Kẹo đường thổi – “tác phẩm nghệ thuật” trong ẩm thực Trung Hoa

Khám phá văn hóa truyền thống của một vùng đất nào đó, du khách sẽ phát hiện ra đôi lúc món ăn không chỉ để thưởng thức mà đó còn là một nghệ thuật. Và đến Trung Quốc, du khách cũng sẽ thích thú với một văn hóa làm kẹo có từ lâu đời đặc sắc mang tên “Kẹo đường thổi”. 

Kẹo đường thổi là một loại hình nghệ thuật dân gian của người Trung Hoa xưa. Loại hình nghệ thuật này có tên gọi gốc là “những hình nhân kẹo” với lịch sử hơn 600 năm. Những phần kẹo được làm từ một loại đường nóng và có độ dẻo mịn. Điểm đặc biệt ở đây là món không được chế biến theo kiểu thông thường mà người thợ phải thổi để tạo hình cho chúng.

Được biết, Kẹo đường thổi xuất hiện từ thời nhà Minh. Vào thời này, người Trung Quốc thường nấu chảy đường, sau đó đổ vào khuôn để tạo nên những hình nhân kẹo nhằm phục vụ cho việc cúng bái trong tôn giáo. Đến thời nhà Thanh, những chiếc kẹo trở nên phổ biến hơn với người dân và người ta đã bắt đầu làm và bán chúng trên đường phố. Và dần Kẹo đường thổi trở thành một nghệ thuật dân gian mang tính truyền thống. 

Chỉ với một nguyên liệu duy nhất là mạch nha hoặc đường nấu chảy thôi mà những nghệ nhân cũng đã khéo léo thổi, kéo, nặn chúng thành những miếng kẹo mang hình dáng sinh động, tạo niềm vui cho biết bao khách hàng nhỏ của mình.

Kẹo đường thổi có kết cấu của những cục đường có độ dẻo mịn là nhờ người thợ nhào chúng rất kĩ và qua nhiều lần. Kỹ thuật làm loại kẹo đường thổi rất đa dạng, mỗi người bán kẹo có thể có cách làm khác nhau để tạo nét riêng cho những sản phẩm của mình. Nhưng cơ bản nhất vẫn là đun mạch nha đến khi đạt được một kết cấu đặc và dẻo như đất sét. Sau đó, nghệ nhân sẽ dùng tay ngắt ra một ít mạch nha từ hỗn hợp trên theo kích thước của nhân vật họ muốn nặn. Rồi bằng cách tài tình của mình, các nghệ nhân thổi hơi vào bên trong viên mạch nha qua “chiếc đuôi” để làm cho viên kẹo phồng lên. Chỉ một lát sau, cục đường lúc nãy đã dần phình to ra như quả bóng. Để tạo hình thì nghệ nhân sẽ vừa nắn vừa thổi. Như thế mà từ từ những phần kẹo mang hình dáng theo yêu cầu sẽ được hoàn thành. Sau khi đã đạt được kích thước hợp lý thì họ sẽ dùng một que tre có phủ đường để cắm vào phần kẹo và cắt bỏ sợi đường dư. Cuối cùng, người thợ tô vẽ thêm vài màu sắc để tạo thành sản phẩm hoàn chỉnh.

Tác phẩm hoàn thành sẽ là những phần kẹo trông như quả bóng nhưng lại ngọt ngào và xinh xắn. Cái hay ở đây chính là sự khéo léo của những người nghệ nhân, làm sao điều chỉnh được lượng khí cũng như nắn nót tạo hình sao cho thật đẹp. Người mua có thể yêu cầu bất kì kiểu dáng nào để người thợ làm ra, nhưng thường là các con vật, hồ lô,…

Kẹo đường thổi ngày xưa là niềm vui của những đứa trẻ ở Trung Quốc. Khi có một hàng kẹo được bày ra là cả đám tụm lại chăm chú theo dõi những đôi tay thoăn thoắt hô biến ra nào là con rồng, con ngựa, con thỏ hay bông hoa,… Và dần chúng đã trở thành một nghệ thuật dân gian mang tính truyền thống. Tuy nhiên, ngày nay, văn hóa này dường như đã mai một và rất khó để tìm thấy ở Trung Quốc. Nhưng đây lại là một phần ký ức tuổi thơ của biêt bao người dân Trung Hoa. Món quà tuy nhỏ bé, đơn giản nhưng chứa đựng trong đó nhiều tâm huyết của những nghệ nhân, niềm vui của các em nhỏ và kỷ niệm ấu thơ của nhiều người.

Văn hóa Trung Hoa có rất nhiều điều thú vị và hấp dẫn đang chờ đón du khách đến tìm hiểu và khám phá. Vậy còn chần chờ gì nữa mà du khách không book ngay cho mình một Tour Trung Quốc để có được những trải nghiệm tuyệt vời khi đặt chân đến vùng đất rộng lớn này!

Thạch giun biển – món ăn với hình dáng kinh dị, nhưng ai ăn thử cũng “nghiện”

Thông thường khi nhắc đến thạch, chúng ta sẽ nghĩ đến những món tráng miệng ngọt, thơm, được làm từ các loại trái cây, sữa, đường, kem… Tuy nhiên, phiên bản thạch “mặn” có tên là “Thạch giun biển” ở Trung Quốc đã đem đến sự khác biệt lớn. 

Ở thành phố Hạ Môn của Trung Quốc có một món ăn vặt truyền thống, người dân khuyến khích nên thử và được giới thiệu là có nguyên liệu và kết cấu lạ lẫm, đặc biệt màu sắc lẫn hương vị thơm ngon, đó là món “Thạch giun biển”. Tuy nhiên, khi nghe cái tên của nó, không ít khách du lịch nước ngoài phải kinh sợ. 

Theo lịch sử địa phương, món thạch giun biển đã có từ lâu, gắn liền với sự sáng tạo của quân lính trong thời chiến ngày xưa. Người ta kể rằng, món này có liên quan tới Thích Kế Quang. Vào thời nhà Minh, khi quân Nhật xâm chiếm bờ biển phía đông nam Trung Quốc. Thích Kế Quang dẫn đầu đoàn quân liều mình đánh trả quân Nhật, nhưng vì thiếu lương thực nên họ buộc phải đi bắt hải sản ở bãi triều (một vùng đất ngập nước ven biển). Khi đi bắt ốc, quân lính vô tình bắt được một loài giun biển có hình dáng đặc biệt, họ đã nấu riêng loại giun này và tạo ra món ăn như bây giờ.

Loại giun biển được nhắc đến trong món thạch này thuộc bộ Sphaerocarpus, có tên khoa học là Leucocephalus serrata. Giun biển dài khoảng 1-2cm, sau khi luộc chín, gelatin chứa trong cơ thể giun sẽ hòa tan trong nước, đợi nó nguội sẽ trở thành món thạch trong suốt. Nhìn miếng thạch giun biển như rau câu, nhưng khi ăn vào lại có vị hoàn toàn khác hẳn, mặn mặn, béo béo, vị rất ngon.

Sau khi đánh bắt ở các bãi triều, giun biển được ngâm muối để nhả hết cát và chất bẩn. Sau khi luộc lên, người ta thường cho giun vào những khuôn nhỏ để làm thạch. Khi nguội, những viên thạch được tách khỏi khuôn.

Thạch giun biển trong suốt nhìn thấy rõ từng con giun bên trong, khi ăn rất giòn, dẻo. Lần đầu ăn, có lẽ không ít người choáng váng không dám nhìn chứ đừng nói là ăn thử. Thế nhưng, cứ thử “liều”, du khách sẽ cảm nhận được vị ngon của nó và dần chuyển sang sự thích thú.

Nếu có dịp du lịch Trung Quốc và ghé thăm vùng đất Hạ Môn xinh đẹp, du khách đừng bỏ qua cơ hội thưởng thức món thạch độc đáo này nhé!

Bún chuột gạo – món ăn nghe “đáng sợ” nhưng rất lại rất ngon ở Trung Quốc

Là một đất nước rộng lớn và đông dân, Trung Quốc sở hữu nền ẩm thực vô cùng phong phú và đa dạng. Mỗi vùng miền lại có những đặc trưng ẩm thực riêng. Bên cạnh những món ăn thơm ngon, hấp dẫn từ hình thức đến chất lượng thì ẩm thực Trung Quốc cũng có nhiều món ăn trông có vẻ “đáng sợ”, điển hình như món Bún chuột gạo. 

Bún chuột gạo, một đặc sản nức tiếng nhưng cũng gây rất nhiều tranh cãi ở tỉnh Mê Châu. Món ăn này có cái tên nghe rất lạ, thậm chí dù sau khi nhìn thấy cũng chưa chắc dám thưởng thức. Thế nhưng nhiều khi “nhắm mắt làm liều” ăn thử lại thấy nó rất ngon, hoàn toàn trái ngược với tên món ăn hay vẻ bề ngoài.

Bún chuột gạo, cái tên nghe khó hiểu này khiến nhiều người nghĩ rằng đây là một loại thực phẩm được làm bằng thứ gì đó có liên quan tới chuột. Thế nhưng, trên thực tế, nó là một loại mì ống ở Châu Mỹ hay còn được gọi là bún ở Trung Quốc. Không biết từ bao giờ nó đã trở thành một đặc sản địa phương, bởi một phần vẻ ngoài của nó trông giống như đuôi của con chuột. Có lẽ vì thế mà nhiều người đặt tên là “bún chuột gạo”.

Đừng vội đánh giá thấp loại bún này, nó rất nổi tiếng ở địa phương và nhiều người khẳng định là có hương vị tuyệt vời. Khác với những loại bún thông thường dài và mảnh, bún chuột gạo cũng được làm từ bột gạo nhưng nó dai hơn. Nước dùng khi ăn cùng với loại bún này cũng đa dạng và tùy vào từng quán mà có hương vị đặc trưng riêng.

Bún chuột gạo thường được người dân ăn nhiều nhất vào mùa hè và có thể tìm mua thấy quanh năm. Một số khách du lịch khi đến Mê Châu lần đầu tiên đều được gợi ý là nên ăn thử món này đầu tiên, nhưng sau khi nghe tên thì họ lại cảm thấy phân vân và hiểu nhầm. Tuy nhiên, khi đã ăn thử thì nó thực sự rất ngon và đáng để thưởng thức.

Ở Trung Quốc còn rất nhiều món ăn “độc lạ”. Nếu du khách muốn khám phá nhiều hơn về nền ẩm thực Trung Hoa cũng như những món ăn nổi tiếng của đất nước này thì hãy book tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! Chúc du khách có một chuyến du lịch thú vị và vui vẻ!

Lianzi Mantou – loại bánh có hình dáng rất đặc biệt ở Sơn Đông, Trung Quốc

Sơn Đông đang là điểm du lịch thu hút đối với nhiều bạn bè quốc tế. Ngoài được tham quan và khám phá những thắng cảnh đẹp, du khách còn được thưởng thức các món ăn đặc sản Sơn Đông vô cùng đa dạng và hấp dẫn, điển hình như món bánh Lianzi Mantou. Loại bánh này có hình dáng rất đặc biệt, mùi vị rất ngon và là đặc sản nức tiếng tỉnh Sơn Đông.

Bánh Lianzi Mantou (bánh hấp ký) đã có lịch sử hơn 100 năm, xuất hiện từ thời Càn Long Đế của nhà Thanh. Vào mỗi dịp năm mới, người dân sẽ làm món này để cầu chúc cho con cái trở thành quan chức.

Loại bánh này có màu trắng, hình dáng bóng bẩy, vị ngọt thanh, mùi rất thơm, mềm tan trong miệng, hàm lượng dinh dưỡng rất cao nên phù hợp với mọi lứa tuổi. Nó sử dụng lúa mì chất lượng cao, thêm men, muối soda, nhào nhiều lần rồi cắt thành từng đoạn, tạo hình bằng tay. Nó được quấn vào một xiên tre rồi cho vào nồi hấp, đầu nhọn, ở giữa phình to, chỉ cần hấp 20 phút là có thể ăn được. Cách làm về cơ bản không khác gì màn thầu, nhưng kích thước của nó có thể lên tới 20cm, đường kính 3,5cm.

Tại Quảng Đông, thương hiệu bánh Lianzi Mantou của ông Trần Diễm Cường nổi tiếng khắp nơi. Ông Trần có hơn 20 năm với nghề làm bánh này, bánh của ông có mùi vị rất riêng, khó nơi nào sánh bằng. Ông là người thứ 5 thừa kế truyền thống này của gia đình, phần lớn bánh ông làm đều là thủ công, nhưng ông sắp sửa chuyển đổi sản xuất để gia tăng số lượng bánh làm ra. Ông cho biết, loại bánh này rất được ưa chuộng, trung bình mỗi ngày bán khoảng 7 tấn, đó thực sự là một con số rất khủng. Bánh Lianzi Mantou của ông Trần Diễm Cường đã đăng ký thành công “Di sản văn hóa phi vật thể Đức Châu”, đạt danh hiệu “Thương hiệu lâu đời Đức Châu” và được công nhận là “món ăn nhẹ nổi tiếng nhất Sơn Đông”.

Trong hành du lịch Trung Quốc, du khách hãy nhớ ghé thăm vùng đất Sơn Đông xinh đẹp dể thưởng thức món bánh Lianzi Mantou nức tiếng này nhé! Chắc chắn đó là một trải nghiệm ẩm thực mà du khách khó lòng quên được!

9 loại trái cây “độc lạ” ở Trung Quốc

Ở Việt Nam, trái cây hay rau củ thường được liệt vào sản phẩm giá rẻ vì luôn được trồng nhiều và bày bán rộng rãi. Ngược lại, tại Trung Quốc từng xuất hiện những loại trái cây có giá rất đắt. Đa phần những loại quả này có quá trình nhân giống và trồng trọt cực kỳ khó khăn, hình thức độc nhất vô nhị và hương vị thì khác xa những loại bình thường.

1. Táo gỗ

Loại trái cây này không liên quan gì đến táo, có thể là do hình dạng và kích thước tương tự nhau nên người dân gọi đây là Táo gỗ. 

Tại Trung Quốc, loại táo đặc biệt này thường chỉ được trồng ở một số vùng nhất định như Hà Nam, Thiểm Tây, Chiết Giang,… Quả Táo gỗ tròn, bề mặt sần sùi, khi chưa chín thì thịt bên trong có màu trắng đục, khi bổ ra có thể thấy bên trong đầy thịt. Khi gần chín, thịt của nó sẽ co lại giống như trái cây sấy. 

Quả Táo gỗ thường được làm nước trái cây, súp, đôi khi còn được làm thành rượu lên men. Người Trung Quốc rất thích vị ngọt của nó nên thường trả giá cao để mua được.

2. Quả cây nho đỏ 

Ở Trung Quốc, người ta gọi đây là quả đèn lồng, thường phân bố ở Sơn Tây, Thiểm Tây, Cam Túc,… Thông thường mùa vụ của quả này rất ngắn, từ tháng 7-8, do đó cứ đến mùa là người ta lại háo hức đi thu hoạch rồi mang về sấy khô ăn dần quanh năm.

Không chỉ có ở Trung Quốc mà loại quả này còn rất được ưa chuộng vào mùa hè ở phương Tây. Nó có vị ngọt, thơm khi chín đỏ, nếu quả vẫn còn xanh thì có vị hơi chua.

3. Quả Sâm sữa

Quả Sâm sữa, hay còn gọi là dưa pepino. Loại quả này có vỏ màu vàng với những đường kẻ sọc màu tím dọc thân, hình tròn căng mọng, to như quả cà chua hoặc bằng quả mận hậu. Khi bóc bỏ vỏ mỏng, phần thịt bên trong màu vàng ươm, đặc ruột. Loại quả này khi ăn có vị ngọt thanh mát, nhiều nước, ăn rất dễ chịu, giống vị dưa gang và hồng xiêm. 

4. Quả Khúng khéng

Quả này thuộc họ táo, khi trưởng thành thường mọc nhánh giống hình dạng chân gà và đậu quả, quả của nó có hình cầu, lớn dần, màu hồng nhạt và có vị ngọt rất dễ chịu khi chín.

Vì quả của cây này rất cứng nên người ở nông thôn không thích, ngược lại dân thành phố lại khá ưa chuộng. Hàm lượng vitamin C trong quả Khúng khéng rất cao, nên nó còn được gọi là “vua vitamin C”. Bên cạnh đó, quả này còn có giá trị dược liệu, chữa được rất nhiều bệnh.

5. Quả Rosa Roxburghii

Đây là quả của loài hoa thuộc họ hoa hồng, nó có rất nhiều tên tùy theo từng quốc gia như lê gai, dứa núi,… Quả này thường mọc trên núi cao hay những vùng hoang dã. Người dân Trung Quốc thích nó bởi mùi vị chua ngọt dễ chịu, hương thơm hấp dẫn và giá trị dinh dưỡng cao. Ước tính 1gram có đến 2.000mg vitamin C.

6. Quả cây Sang

Quả của cây Sang có hình cầu, hạt màu đỏ khi chín, thường được người dân nướng hoặc rang lên sẽ có mùi thơm, ăn bùi bùi rất ngon. Tuy nhiên, loại quả này cần phải được nấu chín kỹ nếu không sẽ dễ dẫn tới ngộ độc.

7. Quả cà tím núi

Quả cà tím núi thường chỉ mọc trên núi cao, quả hình bầu dục, màu xanh tím, có vị ngọt rất ngon. Không chỉ là loại trái cây thông thường, nó còn có giá trị dược liệu cao khi chứa rất nhiều dưỡng chất có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, hạ huyết áp, giải độc máu, kích thích sự thèm ăn của trẻ… Do đó, rất nhiều phụ huynh Trung Quốc tìm mua loại trái cây này về cho con cái ăn.

8. Quả Thanh Long vàng

Thanh Long là loại trái cây quen thuộc với nhiều người, không chỉ ở Việt Nam mà cả Trung Quốc. Giá bán của Thanh Long tương đối rẻ, thường chúng ta sẽ thấy nó có vỏ màu hồng, ruột trắng hoặc đỏ. Thế nhưng tại Trung Quốc, Thanh Long có màu vàng, giá bán đắt gấp 10 lần so với loại bình thường và được ví như “quả tổ yến”. Sự khác biệt giữa kích thước, màu sắc của loại quả Thanh Long này khiến người ta cực kỳ thích thú.

So với quả Thanh Long thông thường, loại này có chất lượng tốt hơn, độ ngọt của nó vừa phải, kích thước nhỏ nhắn, xinh xắn nên rất được ưa chuộng. Về giá cả, Thanh Long vàng được bán với giá 60 NDT/0,5kg (213.000 đồng VNĐ), gấp 10 lần loại thông thường. Vào thời điểm được nhiều người tìm mua nhất, giá của nó có thể lên tới 100 NDT.

Nhiều người chưa ăn Thanh Long vàng thắc mắc không biết kết cấu bên trong của nó như thế nào. Thực tế, thịt của quả Thanh Long này có màu trắng, chỉ có lớp vỏ bên ngoài màu vàng đặc biệt.

Hiện nay, Thanh Long vàng chưa được trồng nhiều tại Trung Quốc, quy mô còn hạn chế, diện tích trồng nhỏ. Hơn nữa, loại thanh long này có yêu cầu khắt khe về môi trường sinh trưởng, độ ẩm, nhiệt độ, chất lượng đất,… tất cả đều phải đáp ứng các tiêu chuẩn nhất định, gây không ít khó khăn cho người trồng. Ngoài ra, thời gian ra quả của Thanh Long vàng tương đối dài, mất khoảng 7 tháng và hơn nửa năm quả mới chín. Năng suất thấp như vậy nên khi được tung ra thị trường, giá thành của nó đắt là chuyện rất bình thường.

9. Quả Lê hình Phật

Những quả Lê có hình dáng độc lạ này được sáng tạo bởi một nông dân tên Xianzhang Hao sống ở Hà Bắc, Trung Quốc. Để tạo ra hình Phật, người ta phải sử dụng những chiếc khuôn có sẵn và chăm sóc cực kỳ công phu.

Hiện tại, mỗi quả Lê thế này được bán với giá khoảng 9 USD (gần 214.000 VNĐ). Nhiều người tin rằng ăn quả Lê hình Phật này sẽ giúp mang lại sự may mắn.

Qua bài viết trên, du khách đã biết về các loại quả kỳ lạ của đất nước Trung Quốc rồi đúng không nào? Trung Quốc rộng lớn và luôn ẩn chứa rất nhiều điều kì lạ. Hãy đồng hành cùng chúng tôi trong tour Trung Quốc để khám phá thêm những điều thú vị nhé!

Những đặc sản nên thưởng thức khi đặt chân đến Tây Tạng, Trung Quốc

Tây Tạng không chỉ là điểm đến hấp dẫn bởi cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, những điểm đến linh thiêng tọa lạc nơi thánh địa của Phật giáo, mà vùng đất này còn sở hữu nền ẩm thực. Đến Tây Tạng, món ăn nào cũng xứng đáng để du khách thưởng thức một cách trọn vẹn.

Do đặc điểm địa hình có nhiều núi đồi, người Tây Tạng không lấy gạo làm nguồn lương thực chính. Thay vào đó, họ trồng lúa mì và lúa đại mạch, và chính đặc điểm này cũng góp phần tạo nên nét đặc biệt trong ẩm thực của mình. Bên cạnh đó, lối sống du canh du cư cùng sự khắc nghiệt của thời tiết cũng ảnh hưởng đến nét ẩm thực của Tây Tạng nên hầu hết các món ăn tại đây đều chứa rất nhiều năng lượng. Với đặc điểm địa hình và cư trú khá đặc biệt, văn hóa ẩm thực của Tây Tạng cũng rất khác biệt và thú vị.

Bánh Tsampa

Tsampa hay lúa mạch là một trong những cây lương thực chính ở Tây Tạng, chính vì thế các món ăn được chế biến từ nó cũng trở nên quen thuộc trong mọi gia đình người dân nơi đây, trong đó có thể nhắc tới bánh Tsampa.

Người Tây Tạng tạo ra bánh Tsampa khá cầu kỳ qua nhiều công đoạn. Ở khâu nguyên vật liệu, lúa mạch hoạch đậu bột của đậu hà lan là 2 lựa chọn tốt nhất để làm ra chiếc bánh Tsampa thơm ngon. Người ta mang lúa mạch đi rang chín để khi làm bánh sẽ có mùi thơm và ngon hơn. Sau khi đã chín đều, nguyên liệu này sẽ được đi đánh nhuyễn với Trà Bơ. Hỗn hợp đã hòa quyện vào nhau, các đầu bếp sẽ bắt đầu nặn hình bánh Tsampa.

Nặn bánh Tsampa phải đều tay và khéo léo, để bánh có hình dáng đẹp mắt và vừa miệng hơn. Ngoài cách chế biến này, người ta cũng đã tìm ra nhiều cách làm khác mang đến các hương vị mới mẻ và thú vị cho loại bánh truyền thống này.

Bánh Momos

Bánh Momos giống như bánh bao truyền thống của Trung Quốc. Gồm một lớp vỏ bánh mịn, trong gói lấy nhân bên trong từ thịt bò Yak và rau. Nếu là loại bánh chay thì nhân bánh sẽ là bắp cải, hành tây và nấm…

Bánh Momos thường được nặn với hình nửa mặt trăng, rồi đem đi hấp hoặc chiên và ăn kèm với tương ớt cùng dưa chuột. Thậm chí món bánh này dùng để nấu súp cũng cho hương vị rất đặc biệt. 

Bánh Amdo Balep

Món ăn sáng truyền thống của người Tây Tạng chính là Amdo Balep – một loại bánh được làm từ lúa mì. Người ta trộn hỗn hợp bột mì, bột nở và nước sau đó tạo hình thành khuôn dáng tròn dẹp rồi chiên giòn trên chảo hoặc nướng chúng trong lò nướng. Tùy vào khẩu vị của từng người mà có thể thêm chút muối hoặc bơ vào để bánh thêm đậm đà. Phần bánh này thường được ăn kèm với thịt hầm và cà ri.

Bánh Sha Balep

Sha Balep, bánh mang vẻ ngoài như bánh xếp thông thường nhưng lại có hương vị thơm và giòn hơn. Bánh có phần nhân được làm bằng thịt và ăn kèm với tương ớt cay nồng. Loại bánh này cũng trở thành một sự lựa chọn lý tưởng trong các thực đơn ăn sáng của người dân Tây Tạng.

Bánh Tingmo

Vì Tây Tạng mang những nét giao thoa văn hóa của Trung Quốc nên ẩm thực nơi đây có nhiều món ăn gần giống với đất nước láng giềng. Tingmo được miêu tả như bánh màn thầu của người Trung Quốc, nhưng chúng đặc biệt ở chỗ, Tingmo không hề có nhân.

Bánh Khapsey

Bánh quy Tây Tạng được chiên giòn thường dùng trong các dịp lễ như Tết Tây Tạng hoặc đám cưới. Khapseys được làm thành nhiều hình dáng đa dạng. Vài loại còn được phủ đường, trong khi các loại khác như loại khapseys hình tai lừa thì được dùng để trang trí.

Mì Tây Tạng (Thukpa)

Mì Thukpa là món ăn đặc trưng của vùng phía Đông Tây Tạng. Thành phần chính của món ăn này là mì sợi nhỏ Bhatsa dai dai, nó được so sánh như sợi mì Gnochi của người Ý. Thukpa thường được ăn kèm với thịt cừu hoặc thịt bò. Thukpa tuy có nhiều cách chế biến nhưng có một điểm chung là nước dùng cay đậm đà nóng sốt.

Ở Tây Tạng, Mì Thukpa được coi là món ăn truyền thống và được ăn trong dịp sang năm mới. Những nhà hàng ở Tây Tạng hầu hết đều có món ngon này trong thực đơn.

Lapping

Lapping hay còn gọi là món mì nguội mang nhiều điểm tương đồng với món mì trộn Trung Hoa. Một tô Lapping gồm những sợi mì trong suốt, dai dai, ăn kèm với hành lá xắt nhỏ và ớt sấy. Món mì nguội cũng thường được ăn cùng với với khoai tây thái viên.

Thịt bò Yak 

Bò Yak là vật nuôi thường thấy nhất ở Tây Tạng. Thịt bò này rất dai và bổ dưỡng với hương vị tinh tế, trở thành thương hiệu của Tây Tạng. Thịt Yak giàu calo thường được băm nhỏ và người Tây Tạng sẽ ướp muối cùng các gia vị tự nhiên khác lên nó. Sau đó, họ sẽ treo thịt Yak vào sợi dây để làm khô tự nhiên.

Xúc xích Tây Tạng

Người Tây Tạng thường tạo ra các sản phẩm ngon nhất từ bò Yak và cừu. Họ thích các loại xúc xích khác nhau, bao gồm xúc xích thịt, xúc xích máu, xúc xích bột, xúc xích gan, xúc xích phổi,… Trong số tất cả các loại xúc xích, xúc xích máu và xúc xích trắng là những loại phổ biến và phổ biến nhất.

Xúc xích máu được làm từ ruột non Yak hoặc cừu được buộc vào với thịt cừu băm nhỏ trộn với máu cừu, muối, hạt tiêu Tứ Xuyên và bột Tsampa. Thành phần của xúc xích trắng là gạo, máu cừu, mỡ cừu và một số gia vị khác.

Dresil

Đây là một món ngọt của Tây Tạng được nấu với gạo, sau đó trộn thêm bơ nhạt, hạt điều và một số loại quả khô. Dresil được người Tây Tạng dùng trong những ngày quan trọng của năm như cưới hỏi, ngày Phật lịch hay ngày đầu năm mới với lòng tin sẽ đem lại may mắn, bình an cho họ trong suốt cả năm.

Cơm nhân sâm

Nhân sâm tuy là một loài thực vật khá quý hiếm và mắc tiền trên thế giới, nhưng Tây Tạng, cây nhân sâm sẽ có nhiều hơn so với những quốc gia khác. Vì vậy, ngoài việc làm quà biếu cho bạn bè và người thân khi du lịch Tây Tạng thì việc thưởng thức món cơm nhân sâm tại đất nước này cũng là một trải nghiệm đắt giá mà các du khách nên một lần nếm thử.

Về cách nấu của món này đó là cơm nấu cùng trái của nhân sâm để dậy mùi, thêm một chút đường. Đây được xem như một món ăn cao lương vì vậy cơm nhân sâm thường được đãi trong dịp lễ hội hoặc năm mới của Tây Tạng. Món cơm Tây Tạng này không chỉ là biểu trưng cho sự may mắn và tốt lành mà còn giàu dinh dưỡng cho đường tiêu hóa cũng như có lợi cho sức khỏe bởi các dưỡng chất có trong trái nhân sâm.

Nấm Tây Tạng

Nấm Tây Tạng rất đa dạng với nhiều chủng loại khác nhau, được sản sinh trên những dãy núi tuyết vĩnh cửu và phát triển nhờ sự chênh lệch nhiệt độ rất lớn giữa mùa hè và mùa đông. Nữ hoàng của các loại nấm chính là nấm kê tùng, nấm có công dụng chống lão hóa và làm đẹp da.

Nếu du khách đặt chân đến thủ đô Tây Tạng – Lhasa, hãy thưởng thức món lẩu nấm chế biến từ hơn 20 loại nấm khác nhau như nấm tre tiên, nấm vuốt hổ đen, nấm đùi gà, nấm mỡ gà, nấm kim châm, nấm gan bò, nấm tuyết,… Mỗi loại nấm đều rất bổ dưỡng và có tác dụng chữa bệnh riêng. Bí quyết của nghệ thuật ẩm thực Tây Tạng chính là quy trình chế biến các loại nấm rất nghiêm ngặt để phát huy hết công dụng của nấm.

Sữa đông và sữa chua

Người Tây Tạng sống ở khu vực cao nguyên chủ yếu nuôi bò Yak và cừu dẫn đến ăn nhiều thực phẩm có liên quan. Bên cạnh đó, khách du lịch sẽ phát hiện ra người Tây Tạng ăn tất cả các loại sản phẩm từ sữa, bao gồm “Ghee” (bơ), thịt, sữa chua và sữa đông (Pho mát Tây Tạng).

Sữa đông là phần cô đọng của sữa đun sôi, có vị chua. Người Tây Tạng mang nó khi đi du lịch để tránh sự bất ổn về môi trường. Sữa đông có thể được ăn như đồ ăn nhẹ hoặc được sử dụng để làm bánh Tây Tạng. Bên cạnh đó, sữa đông chiên có vị rất ngon nữa nhé!

Bên cạnh đặc sản Sữa đông, món Sữa chua cũng nổi tiếng không kém. Sữa chua “xứ du mục” Tây Tạng với màu trắng kem thường được rắc thêm các hoa quả mọng nước như nho hoặc dâu tây. Quy trình lên men của sữa chua Tây Tạng khác biệt khi lên men với sữa Yak và đặc biệt không sử dụng bất kỳ chất phục gia nào. Vậy nên, món tráng miệng tại đây mang đến nhiều lợi khuẩn cho sức khỏe hàng ngày và còn trở thành thực phẩm không thể thiếu trong các buổi lễ tôn giáo đặc biệt.

Trà Bơ

Trà Bơ hay còn được biết đến là trà Po Cha. Đây là loại trà được uống nhiều nhất, nói theo cách khác, loại thức uống này là “quốc hồn quốc tuý” của vùng đất Tây Tạng.

Với khách du lịch Tây Tạng đến từ khắp nơi trên thế giới thì loại trà này có hương vị béo béo, thơm thơm mà lại mằn mặn kỳ lạ. Đây là một món quà quý giá mà người Tây Tạng thiết đãi với du khách, thể hiện sự hiếu khách của họ. 

Để chế biến Trà Bơ, người Tây Tạng sẽ đun trà đen Pu-erh (loại trà được chế biến từ lá các cây trà lâu năm, hoang dại hay từ các dãy núi) với nước sôi trong thời gian khá lâu so với những loại trà thông thường khác. Sau khoảng một tiếng đun trà, họ cho bơ bò, sữa bò và chút muối hồng Himalaya vào, rồi dùng bình trà Chandong để hòa tan trà, sữa cùng với bơ. Loại bơ để dùng với trà, được người dân bọc vải hoặc dùng dạ dày bò Yak để bảo quản chuẩn vị đúng hương.

Thử một lần nhấm nháp Trà Bơ, du khách sẽ cảm nhận được ba tầng hương vị đặc biệt của nó. Ban đầu vị mặn của muối, đậm đà béo ngậy của bơ sẽ lấn át trong ngụm trà đầu tiên, hương vị của trà lúc này chưa được bộc lộ rõ. Nhưng sau đó, hương vị của trà đen mới bắt đầu tấn công vào vị giác, đầu lưỡi chúng ta cảm nhận được chút chát chát, thanh thanh. Cuối cùng khi ngụm trà qua đi thì sẽ lưu lại chút ấm áp, ngòn ngọt nơi gốc lưỡi người uống – mùi vị của loại sữa bò được vắt từ sáng sớm tinh mơ trên cao nguyên Tây Tạng. 

Trà ngọt

Trà ngọt cũng là một loại trà phổ biến ở vùng đất Tây Tạng. Có một câu nói rằng: “Trà ngọt Tây Tạng là máu của Lhasa”, qua câu nói này du khách có thể nhận ra được Trà ngọt có tầm quan trọng như thế nào trong cuộc sống của người dân Tây Tạng. Khác với danh tiếng của Trà Bơ, Trà ngọt nhận được nhiều tình cảm của khách du lịch vì nó có mùi dễ chịu hơn và hương vị không quá mạnh.

Trà ngọt có cách pha chế khá đơn giản. Đun sôi sữa với trà gạch và thêm đường. Điều đó nghe có vẻ đơn giản nhưng món đồ uống này chỉ ngon khi người Tây Tạng làm nó.

Rượu lúa mạch

Rượu lúa mạch (Chang) là loại rượu truyền thống và tự chế biến ở Tây Tạng. Loại rượu này được ủ từ lúa mạch lên men trồng trên vùng cao. Rượu nhẹ, hơi ngọt và chua và chứa ít cồn. Hương vị của Chang khác nhau từ phương pháp làm này đến phương pháp làm khác.

Kế thừa hơn 400 năm, Rượu Chang có hương vị độc đáo và gần như tất cả các gia đình Tây Tạng có thể tự làm được. Họ thường uống nó trong các lễ hội, năm mới, đám cưới, sinh em bé và thăm người thân và bạn bè.

Bia Lhasa

Được coi là bia từ “mái nhà của thế giới”, không có cái tên nào phổ biến hơn bia Lhasa cho du khách quốc tế khi ghé thăm Tây Tạng.

Bia Lhasa được làm từ nước suối Himalaya, lúa mạch vùng cao, hoa bia saaz và men bia. Bia Lhasa được bán trong lon và chai với hương vị thơm ngon và chất lượng tuyệt hảo!

Tây Tạng không chỉ là một vùng đất “hẹn đẹp như mơ” mà tín đồ ưa xê dịch luôn mong muốn được đặt chân đến một lần. Tây Tạng còn là vùng đất của nhiều món ăn, thức uống độc đáo mà chỉ nơi này mới có. Là duy nhất và độc tôn.

Nếu có dịp ghé thăm vùng đất Tây Tạng trong hành trình du lịch Trung Quốc, nhất định du khách phải thử qua một lần những đặc sản mà chúng tôi đã vừa giới thiệu trên đây nhé! Chắc chắn đây sẽ là một trải nghệm đầy thú vị dành cho du khách đấy!

Tưng bừng lễ hội đua ngựa Dangjiren ở Tây Tạng, Trung Quốc

Lễ hội đua ngựa có tên gọi “Dangjiren” đã được tổ chức suốt hàng trăm năm nay, bắt nguồn từ sự tôn vinh sơn thần và mùa hè Tây Tạng. Lễ hội Dangjiren là dịp tốt để du khách ngắm những tay du mục trên lưng ngựa, thảo nguyên xanh bao la đến tận chân trời và thưởng thức thịt và sữa chua bò lông vàng Yak.

Cứ tới đầu tháng 8, khi hoa dại nở rộ và những đồng cỏ lên xanh bát ngát, người Khampas – một dân tộc du mục ở cao nguyên Tây Tạng lại đổ về Damxung –  một quận nằm ở độ cao trung bình 4.300m ở phía bắc thành phố Lhasa để tham dự một lễ hội vui, chủ yếu là đua ngựa. Ai nấy đều mặc những trang phục cổ truyền rất sặc sỡ, trong đó có những cái áo tay dài tha thướt như đôi cánh tiên, rồi nhảy múa, ca hát, thậm chí đua ngựa lãng mạn như thể thần tiên hạ phàm vậy. Và họ dựng ven đường, dọc theo thung lũng vô số lều trại, đưa Damxung trở thành một biển lều sinh động, tráng lệ.

Do đời sống du mục phụ thuộc nhiều vào ngựa, giúp săn bắn, đi lại và thồ hàng nhanh chóng nên hằng năm, người Khampas luôn dành khoảng 7 hôm giữa mùa mưa nhằm chọn ra những chú ngựa khỏe nhất, những người cưỡi giỏi nhất và tổ chức thành các cuộc thi. Họ thi đua ngựa, cưỡi ngựa bắn cung, cưỡi ngựa quăng dây, cưỡi dưới bụng ngựa, nhặt lụa Hada (một dải lụa có ý nghĩa quan trọng trong Phật giáo về sự an lạc, hạnh phúc…) dưới đất và các trò khác như nhào lộn, tung hứng, trồng cây chuối lúc ngựa phi, kéo co, cử tạ, trình diễn thời trang, nhảy múa.

Trong suốt lễ hội, họ còn rao bán nhu yếu phẩm như áo Chuba, giầy Sueba, mũ Bazhu, tạp dề Bangdian, vòng cổ các loại bằng vàng bạc, ngọc ngà, san hô, mã não quý giá, những thứ chỉ Tây Tạng mới có. Khi đến hội của người Khampas, dù không mua gì, du khách cũng được đón tiếp rất nồng hậu, mời vào trong lều Bra-nag uống trà bơ, rượu sữa ngựa, ăn thịt bò Yak bên những bếp lửa ấm cúng. Có hàng ngàn túp lều rực rỡ quanh hội chợ và bên trên đều in vẽ, thêu, đính đầy biểu tượng Phật giáo và là chốn nghỉ ngơi an lành của du khách qua đêm.

Từ sáng tinh mơ của mỗi ngày hội, mọi người đã xếp hàng chật đường, dọc các trường thi để xem đua ngựa và chưa cần đua, chỉ cần nhìn đoàn người ngựa nối đuôi nhau diễu hành đã thấy thú vị. Mỗi chú ngựa đua đều được trang điểm rất đỏm, thường là cổ đeo vòng lục lạc (chuông), đuôi sẽ buộc nơ (tua rua), còn lưng đóng yên lộng lẫy bảy màu. Chủ của nó cũng rất bảnh, ngoài áo quần nhiều màu thì trên người còn lủng lẳng đủ thứ vòng xuyến. Nói chung trang sức của cả nam lẫn nữ Tây Tạng dù chỉ là một cái hạt trong vòng cổ cũng to bằng cỡ chén hạt mít. Từng người dắt theo một chú ngựa, tuy khác màu song cùng là nòi Tibetan pony hoặc Riwoche. Tùy nội dung, ai đó sẽ đua tốc độ trong vài trăm mét tới hàng cây số hoặc thi bắn nỏ, bắn súng, cúi rạp người xuống đất, kéo lê thê để lấy lụa Hada. Mỗi đợt thi đều rất gay cấn, kịch tính vì người chơi luôn ở trạng thái đua chen sát nút và những tư thế, động tác của họ như bay lên hay cùng ngả người đón vật gì đều làm khán giả hồi hộp, phấn khích vì vẻ đẹp khó tả.

Tuy nói là đua ngựa song nó là một trò chơi tạp kỹ, cầu kỳ, nhiều pha mạo hiểm, ngoạn mục và cần có sức mạnh, sự khéo léo, dũng cảm của một chiến binh và nghệ sĩ xiếc. Xem đua ngựa đã thích mắt, song tại đây còn thấy nhiều màn biểu diễn ấn tượng nữa gồm ca, vũ, kịch dựa trên Phật thoại. Và du khách sẽ được xem opera của Tây Tạng, các điệu múa mặt nạ, múa Xianzi, múa Guo Zhuang… nhuốm màu huyền bí do lễ hội này được đại tu viện lâu đời nhất ở Litang cho mở vào năm 1580 để hoằng dương Phật Pháp và tưởng nhớ vị Dalai Lama thứ ba.

Có lẽ vì những hoạt động thú vị và hấp dẫn như thế mà lễ hội đua ngựa Dangjiren được rất nhiều du khách thích thú và hưởng ứng. Hàng năm có rất nhiều người đến Tây Tạng tham gia lễ hội. Du khách hãy đặt cho minh một tour Trung Quốc để có được sự trải nghiệm tuyệt vời với lễ hội hấp dẫn này nhé!

Niao Gao trong mâm cỗ truyền thống ngày Tết cổ truyền của Trung Quốc

Đối với những ai đam mê các món ăn đậm đà bản sắc Phương Đông và yêu thích khám phá thế giới ẩm thực Trung Hoa, chắc chắn không thể bỏ qua món Niao Gao truyền thống. Đây là món bánh ngọt đặc sắc và rất phổ biến tại Trung Quốc, có hương bị thơm ngon khó cưỡng.

Trong số các loại bánh ngọt truyền thống của người Trung Hoa, có lẽ Nian Gao là loại có kích thước lớn nhất. Vào những ngày Tết cổ truyền, các thành viên trong gia đình người Hoa thường tụ họp, cùng ăn cỗ đầu năm. Trong mâm cỗ truyền thống ấy không bao giờ thiếu món bánh này.

Tên bánh “Nian Gao” ngụ ý chỉ sự thịnh vượng, tiến bộ, luôn đi lên. Theo tiếng Trung, “Gao” là bánh, “Nian” là chất dính, nghĩa là bánh nếp, bánh dính, mọi người dùng món bánh này với mong ước các thành viên trong gia đình lúc nào cũng sẽ luôn kết dính, gắn bó với nhau bền vững.

Tên gọi của chiếc bánh này còn bắt nguồn từ một câu chuyện cổ. Xưa kia, có một con quái vật tên là Nian ở trên núi cao. Khi mùa Đông đến, mọi loài vật đều ngủ đông nên con quái vật không kiếm được thức ăn, nó đành phải xuống núi, đến các thôn ăn thịt người khiến người dân rất sợ hãi. Trong thôn có chàng trai thông minh tên Gao, anh ta làm những cái bánh gạo nếp đặt cạnh cửa ngôi nhà trống để dụ con quái vật. Đúng như dự đoán, con quái vật vào nhà nhưng lại không tìm thấy người nào để ăn thịt, nhưng nó đói quá, khi thấy bánh gạo nó đành phải ăn, ăn đến nỗi nghẹn. Nó không muốn phải ăn bánh gạo nữa nên nó đành phải lên núi tiếp tục săn những con thú khác. Từ đó người trong thôn không còn thấy con quái vật nữa. Để ăn mừng thoát khỏi quái vật, cứ mỗi khi mùa đông đến, người dân lại làm bánh gạo nếp và đặt tên cho bánh này là “Nian Gao” (phiên âm tiếng Việt là “Niên Cao”).

Cách làm Niao Gao không quá cầu kỳ và cũng ít công đoạn. Tuy nhiên, để cho ra lò những chiếc bánh đạt chuẩn từ hình dáng đến hương vị, đến độ mềm dẻo, dai ngon vừa phải đòi hỏi người đầu bếp phải là những nghệ nhân thực sự khéo léo và am hiểu nhất định về loại bánh này. Niao Gao được làm từ gạo nếp loại tốt để đảm bảo độ dẻo thơm cho bột bánh, đường nếp được thắng kỹ để loại bỏ tạp chất, và cuối cùng là một chút gừng tươi, phần nguyên liệu quan trọng này giúp mang lại hương vị đặc trưng cho chiếc bánh.

Người dân mỗi vùng lại biến tấu và thưởng thức Niao Gao theo một cách khác nhau. Niao Gao của Thượng Hải màu trắng và có thể được cắt nhỏ cho vào trong món canh, món xào. Người dân phía Nam Trung Quốc lại ưa dùng Niao Gao ngọt, có thể là bánh hấp hoặc rán. Người Bắc Kinh thường có táo tàu trên bánh dùng bột gạo nếp trắng hoặc gạo nếp non. Ở một số nơi khác lại ăn cùng tương đậu. Người Phúc Kiến lại làm bánh từ bột gạo và khoai môn, họ cắt bánh nhỏ ra trước khi ăn hoặc tẩm bột ngô, nhúng qua trứng gà rồi rán lên, đôi khi lại rán với khoai lang.

Tại Trung Quốc, Niao Gao được bày bán quanh năm, không chỉ được bán ở những siêu thị, chợ mà còn có mặt tại các khách sạn, nhà hàng lớn. Nhưng món bánh này lại đặc biệt phổ biến trong dịp năm mới. Theo truyền thống, vào dịp tết cổ truyền, tất cả các mâm cỗ của người Trung Hoa đều không thể thiếu chiếc Niao Gao, bởi loại bánh này tượng trưng cho sự gắn bó và tình yêu thương bền vững của người thân trong gia đình.

Niao Gao ngày nay được chế biến theo nhiều kiểu, với nhiều hình dáng và bao bì khác nhau, tuỳ thuộc với nhu cầu cúng kiếng và thưởng thức. Nhưng hương vị của món bánh vẫn không thay đổi luôn được lưu giữ được nguyên vẹn về vị truyền thống, lẫn những đặc điểm cơ bản và ý nghĩa của nó, như một niềm tự hào của người Trung Hoa.

Nếu có dịp du lịch Trung Quốc, du khách đừng quên thưởng thức hương vị ngọt ngào của những chiếc Niao Gao dân dã này nhé! Chắc chắn du khách sẽ phải “say lòng” vì chúng.

Nhấm nháp hương vị Trà Bơ giữa đất trời thảo nguyên Tây Tạng

Tây Tạng – một vùng đất thanh bình và người dân ở đây sống rất hài hòa với thiên nhiên. Thêm vào đó đây cũng chính là nơi có nền văn hóa vô cùng độc đáo. Nó là sự kết tinh những gì tuyệt vời nhất của văn hóa Ấn, Hoa,… Trong đó không thể không nhắc tới văn hóa uống trà. Và đó cũng chính là lý do khến Trà Bơ trở nên phổ biến.

Trà Bơ hay còn được biết đến là trà Po Cha. Đây là loại trà được uống nhiều nhất, nói theo cách khác, loại thức uống này là “quốc hồn quốc tuý” của vùng đất Tây Tạng.

Người ta nói rằng người Tây Tạng uống tới 60 tách trà nhỏ mỗi ngày để bổ sung dưỡng chất và nước. Với du khách nước ngoài, ngụm trà bơ đầu tiên có thể không hợp vị lắm, nhưng đó là cửa ngõ đầu tiên giúp du khách chạm tới nền văn hoá đặc trưng riêng biệt của Tây Tạng. Người Tạng thường thưởng trà cùng với “Tsampa” – một thức ăn từ bột mạch nha, hai thức cung cấp đầy đủ chất bổ dưỡng để người Tây Tạng có thể sống quanh năm.

Với người Tây Tạng, trà là người bạn kéo họ ra khỏi những cơn ngái ngủ, là người bạn vực dậy sự tỉnh táo, sự bình yên và là lời chào buổi sớm mỗi khi bình minh thức giấc. Đến Tây Tạng, du khách nhận ra không buổi sáng nào nơi đây trôi đi mà không mang theo chút hương vị thơm nồng của trà ngọt và cũng không bữa ăn đầy đủ nào thiếu trà cả, và thường là Trà Bơ.

Để lý giải tại sao món Trà Bơ lại nổi tiếng và được người dân Tây Tạng yêu thích bởi nhiều lý do. Nhưng lý do quan trọng nhất là họ sinh ra ở vùng đất với điều kiện vô cùng khó khăn và khắc nghiệt. Và nhiệt độ lúc nào cũng thấp hơn nhiều vùng khác. Vì thế, bên cạnh quần áo để có thể giữ ấm thì họ cũng cần chú ý về năng lượng từ thực phẩm. Và họ cần có các thức uống đặc biệt để có thể bổ sung năng lượng. Trà Bơ chính là món có thể bổ sung năng lượng và để ấm người.

Với khách du lịch Tây Tạng đến từ khắp nơi trên thế giới thì loại trà này có hương vị béo béo, thơm thơm mà lại mằn mặn kỳ lạ. Đây là một món quà quý giá mà người Tây Tạng thiết đãi với du khách, thể hiện sự hiếu khách của họ. Bất kể du khách là ai, hay đến từ đâu, chỉ cần ghé thăm một ngôi nhà nào đó trên thảo nguyên cao xanh này, du khách đều nhận được một cốc Trà Bơ ấm nóng từ những người dân thiện khách Tây Tạng. Người dân nơi đây còn thường đun bếp trà ngay trong gian nhà, vừa giữ lửa cho căm nhà ấm áp, vừa giúp hương thơm của trà len lỏi vào không gian.

Là thứ đồ uống cơ bản của người Tây Tạng, Trà Bơ tiêu biểu cho đời sống và văn hoá truyền thống địa phương. Vì thế, ấm và cốc uống trà trở thành những đồ vật không thể thiếu trong cuộc sống ở Tây Tạng. Đồ vật dùng để uống Trà Bơ đủ loại làm bằng mọi chất liệu khác nhau phản ánh mức sống khác nhau của các gia đình. Ấm pha trà làm bằng sứ là một trong những món đồ phổ biến nhất trong các gia đình Tây Tạng, trong khi ấm mạ đồng, đặc biệt là ấm làm bằng đồng, có thể chỉ có trong các gia đình có kinh tế ổn định và địa vị xã hội nhất định. Còn những ấm pha trà bơ huyền thoại làm bằng vàng hoặc bạc này, chúng được coi là những tác phẩm nghệ thuật hơn là những vật dụng đời sống cần thiết, thường được những người quyền quý thời cổ sử dụng.

Để chế biến Trà Bơ, người Tây Tạng sẽ đun trà đen Pu-erh (loại trà được chế biến từ lá các cây trà lâu năm, hoang dại hay từ các dãy núi) với nước sôi trong thời gian khá lâu so với những loại trà thông thường khác. Sau khoảng một tiếng đun trà, họ cho bơ bò, sữa bò và chút muối hồng Himalaya vào, rồi dùng bình trà Chandong để hòa tan trà, sữa cùng với bơ. Loại bơ để dùng với trà, được người dân bọc vải hoặc dùng dạ dày bò Yak để bảo quản chuẩn vị đúng hương.

Thử một lần nhấm nháp Trà Bơ, du khách sẽ cảm nhận được nhiều tầng hương vị đặc biệt của nó. Những ngụm trà bơ đầu tiên dễ khiến cho người chưa quen cảm thấy khó chịu, bởi hương vị kết hợp giữa 3 loại trà, bơ, muối này không hợp với nhiều người. Tuy nhiên sau ngụm thứ 2, thứ 3 sự khó chịu này sẽ giảm dần, đến ngụm thứ 5, thứ 6 thì đã có nhiều người bị món trà này chinh phục. Thậm chí nhiều du khách thập phương sau khi trở về vẫn còn nhớ mãi về món trà gây nghiện này, bởi trong không gian giá rét dường như không có thứ gì nhâm nhi phù hợp hơn Trà Bơ cả.

Để phân tích cụ thể thì Trà Bơ có nhiều tầng hương, vị đan xen khá lạ lùng trong sự hài hòa cần thiết, đủ để chinh phục những người thưởng trà khó tính nhất. Chẳng hạn như ban đầu vị mặn của muối, đậm đà béo ngậy của bơ sẽ lấn át trong ngụm trà đầu tiên, hương vị của trà lúc này chưa được bộc lộ rõ. Nhưng sau đó, hương vị của trà đen mới bắt đầu tấn công vào vị giác, đầu lưỡi chúng ta cảm nhận được chút chát chát, thanh thanh. Cuối cùng khi ngụm trà qua đi thì sẽ lưu lại chút ấm áp, ngòn ngọt nơi gốc lưỡi người uống – mùi vị của loại sữa bò được vắt từ sáng sớm tinh mơ trên cao nguyên Tây Tạng. 

Đến với Tây Tạng, du khách sẽ không phải lo lắng về việc tìm một quán nhỏ để ghé vào dừng chân. Tại Lhasa, những quán trà nhỏ lớn có ở từng ngõ ngách, và họ thường bán cả Trà Bơ và trà ngọt. Chỉ 1 USD thôi, du khách sẽ có một chai trà ngọt và có thể dùng được cho cả buổi chiều.

Phố Barkhor, một địa điểm có nhiều quán trà ngọt nhất, cho du khách cái nhìn toàn cảnh về văn hoá trà ngọt. Các quán trà ngọt ở phố Barkhor thường dành cho người Tây Tạng và du khách sẽ rất khó bắt gặp người Hán nào gần đây. Cầm những tràng Hạt cầu Phật trên tay, người dân ở đây lưu lại trong quán trà rất lâu, miệng lẩm nhẩm đọc những câu chú ngữ cầu Phật.

Khách du lịch có thể chia sẻ buổi sum họp vui vẻ của các gia đình Tây Tạng. Các thành viên cả già lẫn trẻ trong gia đình pha trò, thỉnh thoảng lại nhấp một ngụm trà ngọt trong suốt buổi chiều. Vài cư sĩ phật giáo Tây Tạng có lẽ sẽ làm tăng sự mê hoặc tín ngưỡng trong câu chuyện thần bí của họ. Dường như thời gian trôi qua quá nhanh trước khi du khách kịp nhận ra.

Ghé thăm vùng đất Tây Tạng trong hành trình du lịch Trung Quốc sẽ là cơ hội để du khách nhấm nháp hương vị đặc biệt của món Trà Bơ. Hít hà hương thơm đậm vị ngầy ngầy, trầm ngâm thưởng vị giữa không gian yên bình của đất trời Tây Tạng lạnh giá, thực sự là một trải nghiệm tuyệt vời không thể nào quên!

Rộn ràng Tết Losar của người dân Tây Tạng ở Trung Quốc

Nếu như người Việt Nam có Tết Nguyên Đán là Tết cổ truyền, thì người dân ở Tây Tạng – một khu tự trị của Trung Quốc, cũng có ngày tết riêng của họ, đó là Tết Losar. Đây là ngày lễ quan trọng nhất trong năm của người Tây Tạng, thể hiện đầy đủ nhất những nét văn hóa và tín ngưỡng độc đáo của họ. 

“Losar” là một từ tiếng Tạng có nghĩa là “năm mới”. Losar được tính bằng ngày mùng 1 (ngày đầu tiên) của tháng đầu tiên trong lịch Tây Tạng, khi mặt trăng bắt đầu quỹ đạo mới quanh Trái đất. Thường thì Losar sẽ rơi vào tháng 2 hoặc tháng 3 dương lịch hằng năm. 

Lễ hội Losar xuất hiện trước khi Phật giáo du nhập vào Tây Tạng, còn gọi là thời kỳ Tiền Phật giáo. Lúc đó, vào mùa đông người ta đều tổ chức một lễ hội tôn giáo mà trong đó hương trầm được đốt lên để dâng lên các vị thần thánh. Sau đó, khi Phật giáo xuất hiện, nó đã tác động sâu rộng tới văn hóa của người Tây Tạng, từ đó nghệ thuật, văn học và âm nhạc của người Tây Tạng đều phản ánh những quan điểm của Phật giáo. Cũng từ đó, lễ hội này đã phát triển thành một lễ hội Phật giáo được tổ chức hàng năm, mà theo sử sách ghi lại thì bắt đầu xuất hiện vào giai đoạn cai trị của Pude Gungyal – vị vua thứ 9 của Tây Tạng. Nó diễn ra vào thời điểm ra hoa của cây mơ ở vùng Lhokha Yarla Shampo. Đây cũng là thời điểm mà nông nghiệp, tưới tiêu, nghề rèn sắt và xây dựng cầu cống đã phát triển ở Tây Tạng. Những lễ hội chào đón các sự kiện này được coi như là những tiền đề của Tết Losar. Về sau lễ hội này đã trở thành Tết Losar đón năm mới âm lịch của người Tây Tạng như ngày nay.

Tết Losar sẽ được diễn ra trong 15 ngày (trong đó có 3 ngày chính) với những nghi lễ cổ đại diện cho cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, bằng cách tụng kinh, đi qua ngọn đuốc. Lễ Losar đặc trưng bởi những điệu nhảy, âm nhạc và tinh thần lạc quan của người Tây Tạng.

Trước khi đến Tết khoảng 1 tháng, người Tây Tạng đã bắt đầu dọn dẹp, trang hoàng nhà cửa, thay cờ cũ bằng những lá cờ mới nhiều màu sắc, may quần áo mới cho các thành viên trong gia đình. Họ sẽ dùng bột trắng vẽ lên tường những biểu tượng của may mắn ví dụ như hình chiếc ô (biểu tượng cho sự bảo vệ, che chắn khỏi ánh nắng mặt trời), hai con cá vàng (biểu tượng của phú quý), vỏ ốc (biểu tượng cho sự vang vọng của những giáo lý nhà Phật), hoa sen (biểu tượng cho sự vươn tới cái đẹp và sự cao quý của con người), ngọn cờ chiến thắng (biểu tượng cho chiến thắng của Đức Phật trước con quỷ Mara), bánh xe pháp luân (biểu tượng Phật giáo của Bát Chính Đạo – tức là 8 con đường đúng đắn), nút trường cửu (tượng trưng cho sự kết nối vô tận của vạn vật).

Thời điểm cuối năm được coi là một dịp đặc biệt để người Tây Tạng nói lời tạm biệt với năm cũ và đón chào năm mới, nên dù Tết Losar có 3 ngày chính nhưng người ta sẽ bắt đầu ăn mừng từ ngày 29 của tháng 12 âm lịch. Đêm 29/12 được coi là đêm giao thừa và không thể thiếu món súp Guthuk. Người ta sẽ nặn ra những viên tròn bằng bột, bên trong có chứa 9 biểu tượng của may mắn khác nhau, bao gồm ớt, sợi bông, một miếng gỗ nhỏ, than đá, đường, sợi len, giấy, sỏi và đậu sống bên trong. Mỗi người sẽ chọn một viên và nhân bên trong nó sẽ nói lên tính cách và vận mệnh của họ trong năm mới. Ví dụ nếu họ chọn được viên bánh có ớt, điều đó có nghĩa là họ là người sôi nổi, thích nói chuyện. Nếu là len thì nó tượng trưng cho lòng tốt còn than đá biểu tượng cho sự bủn xỉn. Nếu họ chọn được những nguyên liệu màu trắng bên trong, ví dụ như muối thì đây cũng là một dấu hiệu tốt.

Ngày chính của Tết Losar bắt đầu (Mồng 1 Tết hay còn gọi là “Lama Losar”), lúc này các thành viên trong gia đình đều sẽ dậy sớm, mặc những bộ quần áo mới và đẹp nhất. Các bà mẹ sẽ nấu một nồi rượu lúa mạch (Changkol) và chờ mặt trời lên. Trong thời gian này, họ sẽ cùng nhau ăn Droma Dresil – một món cơm thập cẩm gồm gạo, bơ, nho khô, đường. Khi bình minh ló rạng, người phụ nữ cao tuổi nhất nhà sẽ mang một chiếc gầu ra con sông gần nhà để lấy về gầu nước đầu tiên trong năm mới. Theo quan niệm của người Tây Tạng, đây là lúc nước đạt được độ tinh khiết nhất. Sau đó, các thành viên trong gia đình cùng quây quần bên nhau, trao cho nhau câu chúc năm mới truyền thống là Tashi Delek và cùng uống rượu lúa mạch. Người ta sẽ để hạt lúa mạch mọc mầm và bánh lúa mạch Tsampa cùng những hạt ngũ cốc khác lên bàn thờ để cầu mong một năm mới được mùa.

Ngày thứ hai của Tết Losar có tên “Gyalpo Losar” – còn có tên là “ngày Tết Losar của nhà vua”, có mục đích tôn vinh Đạt Lai Lạt Ma – thủ lĩnh tinh thần của người Tây Tạng cùng các lãnh đạo của cộng đồng. Trước đây nó là ngày để các vị vua tặng quà cho dân chúng trong các lễ hội. Trong ngày này sẽ có những màn múa hát, biểu diễn đặc sắc chỉ có duy nhất một lần trong năm. Người dân cũng uống rượu lúa mạch Chang và cùng nhau ca hát, nhảy múa. Trong các gia đình, vào buổi tối, người ta sẽ mang những cây đuốc và đi khắp nhà, vừa đi vừa la hét để xua đuổi quỷ dữ ra khỏi nhà.

Cũng trong ngày này, người ta mới bắt đầu việc đi thăm họ hàng và bạn bè, cùng nhau ăn uống, múa hát. Trẻ em được tặng quà và tiền mừng tuổi. 

Mồng 3 Tết (Choe-kyong Losar), người dân tổ chức cúng tế những vị thần bảo hộ các Lạt Ma. Họ treo cờ sặc sỡ trên đồi, núi và nóc nhà, đốt lá cây bách xù và đốt hương dâng lên thần thánh. Họ hát và tung những nhúm bột kiều mạch lên trời, đồng thời khấn “Ki-ki So-so Lha Gyalo!”, có nghĩa là “Cầu xin hạnh phúc và cầu các vị thần linh chiến thắng!”.

Sau 3 ngày chính, người dân Tây Tạng lại tiếp tục ăn uống và tiệc tùng mừng năm mới đến tận 12 ngày tiếp theo, tức là tới rằm tháng Giêng.

Năm mới chỉ kết thúc với sự kiện lễ Chunga Choepa hay còn gọi là Lễ hội Đèn Bơ, trong đó người ta sẽ tạo ra những tác phẩm điêu khắc từ bơ sữa bò Yak. Đây là một hoạt động mang tính thiêng liêng với người Tây Tạng, và các thầy tu trước khi tham gia phải thực hiện những nghi lễ để thanh tẩy cơ thể. Sau lễ hội, những tác phẩm nghệ thuật này sẽ được đặt ở các tu viện.

Du khách có cảm thấy hào hứng với Tết Losar của người dân Tây Tạng không? Nếu câu trả lời là có thì còn chần chờ gì nữa mà du khách không book một tour Trung Quốc để cùng hòa mình trong một “cái” tết Losar đặc sắc và vui nhộn?