Tuẫn táng – Hủ tục tàn độc khi Hoàng đế băng hà trong lịch sử Trung Hoa cổ đại

Các hoàng đế Trung Hoa thời cổ đại luôn coi trọng quyền lực, mà tượng trưng cho quyền lực chính là con người và tiền bạc. Các hoàng đế thường quan niệm rằng sau khi chết, họ đến sống ở một thế giới khác nên muốn đem theo mọi thứ mà họ sở hữu trước khi chết, kể cả con người. Do đó hình thành nên một tập tục gọi là “tuẫn táng”.

Hủ tục tuẫn táng thịnh hành vào thời kỳ nô lệ. Tuy nhiên, tới thời kỳ phong kiến các vị quân chủ vẫn lạm dụng nó, không chỉ có nô tỳ mà thậm chí còn bắt cả thê thiếp tuẫn táng cùng mình khi qua đời. Ngoài các phi tần hay Hoàng hậu được phong làm Hoàng Thái hậu, những phi tần may mắn sinh được con trai sẽ có thể không bị tuẫn táng. Còn những phi tần không có địa vị hoặc thậm chí được vua quá yêu mến cũng có thể phải chịu cảnh chôn cất đáng sợ này.

Theo quan điểm của người xưa, tuẫn táng là cách để đảm bảo người chết dù sang đến thế giới bên kia vẫn luôn được hầu hạ và sống sung sướng như lúc sinh thời. Ngoài việc chôn các vật dụng hàng ngày hay đồ trang sức đắt tiền thì những người giàu có, quyền lực còn chôn súc vật hay người sống theo cùng để bảo vệ lăng mộ của mình không bị người đời sau quấy phá.

Tục tuẫn táng xuất hiện từ thời nhà Chu và cực kỳ thịnh hành vào thời nhà Thương. Tới triều đại nhà Hán và nhà Nguyên thì tục này được giảm dần. Tuy nhiên đến khi vua Chu Nguyên Chương lập ra nhà Minh thì tuẫn táng được khôi phục và trở thành thông tục tang lễ trong Hoàng tộc. Và đến thời đại của Tần Thủy Hoàng thì tục tuẫn táng lên đến đỉnh điểm, số hài cốt được chôn cùng ông trong lăng mộ cho tới bây giờ vẫn chưa được thống kê chính xác, có thể nói là không thể đếm xuể. Hủ tục này được kéo dài cho tới đầu thời kỳ nhà Thanh mới chính thức biến mất trong dòng chảy của lịch sử Trung Hoa.

Theo sử sách, có rất nhiều cách để ép cung tần tuẫn táng cùng Đế vương. Vào thời nhà Minh, phương pháp treo cổ được áp dụng nhiều nhất, ngoài ra phương pháp còn có phương thức ban chết trước khi chôn. Phi tần, cung nữ sẽ được ban rượu độc, dải lụa trắng hoặc dao để tự kết liễu trước khi bị chôn cùng vua. Tuy cuối cùng vẫn là chết, nhưng có lẽ cái chết này bớt đau đớn hơn.

Bên cạnh đó, đổ thủy ngân cũng rất thông dụng trong tuẫn táng. Theo dân gian, người nhiễm độc thủy ngân mà chết thân thể không bị mục rữa, dù qua trăm ngàn năm hình dáng vẫn trẻ trung hệt như còn sống. Những người được lựa chọn sẽ bị đưa vào một căn phòng, cho uống nước trà có thuốc mê. Chờ những cung tần này đã ngủ say, thái giám sẽ cắt da trên đỉnh đầu thành hình chữ thập. Người thi hành tay cầm thìa đồng, rót từng thìa thủy ngân vào vết cắt. Sau khi rót vào số lượng thủy ngân nhất định sẽ dùng kim chỉ khâu chỗ cắt lại. Công việc hoàn thành cũng là lúc những phi tần này bị nhiễm độc thủy ngân mà chết.

Cũng có một loạt cách tuẫn táng đặc biệt khác là chuốc thuốc mê rồi trói tay chân người bị lựa chọn, bẻ thành những tư thế nhất định, sau đó chôn sống. Trong nhiều lăng mộ, các nhà khảo cổ đã phát hiện những thi thể nữ tay chân có dấu vết bị trói, cơ thể bị bẻ cong, đầu quay sang một phía cực kỳ quái dị. Không ít lần người ta còn phát hiện cả hài cốt trẻ con. Các chuyên gia khẳng định đây cũng là một hình thức tuẫn táng với mục đích canh giữ lăng mộ.

Dù đa số những người được lựa chọn trong hủ tục tuẫn táng đều là cưỡng ép nhưng trong nhiều tình huống vẫn có nhiều cung tần chủ động chết để theo hầu Hoàng đế. Điển hình, cuối thời nhà Minh, khi Nỗ Nhĩ Cáp Xích thủ lĩnh của bộ tộc Nữ Chân, ngoại trừ đại phi A Ba Hợi bị ép phải tuẫn táng thì 4 cung nữ của ông đều xin tự sát để theo hầu. Bởi họ cho rằng việc được chết theo Đại hãn là quyền lợi và vinh dự không phải ai cũng có được.

Tuẫn táng thời cổ đại là hủ tục tàn nhẫn, độc ác và không đúng với thuần phong mỹ tục nên đã dần bị loại trừ khỏi dòng chảy lịch sử. Sau khi hủ tục này đã bị xóa bỏ, đa số những phi tử không có địa vị hay con cái sẽ không được xuất cung mà được sắp xếp ở chung một chỗ và được triều đình cung cấp cơm ăn áo mặc. Mặc dù không còn được hưởng cung điện riêng và kẻ hầu người hạ nhiều như trước kia, thế nhưng cuộc sống của họ cũng không còn cảnh tranh đấu khốc liệt như trước. Nhìn chung chỉ cần có thể bảo toàn tính mạng cho tới sau khi Hoàng đế qua đời, số phận của các phi tử trong hậu cung nhà Thanh đều sẽ có kết cục không quá bi thảm, hoặc có đôi khi cuộc sống về sau của họ sẽ còn thoải mái, tự tại hơn nhiều so với khi Tiên đế còn tại thế.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất kỳ khách du lịch nước ngoài nào. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn thì hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc nhé!

Trứng Bắc Thảo – món ngon khó cưỡng của ẩm thực Trung Hoa

Trứng Bắc Thảo còn được biết đến với nhiều tên gọi: trứng Bách Thảo, Bách nhật trứng, Thiên niên bách nhật trứng. Đây là một đặc sản của Trung Quốc với vẻ ngoài đen đúa và khá nặng mùi. Dù vậy vị ngon đặc biệt của món ăn này vẫn điều bí ẩn khiến nhiều vị khách du lịch nước ngoài muốn khám phá.

Trong ẩm thực Trung Quốc, có vô số các món ăn ngon trứ danh có thể làm siêu lòng bất cứ ai. Dù vậy món Trứng Bắc Thảo vẫn được nhiều người biết đến và luôn nằm trong top những món ngon được lòng người dân địa phương cũng như du khách nước ngoài.

Không nhiều tài liệu lịch sử ghi chép về nguồn gốc cũng như chứng minh được sự ra đời của Trứng Bắc Thảo. Nhưng giới khoa học ước tính món ăn đã tồn tại khoảng hơn 500 năm và ban đầu xuất hiện ở các vùng nông thôn Trung Quốc. Tương tuyền, vào thời nhà Minh, một người nông dân vô tình tìm thấy những quả trứng vịt được bảo quản tự nhiên trong hố bùn có nước vôi. Quả trứng đã chuyển màu đen đúa. Tuy nhiên, một phần vì đói, một phần vì tò mò nên ông đã quyết định ăn thử quả trứng. Người nông dân vô cùng ngạc nhiên khi mùi vị trứng không hề đáng sợ mà trái lại còn rất thơm ngon. Sau khi về nhà, ông này đã thử làm nhiều hơn những quả trứng tương tự như vậy để ăn. Ông còn cho hàng xóm ăn thử và rồi dần dần món ăn độc độc đáo này bắt đầu phổ biến khắp Trung Hoa cho đến tận ngày nay.

Nhiều người phương Tây đã đặt tên cho Trứng Bắc Thảo là món “trứng trăm năm” hoặc “trứng ngàn năm”. Nguyên nhân là vì họ không thể lý giải được cách để quả trứng bình thường có thể chuyển thành màu đen và cho rằng vì để thời gian quá lâu mà quả trứng đã bị biến chất. Tuy nhiên, ít ai có thể biết được những công dụng thần kỳ của loại thực phẩm đặc biệt này. Trứng Bắc Thảo giàu vitamin A, bảo vệ hệ hô hấp, thúc đẩy hệ miễn dịch, tăng lượng hồng cầu trong cơ thể, phòng chống các bệnh về phổi và viêm hô hấp. Món trứng này còn có khả năng kích thích hồng cầu sinh trưởng, cầm máu, tốt cho những bệnh nhân có bệnh xuất huyết. Ăn Trứng Bắc Thảo giúp cải thiện các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa, sạch ruột, cầm tiêu chảy, bảo vệ mạch máu, tăng cường trí thông minh và bảo vệ đại não,… Ngoài ra, theo nhiều nghiên cứu cho thấy Trứng Bắc Thảo có chứa nhiều khoáng chất rất tốt cho hệ tiêu hoá, giúp giải nhiệt, giải rượu, cầm máu,…

Trứng Bắc Thảo có thể làm từ trứng vịt, trứng gà và trứng cút. Để chế biến ra món Trứng Bắc Thảo, người dân Trung Quốc ngâm trứng trong hỗn hợp bùn nhão được làm từ đất sét pha kiềm và nước, hoặc có thể dùng tro gỗ, vôi tôi, muối, nhằm duy trì thời gian ủ trứng lâu nhất. Lớp vỏ này có tác dụng ngăn ngừa vi khuẩn xâm nhập. Một cách khác là dùng hỗn hợp gồm 300gr bột trà xanh, 300gr bột vôi tôi, 900gr bột muối biển, 700gr bột tro gỗ (than gỗ sồi) pha với nước đun sôi tạo thành một dạng bùn nhão, phết lên bề mặt của trứng Bách Thảo. Sau đó lăn trứng qua một lớp mỏng bột vỏ trấu để hỗn hợp bện chặt vào nhau rồi cho trứng vào vại hoặc sọt bằng lụa để bảo quản. Trong khoảng 3 tháng, hỗn hợp bùn nhão sẽ tự động khô lại, lúc này trứng đã có thể dùng được. Trứng sau khi bóc bỏ lớp trấu và các nguyên liệu đắp ở ngoài vỏ thì vỏ trứng có màu đen trắng lẫn lộn như muối tiêu, đôi khi tạo những lớp hoa văn trên bề mặt trông rất đặc biệt.

Quả Trứng Bắc Thảo đạt chuẩn thường có lòng đỏ còn lỏng, màu vàng xanh, bao quanh là lớp lòng trắng đã chuyển màu nâu xanh. Lòng đỏ Trứng Bắc Thảo có mùi hăng, sốc, hơi khai, vị the và béo. Lòng trắng ít mùi vị hơn. Món này tương đối khó ăn, nếu ăn không quen sẽ có thể khó chịu. 

Trứng Bắc Thảo sau khi bóc vỏ có thể ăn ngay mà không cần chế biến cầu kỳ. Trứng rất ngậy, mềm mọng, thường được ăn kèm với gừng hồng.

Nó như một món đồ nguội ăn khai vị và được ưa chuộng tại nhiều nơi. Người Quảng Đông thường bọc xung quanh từng lát Trứng Bách Thảo với nhiều lát gừng xắt mảnh. Người Thượng Hải băm trộn Trứng Bách Thảo với đậu phụ. Ở Đài Loan, người ta thái Trứng Bách Thảo thành từng lát, kế đó phủ lên mặt trứng đậu phụ lạnh với nước sốt Katsuobushi và dầu mè, tương tự như món Hiyayakko của người Nhật Bản. Còn ở miền Bắc Trung Quốc, người ta phủ đậu phụ lạnh lên bề mặt trứng, thêm vào một ít gừng non xắt sợi nhuyễn, hành củ băm nhừ và rưới lên trên cùng một hỗn hợp nước sốt đậu nành hoặc dầu mè. Ngoài ra, Trứng Bắc Thảo còn được dùng như nguyên liệu làm bánh, làm điểm tâm và nhiều món khác. 

Du khách có thể ăn Trứng Bắc Thảo vào bất cứ thời điểm nào trong ngày, từ bữa sáng, bữa trưa tới món ăn vặt, khai vị,… Nếu có dịp du lịch Trung Quốc, du khách đừng quên thưởng thức món ăn đặc biệt này nhé!

Du lịch Trung Quốc, thưởng thức món bánh “trăm tuổi” Shibajie Mahua

Ẩm thực Trung Quốc được đánh giá là hấp dẫn và phong phú bậc nhất thế giới. Ngoài Dimsum, sủi cảo, vịt quay,… đã quá nổi tiếng thì các loại bánh đường phố ở đây cũng đã góp phần tô điểm vào bức tranh ẩm thực đầy màu sắc. Trong đó, phải kể đến món bánh độc đáo đã có “số tuổi” hơn mấy trăm năm, mang tên “Shibajie Mahua”.

Shibajie Mahua hay còn được biết đến với các tên gọi như “bánh xoắn chiên”, “bánh dây thừng”, là một trong những đại diện đặc sắc nhất của ẩm thực Thiên Tân, được xếp vào hàng “Thiên Tân tam nguyệt”, xuất hiện từ cuối thế kỷ 19. Mang dấu ấn địa phương, chúng được làm thủ công tại những gian hàng lề đường và bất kì ai đến đây cũng được giới thiệu là nên một lần thử món ăn này.

Món bánh này được rất nhiều người ưa thích không chỉ bởi hương vị hấp dẫn mà còn bởi dáng vẻ cực kỳ độc đáo và lạ mắt. Bề ngoài chiếc bánh trong giống như một sợi dây thừng to tròn. Một phần cũng vì chúng có thành phần là những sợi bột được xoắn đều chứa nhân bên trong, cùng với đó là độ dài đáng kể nên nhiều người đã có sự so sánh thú vị như thế.

Để tạo nên những chiếc bánh Shibajie Mahua, các nghệ nhân đã phải thực hiện những công đoạn vô cùng cầu kỳ. Lớp vỏ bột làm bánh được chế biến từ trứng, đường, nước và dầu mè một cách cực kỳ công phu, người ta sẽ phối trộn bột thành một khối dẻo, mịn sau đó kéo thành rất nhiều sợi dài. Nhân bánh cũng được làm rất kỳ công với các thành phần gồm hạt dưa, hồ đào, vừng, quả óc chó hay mận khô… Cuối cùng là sử dụng lực hợp lý, khéo léo xoắn phần bánh lại thật chắc.

Bánh sau khi đã được tạo hình sẽ mang đi chiên ngập trong dầu nóng đến khi lớp vỏ bánh chuyển sang màu vàng nâu bắt mắt thì mới vớt ra. Những “sợi dây thừng” to tròn sẽ khiến du khách phải kích thích và muốn được nếm thử ngay khi được nhìn thấy. Đặc biệt, không chỉ có bánh mà khi đã chiên xong người ta còn cho thêm hàng loạt các loại topping hấp dẫn để ăn kèm bánh như đậu phộng, kẹo đá, mứt, trái cây sấy… giúp ngoại hình món bánh thêm bắt mắt và tạo hương vị đa dạng.

Đặc trưng hương vị mà người ta cảm nhận về món bánh hấp dẫn này chính là độ giòn thơm rất khác lạ. Phần bột hài hòa trong nhiều nguyên liệu, béo từ trứng, bùi bùi từ hạt mè nhưng lại có độ mằn mặn dễ ăn. Đến khi kết hợp với nhân, chút ẩm mịn, dẻo ngọt bên trong sẽ hài hòa, cân bằng lại vị giác. Tuy là bánh ăn chơi nhưng món đủ đầy hương vị và có thể khiến du khách no nê.

Mặc dù có tuổi đời đã hàng trăm năm nhưng bánh xoắn Shibajie Mahua vẫn luôn là đặc sản được nhiều người yêu thích. Ngày nay, với sự phát triển của ngành du lịch, bánh Shibajie Mahua đã có mặt ở nhiều nơi tại Trung Quốc, tuy nhiên để được thưởng thức được món bánh chuẩn vị thì quê hương của món ăn, Thiên Tân vẫn là điểm đến mà du khách nên ghé thăm.

Nếu có du lịch Trung Quốc, du khách đừng bỏ qua cơ hội thưởng thức món bánh xoắn chiên thơm ngon hấp dẫn này nhé! Và du khách cũng đừng quên mua chúng về làm quà!

Khám phá 6 linh vật quan trọng trong văn hoá Trung Hoa

Trong nền văn hóa của mỗi quốc gia đều có cho mình những linh vật riêng. Và với văn hoá Trung Quốc cũng không ngoại lệ. Hôm nay, chúng ta sẽ cùng nói về 6 linh vật quan trọng trong văn hóa Trung Hoa.

1. Long (Rồng)

Rồng là một loài vật xuất hiện trong thần thoại phương Đông và phương Tây. Trong kinh Phật, Rồng là một trong tám bộ Thiên Long, cả phương Đông và phương Tây, hình ảnh loài rồng đều được biểu thị cho loài linh vật huyền thoại có sức mạnh phi thường. 

Tại một số quốc gia Châu Á, rồng được mô tả có mình rắn, vảy cá, bờm sư tử, sừng hươu, không có cánh nhưng biết bay, trong khi rồng ở Châu Âu được mô tả giống như một con thằn lằn khổng lồ, có cánh như dơi và biết phun lửa. Đa số các nước Châu Á coi rồng là con vật linh thiêng trong khi các nước Châu Âu lại coi rồng là biểu tượng của cái ác và sự hung dữ. Tại Trung Quốc và các nước lân cận khác, rồng là một trong bốn linh vật mà Lễ Ký 禮記 (thiên Lễ Vận 禮運) chép: “Long, Lân, Quy, Phụng vị chi tứ linh”. Bốn linh vật này chỉ có rùa là có thực.

Vì đứng đầu trong tứ linh nên rồng có ảnh hưởng không nhỏ trong đời sống tâm linh của người dân Trung Hoa. Cuối năm 1987 tại huyện Bộc Dương, tỉnh Hà Nam, người ta khai quật được một con rồng bằng gốm, giám định là có 6.000 năm tuổi. Điều này càng chứng minh thêm sự sùng bái rồng trong xã hội nguyên thủy chiếm địa vị trọng yếu trong tín ngưỡng linh vật hay “vật tổ” (totemism: Đồ đằng sùng bái) và liên quan mật thiết đến chính trị, kinh tế, văn học nghệ thuật, phong tục dân gian từ đời Hạ, đời Thương và ảnh hưởng này kéo dài mấy ngàn năm không suy giảm. Rồng luôn hiện hữu trong các truyện thần thoại Trung Quốc, trong các cổ vật, tranh vẽ, lời bói trên mai rùa xương thú khai quật được, và trong các thư tịch cổ như Chu Dịch, Sơn Hải Kinh, Tả Truyện.

Có thể thấy rồng có mặt trong ở nhiều khía cạnh trong văn hóa Trung Hoa. Rồng chủ quản việc kéo mây, tạo mưa, tạo ra gió bão. Rồng có thể bay, phun nước hoặc phun lửa. Rồng có sức mạnh vô song nên được tôn làm vua của các loài thú.

Rồng được coi là biểu tượng hoàng đế Trung Quốc thời xưa, thể hiện uy quyền tối thượng của nhà vua. Hẳn du khách đã quá quen thuộc hình ảnh những con rồng trong các bộ phim lịch sử Trung Quốc với hình ảnh vua chúa trong bộ Long bào, ngai vàng khắc hình rồng quyền lực và sang trọng.

Rồng cũng được xem là một trong những con vật phi thường đại diện cho rất nhiều thứ bao gồm: Sự vĩ đại, phước lành, phú quý, sức mạnh và sự tốt lành. Theo hoàng đạo, Rồng còn là 1 trong 12 con giáp. Dù chỉ được biết đến là con vật tưởng tượng nhưng hình ảnh và giá trị của chúng luôn có ý nghĩa với người dân Trung Quốc. Điển hình, trong những năm rồng, tỷ lệ sinh con có sự gia tăng hơn rất nhiều so với các con giáp còn lại.

2. Kỳ Lân

Kỳ Lân là một trong bốn linh vật cao quý: “Long, Lân, Quy, Phụng”. Lân là con cái, còn con đực gọi là Kỳ, gọi chung là Kỳ Lân.

Kỳ Lân được xem là linh vật có quyền lực và sức ảnh hưởng phong thủy rất lớn. Thuộc thần thoại Trung Quốc, Kỳ Lân có đầu của rồng, thân của một con ngựa, móng ngựa, đuôi bò, trán sói, và mình phủ toàn vẩy với nhiều màu sắc. Trên giữa trán cho một chiếc sừng, và vì chỉ có một nên không bao giờ húc ai. Và chiếc sừng này được xem là hiện thân của Từ Tâm.

Truyền thuyết kể rằng ở bất cứ đâu mà Kỳ Lân đến thì sẽ mang lại nhiều may mắn. Do đó, nó là một biểu tượng may mắn, người ta nói rằng “Kỳ Lân xuất hiện vào thời hưng thịnh”. Mọi người tin rằng Kỳ Lân được coi như một linh vật có thể loại bỏ điều xấu, trừ tà, giữ nhà, và giúp nhanh chóng giàu sang, thăng tiến. Kỳ Lân được sử dụng trong nhiều dịp để tượng trưng cho sự cảm kích, tình bằng hữu, sự chúc tụng, đức hạnh cao và sự sung túc.

3. Quy (Rùa)

Người Trung Quốc tin tưởng sâu sắc rằng rất nhiều bí mật của trời đất ẩn chứa trong con Rùa vì những hình thù và các đường phức tạp trên mai của nó. Do đó, rùa trở thành một sinh vật bí hiểm và mang ý nghĩa văn hóa phong phú.

Nó cũng tượng trưng cho sự trường thọ, do tuổi thọ rất cao của chúng. Thông thường người ta hay sử dụng sự ẩn dụ “tuổi rùa” hay “tuổi sếu” nhằm biểu thị mong muốn một người sẽ sống lâu như rùa hay sếu.

Từ xa xưa, người ta đã tin rằng rùa có thể mang đến điềm lành, nên nó trở thành một loài vật linh thiêng giống như một sinh vật tiên tri và thần thánh. Một con rùa làm bằng ngọc bích được đặt trong nhà có thể điều hòa âm dương, điều chỉnh từ trường tự nhiên, và giúp cho gia đình thêm thịnh vượng. Một con rùa làm bằng ngọc bích cũng cũng có thể được dùng để giữ nhà, đảm bảo sự an toàn và giàu có cho ngôi nhà đó.

4. Phượng (Phượng Hoàng)

Phượng Hoàng là “vua của các loài chim” và cũng là loài chim thiêng liêng nổi tiếng nhất trong thời Trung Quốc cổ đại. Trong thần thoại Trung Quốc, Phượng Hoàng là biểu tượng của ân sủng, là linh vật thứ hai chỉ sau Rồng. Hình ảnh về Phượng Hoàng đã xuất hiện tại Trung Quốc cách đây trên 7.000 năm, thông thường trong các miếng ngọc và trên các “totemism” (vật tổ may mắn).

Hình ảnh về Phượng Hoàng đã xuất hiện tại Trung Quốc cách đây trên 7.000 năm, thông thường trong các miếng ngọc và trên các “totemism”. Nó là vật tổ may mắn của các bộ lạc miền Đông thời cổ đại ở Trung Quốc. Các thuyết ngày nay cho rằng nó có thể là hình ảnh đại diện cho một loài chim lớn thời tiền sử, tương tự như đà điểu, khá phổ biến ở Trung Hoa tiền sử. Có người cho rằng, Phượng Hoàng là hiện thân của loài chim thuỷ tổ (khủng long dạng chim).

Phượng Hoàng nguyên ban đầu, còn được biết đến là Chim Lửa hay Phượng Hoàng Lửa, gắn với người đàn ông, trong khi Rồng gắn với người đàn bà, đại diện cho các thủy sinh vật. Tuy nhiên, vào triều Hán, Hoàng Đế Lưu Bang đã tuyên bố rằng ông đã được sinh ra như một sự chuyển sinh của một con rồng trắng. Bởi vì Hoàng Đế là Thiên Tử (con trời), nên Rồng đã hoán đổi vai trò với Phượng Hoàng, từ sự liện hệ với phụ nữ đổi thành sự liên hệ với đàn ông. Phượng Hoàng khi đó đã chấp nhận các đặc tính của phụ nữ và trở thành biểu tượng của Hoàng hậu. Như vậy, Phượng Hoàng đại diện cho quyền lực mà Thượng đế ban cho Hoàng hậu. 

Chim Phượng Hoàng thường được mô tả có đầu gà, hàm én, cổ rắn, lưng rùa, đuôi cá với năm màu và cao sáu thước. Nó tượng trưng cho sáu vật: đầu là bầu trời, mắt là mặt trời, lưng là mặt trăng, cánh là gió, chân là đất và đuôi là các hành tinh. Lông của nó đại diện cho màu sắc của ngũ hành (đen, trắng, đỏ, xanh và vàng).

Trong hàng nghìn năm, Phượng Hoàng biểu trưng cho cái đẹp, may mắn, lòng tốt, sự thanh bình, đức hạnh, duyên dáng, thanh tao, tự nhiên, cũng như hướng đến Thiên Ý và ủng hộ sự tu luyện của con người, mang đến hòa bình và tươi sáng.

Phượng Hoàng còn là biểu thị cho sự hòa hợp âm dương. Tại Trung Hoa thời cổ đại, có thể tìm thấy hình ảnh của Phượng Hoàng trong các trang trí của đám cưới hay của hoàng tộc cùng với con rồng. Điều này là do người Trung Quốc coi Rồng và Phượng (hoàng) là biểu tượng cho quan hệ hạnh phúc giữa chồng và vợ, một kiểu ẩn dụ khác của âm và dương.

5. Tỳ Hưu

Tỳ Hưu còn còn được gọi là Tịch Tà (Pi Xie), có nghĩa là “trừ tà”, nằm ở phương Bắc của Trung Quốc. Trong văn hoá Trung Hoa, nó là một trong những linh vật rất quan trọng.

Theo truyền thuyết của Trung Quốc, Tỳ Hưu là con thứ chín của Rồng, đầu hình Rồng, thân giống như sư tử. Khi sinh ra Tỳ Hưu không có bộ phận bài tiết, thế nên bị trả lên Thiên Đình, Thượng Đế Ngọc Hoàng thấy vậy vô cùng thương xót, trách mình đã tạo ra Tỳ Hưu không hoàn chỉnh nên cho Tỳ Hưu trở lại trần gian hiển linh thành thần. 

Giống vật này có hai loài khác nhau. Loài có dáng vẻ uy phong, bụng và mông to, miệng rất rộng trên đầu có 2 sừng được gọi là “Thiên Lộc”. Thức ăn chính của Tỳ Hưu Thiên Lộc là Vàng, Bạc và Châu Báu. Loài có miệng luôn há rộng vẻ ngoài luôn toát sự dữ tợn trên đầu có duy nhất một sừng trên đầu được biết đến với cái tên “Tịch Tà”. Nó có cánh ngắn, đuôi quăn, có bờm và một chòm râu. Tỳ Hưu Tịch Tà thường dùng sừng của mình để tấn công các loại yêu ma, thức ăn của Tịch Tà chính là các sinh khí của yêu ma. 

Tỳ Hưu được coi như một linh vật bởi vì mồm của nó mở càng rộng thì tiền kiếm được càng nhiều. Bụng của nó càng phệ thì nó càng chứa được nhiều tiền. Người ta thích Tỳ Hưu vì nó có một đặc điểm khác thường là nó có mồm nhưng lại không có bộ phận bài tiết. Điều này tượng trưng cho sự dành dụm, chứ không tiêu tiền. Người mong muốn được giống như Tỳ Hưu, là không phải chi tiêu nhiều tiền, hay mãi mãi có được sự may mắn và giàu sang.

Tỳ Hưu nói chung được dùng làm biểu tượng cho tỉ giá hối đoái, chứng khoán, tài chính, đua ngựa, thương nghiệp và các kênh kiếm tiền khác mà chủ yếu dựa vào may mắn. Do đó, những ngành thương mại này sẽ đặt tượng Tỳ Hưu trong công ty hay sở làm nơi tiến hành công việc kinh doanh. Tuy nhiên, Tỳ Hưu sẽ không linh đối với những ai vi phạm luật pháp hoặc phạm tội, vì đó là một con vật linh thiêng.

6. Hổ

Hổ là biểu tượng của uy quyền và thanh thế, những sản phẩm xa xỉ làm từ da hổ hay rượu ngâm xương hổ là món đồ hiếm và được ưa chuộng. Nó còn biểu tượng của sự dũng mãnh và võ công. Các vị tướng có sức mạnh, thiện chiến được tôn xưng danh hiệu là hổ tướng, nhiều tước hiệu của các vị tướng quân thường gắn liền với tên gọi của loài hổ như: Hổ bôn trung lang tướng, hổ uy (oai) tướng quân,… các vật dụng quân sự cũng ít nhiều gắn tên loài hổ như hổ trướng (dùng để chỉ về doanh trại của quân đội, hổ phù: vật hiệu lệnh của quân đội, Hình mặt hổ được dùng phổ biến để trang trí giáp, trụ của các quan văn, võ Hổ còn là một trong những con vật biểu tượng cho võ thuật Trung Hoa mà tiêu biểu là các võ phái Thiếu lâm Hình ý quyền, hệ phái Ngũ hình quyền, môn võ Hổ hình quyền sau này được phát triển và hoàn thiện bởi phái Hồng gia quyền.

Con hổ cũng là một con vật đặc biệt trong văn hóa Trung Quốc. Người Trung Quốc ngưỡng mộ con hổ vì nhiều lý do. Trong cuốn sách viết về các nghi lễ có từ 2.000 năm trước có viết Hổ là loài vật có ích cho con người vì chúng ăn thịt những con lợn lòi đến phá hoại mùa màng, trong cổ sử đề cao sức mạnh và dũng mãnh của hổ, nó có thể bắt lợn lòi dễ như mèo bắt chuột. Dũng mãnh, có ích và rất đẹp – những con hổ gần như đã rất hoàn hảo. Trong thời nhà Hán việc tôn thờ loài hổ trở thành một quan niệm ổn định về “Tứ Linh thú” thể hiện trên gương và các đồ đồng lễ nghi khác: Rồng, Hổ, Quy, Tước (mà sau này quen gọi là Long Ly Quy Phụng). Hổ (bạch hổ) đại diện cho quyền lực và thần linh ở phía Tây. Trong văn hóa Trung Hoa, Bạch hổ là một trong tứ linh của Trung Hoa và được biết đến với tên gọi Bạch hổ Tây phương đại diện cho hướng Tây và mùa Thu Con hổ cũng là biểu tượng thứ 3 trong cung hoàng đạo bao gồm 12 con vật.

Trong khoa địa lý cũng như trong thuật luyện đan Trung Quốc, hổ đối lập với rồng (Thanh long/ Bạch hổ). Năm con hổ (năm Dần) được cọi là biểu tượng của sức mạnh che chở, là những kẻ canh giữ bốn phương trời và tâm điểm, trong sử sách và trong các truyền thuyết Trung Hoa, người ta nhiều lần gọi là ngũ hổ những toán chiến binh dũng cảm bảo vệ vương quốc. Hổ trắng xuất hiện là một dấu hiệu của đức độ nhà vua. Hổ đặc biệt là một động vật của phương Bắc, của đông chí, ở đấy và vào thời điểm ấy triệt tiêu các ảnh hưởng độc hại. Nếu đôi khi nó là vật cưỡi của một tiên ông, thì đó là do bản thân nó vốn sống lâu. Ở Trung Quốc cũng có điển tích: Tam nhân thành hổ chỉ về sức mạnh của dư luận xã hội tạo thành một áp lực ghê gớm.

Đặc biệt, hình tượng con hổ trong truyền thống văn hóa Trung Quốc chiếm một vị trí quan trọng, nó chỉ đứng sau con rồng. Trong Chu dịch Càn quái văn ghi chép rằng Mây từ rồng, gió từ hổ. Rồng bay trên trời, hổ đi dưới đất, rồng hổ kết hợp thành biểu tượng của sự cát tường thịnh vượng và quyền uy, là nét đặc sắc của văn hóa phong tục dân tộc mang sức sống mãnh liệt. Từ xưa con người hay dùng Long đằng hổ dược hoặc Sinh long hoạt hổ để thể hiện tinh thần và khí thế hào hùng của dân tộc Trung Hoa. Văn hoá Long Hổ đã thấm sâu vào các mặt chính trị, quân sự, y học, nghệ thuật của Trung Quốc. Cũng theo Chu dịch thì Long Hổ là càn khôn, thiên địa, âm dương, nam nữ. Đời Hán có bài Thái Sơn kính minh viết: Cưỡi Giao long, bay theo mây, bạch hổ dẫn đường thẳng lên trời xanh, được hưởng trường thọ sống lâu mãi mãi. Trong tranh khắc đá đời Hán ở Sơn Đông có khắc: Thượng hữu long hổ hàm lợi lai, bách điểu cộng trì chí tiền tài tức rồng hổ ở đây lại trở thành thần tài,…

Nhìn chung, có khá nhiều khía cạnh cả trong tâm linh lẫn đời sống để người ta giải thích về các biểu tượng may mắn trong cuộc sống. Ý thức của con người quyết định đến các vấn đề xung quanh. Vì mong ước được sống với cuộc sống mình mong muốn mà con người đã tìm ra, lý giải các hiện tượng được tiếp diễn từ hiện tại đến tương lai. Tất cả màu sắc, sự vật, con số đều mang ý nghĩa hướng đến suy nghĩ tích cực, niềm tin yêu vào một cuộc sống thịnh vượng, hạnh phúc, nhiều may mắn. Và qua đó, các biểu tượng may mắn còn góp phần làm phong phú, đa dạng hơn nền văn hóa ở Trung Quốc rộng lớn đầy quyến rũ níu chân người đến.

Đất nước Trung Hoa rộng lớn với 5000 năm lịch sử còn nhiều điều hấp dẫn và những biểu tượng văn hóa đặc sắc khác đang chờ các du khách đến khám phá. Còn do dự gì nữa mà các du khách không đặt ngay cho mình một tour Trung Quốc của chúng tôi?

“Hành khúc nghĩa dũng quân” – Quốc ca của đất nước Trung Quốc

“Hành khúc nghĩa dũng quân” (義勇軍進行曲) là Quốc ca của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được nhà thơ và soạn giả ca kịch Điền Hán viết lời và Niếp Nhĩ phổ nhạc vào khoảng giữa giai đoạn Chiến tranh Trung – Nhật (1937-1945). Bài này thuộc thể loại hành khúc.

Điền Hán viết “Hành khúc nghĩa dũng quân” vào năm 1934 cho một vở kịch ông soạn cũng vào năm đó. Theo dân gian thì ông viết lời bài này trên một mẩu giấy thuốc lá sau khi bị bắt tại Thượng Hải và bị đưa vào nhà lao Quốc Dân Đảng năm 1935. Bài hát này sau khi được sửa lại đôi chút đã trở thành bài hát chủ đề trong bộ phim Phong vân nhi nữ do Công ty Điện ảnh Điện Thông Thượng Hải dàn dựng vào năm 1935. Bộ phim này thuật lại câu chuyện một nhà thơ tên là Tân Bạch Hoa đại diện cho tầng lớp trí thức của nước Trung Hoa cũ, đã gác lại ngòi bút sáng tác của mình, cầm súng xung phong ra mặt trận chống Nhật, xông pha trước quân thù. “Hành khúc nghĩa dũng quân” xuất hiện ở phần đầu và phần cuối của bộ phim này đã để lại ấn tượng sâu sắc cho đông đảo khán giả hồi đó. Không bao lâu nó liền trở thành chiến ca nổi tiếng của Trung Quốc trong thời kỳ kháng chiến chống Nhật. Bài hát này cũng được Pathé thuộc tập đoàn EMI phát hành trong một đĩa hát vào năm 1935.

Bài này lần đầu tiên được dùng làm Quốc ca là trong một hội thảo quốc tế tổ chức tại Praha, Tiệp Khắc tháng 2/1949. Vào thời gian đó Bắc Kinh vừa lọt vào tầm kiểm soát của những người cộng sản Trung Quốc. Lúc đó nổ ra một tranh luận xung quanh câu: “Đất nước Trung Hoa đã gặp lúc hiểm nguy”. Nhà sử học Quách Mạt Nhược liền đổi câu trên thành: “Dân tộc Trung Quốc đã đến hồi giải phóng”.

Người đầu tiên nêu đề nghị lấy bài “Hành khúc nghĩa dũng quân” làm Quốc ca của nước Trung Hoa mới là Từ Bi Hồng, một họa sĩ nổi tiếng của Trung Quốc. Tháng 6/1949, hội nghị trù bị thành lập nước Trung hoa mới của Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân (gọi tắt là Chính Hiệp) Trung Quốc thảo luận việc quyết định quốc ca, nhiều đại biểu đưa ra ý kiến của mình, một số đại biểu bày tỏ nên kết nạp đề nghị của họa sĩ Từ Bi Hồng lấy bài “Hành khúc nghĩa dũng quân” làm Quốc ca, nhưng hội nghị chưa đưa ra quyết định cuối cùng. Ngày 2/9/1949, Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai,… đã đến nghe ý kiến của các đại biểu, ngày 25/9/1949, tại Trung Nam Hải, Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai lại tổ chức buổi tọa đàm hiệp thương về vấn đề quyết định Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, cách tính năm và thủ đô của nước Trung Hoa mới, mời nhân sĩ các đảng phái và nhân sĩ giới văn hóa tham gia. Tổ 6 của hội nghị trù bị Chính Hiệp quyết định đề án lấy “Hành khúc nghĩa dũng quân” làm Quốc ca và chính thức trình lên Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc xét duyệt.

Ngày 27/9/1949, toàn thể đại biểu của hội nghị Chính Hiệp nhất trí thông qua, trước khi xét định Quốc ca của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, lấy bài “Hành khúc nghĩa dũng quân” làm Quốc ca. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều ý kiến không đồng ý đối với câu thứ ba. Khi đó Chu Ân Lai đưa ra đánh giá cuối cùng: “Trước mắt chúng ta vẫn còn kẻ thù đế quốc. Chúng ta càng tiến, kẻ thù sẽ càng tìm cách tấn công và phá hoại chúng ta. Liệu có thể nói là chúng ta sẽ không còn nguy hiểm không?”. Quan điểm này được Mao Trạch Đông tán thành và vào ngày 27/9/1949, bài này trở thành Quốc ca tạm thời, chỉ vài ngày trước khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập. Đến kỳ họp thứ nhất Quốc hội Trung Quốc khóa 5 vào năm 1978, lại thông qua việc chính thức lấy bài “Hành khúc nghĩa dũng quân” làm Quốc ca.

Trong thời kỳ Cách mạng văn hóa, Điền Hán bị bắt giam, và cũng vì thế mà bài “Hành khúc nghĩa dũng quân” cũng bị cấm hát. Thế là trong giai đoạn đó, bài “Đông phương hồng” được chọn làm Quốc ca không chính thức.

“Hành khúc nghĩa dũng quân” được Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc Trung Quốc khôi phục lại vào năm 1978, nhưng với lời khác hẳn; tuy vậy, lời ca mới không được thông dụng lắm và thậm chí gây nhầm lẫn. Vào ngày 4/12/1982, Đại hội Đại biểu Nhân dân Trung Quốc thống nhất chọn lại bản gốc năm 1935 của Điền Hán làm Quốc ca chính thức. Điểm nổi bật trong lời hiện nay là không đề cập đến Đảng Cộng sản Trung Quốc lẫn Mao Trạch Đông và việc quay lại lời ca cũ đánh dấu sự đi xuống của Hoa Quốc Phong và tệ sùng bái cá nhân đối với Mao cũng như uy thế đi lên của Đặng Tiểu Bình.

Đại hội Đại biểu Nhân dân Trung Quốc công nhận bài này là Quốc ca chính thức của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trong bản sửa đổi năm 2004 của Hiến pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Phần Quốc ca được đề cập ngay sau phần nói về Quốc kỳ.

Vậy là du khách đã biết được thêm về Quốc ca của Trung Quốc. Hãy đăng ký tham gia tour du lịch Trung Quốc để có cơ hội khám phá nhiều hơn về những nét đặc trưng trong văn hóa của đất nước xinh đẹp này nhé!

Những điều thú vị về Quốc kỳ Trung Quốc

Trung Quốc là một quốc gia có nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Mỗi khi nhắc tới đất nước này, người ta có thể dễ dàng nhắc tới những biểu tượng đặc trưng, chẳng hạn như Quốc kỳ – “Ngũ Tinh Hồng Kỳ”. 

Lịch sử Quốc kỳ Trung Hoa

Cũng như Quốc ca, lịch sử Quốc kỳ của Trung Quốc cũng không dài. Cho mãi đến cuối thời Mãn Thanh mới bắt đầu công bố lá Quốc kỳ chính thức và mang ý nghĩa thực tế lúc bấy giờ. Tài liệu ghi lại rằng, lá Quốc kỳ đầu tiên được chính thức xác định của Trung Quốc cũng có liên quan đến vị trọng thần triều đình nhà Thanh Lý Hồng Chương.

Sau cuộc chiến tranh Nha Phiến năm 1840, các nước Phương Tây xâm lược Trung Quốc, trong các hoạt động ngoại giao đàm phán, ký điều ước, thông thương, cử quan chức ngoại giao,… với các nước phương Tây, Lý Hồng Chương thấy phía các nước đó đều treo quốc kỳ trang nghiêm của nước họ, vậy mà phía Trung Quốc lại không có quốc kỳ để treo, ông ta cảm thấy mất đi vẻ “Uy nghi của triều đình”. Thế là ông ta liền tâu lên Từ Hy Thái hậu. Bà Từ Hy liền lệnh cho Lý Hồng Chương bố trí cho người thiết kế đồ án Quốc kỳ. Sau đó Lý Hồng Chương dâng lên phương án các đồ án của Quốc kỳ gồm: cờ Bát quái, cờ Hoàng long, cờ Kỳ lân và cờ Hổ báo để Từ Hy Thái hậu lựa chọn. Năm 1862, Từ Hy Thái hậu quyết định sử dụng cờ mang đồ án Hoàng Long làm Quốc kỳ của triều đình nhà Thanh. Hình con rồng màu vàng chính là tượng trưng cho Hoàng đế nhà Thanh, lấy hình con rồng vàng làm Quốc kỳ mang ý nghĩa là “Trẫm chính là quốc gia”.

Ngày 10/01/1912, triều đình nhà Thanh bị lật đổ, cờ Hoàng Long cũng đã bị Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc đổi thành cờ Thanh Thiên Bạch Nhật (do Lục Hạo Đông thiết kế vào năm 1895). Cờ Thanh Thiên Bạch Nhật có một mặt trời với 12 tia sáng trên nền màu xanh lam. 12 tia sáng ấy đại diện cho 12 tháng và 12 canh giờ, mỗi canh giờ tương ứng với 2 giờ hiện đại và tượng trưng cho tinh thần phát triển. Về sau, Tôn Trung Sơn còn thêm nền đỏ trên lá cờ để nhắc nhớ đời sau về sự hi sinh của các chiến sĩ cách mạng. Và sau đó, lá cờ nền đỏ với hình chữ nhật xanh lam có hình mặt trời màu trắng ở góc trái trên cùng được chọn làm quốc kỳ Trung Hoa Dân Quốc (từ ngày 17/12/1928).

Trong thời kỳ Xô Viết năm 1931, lá cờ là một đế màu đỏ với một quả địa cầu ở trung tâm. Quả địa cầu có một cái liềm và một cái búa đen nằm bên trong. Trên đỉnh địa cầu có một ngôi sao vàng và vòng nguyệt quế xuất hiện ở hai bên trái và phải.

Quốc kỳ Trung Quốc sau đó đã được thay đổi vào năm 1934 để bao gồm lưỡi liềm và búa xuất hiện ở bên trái của lá cờ màu đỏ. Ở phía bên phải của lá cờ có một biểu tượng nói rằng “Cộng sản Trung Quốc”. Quốc kỳ Đài Loan từng được Quốc dân Đảng Quốc dân đảng (KMT) treo ở Trung Quốc. Sau năm 1949, lá cờ của Đảng Cộng sản dưới thời Mao Trạch Đông đã trở thành lá cờ tồn tại lâu hơn tất cả.

Hiện nay, Quốc kỳ chính thức của Trung Quốc là một lá cờ màu đỏ với 5 ngôi sao vàng, trong đó một ngôi sao lớn hơn được bao quanh bởi 4 ngôi sao nhỏ.

Đôi khi Quốc kỳ này được gọi là “Ngũ Tinh Hồng Kỳ”. Người thiết kế lá cờ đỏ năm sao là Zeng Liansong. Trước khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Hội nghị Trù bị của Hội nghị Chính trị Hiệp thương Mới đã yêu cầu toàn quốc dự thảo quốc kỳ. Trong số vài ngàn bản dự thảo đã lựa chọn ra được đồ án Quốc kỳ là lá cờ đỏ năm sao do Zeng Liansong thiết kế. Ngày 27/9/1949, Hội nghị Toàn thể lần Thứ Nhất của Hội nghị Chính trị Hiệp thương Toàn quốc đã thông qua quyết nghị: Quốc kỳ của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là lá cờ năm sao nền đỏ. Lá cờ này chính thức được kéo lên lần đầu tiên tại Quảng trường Thiên An Môn Bắc Kinh trong buổi lễ tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Hình dạng Quốc kỳ Trung Hoa

Không quá đơn giản như các Quốc kỳ chỉ bao gồm những sọc màu như Quốc kỳ Đức hay quốc kỳ Ba Lan, nhưng cũng không quá cầu kỳ như Quốc kỳ Hàn Quốc và Quốc kỳ Mỹ, Quốc kỳ của Trung Quốc được thiệt kế một các phức tạp vừa phải.

Quốc kỳ của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là lá cờ đỏ có năm ngôi sao. Lá cờ đỏ năm ngôi sao nom trang nghiêm mà giản dị. Nền cờ màu đỏ, hình chữ nhật, tỷ lệ giữa chiều dài và chiều cao là 3:2, năm ngôi sao năm cánh màu vàng được đặt ở góc trên bên trái, trong đó có một ngôi sao to hơn, bốn ngôi sao nhỏ hơn được trải thành vòng cung ở bên phải ngôi sao lớn, ngôi sao nào cũng có một góc chiếu thẳng vào trung tâm điểm của ngôi sao lớn.

Nền màu đỏ tượng trưng cho máu của các chiến sĩ cách mạng đã hi sinh tính mạng vì độc lập của dân tộc. Màu đỏ cũng là màu đại diện cho chủ nghĩa cộng sản, cho cách mạng.

Ngôi sao có màu vàng tượng trưng cho chiến thắng, cho ánh sáng. Tuy nhiên, việc không công bố chính thức ý nghĩa của 5 ngôi sao nên điều này vẫn là điều bí ẩn và khiến mọi người hoài nghi, đồn đoán các giả thuyết.

– 5 ngôi sao tượng trưng cho sự đoàn kết của nhân dân cách mạng đại đoàn kết dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Hoa. Trong đó, 4 ngôi sao nhỏ tượng trưng cho lực lượng của cách mạng bao gồm: giai cấp công nhân, nông dân, tiểu tư sản thành thị và tư sản dân tộc đứng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Hoa là ngôi sao lớn.

– Ngôi sao lớn tượng trưng cho Trung Quốc, 4 ngôi sao nhỏ tượng trưng cho Đông di, Tây Nhung, Nam Man, Bắc Địch.

– 5 ngôi sao tượng trưng cho 5 dân tộc lớn ở Trung Quốc, ngôi sao lớn là Hán, 4 ngôi sao nhỏ là Hồi, Mông, Tạng, Mãn.

– 5 ngôi sao lớn tượng trưng cho đại lục, 4 ngôi sao nhỏ tượng trưng cho 4 khu tự trị.

Toàn bộ lá cờ thể hiện sự vững lòng vượt qua mọi kẻ thù của nhân dân Trung quốc, đương nhiên là dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản.

Quốc kỳ Trung Quốc tượng trưng cho uy quyền và sự tôn nghiêm, thể hiện truyền thống và ý tưởng của quốc gia qua màu sắc và hình dáng đặc trưng riêng. Thông qua sự tìm hiểu về Quốc Kỳ của đất nước xinh đẹp này, du khách hãy đăng ký tham gia tour Trung Quốc để có cơ hội tìm hiểu nhiều hơn về nền văn hóa này nhé!

Vịt quay Bắc Kinh – Món ăn quý tộc, biểu tượng của ẩm thực Trung Quốc

Bắc Kinh là một địa điểm nổi tiếng tại Trung Quốc. Nhắc tới Bắc Kinh, người ta sẽ nghĩ ngay tới Vạn Lý Trường Thành, Tử Cấm Thành,…. Và đặc biệt có một món ăn gắn liền với tên địa danh, nổi tiếng trong nền ẩm thực Trung Hoa từ trước đến nay, đó là vịt quay Bắc Kinh trứ danh. Món ăn nổi tiếng với lớp da vịt giòn tan nơi đầu lưỡi, thịt vịt thấm đẫm gia vị và nước chấm đậm đà hương vị.

Vịt quay Bắc Kinh có lịch sử lâu đời khoảng 600 năm và được công nhận là di sản ẩm thực. Theo các tài liệu ghi lại, món vịt quay có nguồn gốc xuất xừ từ thời Nam – Bắc Triều (420-589) của Trung Quốc. Tuy nhiên, mãi tới thời nhà Nguyên (1271-1368), món ăn này mới được triều đình và nhà vua công nhận lần đầu, được giới thiệu trong cuốn sách có 1330 món ăn do chuyên gia ẩm thực Hu Sihui biên soạn. Công thức làm món vịt quay của ông Hu lúc đó rất phức tạp vì vịt phải được bỏ trong dạ dày một con cừu để quay.

Điều thú vị là vịt quay đặt theo tên Bắc Kinh (Peking duck trong tiếng Anh, với từ Peking là cách phát âm cũ của tên thành phố này), nhưng nguồn gốc của món ăn này lại là Nam Kinh, kinh đô cũ của Trung Quốc, nằm ở tỉnh Giang Tô. Vào thời nhà Minh, triều đình dời đô ra Bắc Kinh nhờ thế món vịt quay cũng được đem tới kinh đô mới.

Về sau, món ăn này đã trở thành một trong những món ăn chính của nhà Vua. Vào triều đại nhà Thanh, vịt quay Bắc Kinh lan sang giới quý tộc, nơi món ăn được ca ngợi nhiều trong các tác phẩm của các học giả và nhà thơ. Sau đó, vịt quay có mặt trong thực đơn của một nhà hàng nổi tiếng tại Bắc Kinh vào năm 1416 và được nhiều người yêu thích, mong muốn tới nhà hàng để thưởng thức đặc sản thơm ngon này. Từ đó, vịt quay được xem là đặc trưng cho nền ẩm thực của Bắc Kinh nói riêng, ẩm thực Trung Quốc nói chung.

Ai đã từng ăn vịt quay Bắc Kinh đều rất hài lòng, bởi lớp da vịt giòn tan, thịt vịt bên trong vẫn giữ nguyên độ mềm và ngọt như thịt luộc. Ăn không cảm giác béo, nhai lâu lại thấy thịt dai nhưng không bở, ăn rất vừa miệng. Để có được điều này, trước tiên phụ thuộc vào loại vịt được sử dụng để chế biến. Thường thì người ta sẽ chọn những con vịt được lấy ở Nam Kinh. Vào tháng 9 khi lúa chín vàng cũng là thời điểm vịt ngon nhất mập nhưng lại không nhiều mỡ, da căng và không bị trầy xước, mỗi con vịt nặng từ 3-4kg. Vịt được nuôi trong môi trường tự do trong 45 ngày, sau đó chúng được cho ăn trong 15 đến 20 ngày.

Sau khi lựa chọn được những con vịt ngon nhất, các đầu bếp sẽ làm sạch và bơm không khí dưới da vịt để tách bỏ lớp mỡ béo. Sau đó, vịt được quết lớp đường mạch nha và gia vị giấm đỏ, đường, muối và ngũ vị hương. Công đoạn này được các đầu bếp lặp đi lặp lại nhiều lần cho đến khi gia vị đã ngấm hết vào da vịt. Công đoạn này được các đầu bếp lặp đi lặp lại nhiều lần cho đến khi gia vị đã ngấm hết vào da vịt.

Không chỉ cầu kỳ trong quá trình tẩm ướp mà quá trình quay vịt cũng là một phần mang tầm quan trọng. Loại củi dùng để nướng món vịt này thường là loại gỗ lấy từ cây long não hoặc cây ăn trái. Mùi thơm của gỗ sẽ làm tăng thêm hương vị cho món thịt này. Khi nướng món ăn này, các đầu bếp phải xoay vịt theo bốn phía để ức, lưng và hai cánh được chín vàng đều. Để thịt bên trong được chín mềm người ta sẽ cho một ít nước vào bên trong bụng vịt, nước sôi sẽ giúp hầm bên trong của vịt, giúp cho vịt mau chín hơn. Một con vịt quay ngon sẽ có lớp da giòn màu nâu bánh mật, giòn giòn, béo béo nhưng lại không quá ngán, nhưng bên trong thịt lại mềm thơm dễ chịu.

Vịt quay Bắc Kinh nếu muốn ngon không thể thiếu nước chấm. Thực khách sẽ được trải nghiệm 2 loại nước chấm hoàn toàn khác nhau và mang đến những hương vị khác nhau nhưng sự thơm ngon, hấp dẫn thì vẫn không thay đổi. Một là nước chấm cổ truyền với đậu xị (đỗ tương hay đậu nành đã ủ lên men nghiền ra trộn với tỏi). Loại thứ hai là nước chấm hiện đại được chế biến bằng cách pha tỏi nghiền, chút dầu mè và chút nước tương xì dầu lỏng. Loại nước chấm nào cũng ngon và hợp với khẩu vị đa số thực khách. 

Vịt quay Bắc Kinh được các nhà khoa học đánh giá là có lợi cho sức khỏe bởi vịt được nuôi bằng thức ăn thiên nhiên và cách chế biến rất khoa học, được quay cách xa ngọn lửa nên không bị ám khói. Đặc biệt nguyên liệu mang lại màu đỏ tươi cho món vịt quay được chiết xuất từ gạo lên men giúp cải thiện sức khỏe, giảm nguy cơ đau tim và bởi thế được coi như một thảo dược.

Khi đặt chân đến Bắc Kinh, du khách có thể bắt gặp món ăn này ở rất nhiều nơi từ nhà hàng cao cấp đến bình dân. Tại những nơi đây, du khách sẽ được thưởng thức món ăn này một cách đúng điệu với nhiều cách ăn khác nhau. Món vịt ăn đúng cách phải được đầu bếp cắt thành những lát mỏng, một số nhà hàng sẽ phục vụ món vịt với phần da và thịt riêng biệt, còn phần xương thì dùng để nấu súp.

Cách phổ biến nhất là ăn với một loại bánh bột mì gọi là “bạc bỉnh”. Đầu tiên, trải miếng bánh bạc bỉnh này lên đĩa rồi quệt lên một chút nước tương trên mặt bánh, sau đó ta để vào đó một miếng da vịt rồi cuốn lại chung với một cọng hành hương sống ngắn chẻ hơi toe hai đầu. Về loại bánh ăn kèm thì ngoài thứ bạc bỉnh thì tùy nơi có thể thay bằng loại bánh mè, hay bánh màn thầu.

Một số thực khách có thể ăn kèm với hành tây, tỏi, dưa chuột hoặc cà rốt. Ăn vịt quay với những loại rau củ như vậy không những làm tăng hương vị của món ăn mà còn có tác dụng làm tăng hàm lượng vitamin C được hấp thụ vào cơ thể, giúp tiêu hoá rất tốt.

Có một số vị khách thì lại thích ăn những miếng da vịt được quay giòn vừa thơm vừa ngậy, và chấm với những viên đường nhỏ. Đây là cách ăn yêu thích của những cô gái hoặc các trẻ em.

Dư vị của món vịt Bắc Kinh sẽ đọng lại mãi sau mỗi lần ăn, vì vậy nếu có cơ hội du lịch Trung Quốc, du khách hãy một lần đến những nhà hàng vịt quay Bắc Kinh chuyên nghiệp để thưởng thức món ăn nức tiếng này nhé! 

Đậu phụ Mapo – món ăn nổi tiếng của Tứ Xuyên, Trung Quốc

Nói về các món ngon của nền ẩm thực Trung Hoa, có lẽ không bao giờ thiếu được các món ăn chế biến từ đậu hũ, trong đó có món đậu phụ Mapo. Món ăn này độc đáo từ cách chế biến, cho đến tên gọi và tồn tại hàng thế kỷ vẫn giữ nguyên độ cay nồng cùng màu đỏ đặc trưng không phai nhạt.

Đậu phụ Mapo là một trong những món ăn nổi tiếng có nguồn gốc từ Tứ Xuyên được lưu truyền cách đây hàng trăm năm. 

Theo chuyện kể trong quyển sách “Phù dung thoại cựu lục” thì món ăn này xuất hiện vào thời vua Đồng Trị nhà Thanh, cụ thể là vào năm 1874. Tương truyền vào thời đó, một người đàn bà tên là Trần Lưu Thị, còn được gọi thân mật là Trần Ma Bà (người đàn bà họ Trần – Chen với khuôn mặt có nhiều mụn rỗ). Sở dĩ có cái tên “Ma Bà” thế này là vì Bà Trần từ nhỏ đã bị bệnh tật tai ương mà để lại sẹo rỗ trên mặt. Sau này người ta gọi mãi thành quen. Bà có một quán cơm với bảng hiệu “Trần Hưng Thịnh phạn phô” ở Thành Đô. Và món đậu phụ Mapo là do bà sáng tạo ra. 

Sách xưa kể lại rằng lúc đầu, bà Trần mở một quán ăn nhỏ ở Thành Đô để buôn bán kiếm sống. Tuy nhiên, có nhiều ngày, lượng đậu hũ còn dư lại khá nhiều vì hương vị món ăn này có phần đơn giản và nhạt nên cũng chẳng mấy ai gọi. Mà Tứ Xuyên lại vốn khu vực dồi dào nguyên liệu và sở hữu thực phẩm cay nóng thuộc loại tươi ngon bậc nhất cả nước. Chính vì vậy, để xử lý số lượng đậu dư thừa nhiều trong kho thực phẩm, bà nhanh trí nghĩ ra cách kết hợp nó với các nguyên liệu và gia vị có sẵn nhằm đổi mới món ăn. Từ đó làm ra một công thức chế biến đậu hoàn toàn khác biệt với các kiểu nấu đơn giản có sẵn.

Với công thức và cách chế biến độc đáo đó đã mau chóng đem lại tiếng tăm cho nhà hàng nhỏ của bà Trần. Món đậu hũ của bà không chỉ nổi danh khắp trong vùng lúc bấy giờ mà còn chinh phục cả những thực khách khắp nơi đến từ vùng miền khác của Trung Quốc. Đâu đâu cũng vậy, hễ nhắc đến Tứ Xuyên, Thành Đô là người ta lại gọi tên món đậu phụ Mapo (“ma” trong tiếng Trung có nghĩa là mụn rỗ, “po” có nghĩa là người đàn bà, Mapo có nghĩa là: “Món đậu của người đàn bà mặt rỗ”). 

Danh tiếng của món đậu phụ Mapo vang dội tới mức đi vào thơ ca, được nhắc đến trong thi tập “Cẩm Thành Trúc Chi Từ Bách Vịnh” như sau: “Ma bà đậu hũ thượng truyện danh / Đậu hũ hồng lai vị tối tinh / Vạn phúc kiều biên liêm ảnh động / Hợp cô xuân tửu túy tiên sinh”.

Vì đâu mà món Mapo lại trở nên cuốn hút đến vậy? Có lẽ bí quyết lớn nhất nằm ở sự kết hợp hài hòa các nguyên liệu tươi ngon và thấm đẫm hương vị đậm đà của vùng đất Tứ Xuyên.

Nguyên liệu chính làm nên món đậu phụ Mapo không thể bỏ qua đậu phụ non Tứ Xuyên. Miếng đậu phụ trắng sau khi qua nhiều công đoạn chế biến từ đậu nành nên rất mềm mịn và thơm. Đậu phụ trắng được cắt ra thành từng miếng vuông nhỏ rồi xào chung với thịt băm nhỏ (thịt heo hay bò).

Ngoài ra, một gia vị không thể thiếu là tương đậu Tứ Xuyên, một loại tương được ủ lên men trong thời gian dài. Chính loại tương này đã khiến cho món đậu phụ Tứ Xuyên có hương vị đặc trưng riêng và rất khác biệt.

Mapo cũng không thể thiếu đi các gia vị cay đặc trưng. Để làm nên món đậu phụ Mapo đúng cách, người ta phải sử dụng rất nhiều ớt và tiêu nên món ăn sau khi chế biến xong thì dậy mùi cay nồng rất hấp dẫn. Đặc biệt, đậu phụ trắng lại được cho nhiều ớt đỏ, hai màu sắc tương phản nhau càng khiến cho món đậu phụ Mapo thêm nổi bật và đẹp mắt hơn.

Một nét tinh túy của món ăn này là đậu phụ tuy mềm dễ vỡ nhưng người nấu phải khéo léo làm sao để đậu không bị nát. Do đó, khi chế biến phải rất cẩn thận từ công đoạn cắt nhỏ và đảo các nguyên liệu. Đặc biệt nhất là phải dùng loại chảo to và rộng thì mới đủ không gian đảo thức ăn để đậu phụ vẫn còn nguyên vẹn sau khi hoàn thành.

Mặc dù được làm từ đậu phụ trắng khá nhạt nhẽo nhưng do món ăn này kết hợp hài hòa các nguyên liệu khác như thịt băm và nhiều loại gia vị cay nồng nên không chỉ vô cùng hấp dẫn mà hương vị món ăn còn rất tinh tế. Đậu phụ mềm và có vị hơi beo béo kết hợp với vị ngọt của thịt, vị cay của ớt tiêu lại thêm vị chua, hăng của đậu tương khiến món Mapo rất dễ đi vào lòng người và làm hài lòng mọi thực khách mới nếm qua lần đầu tiên.

Món đậu phụ Mapo đậm đà, cay nóng thoảng chút chua và mặn rất thích hợp khi ăn kèm với cơm trắng. Chỉ cần xúc vào thìa hay muỗng một ít đậu phụ mới xào xong còn nóng hổi rồi cho lên bát cơm trắng, du khách sẽ cảm nhận được trọn vẹn vị ngon của món ăn. Có thể nói cơm trắng là sự kết hợp hoàn hảo nhất với món đậu phụ cay này, nhất là nếu du khách thưởng thức vào những ngày đông lạnh lẽo nghe gió rít ngoài cửa thì càng thêm ấm lòng đấy!

Du lịch Trung Quốc, chắn hẳn ai đã đặt chân đến Thành Đô nói riêng và Tứ Xuyên nói chung cũng đều muốn được thưởng thức món ăn vô cùng hấp dẫn và kích thích vị giác đến từng cái chạm đũa này. Chắc chắc hương vị cay nồng, thấm đẫm từ ớt và hoa tiêu của món đậu phụ Mapo trứ danh sẽ giúp du khách có được một chuyến trải nghiệm ẩm thực trọn vẹn với đủ các cung bậc từ cay xè, cay nồng đến mặn mà đậm đà thoảng chút chua ngọt vô cùng hài hòa.

Gà Kung Pao – món ăn cay nồng đặc trưng của ẩm thực Tứ Xuyên, Trung Quốc

Gà Kung Pao (宫保鸡丁) có nguồn gốc từ tỉnh Tứ Xuyên của đất nước Trung Quốc. Không chỉ được yêu thích bởi mùi vị thơm ngon khó cưỡng, gà Kung Pao còn nổi tiếng với vị cay nồng và thơm béo đặc trưng của ẩm thực Tứ Xuyên.

Gà Kung Pao hiểu đơn giản là thịt gà cắt nhỏ xào cùng ớt, đậu phộng, rưới nước sốt. Trông có vẻ đơn giản, thế nhưng khi dọn ra đĩa, món ăn này lại có màu sắc vô cùng hấp dẫn khiến nhiều người “ứa nước miếng” ngay. 

Món ăn này được người dân Trung Quốc chế biến rất công phu. Các nguyên liệu cần có gồm: thịt gà (thông thường người ta sẽ sử dụng phần đùi gà để không quá nhiều mỡ nhưng cũng không bị khô sau khi xào); dầu chiên; Đậu phộng rang; ớt đỏ khô; tỏi băm nhỏ; gừng tươi băm nhỏ; hành lá thái nhỏ; nguyên liệu cho gia vị ướp (nước tương, rượu gạo, bột bắp); nguyên liệu cho phần nước sốt (giấm đen Trung Quốc, nước tương, dầu mè, đường trắng, tương đen, bột bắp).

Sau khi có đầy đủ nguyên liệu thì bắt đầu vào công đoạn chế biến. Trước hết, thịt gà đùi sau khi được lọc bỏ xương và da thì sẽ được thái thành những miếng vuông vừa ăn. Sau đó cho các thành phần gia vị ướp đã chuẩn bị vào một cái bát (tô) rồi cho thịt gà vào. Để nguyên cho thịt gà ngấm gia vị. Trong thời gian chờ thịt ngấm thì làm tiếp những thành phần còn lại của món ăn.

Tiếp đó cho tất cả các nguyên liệu đã chuẩn bị cho phần nước sốt vào một cái bát khác và khuấy đều cho đến khi bột bắp và đường tan. Để hỗn hợp sang một bên.

Bước tiếp theo là đun nóng dầu trong chảo ở nhiệt độ cao rồi cho ớt vào một vài giây cho ớt chuyển màu đỏ sậm hơn một chút, rồi cho thịt gà và gia vị ướp đã chuẩn bị vào xào cho đến khi thịt gà chín. Trong lúc này thêm tỏi, gừng và phần trắng của hành lá vào xào khoảng 2 phút, tiếp đó rưới nước sốt vào và khuấy cho đến khi sốt sánh lại. Giảm bớt nhiệt nấu và cho đậu phộng vào khuấy cùng. Chờ cho món gà hơi sôi một chút thì có thể tắt bếp và rắc hành lá đã thái nhỏ vào.

Vậy là đã có một đĩa gà Kung Pao hấp dẫn. Món ăn khi còn nóng có mùi thơm khó cưỡng, khi được dọn ra đĩa trông rất hấp dẫn với nhiều màu sắc bắt mắt. Nhưng trên hết, hương vị đậm đà trong từng thớ thịt được ướp kỹ, cùng món nước sốt cay xé lưỡi đặc trưng mới là điểm cộng của món ăn. Nó khiến thực khách “mê ly” và nhanh chóng bị nghiện cái cảm giác toát mồ hôi, khi thưởng thức món gà Kung Pao huyền thoại.

Hiện nay, ngoài thịt gà, một số nhà hàng đã có thêm biến tấu món ăn này với thịt heo, thịt bò hoặc các loại hải sản, nhưng theo đánh giá chung thì thịt gà là sự kết hợp hài hoà và ngon hơn cả.

Là món ăn nổi tiếng, món gà Kung Pao hiện đã được phục vụ tại nhiều nhà hàng món Hoa tại các quốc gia khác trên thế giới và được nhiều thực khách khắp nơi ưa chuộng.

Món gà Kung Pao được ca ngợi như một tinh hoa của ẩm thực của người Trung Quốc. Món ăn độc đáo này cũng là một trong những yếu tố đầy thú vị, góp phần lôi cuốn du khách trong hành trình khám phá ẩm thực đa dạng của đất nước này. Vậy nên, du khách đừng bỏ lở cơ hội “thử thách” vị giác với món gà Kung Pao nổi tiếng này nếu có dịp du lịch Trung Quốc nhé!

Du lịch Trung Quốc, đừng quên thưởng thức những biến thể đậu phụ thối trứ danh

Nhắc tới những món ăn vặt ở Trung Quốc, không ai không biết tới món đậu phụ thối với nhiều “phiên bản” nổi tiếng. Đây là món ăn mà bất kỳ người già hay trẻ nhỏ đều cực kỳ yêu thích.

Đậu phụ thối là một loại đậu phụ lên men khá nặng mùi. Món ăn này được mệnh danh là “thiên hạ đệ nhất thối” vừa ăn vừa bịt mũi ấy vậy mà trở thành đặc sản gây thương nhớ của mỗi người dân Trung Quốc và kể cả khách du lịch nước ngoài.

Với tên gọi của món ăn này cũng cho thấy nó chắc chắn là sẽ rất “thối”, ngay từ khoảng cách rất xa cũng có thể ngửi thấy mùi “khó ngửi” của món ăn này, nó có mùi thối giống như mùi của rau củ đang thối rữa hoặc phân bón mục rữa, rất khó chịu. Có người so sánh vị của nó với pho mát xanh của người phương Tây, trong khi người khác thì nghĩ nó giống thịt rữa. Vì thế nên tuy rằng đậu phụ thối rất ngon nhưng mùi của nó vẫn là một thách thức đối với người ăn, đặc biệt là những vị khách du lịch nước ngoài lần đầu thưởng thức món ăn kì lạ này.

Một cửa hàng đậu phụ thối gia truyền chia sẻ bí quyết làm món đậu phụ “thiên hạ đệ nhất thối” với công thức nhìn thôi là đã biết thối kinh người. Chủ cửa hàng chia sẻ rằng để có món đậu phụ thối ngon thì phải có nước muối ngon. Và nước muối bà làm ra bằng cách ngâm muối lên men đủ loại rau cải trong khoảng 2 năm để rau cải úng rã ra. Sau đó, bà lọc lấy nước từ rau cải ngâm và cho đậu phụ vào ủ lên men. Đậu phụ ngâm nước muối rau cải càng lâu thì càng mềm ngon và tất nhiên là sẽ càng thối.

Cách làm đậu hũ thối khá cầu kỳ. Thông thường, người ta làm đậu hũ từ đậu nành, rồi ủ cùng với nước cốt gồm sữa, rau (thường là rau cải) trong khoảng 6 tháng cho lên men. Ngoài ra, nước cốt ủ đậu hũ thối có thể là mù tạt xanh, măng tre và thảo dược Trung Quốc.

Cũng là một loại đậu phụ thối với quy trình và nguyên liệu giống hệt, thế nhưng đậu phụ thối xanh lại khiến người dân nơi đây có một trải nghiệm ẩm thực mới mẻ hơn. Khi nhìn vào miếng đậu phụ này, nó giống như thạch, mềm mịn và mát lạnh. Màu xanh của đậu hũ được làm từ một loại lá cây trồng ở địa phương, sau đó đem trộn chung với bột gạo và nước trái cây. Thế nên, hương vị của loại đậu hũ này rất lạ, vào mùa hè người ta xem nó như một món tráng miệng giải nhiệt. Chính vì hương vị tuyệt vời của nó mà người dân xếp hàng mua rất nhiều.

Mặc dù chúng có vị ngon nhưng cơ bản quy trình vẫn là làm đậu hũ thối nên chúng vẫn có mùi hôi đặc trưng. Tuy nhiên, người Trung Quốc lại không cảm thấy điều đó và ăn rất ngon lành. Ngoài món đậu phụ thối chiên thì bây giờ họ có thêm một lựa chọn mới là đậu phụ xanh.

Tùy theo khẩu vị của từng người, họ có thể để lạnh rồi ăn cùng với các loại nước sốt riêng hoặc đem chiên giòn. Đậu hũ xanh này không được bán rộng rãi khắp Trung Quốc, thế nhưng đến Hà Nguyên, Quảng Đông, mọi người sẽ thấy chúng được bán khắp nơi.

Một biến thể khác của đậu phụ thối mà du khách sẽ bắt gặp khi đến tỉnh Hồ Nam, đó là Đậu phụ thối hoả cung điện “đen như mực, non như pho mát, mềm như nhung”.

Nguyên liệu chính để làm món ăn này là đậu phụ nước làm từ đậu tương, sau khi ngâm trong dung dịch nước muối đặc biệt nửa tháng thì lấy ra, dùng dầu cây trà chiên lên trên lửa nhỏ, rồi cho thêm dầu mè và sốt tương ớt.

Cũng giống như đậu phụ thối thông thường, đậu phụ thối hỏa cung điện vẫn giữ nguyên mùi “thum thủm” rất đặc trưng. Nhưng sau khi ăn vào thì thứ mùi khó chịu đó lại mất đi, thay vào đó là hương thơm nồng cùng vị béo ngậy, non mềm hòa quyện cùng với lớp vỏ giòn tan khiến thực khách không thể nào quên.

Có được hương vị đặc biệt đó là do trong dung dịch nước muối ngâm đậu phụ, người nấu cho thêm các nguyên liệu như măng tươi, đậu nành lên men đặc biệt của vùng Lưu Dương, nấm hương và rượu trắng thượng hạng. Nhưng thứ làm cho món đậu phụ thối hỏa cung điện chỉ có ở Hồ Nam này trở nên nổi tiếng là ở thời gian ngâm ủ đậu. Nếu bình thường, đậu phụ được ngâm trong nước muối từ 5 đến 10 ngày, riêng đậu phụ nơi đây lại được ủ đến 15 ngày. Chính thời gian ngâm ủ dài hơn làm cho miếng đậu phụ không còn có màu vàng nữa, mà chuyển sang màu đen nhánh như mực, và hương vị cũng vì thế mà trở nên thơm bùi và béo ngậy hơn gấp nhiều lần.

Để thưởng thức món ăn này theo đúng vị có lẽ là chiên những miếng đậu phụ trên lửa nhỏ rồi trên mỗi miếng xiên một lỗ nhỏ đủ để rưới dầu mè và sốt lên.

Với cách chế biến công phu này, món ăn đậu phụ thối đã và đang trở thành món ăn hấp dẫn cho du khách trong và ngoài nước. Cùng với vị thơm ngon đậm đà, mùi “thum thủm” cùng hương thơm hòa quyện vào với nhau đã tạo nên vị nồng ngon khó tả. Cũng từ đó, tiếng vang của đậu phụ thối hỏa cung điện không chỉ còn ở riêng vùng Hồ Nam mà lan ra khắp cả nước, tạo nên thương hiệu riêng. 

Ở tỉnh An Huy, phía nam Trung Quốc, cũng có một loại đậu phụ thối ngon và “kinh khủng” không kém, nó được gọi là Đậu phụ lông. Có hương vị hấp dẫn không kém gì món đậu phụ thối, nhưng đậu phụ “mọc lông” lại khiến nhiều người e dè không dám thử bởi trông như có lớp nấm mốc dày bao phủ bên ngoài.

Đúng như tên gọi, đậu phụ lông là những miếng đậu phụ trắng nhưng có nhiều sợi lông dài mỏng mịn như bông bám kín xung quanh bề mặt. Những sợi lông này là kết quả của bào tử nấm được cấy vào đậu phụ rồi khiến nó có kết cấu giống như pho mát mốc xanh. Trong quá trình lên men, protein động vật chuyển đổi thành axit amin.

Thực tế, đậu phụ lông là món không được nhiều người biết đến, thậm chí cả người Trung Quốc. Nhưng người dân ở vùng núi tỉnh An Huy đã làm theo phương pháp truyền thống trong nhiều trăm năm qua rồi. Với họ, đây lại là món đặc sản được truyền từ nhiều thế hệ trong bao nhiêu thế kỷ.

Sau khi được cấy nấm mốc, những miếng đậu phụ sẽ được phơi ngoài trời ở chỗ lạnh và khô trong điều kiện nhiệt độ khoảng 15-23 độ C. Nếu vào mùa hè, món ăn này chỉ làm mất khoảng 3 ngày. Nhưng những ngày đông, cần tới 6 ngày mới tạo ra những sợi lông phủ đều mềm mịn trên miếng đậu phụ. Nhờ điều kiện thời gian, nhiệt độ và độ ẩm phù hợp đã tạo ra lớp lông mịn dày phủ bên trên. Quá trình sản xuất đòi hỏi sự cẩn thận, tỷ mỉ. Chỉ cần một khâu sơ suất có thể hỏng luôn cả mẻ.

Có mùi khó ngửi không kém gì đậu phụ thối, nhưng đậu phụ lông lại có độ chắc và ngậy khác biệt. Khi lớp nấm mốc mọc đủ dài và phủ dày, người nấu bếp mới lấy chúng để chế biến món ăn.

Từ đậu phụ lông, người An Huy có thể ăn tươi kèm với gia vị hoặc được chế biến thành vô số món ngon, nhưng phổ biến hơn cả là om với thịt hoặc chiên giòn. Với món chiên, đầu tiên các miếng đậu sẽ nhúng vào hỗn hợp của lòng đỏ trứng gà đánh nhuyễn, sau đó cho ngay vào chảo ngập dầu và rán. Chúng được chiên già lửa, khiến miếng đậy có lớp vỏ trứng giòn ngậy bên ngoài, nhưng vẫn giữ kết cấu mềm mượt bên trong. Sau cùng, người ta sẽ rắc thêm hỗn hợp gồm hành lá, tỏi, ớt, gừng xào qua với đường và nước tương rồi phủ lên trên. 

Ở An Huy ngày nay, du khách có thể thưởng thức chúng ở ngay những quán hàng bán đồ ăn vặt trên hè phố. Nhờ hương vị lạ miệng khiến món ăn này đã tồn tại suốt hàng trăm năm nay mà không sợ bị thay thế.

Khi tham gia những tour Trung Quốc của chúng tôi, du khách có cơ hội được thưởng thức món ăn nức danh này khi đoàn dừng chân sinh hoạt tự do trên một tuyến phố. Thưởng thức đậu phụ thối sẽ mang lại cho du khách thêm nhiều trải nghiệm đáng nhớ.