cho đến những năm đầu của thế kỷ 20, chiếc Xường Xám đã trải qua nhiều thay đổi, nhưng vẫn luôn gắn liền với nhiều mỹ nhân nổi tiếng của Trung Hoa như: Tống Mỹ Linh, Lâm Huy Âm, Hồ Điệp, Nguyễn Linh Ngọc, Trương Ái Linh,… Nó đạt tới đỉnh điểm khi người ta đặt ra những câu hỏi bông đùa kiểu không biết là xường xám đã “tạo” nên thế hệ mỹ nhân hay thời đại mỹ nhân tồn tại là để làm đẹp cho Xường Xám. Có lẽ cũng từ đó là trên các sàn diễn nghệ thuật, nó cũng nhanh chóng trở thành trang phục biển diễn và trở thành biểu hiện vĩnh cửu cho phụ nữ Trung Hoa.

Theo truyền thống, Xường Xám được may bằng lụa, có thêu hoa văn. Các hoa văn trên Xường Xám chủ yếu dựa trên thủ pháp phác họa, các hoa văn này thường là rồng và kỳ lân, phượng hoàng cùng tiên hạc trắng, bát tiên,… Ngày nay, các hoa văn trên Xường Xám thường sử dụng các thiết kế tranh thủy mặc. Xường Xám ôm lấy thân nhưng không bó sát vào cơ thể, cổ cao và tà áo thẳng. Từ những năm đầu thế kỷ 20, Xường Xám có sự thay đổi khá nhiều về mặt kết cấu, ví dụ như: cổ dựng, chỉ có hai bên vạt áo xẻ, ôm sát thân, tay áo có thể liền hoặc rời thân. Và bắt đầu từ những năm 20, Xường Xám xuất hiện dần dần trên đường phố Thượng Hải rồi lan sang Tô Châu, Hàng Châu, Dương Châu,… Sau đó, do ảnh hưởng của nền văn hóa phương Tây, Xường Xám đã có một vài đổi mới so với thời Mãn Thanh: Cổ áo có thể tròn, cao hoặc xẻ, tay áo tùy theo được thiết kế loe hoặc cắt ngắn. Hơn nữa, dáng áo có thể được cắt ngắn độ dài của tà, áo váy rời nhau với đường xẻ sâu để phù hợp hơn với xu hướng ngày càng sexy hóa.

Loại váy áo liền thân này làm tôn thêm dáng của người thiếu nữ, phần trên ôm sát thân, hàng cúc được thiết kế vắt chéo sang môt bên rồi chạy dọc một bên sườn, hai tà xẻ cao đến ngang đùi tạo dáng thướt tha, tôn vẻ nữ tính, mặt trước của Xường Xám thường được thêu các họa tiết bằng chỉ ngũ sắc. Trên phương diện tạo mẫu hay trang trí thủ pháp đều thể hiện được những nét truyền thống văn hóa sâu đậm của Trung Quốc. Ngoài ra, loại váy áo này còn làm nổi bật đức tính đoan trang, trang nhã, kín đáo của người thiếu nữ.

Nếu như Xường Xám là trang phục truyền thống làm tôn lên vẻ đẹp của người phụ nữ Trung Hoa thì Trường Bào, Mã Quái là loại trang phục truyền thống của nam giới Trung Hoa.

Trường Bào, Mã Quái (một dạng áo khoác bên ngoài), hai loại trang phục này đều là trang phục của dân tộc Mãn Thanh, áo cổ tròn, ống tay cửa hẹp, Mã Quái thường là xẻ giữa, cài nút thắt, ống tay áo hình chữ U, còn Trường Bào thường là xẻ bên.

Cũng có loại trang phục được kết hợp giữa Trường Bào và Mã Quái, loại trang phục này chỉ có vạt áo dưới của Trường Bào còn phần trên là Mã Quái, hai phần được nối với nhau bằng một dải cúc được đính ở mặt trong của Trường Bào, mặc hai loại trang phục này không chỉ thể hiện được sự long trọng mà còn đem lại cảm giác tự nhiên, thoải mái cho người mặc.

Ngày nay, Xường Xám đã hoàn toàn thoát khỏi cái bóng dáng của chiếc áo thời Mãn Thanh. Giá trị của chúng không chỉ còn đơn thuần là kiểu dáng trang phục nữa mà còn là sự dung hòa tương trợ giữa quan điểm mĩ học hiện hành phương Tây cùng lối thiết kế dân tộc truyền thống Trung Hoa, đó là sự thể hiện sự thống nhất hoàn mĩ giữa tính dân tộc và thế giới.

Tuy ngày nay người ta không mặc Xường Xám phổ biến như dạo đầu thế kỷ 20 nữa, nhưng nó vẫn được tôn thờ như một trang phục truyền thống với sức sống trường tồn, ẩn chứ vẻ đẹp tâm hồn và khí chất của người phụ nữ Trung Hoa vậy. Xường Xám vẫn được diện vào những dịp lễ quan trọng như Tết cổ truyền, cưới hỏi, trong những cuộc thi sắc đẹp quốc tế. Ngày nay, các giáo viên nữ, hiệu trưởng cũng mặc Xường Xám trong kỳ thi Đại học, các bà mẹ chờ con bên ngoài cũng mặc Xường Xám với ngụ ý mong con mình chiến thắng trong kỳ thi. Như vậy, dù đã trải qua nhiều thăng trầm trong lịch sử nhưng bộ Xường Xám vẫn tồn tại và trở thành biểu tượng của vẻ đẹp trường tồn với thời gian.

Xường Xám, Trường Bào, Mã Quái,… không chỉ là biểu hiện nét đẹp văn hóa của đất nước Trung Hoa mà còn tôn lên vẻ đẹp của mỗi người dân khi khoác lên mình bộ quốc phục. Nếu du khách là người yêu thích văn hóa Trung Hoa và đặc biệt là yêu thích những bộ trang phục truyền thống này thì hãy nhớ tìm mua để làm kỷ niệm sau chuyến du lịch Trung Quốc thú vị này nhé!

3 món vịt “danh bất hư truyền” của ẩm thực Trung Hoa

Các món ăn Trung Quốc nổi tiếng khắp thế giới từ nhiều thế kỷ trước. Đặc biệt là một số món vịt có màu sắc bắt mắt, trình bày độc đáo và hương vị ấn tượng.

Nói đến những món vịt ngon nổi tiếng của ẩm thực Trung Hoa, người ta sẽ nhớ ngay đến món “vịt quay Bắc Kinh” tuyệt hảo. Món ăn nổi tiếng với lớp da vịt giòn tan nơi đầu lưỡi, thịt vịt thấm đẫm gia vị và nước chấm đậm đà hương vị.

Món vịt “danh bất hư truyền” này có lịch sử lâu đời khoảng 600 năm và được công nhận là “di sản ẩm thực”. Theo các tài liệu ghi lại, món vịt quay có nguồn gốc xuất xừ từ thời Nam – Bắc Triều (420-589) của Trung Quốc. Tuy nhiên, mãi tới thời nhà Nguyên (1271-1368), món ăn này mới được triều đình và nhà vua công nhận lần đầu, được giới thiệu trong cuốn sách có 1330 món ăn do chuyên gia ẩm thực Hu Sihui biên soạn. 

Điều thú vị là vịt quay đặt theo tên Bắc Kinh (Peking duck trong tiếng Anh, với từ Peking là cách phát âm cũ của tên thành phố này), nhưng nguồn gốc của món ăn này lại là Nam Kinh, kinh đô cũ của Trung Quốc, nằm ở tỉnh Giang Tô. Vào thời nhà Minh, triều đình dời đô ra Bắc Kinh nhờ thế món vịt quay cũng được đem tới kinh đô mới. Về sau, món ăn này đã trở thành một trong những món ăn chính của nhà Vua. Vào triều đại nhà Thanh, vịt quay Bắc Kinh lan sang giới quý tộc, nơi món ăn được ca ngợi nhiều trong các tác phẩm của các học giả và nhà thơ. Sau đó, vịt quay có mặt trong thực đơn của một nhà hàng nổi tiếng tại Bắc Kinh vào năm 1416 và được nhiều người yêu thích, mong muốn tới nhà hàng để thưởng thức đặc sản thơm ngon này. Từ đó, vịt quay được xem là đặc trưng cho nền ẩm thực của Bắc Kinh nói riêng, ẩm thực Trung Quốc nói chung.

Để làm món vịt quay ngon đúng điệu, vịt thường được chọn những con ngon nhất, béo nhất từ Nam Kinh, làm sạch rồi ướp nhiều lần với mạch nha và gia vị giấm đỏ, đường, muối, ngũ vị hương cho gia vị ngấm đều vào da.

Khi nướng vịt, người đầu bếp phải cẩn thận xoay vịt theo 4 phía để ức, lưng và hai cánh vịt được chín vàng đều. Đặc biệt để thịt bên trong mềm, người ta sẽ cho nước vào trong bụng vịt, nước sôi sẽ giúp hầm bên trong thịt. Một con vịt quay hấp dẫn sẽ có lớp da chín màu bánh mật, giòn rụm vị béo mà không hề ngấy, phần thịt bên trong thì mềm như luộc.

Đặc trưng của món vịt quay Bắc Kinh là da vịt mỏng, giòn mềm. Phần da vịt được ăn kèm với bánh tráng bột mì dày, dưa leo, gốc hành lá chấm với nước tương hải sản – loại nước tương đặc sánh có vị mặn, beo béo, hăng hăng rất ngon. Tiếp đó là thưởng thức đến phần thịt vịt vừa mềm vừa ngọt, được xắt thành miếng vuông nhỏ, cuốn với bắp cải chấm cùng hắc xì dầu hoặc xé ra để chế biến thành nhiều món hấp dẫn như súp tam tơ, mì xào, cơm chiên thịt vịt, vịt xào rau củ… Phần xương vịt còn lại được hầm để nấu món súp.

Nếu Bắc Kinh thu hút tín đồ ẩm thực gần xa bởi món Vịt quay thì ở Tứ Xuyên lại có món Vịt xông khói hay còn gọi là vịt xông khói hương trà, hay Vịt “long não”. Đây là một món ăn tinh túy của ẩm thực Tứ Xuyên được chế biến bằng cách hun khói nóng một con vịt ướp trên lá trà và lá long não. Một số sách nấu ăn và các tác giả đã sử dụng lá và cành của cây long não để xông khói do tên món ăn, nhưng đây là một sự hiểu lầm. Do cách chế biến phức tạp, vịt xông khói thường được ăn trong các bữa tiệc hoặc các sự kiện lễ hội hơn là một món ăn gia đình hàng ngày.

Giai thoại gắn liền với món vịt long não này là vào thời Từ Hy Thái hậu, bà đã cho mời vị đầu bếp nổi tiếng tại Thành Đô là Huỳnh Tấn Lâm vào dâng thiện với các món ăn mới lạ. Vị đầu bếp này đã làm món vịt hun khói với lá long não và lá trà, vốn là những loại lá thường thấy ở Tứ Xuyên để làm món vịt hun khói lá long não. Món vịt với vị thơm đặc biệt của loại lá trà này được Từ Hy Thái hậu khen ngợi hết lời. Sau khi trở về quê nhà Thành Đô, món ăn này cũng trở nên nổi tiếng và là một trong những món vịt đặc sản của tỉnh Tứ Xuyên từ công thức của người đầu bếp này.

Để tạo nên món này, vịt được sử dụng là vịt hồ, có đầu nhỏ, ốm. Đồng thời, vịt phải là vịt cái, thịt mềm tươi hơn vịt đực. Điều đặc biệt, nếu các món khác chỉ cần 30 phút đến 2 tiếng đồng hồ để hoàn thành thì món ăn này phải mất đến vài ngày. Đầu tiên vịt sẽ được ướp và hun khói bằng lá trà để hấp thụ những hương vị mới. 

Sau khi hun khói thịt vịt trong 1 giờ, người ta thêm một công đoạn nữa mới ra món. Vịt đầu tiên được ướp trong vài giờ với sự kết hợp điển hình của hạt tiêu Tứ Xuyên nguyên hạt hoặc nghiền nát. Người chế biến sẽ mổ bụng vịt (rạch một đường thẳng từ ức xuống bụng), rửa sạch để ráo nước và đổ hết nguyên liệu làm nước sốt vào nồi, đun sôi rồi vặn nhỏ lửa đun tiếp khoảng 40 phút. Cho vịt vào, đậy vung ninh khoảng 20-25 phút cho vịt gần nhừ rồi lấy ra. Sau khi ướp, vịt được chần nhanh qua nước nóng để da săn lại, sau đó quấn khăn và hong khô. Bước này đảm bảo da vịt không bị đắng trong quá trình hun khói. Sau đó, một chiếc chảo được chuẩn bị để hun khói vịt với lá trà đen. Sau khi xử lý bằng khói khoảng 10-15 phút, vịt sau đó được hấp thêm 10 phút trước khi chiên ngập dầu trong dầu thực vật cho đến khi da giòn.

Đun nóng dầu phộng trong chảo, cho trà vào xào cho thơm rồi cho dần đường vàng vào, vừa rắc vừa khuấy, khi có khói vàng sủi lên thì lập tức đặt vỉ nướng lên trên và trải vịt đã ninh lên vỉ nướng, nêm muối, vặn nhỏ lửa hun khoảng 10-15 phút cho ngấm gia vị rồi lấy ra chặt miếng vừa dùng. Căn cứ vào khối lượng vịt để định lượng gia vị và thời gian hầm vịt. Có thể chặt miếng vịt trước khi xếp lên vỉ nướng để xông khói, để miếng vịt thơm đậm hơn, nhưng thời gian xông khói sẽ ngắn hơn. Có thể xông nguyên phần ức vịt hoặc ức ngỗng sẽ tiết kiệm thời gian hơn với gừng, tỏi và muối, với phần lớn được xát bên trong khoang của con vịt. Để tăng hương vị, đôi khi nước sốt xoa được cho thêm với hạt tiêu đen, lá trà và lá long não.

Nằm trong danh sách các món vịt “danh bất hư truyền” của ẩm thực Trung Hoa, không thể thiếu cái tên Vịt Quế Hoa. Đây là món ăn truyền thống vào mùa trung thu ở Nam Kinh. 

Món vịt luộc có tuổi đời trên 2.000 năm lịch sử này lại gắn liền với tiết trời thu mát mẻ bởi vào thời điểm mùa thu, vịt thường nhiều thịt, ít mỡ và các thớ thịt chắc nịch. Ngoài cái tên dân dã vịt luộc Nam Kinh, món này còn có một tên khác là vịt Quế Hoa bởi loại vịt này đặc biệt thơm ngon vào mùa thu, khi hoa quế nở rộ, đồng thời khi nhắm cùng rượu Quế Hoa.

Người đầu bếp sẽ chọn ra những con vịt ngon nhất, làm sạch, xát muối khử mùi hôi rồi tiến hành ướp chúng trong hỗn hợp nước sốt khoảng 2 giờ để gia vị ngấm sâu vào mọi ngõ ngách. Khi ăn, vịt sẽ được hấp chín để có được hương vị thơm ngon, lôi cuốn kỳ lạ. 

Dư vị của các món vịt sẽ đọng lại mãi sau mỗi lần ăn, vì vậy nếu có cơ hội du lịch Trung Quốc, du khách hãy một lần đến những nhà hàng chuyên nghiệp để thưởng thức nhé!

Vương Thừa Ân – vị hoạn quan có tấm lòng trung quân trong thời nhà Minh

Trong thời cổ đại ở Trung Hoa, Hoạn quan (hay Thái giám) là người “khuyết thiếu, không hoàn hảo”, họ không thể được chôn cất trong Hoàng lăng nghiêm trang, thần thánh. Vậy mà trong Hoàng lăng nhà Minh lại có một lăng mộ của một vị hoạn quan, tên ông là Vương Thừa Ân.

Vương Thừa Ân (19/3/? – 25/4/1644) là một hoạn quan sống vào cuối triều Minh, là người hầu cận trung thành của Minh Tư Tông Chu Do Kiểm (Sùng Trinh Hoàng đế). 

Ban đầu, Vương Thừa Ân đi theo thái giám Tào Hóa Thuần, đây cũng coi như thầy giỏi có trò hay. Tào Hóa Thuần là người biết điều và khôn khéo, làm việc hiệu quả chặt chẽ, nên rất được Hoàng đế Sùng Trinh tin tưởng coi trọng, cũng vì vậy nên Tào Hóa Thuần cũng giúp vua Sùng Trinh làm nhiều việc quan trọng. Sau này khi Tào Hóa Thuần vì sức khỏe suy yếu phải từ chức, nhờ có sự tiến cử của ông nên Vương Thừa Ân bắt đầu bước lên con đường của riêng mình. Từ đây, Vương Thừa Ân trở thành thái giám thân tín của Sùng Trinh hoàng đế khi chỉ mới 27 tuổi, và được đề bạt lên vị trí Thái giám ghi chép ở Tư Lễ giám. Trong chế độ quan lại thời nhà Minh, vị trí Thái giám ghi chép ở Tư Lễ giám là vị trí rất được kính trọng, trong tay có quyền phê hồng tấu chương.

Mặc dù, Vương Thừa Ân trong tay nắm đại quyền trong triều, có thể hô mưa gọi gió, chỉ cần ông nói mấy câu trước mặt Hoàng đế thì quan đại thần cũng gặp tai họa. Tuy vậy, Vương Thừa Ân vẫn đối xử khiêm tốn lễ độ với người khác, các đại thần trong triều cũng vì vậy mà khen ngợi ông. Quan trọng hơn là, Vương Thừa Ân có tấm lòng trung quân, ông luôn một lòng trung thành tận tâm với Sùng Trinh Đế, cũng chính vì phẩm chất này nên ông được người đời sau tôn trọng.

Vào năm Sùng Trinh thứ 17, Lý Tự Thành xưng đế ở Tây An, sau đó Lý Tự Thành dẫn theo quân Đại Thuận đi theo đường Sơn Tây quét qua nhiều châu phủ, chỉ trong vòng 2 tháng đã đánh tới thành Bắc Kinh. Trước đó, Sùng Trinh Đế đã từng nhận được thư nghị hòa của Lý Tự Thành, ý chính là nếu Sùng Trinh Đế chấp thuận để Lý Tự Thành làm Thiểm Tây Vương, đồng thời chi ra trăm vạn lượng bạc làm quân phí, Lý Tự Thành sẽ chủ động lui quân về Hà Nam, đồng thời giúp triều Minh tiêu diệt quân Thanh. Lá thư nghị hòa này làm dấy lên sự phản đối kịch liệt của quần thần trong triều, sau khi thương thảo với quan viên thì lá thư nghị hòa này đã bị từ chối, Sùng Trinh Đế khi ấy muốn triệu Ngô Tam Quế về kinh thành, nhưng lại bị Thủ phụ Trần Diễn hết sức ngăn cản, sau đó thì thế cục hoàn toàn mất khống chế.

Khi quân đội của Lý Tự Thành bao vây tấn công Bắc Kinh, các vị đại thần trước đó ra sức phản đối phong Lý Tự Thành làm Thiểm Tây Vương nay không dám hé răng nửa lời, quân thủ thành Bắc Kinh mất khả năng chống trả, Sùng Trinh Đế bấy giờ coi như thấy rõ bộ mặt thật của bá quan văn võ trong triều.

Trước sự tấn công mạnh mẽ của quân đội Lý Tự Thành, Sùng Trinh Đế đã trao trách nhiệm phòng thủ Bắc Kinh cho Vương Thừa Ân. Không phụ lòng tin tưởng của Sùng Trinh Đế, Vương Thừa Ân tự mình lên tường thành chỉ huy quân đội kháng địch, dũng cảm giết địch, thậm chí còn đích thân khai pháo bắn chết nhiều binh sĩ của quân Đại Thuận. Nhưng con đê dài cũng sập vì tổ kiến, khi ông cố gắng nỗ lực tử thủ bảo vệ thành trì thì những người khác lại lén lút bỏ chạy, chẳng khác gì đem thành trì trao tận tay cho giặc.

Mấy giờ sau, buổi chầu cuối cùng của nhà Minh diễn ra, khi Sùng Trinh Đế lòng đầy lo lắng bước vào điện lại phát hiện trên điện trống không, bá quan văn võ không một ai đến chầu, Sùng Trinh Đế đáy lòng nặng trĩu, ông biết vương triều nhà Minh đã tận.

Sùng Trinh Đế biết kiếp nạn này khó thoát, vì để bảo vệ thể diện Hoàng gia, ông đã đưa ra một quyết định tàn nhẫn, đó là ban chết cho Chu Hoàng hậu và phi tần, tự mình giết Công chúa Chiêu Nhân, lệnh cho người cải trang cho ba vị Hoàng tử rồi đưa chạy trốn khỏi Hoàng cung, giúp Hoàng thất nhà Minh lưu lại hương hỏa và hy vọng.

Một Sùng Trinh Đế đã gần như điên dại, thất tha thất thểu đi về hướng Môi Sơn sau Tử Cấm Thành, bên cạnh chỉ có Vương Thừa Ân theo cùng. Ông tìm một cành cây cong, đứng dưới cây bi thảm than rằng: “Thần tử hại ta!”. Câu nói này quả thực đã phản ánh lại tâm trạng của Sùng Trinh Đế lúc bấy giờ, khi ông hoàn toàn thất vọng với tất cả bá quan văn võ trong triều.

Sùng Trinh Đế để trần chân trái, tự vẫn mà chết, khi ông tuẫn thân vong quốc mới chỉ 33 tuổi. Vương Thừa Ân sau khi tiễn đưa Sùng Trinh Đế đoạn đường cuối cùng lại không chọn cách chạy trốn, mà phẫn uất tự vẫn theo Sùng Trinh Đế dưới cây.

Sau khi Lý Tự Thành tấn công vào Tử Cấm Thành, việc đầu tiên ông ta làm là tìm kiếm Sùng Trinh Đế, xác định xem Sùng Trinh Đế đã chết hay chưa, nhưng Lý Tự Thành lật tung cả thành mà vẫn không thấy tung tích Sùng Trinh Đế. Đến ngày thứ ba tìm kiếm thì nhận được tin phát hiện thi thể của Sùng Trinh Đế trong núi Cảnh Sơn (tên gọi ngày nay của núi Môi Sơn). Sau đó, Lý Tự Thành mang thi thể của Sùng Trinh Đế về an táng cạnh phần mộ của phi tần của ông, đổi tên thành Tư Lăng. Không chỉ vậy, Lý Tự Thành còn mang thi thể của Vương Thừa Ân an táng tại lối vào lăng mộ của vua Sùng Trinh để ông có thể tiếp tục bảo vệ chủ của mình như trước đây.

Mộ phần của Vương Thừa Ân được xây dựng khang trang, mộ phần có ba phiến bia đá, tấm phía Đông khắc: “Vương Thừa Ân chi mộ”. Điều khiến người ta kinh ngạc là phần chân đế của phiến bia đá này, bên trên được khắc một bức phù điêu sống động như thật, đề tài trên bức phù điêu là “Long mã phụ thư” và “Tê ngưu vọng nguyệt” được lựa chọn kỹ lưỡng. Phiến bia đá thứ hai có khắc bia văn hơn 800 chữ, nội dung được đích thân vua Thuận Trị đề bút. Phiến bia đá thứ 3 cũng là tấm đặt gần phần mộ nhất được khắc bia văn 240 chữ, nội dung do Khang Hi Đế đích thân soạn thảo, mục đích nhằm để ca ngợi Vương Thừa Ân “trung tâm với chủ, hi sinh quên mình”, đồng thời bên trên có khắc bốn chữ “ngự chế tinh trung”. Ngày nay, Khu mộ Vương Thừa Ân đến nay vẫn được bảo tồn khá nguyên vẹn.

Vương Thừa Ân tuy chỉ là một thái giám, nhưng trong ông toát ra phẩm chất trung thành, không sợ kẻ thù khiến người khác khâm phục, bất cứ một triều đại hay quốc gia nào cũng đều cần những người trung thành như vậy.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về lịch sử triều đại của một đất nước đông dân nhất thế giới này. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn thì hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! Chúc du khách có một chuyến đi vui vẻ và thú vị!

Lưu Cẩn – Hoạn quan mê tiền cực độ, giàu có nhất lịch sử Trung Hoa cổ đại

Lưu Cẩn từng được mệnh danh “Hoàng đế đứng”, là một trong những hoạn quan nổi tiếng nhất trong lịch sử Trung Quốc thời nhà Minh. Từng sánh ngang với tên tuổi của đại tham quan Hòa Thân về mức độ giàu có, hoạn quan khét tiếng này thậm chí đã lọt vào danh sách 50 nhân vật giàu nhất trong 1.000 năm qua.

Đại thái giám nhà Minh với danh hiệu “Hoàng đế đứng”

Lưu Cẩn (1451-1510) là một thái giám làm việc dưới thời nhà Minh và có mặt trong danh sách các hoạn quan “tác oai tác quái” nhất trong lịch sử Trung Quốc.

Hoạn quan này vốn có tên Đàm Cẩn, là người Hưng Bình, Hàm Dương thuộc tỉnh Thiểm Tây. Ông tin mình có khả năng ăn nói hùng hồn, vì vậy đã quyết định trở thành hoạn quan, vì ông coi đó là con đường tốt nhất để thành công. Sau khi trở thành hoạn quan, ông được hoạn quan Lưu Thuận nhận nuôi, và đổi tên thành Lưu Cẩn.

Lưu Cẩn bắt đầu làm việc trong cung điện hoàng gia vào những năm thập niên 1480, nơi ông bắt đầu hợp nhất với một nhóm hoạn quan khác mà sau này trở thành “Bát hổ”. Năm 1492, ông được chuyển từ vai trò là người canh lăng mộ của Minh Hiến Tông sang công việc hầu hạ, phục vụ cho Đông cung Hoàng thái tử Chu Hậu Chiếu. 

Năm 1505, Minh Hiếu Tông qua đời vì bạo bệnh, Thái tử Chu Hậu Chiếu thuận lợi đăng cơ, trở thành Minh Vũ Tông. Từ đó, Hoạn quan Lưu Cẩn cũng thăng tiến một cách nhanh chóng. Ông trở thành người đứng đầu bộ đánh chuông và trống. Sau đó, Lưu Cẩn dần có thêm quyền lực và sự ảnh hưởng, và được biết đến như là thủ lĩnh của “Bát hổ”, bao gồm 8 thái giám lộng hành quyền lực nhất triều đình lúc bấy giờ: Lưu Cẩn, Mã Vĩnh Thành, Cao Phụng, La Tường, Ngụy Bân, Khâu Tụ, Cốc Đại Dụng và Trương Vĩnh.

Hầu hết các nhà sử học thời Minh và hiện đại đều coi sự trỗi dậy quyền lực của Lưu Cẩn là bạo ngược và mô tả ông là “tàn bạo, độc ác và xảo quyệt”. Ông trở thành Trưởng ban Nghi lễ, trong đó ông nổi tiếng với việc thay đổi các tấu chương được gửi đến và phản hồi từ hoàng đế. Điều này có nghĩa là về cơ bản, ông đã kiểm soát những gì hoàng đế biết và những gì hoàng đế đã phê duyệt. Sau đó, ông trở thành Tư lễ giám của các quần thần, và được biết đến vì nhận hối lộ từ các quan chức cấp cao. Ông cũng rất có ảnh hưởng trong quân đội. Ở đỉnh cao quyền lực của Lưu Cẩn, tất cả các hành động quân sự phải được ông chấp thuận, giúp ông có nhiều quyền lực hơn các tướng lĩnh.

Sau khi tái lập Tây Xưởng và giao cho Cốc Đại Dụng quản lý, Lưu Cẩn đã thuyết phục hoàng đế tạo ra một Kho nội vụ (Nội xưởng), nơi sẽ giám sát các mối nguy hiểm trực tiếp lên ngai vàng và sự an toàn của hoàng đế. Kho này được làm giám sát viên cho hai kho kia, Đông và Tây, do đó củng cố quyền lực của Lưu Cẩn. Kho đã bức hại nhiều đối thủ chống đối với Lưu Cẩn và các chính sách của ông ta. Người ta ước tính rằng hơn 1.000 người đã bị giết trong Kho Nội vụ.

Lưu Cẩn cũng không ngừng tìm cách kết bè kết phái, liên tục củng cố thế lực của mình trong triều đình. Phe cánh của y không ngừng áp bức dân chúng, tham ô hủ bại, khiến triều đình ngày càng nhiễu loạn. Thậm chí, bách tính bấy giờ thường truyền tai nhau câu nói: “Thời nay có hai vị Hoàng đế, một người họ Chu ngồi trên ngai vàng, một người họ Lưu đánh cạnh ngai vàng”. Danh hiệu “Hoàng đế đứng” này không ai khác chính là Lưu Cẩn.

Cánh tay đắc lực của Hoàng đế hoang dâm số 1 triều Minh

Khi mới lên ngôi, Minh Vũ Tông tỏ ra là ông vua ngang ngược, đem cả chó khỉ lên điện Phụng Thiên, khiến triều đình náo loạn, mất hết không khí trang nghiêm.

8 hoạn quan hầu hạ hoàng đế, dẫn đầu là Lưu Cẩn ngày đêm phục vụ Minh Vũ Tông ăn uống vui chơi, đánh cầu đua ngựa,… Khi thấy vua chán những trò chơi này, Lưu Cẩn bày kế mở khách sạn, nhà hàng, kỹ viện… ngay trong hoàng cung. Các thái giám đóng vai ông chủ, người dân, còn Minh Vũ Tông giả làm thương nhân. Theo kịch bản, hoàng đế triều Minh mua đồ xong thì đi nhà hàng, sau đó vào kỹ viện say sưa, bạ đâu ngủ đó. Hoàng cung như biến thành một cái chợ nhỏ bởi mỗi lần vua “xuống phố vi hành”.

Về sau, Lưu Cẩn lại tham mưu cho vua xây Báo Phòng ở ngay bên cạnh cung cấm. Gọi là “phòng” nhưng thực chất Báo Phòng có tới hơn 200 gian nhỏ, xây dựng mất hơn 5 năm mới hoàn thành để vua ăn chơi trụy lạc. Lưu Cẩn và đám hoạn quan “Bát hổ” ngày càng cổ xúy cho sở thích biến thái của vua. Bọn chúng cho người đi khắp nơi lùng bắt phụ nữ về cho vua “ân sủng”, có khi nhiều tới 10 xe chở người.

Đại thần trong triều nhiều lần khuyên can nhưng vua chỉ “nghe tai nọ lọt tai kia”. Nhiều lão thần chán nản mà từ chức về quê, có người vì can gián quá nhiều mà bị giáng chức chuyển đi nơi khác, chỉ còn lại đại thần Lý Đông Dương đối đầu với đám hoạn quan Lưu Cẩn.

Hoạn quan sở hữu khối tài sản khổng lồ

Không chỉ giúp Minh Vũ Tông ngày đêm vui thú, ăn chơi trụy lạc, hoạn quan Lưu Cẩn cũng có những toan tính riêng. Theo sử sách Trung Quốc, hoạn quan họ Lưu này đặc biệt quan tâm đến quyền lực và tiền bạc. Chỉ trong vòng 5 năm khi Minh Vũ Tông làm hoàng đế, Lưu Cẩn đã thừa cơ khuynh đảo triều chính nhà Minh.

Lưu Cẩn bắt đầu nhận hối lộ, tự ý đặt ra nhiều sưu cao, thuế nặng, tìm mọi cách tham ô từ các quan lại. Dù ai hối lộ ít hay nhiều, Lưu Cẩn đều không từ chối, thậm chí còn không ít lần còn gợi ý quan lại chuyện tiền bạc. Bất cứ vị quan lớn nhỏ nào thăng chức, muốn có được thánh chỉ thăng cấp thì phải nộp tiền hạ ấn cho Lưu Cẩn, nếu không đưa ra sẽ bị giáng cấp hay thậm chí là phải rời kinh thành. Ngược lại, những kẻ hối lộ cho hoạn quan họ Lưu nhiều tiền bạc, chẳng bao lâu sau sẽ nhanh chóng thăng quan tiến chức, thậm chí còn nắm giữ nhiều chức vụ quan trọng.

Dưới những năm Chính Đức, Lưu Cẩn nhân cơ hội quan lại các nơi 3 năm vào kinh một lần để báo cáo công việc, liền trắng trợn đặt ra luật ngầm: Người nào có ít thì nộp 1.000 lượng bạc, nhiều thì nộp 5.000 lượng bạc, người nộp nhiều thì thăng chức, kẻ không nộp bị giáng chức. Cứ như vậy, Lưu Cẩn lợi dụng quyền lực và chức vụ của mình để thiết lập một mạng lưới tham ô trắng trợn với nhận hối lộ với mức giá thuộc hàng “cắt cổ”.

Thói xảo quyệt, hống hách làm càn của Lưu Cẩn đã khiến các quan lại trong triều và một hoạn quan tên Trương Vĩnh vô cùng căm phẫn, tìm cách lật đổ. Năm 1505, Trương Vĩnh qua điều tra đã nắm được nhược điểm chí mạng của Lưu Cẩn, đồng thời khéo léo lợi dụng những chứng cớ này để tố cáo tội ác của ông ta với Minh Vũ Tông. Hết thảy những chứng cứ mà Trương Vĩnh tố cáo đều đủ để khép Lưu Cẩn vào tội khi quân phạm thượng, xử chết ngàn lần cũng không hết tội.

Trong những chứng cứ Trương Vĩnh đưa ra, có bằng chứng phát hiện Lưu Cẩn làm giả ngọc tỷ, cất giấu vũ khí trái phép. Số châu báu, vàng bạc mà hoạn quan này tham ô có giá trị tương đương với hơn thu nhập tài chính của hơn 150 năm của thời kỳ đó cộng lại.

“Nhị thập nhị sử trát ký” của Thanh Triệu Dực cũng ghi lại, khi tra xét nhà Lưu Cẩn, triều đình tìm thấy hơn 250 vạn lượng vàng, hơn 5.000 vạn lượng bạc cùng các loại châu báu nhiều không kể xiết.

Theo “Kế tục kỷ văn”, con số thống kê được ghi nhận vào năm Gia Tĩnh thời nhà Minh cho thấy tài sản của Lưu Cẩn kỳ thực phải lên tới con số 120.585 vạn lượng vàng và 259 vạn lượng bạc. Chỉ riêng số bạc trong gia tài ấy cũng đã gấp 6 lần quốc khố Minh triều vào thời điểm đó.

Vào năm 2001, tờ The Wall Stress Journal Asia đã đưa Lưu Cẩn vào danh sách 50 người giàu có nhất thế giới trong vòng 1.000 năm qua. Gia tài của thái giám này cũng sánh ngang với nhiều nhân vật lớn như Thành Cát Tư Hãn, Hòa Thân, Tống Tử Văn…

Kết đắng cho hoạn quan tham lam

Sau khi nhận được chứng cứ tố cáo của Trương Vĩnh, Hoàng đế Minh Vũ Tông vô cùng tức giận, ra lệnh lăng trì Lưu Cẩn. Hình thức xử tử ấy khiến phạm nhân phải chịu đau đớn từ việc bị tùng xẻo cho tới khi tắt thở.

Theo luật pháp thời nhà Minh, những kẻ mắc trọng tội sẽ bị xử lăng trì, tội càng nặng thì số lần cắt càng nhiều. Riêng trường hợp của Lưu Cẩn, vị “Hoàng đế đứng” khét tiếng một thời ấy phải chịu tổng cộng 3.357 nhát lăng trì và tiến hành trong vòng 3 ngày.

Vào ngày hành hình thứ nhất, Lưu Cẩn phải nhận 357 dao, sau khi đưa về nhà lao vẫn có thể húp hết một bát cháo lớn. Những ngày sau đó, số đao mà kẻ này phải nhận lên tới hàng nghìn, cuối cùng khiến Lưu Cẩn chết trong đau đớn.

Trên đây là thông tin thú vị về Lưu Cẩn – hoạn quan quyền lực và gian ác khét tiếng một thời trong lịch sử Trung Hoa cổ đại. Nếu du khách là người có niềm đam mê với văn hóa, lịch sử của đất nước Trung Hoa thì hãy đặt cho mình một Tour Trung Quốc nhé! Chắc chắn du khách sẽ có được những sự hiểu biết thú vị khi đặt chân đến vùng đất rộng lớn này.