Bún qua cầu – món ăn ẩn chứa câu chuyện về nghĩa vợ chồng sâu sắc

Nằm về phía tây nam Trung Quốc, Vân Nam là vùng đất có phong cảnh đẹp và văn hóa ẩm thực khá đa dạng. Một trong những món ngon nổi tiếng của Vân Nam đó là món Bún qua cầu đã có lịch sử hơn 100 năm. 

Bún qua cầu (过桥 米线 – Guoqiao Mixian) là món ăn đặc trưng của người Hán ở vùng Điền Nam (Điền là tên gọi của Vân Nam) thuộc về khu vực ẩm thực Điền hệ (một trong các vùng ẩm thực nổi tiếng của Trung Quốc). Bún qua cầu luôn khiến bất cứ ai cũng muốn một lần thử thưởng thức và “tấm tắc” khen ngợi.

Món Bún qua cầu này nổi tiếng không chỉ nhờ độ ngon mà còn nhờ câu chuyện về tình yêu, nghĩa vợ chồng sâu sắc khiến nhiều người cảm thấy thú vị lẫn yêu thích. Tương truyền, vào đời nhà Thanh, ở huyện Mông Tự, tỉnh Vân Nam có một đôi vợ chồng trẻ sống hạnh phúc với nhau, nhưng người chồng chỉ ham chơi mà không tu chí học hành. Thấy vậy, người vợ nói với chồng: “Nếu chàng không dùi mài kinh sử, làm nên nghiệp lớn, sau này mẹ con thiếp sẽ tủi hổ vì thua kém chị em”. Từ đó, người chồng chuyển ra một hòn đảo nhỏ giữa hồ để học hành cho yên tĩnh.

Hàng ngày, người vợ đều nấu cơm mang đến cho chồng. Vì đường xa, khi đến hòn đảo, các món ăn nàng nấu đều bị nguội, người chồng ăn không ngon miệng nên ăn ít, người gầy đi. Thương chồng ăn ít sẽ không đủ sức học hành, người vợ nghĩ ra nhiều món ăn ngon nhưng đều không thành công.

Trong một lần luộc gà và làm món bún, đứa con nhỏ đùa nghịch cho thịt vào bát canh, nàng ăn thử thấy ngon nên đã đun nước ấm, cho bún và thịt vào giỏ mang đến cho chồng. Nàng cũng phát hiện nước sẽ nóng lâu hơn nếu trên mặt có một lớp mỡ. Đồ ăn mang đến nơi vẫn còn nóng nên người chồng ăn rất ngon. Thương vợ vất vả, chàng chăm chỉ học hành hơn và đã đỗ cao trong kỳ thi sau đó.

Kể từ lúc ấy, món ăn này được gọi là “Bún qua cầu” và được lan truyền rộng rãi trong dân gian với ý nghĩa về tình vợ chồng sâu sắc.

Ngày nay, món Bún qua cầu vẫn còn được xem là một trong những đặc sản của tỉnh Vân Nam. Bún qua cầu vẫn giữ nguyên phong cách chế biến và nguyên liệu chính như thịt gà, thịt heo, mực, đậu phụ, nấm, hành, hẹ, bún, trứng chim cút, hành tây, rau cải, đu đủ, cà rốt cùng các gia vị như nước tương, muối, gừng, tỏi… và nhất định không thể thiếu những sợi bún tro tròn – nguyên liệu quan trọng của món ăn này.

Nhưng để làm nên một suất bún qua cầu hoàn thiện thì chắc chắn phải có thêm một bát nước dùng nóng hổi bày cùng với những chiếc đĩa xinh xinh đựng các nguyên liệu kể trên. Dù chỉ mỗi thứ một chút xíu nhưng tất cả đều được chọn kỹ càng, tươi ngon, mùa nào thức ấy và nhất là được bày biện đẹp mắt, đủ màu sắc. Hơn thế nữa, số lượng các nguyên liệu ăn kèm bún cũng không giới hạn mà tùy theo từng nhà hàng, tùy mùa mà có thể lên tới hàng chục món.

Nước dùng của bún qua cầu cũng khá độc đáo vì được nấu từ xương hầm trong thời gian rất lâu, hơn 6 tiếng để cho ra chất nước đậm đà và vị ngọt vô cùng hấp dẫn thực khách. Vì vậy mà khi ăn cùng các nguyên liệu như bún sợi to, các loại nấm, trứng, dưa leo, rau và thịt thái mỏng vẫn vô cùng thấm vị và thơm ngon, không hề bị nhạt.

Cách chế biến đã công phu thì việc thưởng thức món ăn này một cách đúng điệu lại càng khiến thực khách thích thú hơn. Trước tiên phải thả trứng vào bát nước dùng, chờ đợi một vài phút rồi lần lượt cho thịt, rau, nấm vào. Bún là nguyên liệu sau cùng được cho vào bát. Sau khi trộn đều vài lần là du khách có thể tận hưởng vị nóng hổi, ngầy ngậy, ngọt mềm, dai dai tự nhiên của nấm, rau, thịt và trứng.

Nếu có dịp du lịch Trung Quốc và ghé đến vùng đất Vân Nam xinh đẹp, du khách đừng quên thưởng thức món bún mang đậm tình nghĩa phu thê này nhé! Chắc chắn đây sẽ là một trải nghiệm ẩm thực tuyệt vời dành cho du khách.

Vén màn bí mật về tầng lớp thái giám trong lịch sử Trung Hoa cổ đại

Dưới sự thống trị của chế độ phong kiến Trung Hoa cổ đại, bên cạnh hoàng đế tồn tại có một nhóm người đặc biệt. Họ là nhóm người tiêu biểu nhất của chế độ phong kiến. Những người ấy là hoạn quan, cũng tức là thái giám.

Nguồn gốc của Hoạn quan ở Trung Quốc

Trong lịch sử Trung Quốc, hoạn quan đã có từ thời Tây Chu, đương thời gọi là tử nhân, hoặc hạng nhân, yêm doãn, nội tiểu thần. Được tuyển dụng để làm một số công việc cung đình: truyền lệnh của nhà vua đến các quan, canh gác hậu cung, quét dọn phòng ốc, liên lạc giữa nhà vua với các cung phi… Vào thời Tây Chu các nước Tề, Sở, Tần, đều có hoạn quan, và gọi bằng các tên như hình thần, ty cung. Thời Chiến Quốc nước Triệu có Hoạn giả lệnh coi về hoạn quan. Nước Tần có hoạn quan đảm nhận chức Xa phủ lệnh. Sau khi Tần thống nhất Trung nguyên, hoạn quan có người làm đến Thừa tướng, gọi là Trung thừa lệnh. Thời Tây Hán, các hoạn quan được gọi là thường thị có những hoạn quan đảm nhận các chức Hoàng môn lệnh, Dịch đình lệnh. Đến nhà Đường đổi là trung quan.

Tại các triều nhà Tùy, nhà Đường, nhà Tống đặt ra cơ cấu Nội thị tỉnh do hoạn quan đảm nhiệm, trông coi các việc nội bộ ở trong cung đình. Hoạn quan ở hai triều Đường, Tống có người trực tiếp thống lãnh quân đội. Đến đời nhà Minh, đặt ra Thập nhị giám, Tứ ty, Bát cục gọi là Nhị thập tứ nha môn, trông coi về việc phục dịch trong cung đình, mỗi cơ cấu có thái giám trông coi. Đến đời nhà Thanh có Tổng quản thái giám, người đứng đầu thái giám, trực thuộc Nội vụ phủ.

Chữ Hán, có hơn ba mươi từ ngữ dùng để chỉ hoạn quan, nên thường giải thích hoạn quan là thái giám. Nhưng kỳ thực, khái niệm về hai từ ngữ này có chỗ khác biệt. Mới đầu hoạn quan không nhất thiết phải là người bị thiến. Trong lịch sử Trung Quốc cổ xưa đã có hoạn quan. “Hoạn quan” chỉ là danh xưng chỉ chung những quan viên phục dịch, hầu hạ hoàng đế và gia tộc trong hoàng cung. Cho đến đầu đời nhà Đông Hán, khi Lưu Tú quang phục lại Hán thất, mới ban lệnh hoạn quan tất yếu phải là người đàn ông bị thiến. Trước đó, thời Hán Võ Đế, năm 99 trước Công nguyên, khi Lý Lăng thua trận đầu hàng Hung Nô, Tư Mã Thiên vì bênh vực Lý Lăng mà bị thiến và tuy là người bị thiến nhưng Tư Mã Thiên không phải là hoạn quan.

Từ ngữ “thái giám” xuất hiện sớm nhất vào đời Đường Cao Tông Lý Trị năm Long Sóc nhị niên, tức năm 662, khi đem thay đổi danh xưng “Điện trung tỉnh”, cơ cấu chuyên lo việc xa giá, y phục trong hoàng cung thành “Trung ngự phủ”, và cải “Giám thành trung ngự” thành “thái giám” và “thiếu giám”.

Đến đầu đời nhà Minh thiết lập “Nhị thập tứ nha môn”, mỗi nha môn đặt ra một thái giám giữ ấn tín phục dịch hoàng đế cùng gia thuộc, và người được giữ chức thái giám tất yếu phải là hoạn quan. Từ đấy “thái giám” thành danh xưng chuyên chỉ hoạn quan. Đến giữa thời kỳ nhà Minh, quyền thế của thái giám được mở rộng thêm ra. Thái giám có quyền làm sứ giả, trông coi quân đội, coi xét quan lại, dân tình nên trở thành lộng quyền.

Đến đời nhà Thanh, xét thấy sự chuyên hoành và tệ hại của thái giám mới đặt ra chức “Tổng quản Thái giám” làm thủ lĩnh, lệ thuộc vào “Nội vụ phủ” và giới hạn tước vị đến “tứ phẩm” để nhằm làm giảm quyền lực của thái giám.

Hệ thống thái giám chính thức cáo chung vào ngày 5/11/1924, thời điểm hoàng đế Phổ Nghi bị đuổi ra khỏi Tử Cấm Thành. Tính ra ông vua cuối cùng của Trung Quốc được sống trong nhà mình thêm 12 năm tính từ lúc cuộc cách mạng Tân Hợi lật đổ nhà Mãn Thanh năm 1912.

Nhìn chung, có 4 cách đàn ông Trung Quốc thời xưa trở thành thái giám. Một là bị gia đình ép buộc, bán cho triều đình lúc còn nhỏ; hai là nghèo đói không còn lựa chọn; ba là tự nguyện với hy vọng có cuộc sống sung sướng hơn; và bốn là các phạm nhân, thay vì chịu án tử thì đổi lại thành “thiến”.

Quá trình “tịnh thân” đầy đau đớn

Thời cổ đại, có hai nơi chuyên phẫu thuật tịnh thân cho nam giới là “Nội vụ phủ” trong cung và “Cơ sở chuyên tịnh thân” bên ngoài. Dưới triều Thanh, “Thận Hình Ti” là tên gọi để chỉ bộ phận trong cung chuyên thực hiện quá trình này.

Tịnh sư là tên gọi của những người hành nghề tịnh thân. Đây là nghề hái ra tiền bởi quá trình thực hiện vô cùng đau đớn và tỉ lệ tử vong rất cao, đòi hỏi kỹ thuật cao.

Trước khi bắt đầu, người tịnh thân và tịnh sư sẽ phải ký một bản cam kết trước sự có mặt của người làm chứng. Bản cam kết sẽ ghi rõ người tịnh thân hoàn toàn tự nguyện, bất chấp mọi rủi ro hay tử vong sau tịnh thân. Người tịnh thân cũng phải nộp một khoản phí nhất định. Đa số những người này đều xuất thân nhà nghèo nên phải xin trả dần từng năm sau khi nhập cung.

Quá trình hoạn cũng thật công phu và tỉ mỉ. Quá trình tịnh thân đòi hỏi phải chọn lựa thời tiết bởi nền y học cổ đại còn khá kém, chưa tìm ra loại thuốc sát trùng hiệu quả. Chính vì vậy, người ta thường tiến hành quá trình này vào cuối xuân đầu hạ, khi mà khí hậu ôn hòa và gần như không có ruồi muỗi.

Trước đó, người tịnh thân sẽ được nhốt vào một căn phòng kín gió, không được ăn uống gì để tránh đại tiểu tiện gây nhiễm trùng.

Giai đoạn đầu tiên của quá trình này được gọi là “yêm cát”, sử dụng “yêm đao” có lưỡi cong làm bằng vàng và đồng để tránh nhiễm trùng. Quá trình này sẽ gồm 3 người thực hiện: tịnh thân sư và 2 trợ lý. Người tịnh thân sẽ bị bịt kín mắt, trói chặt chân tay, đồng thời được giữ chặt bởi 2 người hỗ trợ tịnh sư, nhằm tránh trường hợp khổ chủ vì quá đau mà giãy giụa, khiến máu chảy không cầm được và mất mạng.

Vào đời nhà Thanh, người tịnh thân còn bị dùng gậy trúc đánh vào phần thân dưới cho mất cảm giác, đồng thời nhét trứng luộc bóc vỏ hoặc giẻ vào miệng để tránh việc đau quá mà cắn phải lưỡi.

Tiếp đến, bộ phận sinh dục của người tịnh thân sẽ được rửa và ngâm trong canh ớt. Tiếp sau đó, tịnh sư sẽ cầm tất tật mọi thứ: dương vật, bìu… gọn lỏn trong tay trái, và rồi tất cả sẽ biến mất chỉ sau một nhát dao “phực” thật ngọt. Cuối cùng, đao phủ sẽ dùng nút đúc bằng sáp trắng, ấn vào nơi trước kia là niềm tự hào của các nam nhân rồi băng bó lại.

Trong vòng 3 ngày, người tịnh thân sẽ không được ăn uống gì để tránh nhiễm trùng. Hết khoảng thời gian này sẽ tháo băng, và nếu thái giám đi tiểu bình thường được tức là đã “hoạn” thành công. Còn không, tức là đường sinh thực khí đã bị thu hẹp hay bịt kín, và người này chỉ còn nước chờ chết.

Do cơ quan sinh dục vẫn có khả năng phát triển hoặc mọc dài ra, thái giám sau khi nhập cung sẽ được kiểm tra cơ thể mỗi năm một lần. Quá trình này được gọi là kiểm tịnh. Không ít thái giám có mùi khai trên người do tịnh thân chưa chuẩn, khiến nước tiểu rỉ ra.

Sau ca mổ, ba món “bảo bối” – tức hai tinh hoàn và dương vật của tân thái giám, sẽ được trữ trong một cái bình niêm phong đặt trên kệ cao. Điều này có hai lý do quan trọng.

Thứ nhất, mỗi khi thái giám được thăng chức, anh ta phải vượt qua bài kiểm tra nghiêm ngặt, và điều này bất khả thi nếu thiếu “bảo bối”. Bài kiểm tra là cơ hội để mấy tay thầy lang kiếm chác, vì lắm khi bệnh nhân quên mất việc thu hồi “bảo bối” sau ca mổ. “Bảo bối” thậm chí có thể mượn, mua hoặc thuê bằng tiền.

Thứ hai, khi thái giám chết, anh ta mong được chôn chung với “bảo bối”. Nếu bị thất lạc, anh ta sẽ tìm mọi cách để có được cái khác. Thái giám muốn chết một cách “vẹn toàn”, vì chỉ có vậy anh ta mới đầu thai trở lại làm đàn ông ở kiếp sau.

Người Hoa cổ tin rằng Diêm Vương sẽ biến kẻ nào mất “của quý” thành con la cái. Đó là tại sao thái giám sợ mất “bảo bối” đến vậy.

Theo nghiên cứu về thái giám Trung Hoa công bố năm 1877 của học giả phương Tây G. Carter Stent, việc mất đi bộ phận sinh dục ảnh hưởng đến tính cách và khiến thái giám trông già hơn tuổi. Họ dễ bị xúc động mạnh, bao gồm nóng giận mất kiểm soát. Họ cũng sẽ không lộ yết hầu, giọng nói lảnh lót, cử chỉ động tác như đàn bà. Và họ không còn kiểm soát được bàng quang nên thường hay “đái dầm”. Người Hoa có câu “hôi như thái giám” cũng do đây mà ra.

Hoạn quan: Kẻ làm sụp đổ cả một vương triều, người tìm ra một trong tứ đại phát minh Trung Hoa

Hoạn quan vốn chỉ là quan trong nội đình, không có quyền can dự chính sự, nhưng là người hầu cận thường ngày gần nhất của hoàng đế, được hoàng đế tin dùng, nên có khả năng lộng quyền, nắm được đại quyền chính trị, thậm chí có thể phế lập hoàng đế. Dưới các triều Đông Hán, Đường, Minh đều từng xảy ra những việc hoạn quan chuyên quyền làm bậy.

Dù bị tước đi khả năng tự lập cho mình một vương triều tập quyền (không có con nối dõi), nhưng một số hoạn quan trở nên tha hóa, biến thành những con người tham lam, tàn nhẫn và gian hiểm. Trong các bộ phim cổ trang Trung Quốc, hoạn quan thường là những vai phản diện. Rất nhiều gian thần hoạn quan có thể tìm thấy trong lịch sử Trung Quốc.

Sự sụp đổ của triều Tần (221-206 TCN) dưới tay hoạn quan Triệu Cao là một ví dụ. Theo như sử sách chép lại, Triệu Cao xuất thân trong một gia đình quý tộc tông thất nhà Triệu (một trong số 7 nước thời Chiến Quốc). Vì cha mẹ của Triệu Cao phạm pháp, ông cùng với huynh đệ của mình mắc tội liên đới và bị xử cung hình. Triệu Cao vốn giỏi về hình luật và pháp lệnh nên được Tần Thủy Hoàng thu nạp về dưới trướng rồi phong cho chức “Trung xa phủ lệnh”. Dần dần, Triệu Cao trở thành một trong những cận thần thân tín của hoàng đế. Sau khi Tần Thủy Hoàng băng hà, Triệu Cao và Thừa tướng Lý Tư đã tiến hành một cuộc chính biến, bức hại thái tử Phù Tô cùng hai tướng quân thân cận của Phù Tô là Mông Điềm và Mông Nghị. Sau đó, Triệu Cao đưa con thứ của Tần Thủy Hoàng là Hồ Hợi lên ngôi làm một hoàng đế bù nhìn, tức Tần Nhị Thế.

Chỉ 3 năm sau, một cuộc bạo loạn lớn nổ ra. Triệu Cao nhiều lần giấu nhẹm tin bại trận, không cho Tần Nhị Thế Hồ Hợi biết rõ binh tình. Sau này, khi Lưu Bang và Hạng Vũ hai mặt tiến đánh vào Quan Trung, vì sợ tội, Triệu Cao đã bức Tần Nhị Thế phải tự sát.

Nhị Thế chết rồi, Triệu Cao lại lập Tử Anh lên làm hoàng đế mới. Tử Anh biết rõ mình chỉ là con rối trong tay Triệu Cao và sẽ sớm bị phế bỏ một khi không còn giá trị lợi dụng. Tử Anh lập mưu giết chết Triệu Cao. Nhưng các cuộc nổi dậy đã không còn có thể dập tắt được nữa. Tử Anh đầu hàng Lưu Bang, người mở cơ nghiệp cho triều Hán sau này. Chỉ 3 năm sau ngày Tần Thủy Hoàng băng hà, dưới tay Triệu Cao, cơ nghiệp nhà Tần đã mau chóng sụp đổ.

Dù trong lịch sử, hoạn quan nổi tiếng quỷ quyệt tuy nhiên không phải tất cả đều xấu xa, một số thậm chí còn đóng góp rất lớn cho văn hóa Trung nguyên. Giấy, một trong bốn phát minh vĩ đại của con người do thái giám Thái Luân dưới thời Đông Hán làm ra. Ngoài ra, Trịnh Hòa, một vị thái giám phục vụ dưới thời vua Minh Thành Tổ, đã chỉ huy các đoàn tàu thương lái di chuyển đến các khu vực như Đông Nam Á, Ấn Độ, Ả Rập, Ba Tư và Đông Phi, sớm kết nối thương mại Trung Quốc với các khu vực này.

Các thái giám còn đóng góp cho âm nhạc. Các thái giám thời nhà Minh còn được công nhận là những người Trung Quốc đầu tiên chơi nhạc cổ điển phương Tây. Hoàng đế Càn Long thời nhà Thanh còn lập một dàn nhạc thính phòng bao gồm các hoạ sĩ mặc âu phục và đội tóc giả.

Nhan nhản chuyện thái giám “làm bậy”

Theo lẽ thường, sau khi bị thiến, khả năng sinh dục của những người này bị cắt đứt, buộc họ phải dứt bỏ những hành vi gắn với dục vọng. Vậy nhưng, lịch sử Trung Hoa vẫn ghi nhận không ít trường hợp các thái giám “không an phận” mà làm nên những chuyện đồi bại, biến thái.

Vào những năm Gia Tĩnh, Minh triều từng xảy ra vụ việc hoạn quan Lưu Quang Vinh có hành vi tư thông với nhiều cung nữ. Sau khi sự tình bại lộ, thái giám họ Lưu này bị Hoàng đế thẳng tay bãi quan.

Khi Minh Hi Tông còn tại vị, ba kẻ hoạn quan là Ngụy Trung Hiền, Triệu Tiến Kinh, Từ Ứng Nguyên từng thông đồng với nhau gây nên nhiều hành vi đồi bại trong cung đình. Thậm chí, Ngụy Trung Hiền cùng một thái giám khác là Ngụy Triệu Đồng còn tư thông với nhũ mẫu của Hoàng đế, gây ra tai tiếng khuấy đảo chốn cung đình lúc bấy giờ. Chưa dừng lại ở đó, những kẻ hoạn quan không an phận này còn gây ra chuyện tày trời khiến bàn dân thiên hạ “giận sôi máu”. Đó chính là hành vi cưỡng hiếp phụ nữ.

Theo các tài liệu lịch sử ghi chép, vào cuối những năm Hồng Vũ, vị quan tên là Thạch Doãn nhận nhiệm vụ tuần tra tại Hà Nam. Có lần, Thạch Doãn cải trang thành thường dân đi vi hành. Tới một ngôi nhà, ông nghe thấy tiếng khóc bi ai vọng ra. Sau khi điều tra, Thạch Doãn mới biết rằng con gái nhà ấy bị một hoạn quan cưỡng gian, vì nhục nhã nên đã tự sát. Biết rõ chân tướng vụ việc, vị quan họ Thạch ấy dâng tấu lên nhà vua. Đọc được tấu chương này, Hoàng đế Chu Nguyên Chương vô cùng tức giận, đã hạ lệnh phán tội chết cho tên hoạn quan kia.

Vào năm Cảnh Thái nguyên niên (1450), Đại đồng Hữu Tham tướng Hứa Quý dâng tấu lên nhà vua, tố cáo Thái giám phụ trách việc giám quân là Vi Lực Chuyển cậy thế cưỡng gian thê tử của một vị quan quân. Vì người thiếu phụ này phản kháng, Vi Lực Chuyển đã “giận cá chém thớt”, kiếm cớ trách phạt và đẩy vị quan quân kia vào chỗ chết. Lúc ấy, Minh Đại Tông Chu Kỳ Ngọc tra hỏi Tuần án Ngự sử thì quả nhiên thấy có chuyện như vậy. Thậm chí, hoạn quan họ Vi này còn không từ thủ đoạn với cả người thân trong nhà. Sinh thời, Lực Chuyển có nhận một người con trai nuôi. Nhưng vì vừa mắt với thê tử của con mình, Vi Lực Chuyển đã làm chuyện đồi bại, thậm chí còn thẳng tay hại chết con nuôi để chiếm đoạt con dâu sau khi sự việc bị bại lộ. Năm Thuận Thiên nguyên niên, Công bộ Hữu Thị Lang Hoắc Tuyên Hiệu lại dâng tấu hạch tội Vi Lực Chuyển. Tấu chương vạch rõ: Hoạn quan họ Vi này mỗi khi tổ chức yến tiệc đều tìm kỹ nữ đến bồi rượu, vui thú, sau đó còn nhiều lần ép các quan quân phải gả con gái cho mình. Minh Anh Tông nghe xong liền vô cùng tức giận, lập tức sai người bắt Vi Lực Chuyển trừng trị theo pháp luật.

Những sự việc trên hẳn sẽ khiến nhiều người không khỏi thắc mắc, thái giám là những kẻ đã mất đi khả năng quan hệ nam nữ, sao có thể phạm tội cưỡng gian?

Đi sâu vào quá trình “tịnh thân” của các thái giám, ta có thể thấy rõ, vào thời cổ đại, trong cung có hai cách để thiến các nam tử. Cách thứ nhất là cắt bỏ toàn bộ dương vật. Cách thứ hai là cắt bỏ hoặc bóp nát tinh hoàn. Trong số đó, việc loại bỏ tinh hoàn được sử dụng phổ biến hơn cả. Khi cơ quan này bị “vô hiệu hóa”, đàn ông sẽ mất đi khả năng phát dục, dương vật cũng không thể cương, năng lực tình dục cũng vì vậy mà “tiêu biến”.

Vậy nhưng, các thái giám vẫn sử dụng “ngọc hành” (dương vật) đã trở nên vô dụng để “đùa bỡn” phụ nữ. Tuy nhiên, việc sở hữu cơ quan sinh dục bị khiếm khuyết khiến quan hệ nam nữ của các hoạn quan không thể diễn ra theo phương pháp thông thường.

Sự thỏa mãn về mặt sinh lý của họ cũng chỉ có thể dừng lại ở mức độ đụng chạm thân thể hoặc dùng các dụng cụ khác để “vũ nhục” đối phương. Chưa dừng lại ở đó, có một số thái giám còn sở hữu khả năng “hồi xuân”. Vì nhiều lý do khác nhau, một vài hoạn quan được nhân nhượng bằng cách thiến “hông triệt để”, hoặc sử dụng thủ thuật khiến dương vật tạm thời teo lại để che mắt người ngoài. Đối với các trường hợp hi hữu này, chức năng của dương vật rất có khả năng khôi phục trở lại, nhu cầu về mặt sinh lý cũng theo đó mà phát sinh.

Theo một số nguồn sử liệu Trung Hoa, những sự việc như vậy quả thực đã từng được ghi nhận. Cuốn “Tảo lâm tạp trở” thời nhà Minh khẳng định thái giám Ngụy Trung Hiền sở hữu khả năng khiến “ngọc hành sống lại”. Đến thời nhà Thanh, hoạn quan Tiểu Đức Trương được miêu tả là người “có hứng thú đặc biệt với phụ nữ”, thậm chí còn cưới tới mấy người vợ.

Ngay cả khi có khả năng “hồi xuân”, nhưng hầu hết các thái giám đều mang tâm lý méo mó, biến thái do nhu cầu sinh lý bị đè nén, lại thêm ánh mắt kỳ thị từ phía dư luận. Cũng bởi vậy mà những hành vi vũ nhục, cưỡng gian của những kẻ không an phận này đều hết sức đáng sợ, tàn nhẫn.

Hoạn quan lấy vợ là chuyện không hiếm

Căn cứ theo ghi chép của nhà sử học, Đông Hán, Đường và Minh là ba thời kỳ chịu ảnh hưởng lớn nhất của hoạn quan. Trong số đó, căn theo ghi chép trong sách sử, ngay từ thời Hán Thành Đế, việc hoạn quan lấy vợ đã rất phổ biến.

Đến thời Hán Hoàn Đế, những hoạn quan như Đan Siêu, Đường Hoành, Từ Hoàng được phong làm Ngũ hầu, họ cũng công khai lấy vợ. Từ đó có thể thấy, vào thời nhà Hán, việc hoạn quan lấy vợ đã vô cùng phổ biến.

Vào thời nhà Đường, hoạn quan càng gây hại, không những sống xa hoa lãng phí, còn chọn dùng người thân của mình vào việc công.

Ở giai đoạn sau ở nhà Đường, bởi hoàng đế quá mức ngu dốt, bỏ bê triều chính, khiến hoạn quan nắm được quyền thế, vậy nên hoạn quan không những ngang nhiên lấy vợ, còn cố tình nâng đỡ nhà vợ.

Vào thời Đường Huyền Tông, hiện tượng này khá rõ ràng. Khi ấy, hoạn quan Cao Lực Sĩ rất được hoàng đế sủng ái. Sau khi lấy con gái một quan nhỏ phụ trách văn thư tên là Lã Huyền Ngộ, Cao Lực Sĩ bắt đầu cất nhắc cha vợ mình một cách trắng trợn, đề bạt ông ta làm Thiếu khanh. Khi mẹ vợ của Cao Lực Sĩ qua đời, lễ tang cũng muôn phần long trọng. Các quan lớn trong triều ào ào đích thân tới chia buồn, cảnh tượng hết sức rầm rộ, từ đó có thể thấy được địa vị của hoạn quan vào thời nhà Đường cao tới mức nào.

Mãi cho tới thời nhà Tống, hiện tượng hoạn quan lấy vợ mới giảm thiểu rõ ràng, bởi vì vào thời nhà Tống, hoàng đế đã rút ra bài học kinh nghiệm từ việc hoạn quan gây hại trong giai đoạn cuối nhà Đường, cho nên đã tăng cường quản lý đối với hoạn quan, mặc dù vẫn có một số hoạn quan lấy vợ, thế nhưng số lượng rất ít, gần như không có ghi chép trong sử sách.

Thế nhưng, thời nhà Minh, tình trạng hoạn quan lộng quyền diễn ra vô cùng nghiêm trọng, vì thế hoạn quan lấy vợ đã là chuyện thường tình. Vào giai đoạn đầu của nhà Minh, Minh Thái Tổ có quy định rõ ràng rằng hoạn quan không được lấy vợ, nếu như có người vi phạm, sẽ phải chịu hình phạt lột da. Tới thời Minh Thành Tổ, bởi vua hết sức sủng ái hoạn quan, cho nên những quy định này cũng dần bị coi nhẹ. Căn cứ theo ghi chép, giai đoạn này đã có rất nhiều hoạn quan lấy vợ, có trường hợp Hoàng đế ban thưởng cho hoạn quan, cũng có trường hợp là do cung nữ và hoạn quan cùng sống trong hoàng cung lâu ngày nên nảy sinh tình cảm, đa số những cung nữ này sau khi được xuất cung cũng đều gả cho những thái giám ấy.

Ở Trung Quốc có cụm từ “đối thực” dùng để chỉ chuyện vợ chồng giữa cung nữ và thám giám (ban đầu dùng để mô tả hành vi đồng tính luyến ái nữ giữa các cung nữ).

Tới thời nhà Thanh, vào giai đoạn đầu, bởi quy định vô cùng nghiêm khắc, thế nên chuyện hoạn quan lấy vợ rất hiếm thấy, nhưng tới giai đoạn giữa và sau đã xuất hiện rất nhiều hoạn quan lấy vợ nuôi con.

Theo lời kể của một thái giám tên Tôn Diệu Đình, ông nói rằng ở trong hoàng cung (thời nhà Thanh), gần như mỗi một thái giám đều sẽ có nhân tình, ai không có nhân tình sẽ bị chê cười.

Từ đó có thể thấy, vào giai đoạn cuối của nhà Thanh, chuyện thái giám lấy vợ cũng hết sức phổ biến.

Cả đời tận tuỵ hầu hạ chủ nhân, lúc nghỉ hưu chật vật tìm chốn dung thân

Thời phong kiến ở Trung Quốc, việc trở thành thái giám được coi là điều xấu hổ, có lỗi với tổ tiên, và gia đình thường không muốn chấp nhận họ. Bởi vậy khi qua đời, họ cũng không được chôn cất trong phần mộ của tổ tiên.

Đối với những thái giám có tên tuổi như Lý Liên Anh (thái giám triều đại nhà Thanh thế kỷ XIX, là người thân cận và tâm phúc của Từ Hi Thái hậu) sẽ không phải đau đầu vì việc dưỡng già. Bởi họ có nhiều cơ hội kiếm được tiền, xây vương phủ tráng lệ như một cung điện cho riêng mình ở Bắc Kinh, sống một cuộc sống xa hoa, ăn chơi sa đọa.

Nhưng những nhân vật như vậy không có nhiều, phần lớn thái giám sẽ gặp khó khăn trong việc dưỡng lão khi về già. Sau khi “nghỉ hưu” thường thì họ sẽ chọn ở chùa, bởi chỉ có ở nơi đó họ mới được chấp nhận.

Các thái giám sau khi rời cung cũng thành lập một tổ chức tương trợ, gọi là “Hiệp hội dưỡng lão”, có thể coi là một nhóm dành cho các thái giám cao tuổi. Họ thiết lập mối quan hệ thân thiết với nhà chùa bằng cách quyên góp tiền bạc, để có cơ hội có chốn dung thân sau khi nghỉ hưu. Ngoài ra, Hiệp hội dưỡng lão còn đầu tư mua đất, xây dựng đình chùa làm nơi trú ngụ cho các thái giám, gọi là “miếu thái giám”. Theo thống kê, vào cuối triều đại nhà Thanh, có 26 ngôi miếu thái giám trong và ngoài thành phố Bắc Kinh.

Các hoạn quan thời nhà Thanh khi còn trẻ đã phải chuẩn bị cho việc dưỡng lão. Đầu tiên, họ cần tích lũy tài sản, sau đó đi quyên góp cho Hiệp hội dưỡng lão thì mới có đủ tư cách tham gia hiệp hội này, và khi về già có thể yên tâm rời khỏi chốn cung đình. Chẳng hạn như Thôi Ngọc Quý, đại thái giám thân cận của Từ Hi Thái hậu đã hiến 680 mẫu đất. Sau khi nghỉ hưu vào năm 1908, ông sống trong đền và mất tại đó.

Ngoài ra, những thái giám nghèo không tiết kiệm được tiền bạc thì chỉ có thể sống lang thang, ăn xin sống tạm bợ qua ngày cho đến khi chết vì đói.

Bên cạnh đó, thái giám nên đến chùa khi còn trẻ để bái kiến các nhà sư, đạo sĩ làm thầy, quyên góp tiền tu sửa chùa, để sau khi rời cung có thể chuyển về đó. Tiêu biểu nhất trong việc trên là thái giám Lưu Đa Sinh (thái giám thân cận của Hàm Phong Đế). Thái giám Lưu Đa Sinh về sau quyên góp để sửa chữa và xây dựng 20 ngôi đền cho thái giám, đồng thời còn mua hơn 2.600 mẫu đất.

Thời phong kiến, thái giám là những người tuy phục vụ trong cung mấy chục năm nhưng về già lại không được coi trọng. Do đó, thời trẻ họ phải tích lũy tài sản, mua nhà tậu đất, thăm nom sư thầy để có chốn nương thân khi nghỉ hưu.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất kỳ khách du lịch nước ngoài nào. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn thì hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc nhé!

Trứng trà – món ăn với hương vị tuy lạ nhưng đặc sắc có một không hai

Nói đến các món trứng nổi tiếng của Trung Quốc thì hầu như ai cũng nghe nhắc về trứng bắc thảo hoặc trứng vịt muối, nhưng có lẽ ít người biết rằng, nền ẩm thực Trung Hoa còn có món “trứng trà” cực kỳ độc đáo. Đây là món trứng gà kho với nước trà, cho hương vị tuy lạ nhưng đặc sắc có một không hai.

Ở Trung Quốc, món trứng trà rất phổ biến và được người dân ăn quanh năm. Du khách có thể tìm thấy món ăn độc đáo này từ những gánh hàng rong, trong những cửa hàng tiện lợi hoặc ở nhiều nhà hàng truyền thống khác.

Món trứng trà rất dễ làm, có thể sẽ là một điểm nhấn khác biệt cho bữa ăn của du khách thay thế cho món trứng luộc thông thường. Khác với cách luộc trứng thông thường, trứng được luộc trong nước trà cùng các loại thảo mộc sẽ giúp món ăn ngon hơn, tốt cho sức khỏe.

Để làm được món trứng trà, khâu đầu tiên chuẩn bị trứng (thường là trứng gà). Trứng gà được luộc trong nước đang đun sôi. Tùy theo khẩu vị thích ăn lòng đỏ chín đều hay chỉ lòng đào mà thời gian đun sẽ nhiều hay ít. Tuy nhiên, nếu đun kỹ quá sẽ khiến món trứng trà làm ra có vị không ngon như ý.

Sau khi trứng vừa chín, người ta sẽ dùng một chiếc thìa kim loại gõ nhẹ nhàng trên bề mặt vỏ trứng để cho vỏ trứng nứt ra, nhưng không bóc bỏ lớp vỏ này để tiếp tục kho với nước trà. Phần nước trà thì có thể dùng bất kỳ loại trà nào để làm món này nhưng nếu dùng trà đen Phúc Kiến hoặc trà Ô Long thượng hạng sẽ cho món ăn có hương vị đặc biệt hơn. Hỗn hợp gia vị ngâm cùng trà gồm có hoa hồi, đinh hương, hạt tiêu, thìa lá, quế… nêm nếm đường và muối cho vừa ăn. Trứng được kho cùng hỗn hợp thảo dược trên trong vòng 1 tiếng, sau đó ủ tiếp 5 giờ đến khi phần nước trà có màu đen nhánh, là lúc hương vị được thấm đều vào trứng thì mới vớt ra.

Khi trứng được bóc bỏ, thực khách thưởng thức nó không chỉ được cảm nhận ở hương vị đậm đà và thơm phức mùi thảo dược mà còn bởi các vân màu đẹp mắt trên quả trứng. Khi bóc vỏ trứng, để lộ lớp lòng trắng mịn màng, thực khách sẽ thấy những đường vân màu hạt dẻ phủ khắp mặt trứng. Nó trông như những viên ngọc cẩm thạch.

Vào trong những ngày hè nóng bức, người dân Trung Quốc thưởng thức món ăn này kèm với nước đá. Tuy nhiên, trứng trà phải được ăn nóng mới đảm bảo được vị thơm ngon. 

Ở Trung Quốc, người ta dùng trứng ngâm trà như một món ăn nhẹ, đôi khi họ cũng dùng với cơm trắng, cơm chiên, cháo hoặc với thịt kho. Nó luôn mang lại dư vị tuyệt vời, khó quên cho những ai lần đầu tiên nếm thử.

Trứng trà dường như đã trở thành một nét đẹp trong văn hoá của người Trung Quốc. Không chỉ đậm đà hương vị phương Đông, món trứng trà còn cho thấy một sự sáng tạo tài tình trong ẩm thực mà người Hoa đã dành tặng cho thế giới. Vì vậy, sẽ thật hối tiếc nếu du khách bỏ qua món ăn độc đáo này trong hành trình du lịch Trung Quốc.

Lễ hội cháo cầu may Laba ở Bắc Kinh, Trung Quốc

Trung Quốc là một quốc gia có nền văn hóa và lịch sử đa dạng. Nổi tiếng với bề dày lịch sử của các triều đại cùng nền văn hóa lâu đời và được biết đến như chiếc nôi của văn hóa phương Đông. Trung Quốc có các lễ hội vô cùng đặc sắc không thể bỏ qua nếu du khách có dịp đặt chân tới, chẳng hạn như Lễ hội cháo Laba ở Bắc Kinh.

Hàng năm, cứ vào ngày thứ tám của tháng thứ 12 theo lịch âm Trung Quốc là ngày hội cháo cầu may Laba được tổ chức tại chùa Yonghegong Lama ở thủ đô Bắc Kinh. Từ “La” theo tiếng Trung Quốc có nghĩa là “tháng âm lịch cuối cùng” và “Ba” có nghĩa là “tám”. Đó là lễ hội khởi đầu cho các hoạt động đón chào Tết âm lịch của người Trung Hoa.

Vào đúng 8h30, nồi cháo Laba nghi ngút khói với hương thơm nồng nàn được các vị lạt ma của ngôi chùa Yonghegong Lama bưng ra và làm lễ phát cháo như thường niên. Rất nhiều người dân đến đây xếp hàng để ăn cháo với tin rằng Cháo Laba có thể mang lại cho mọi người của cải và sự bội thu trong năm tới. Và nó cũng rất dinh dưỡng.

Cháo Laba thường được nấu với 30 loại nguyên liệu, trong đó gạo, đậu đỏ, quả hạch và hoa quả khô là các nguyên liệu chủ yếu. Sự phong phú về nguyên liệu trong một món ăn cộng với công thức nấu gia truyền, sự tinh tế trong cách phối hợp các nguyên liệu âm dương phổ biến trong món ăn đã làm cho món cháo Laba trở nên đặc biệt và thơm ngon hơn hẳn.

Những người dân thủ đô Bắc Kinh trong chờ lễ hội đến để có thể thưởng thức bát cháo Laba chứa đầy hi vọng. Còn đối với những vị khách du lịch quốc tế, việc được hòa vào dòng người đón nhận bát cháo Laba trong lễ hội đặc biệt này thì quả là điều thích thú. Chính vì lý do đó nên lễ hội cháo Laba hiện nay được nhiều người đón nhận và tham gia.

Tương truyền, nguồn gốc lễ hội cháo Laba xuất phát từ Ấn Độ: Trên đường Thích Ca Mâu Ni đi tìm đường giác ngộ, ông đói và kiệt sức nên đã nằm lại bên một con sông. Một cô gái chăn cừu tìm thấy và đã chia sẻ với ông bữa trưa của mình – bát cháo được nấu bằng gạo và đậu. Sau đó, Thích Ca Mâu Ni đã có thể tiếp tục cuộc hành trình và đạt tới sự giác ngộ, trở thành Đức Phật trong ngày thứ tám của tháng âm lịch cuối cùng. Từ đó, các nhà sư và lạt ma luôn chuẩn bị cháo gạo vào đêm hôm trước trước và tổ chức lễ hội vào ngày hôm sau.

Nếu du khách có dịp đến Bắc Kinh trong chuyến du lịch Trung Quốc trong những ngày cuối năm thì đừng bỏ qua cơ hội tham gia lễ hội cháo Laba nhé! Chắc chắn đây sẽ là một trải nghiệm thú vị mà du khách khó lòng quên được.

Mì Dan Dan – món ăn đặc trưng của ẩm thực Tứ Xuyên, Trung Quốc

Tứ Xuyên nổi tiếng với nền ẩm thực độc đáo sử dụng các loại ớt khác nhau kết hợp hài hòa cùng những nguyên liệu để tạo nên vị cay nồng trứ danh. Và khi nhắc đến ẩm thực Tứ Xuyên là phải nhắc đến ngay món mì Dan Dan – một trong mười món mì nổi tiếng nhất Trung Quốc.

Mì Dan Dan là một trong những món ăn nức tiếng nhất của Tứ Xuyên. Mì Dan Dan được ra đời từ năm 1841, do một người bán hàng rong có tên là Trần Bảo Bảo sáng tạo nên. Từ “Dan Dan” vốn để chỉ đòn gánh của những gánh hàng rong, chính vì vậy, món ăn này còn được gọi là “mì gánh”. Mì Dan Dan của Trần Bảo Bảo đã nhanh chóng trở nên nổi tiếng và những người khác cũng học theo để bán gánh hàng rong khắp vùng Tứ Xuyên, Thành Đô. Ngày nay, dù phần lớn mì Dan Dan được phục vụ trong nhà hàng, thì lẩn khuất trong những khu chợ nhỏ tại Tứ Xuyên vẫn tồn tại một vài gánh hàng mì mang đậm nét và hương vị của thời xưa cũ.

Món mì dân dã này được chế biến từ những nguyên liệu đơn giản bao gồm: mì trứng, thịt xay, tỏi tươi, rau mùi, đậu phộng rang cùng loại sốt “cay toát mồ hôi lưỡi” đặc trưng. Đầu tiên, phần sốt thịt sẽ được cho xuống cuối bát, tiếp đến là phần mì trứng tươi đã được chần nóng, và cuối cùng là nêm nếm gia vị, rắc hành lá, mùi và đậu phộng rang lên trên bề mặt. Khi ăn, thực khách sẽ dùng đũa để trộn món mì lên và thưởng thức.

Để tạo nên hương vị độc đáo cho món mì Dan Dan thì nhất định phải có hạt cải muối (Yacai) và ớt chưng chuẩn Tứ Xuyên. Hạt cải muối là một trong những loại thực phẩm phổ biến nhất Tứ Xuyên, những hộ gia đình thường muối cả hũ to để ăn dần quanh năm. Ớt chưng Tứ Xuyên cũng là loại gia vị được làm khá cầu kỳ từ nhiều loại gia vị khác nhau như: ớt, lá nguyệt quế, hồi, thảo quả, nhục đậu khấu, đinh hương… Ớt chưng Tứ Xuyên có hương vị khá phức tạp và chúng chính là bí quyết để đem đến vị cay tê và tạo nên mùi thơm đặc trưng cho mọi món ăn ở vùng đất này.

Món mì Dan Dan với những sợi mì mỏng, nước dùng ăn vào có vị mặn vừa, cay nhẹ, hương thơm nức mũi, dễ ăn. Nước mì có màu đỏ bóng, có thêm rau xanh, mùi tương dầu đậm đà, vị chua cay tê tê đầu lưỡi, thơm không ngấy, cay nhưng không quá khô. Thịt ở đây phải là thịt xay hoặc băm nhuyễn, xào lên cùng các hương liệu phối hợp cho thơm. Một bát mì Dan Dan cơ bản là phải có mì cán sợi mỏng, nước dùng đặc trưng, thịt băm xào thơm, vài cọng rau xanh (thường sẽ là cải thìa) và hành lá cùng tỏi băm nhuyễn. Đặc trưng của món mì Dan Dan là không quá nhiều nước dùng mà chỉ có phần nước sốt cay chan gần xâm xấp mặt mì.

Người mới ăn món mì Dan Dan sẽ cảm thấy hơi hăng mùi tỏi thậm chí sốc vì sự khô nóng của dầu cay, nhưng khi đã ăn được rồi thì sẽ ghiền luôn món mì này nhờ hương vị độc đáo, hòa quyện giữa các nguyên liệu và gia vị.

Nếu có dịp đến Tứ Xuyên trong hành trình du lịch Trung Quốc, đừng chần chừ mà hãy thưởng thức tinh hoa ẩm thực cay nồng tại thành phố này nhé!

Cuộc đời thật của Thục Gia Hoàng Quý phi trong lịch sử Thanh triều

Trong Hậu cung Trung Hoa xưa, không hiếm thấy sự xuất hiện của các phi tần ngoại quốc. Những vị phi tần ấy vốn dĩ chỉ là “vật hi sinh” cho các cuộc hôn nhân chính trị, và đa phần đều chết thảm do không có thủ đoạn bằng các phi tần chính quốc. Tuy nhiên, với Thục Gia Hoàng Quý phi – vị phi tần duy nhất có nguồn gốc Triều Tiên của Càn Long Đế là một ngoại lệ đặc biệt.

Thục Gia Hoàng Quý phi có xuất thân Triều Tiên, nhưng làm phi tần của Thanh Cao Tông Càn Long Đế không phải vì mục đích chính trị. Chưa kể bà đã trụ vững trong chốn thâm cung, từng bước đi lên từ vị trí Quý Nhân cho đến Hoàng Quý phi và hạ sinh cho Càn Long Đế tới 4 Hoàng tử, mang về cho gia tộc không ít vinh hiển.

Thục Gia Hoàng Quý phi Kim Giai thị, nguyên là Kim thị, sinh vào ngày 25/7 (âm lịch) năm Khang Hi thứ 52, xuất thân Chính Hoàng kỳ Bao y, là hậu duệ một gia tộc người Triều Tiên, nguyên gốc hiện ở Nghĩa Châu.

Sau sự kiện Đinh Mão chi dịch xảy ra năm 1617, tổ tiên bà đến cậy nhờ Hậu Kim, sinh sống ở vùng Đông Bắc, do vậy về căn bản Kim thị là một Mãn Châu nữ tử gần như thuần chủng. Nhà Thanh thiết lập Cao Ly Tá lĩnh, là xếp dòng dõi của bà vào hệ này, cũng xem là trở thành chân chính Mãn Châu sĩ phu. Căn cứ “Mãn Châu Bát Kỳ thị tộc thông phổ ” ghi lại, Cao Ly Tá lĩnh, là Tá lĩnh độc nhất ở Nội vụ Phủ, đều lệ thuộc Chính Hoàng kỳ Bao y đệ Tứ Tham lĩnh, sở hữu 43 dòng họ khác nhau, trong đó Kim thị và Hàn thị là 2 họ hiển hách nhất. Hai gia tộc đều lấy quân công lập nghiệp, cũng hoạch phong thế chức, do vậy Mãn Châu quý tộc đối với họ rất ưu ái cùng coi trọng, trở thành sĩ tộc có ảnh hưởng trong xã hội.

Theo “Bát Kỳ thông chí” cuốn 4, Kỳ phân chí ghi lại: năm đầu Thiên Thông (1627), tằng tổ phụ của Thục Gia Hoàng quý phi Tam Đạt Lễ, khi đó tùy trưởng huynh Tân Đạt Lễ quy phụ Hậu Kim, lấy làm quan phiên dịch. Đương Hoàng Thái Cực quy mô dụng binh Triều Tiên bán đảo, do vậy cho quy phục Chính Hoàng kỳ Bao y, nhậm Cao Ly Tá lĩnh, Tân Đạt Lễ nhậm Cao Ly đệ Nhị Tá lĩnh, kiêm Nội vụ Phủ Tam kỳ Hỏa doanh Tổng quản sự. Tổ phụ Thượng Minh không rõ sự tích. Cha của Kim thị là Thượng Tứ Viện Khanh Kim Tam Bảo, từng là Tuần thị Trường lô diêm chính, sau thăng Võ Bị viện Khanh, kiêm nhậm Công trung Tá lĩnh, nhậm Đệ Tam Tá lĩnh kiêm Đệ Tứ Tá lĩnh. Anh trai trưởng Kim Đỉnh từng nhậm Lam Linh Thị vệ, thứ huynh Kim Huy từng nhậm Mãn Tả Thị lang của bộ Binh, anh út là tương lai Lễ bộ Thượng thư Kim Giản.

Do là Bao y thuộc Nội vụ phủ, Kim thị sẽ thông qua Nội vụ phủ tuyển tú nhập cung làm cung nữ, và thông qua đó có lẽ Kim thị đã hầu hạ Hoàng tứ tử Hoằng Lịch, nhận danh phận làm Cách cách và sống trong Tiềm Để cùng ông. Đến khi Hoằng Lịch đăng cơ Hoàng đế, bà chính thức được sắc phong vị trí Quý Nhân. Tới đây, con đường hoạn lộ của bà mới chính thức khai hoa nở nhụy.

Mùa xuân năm Càn Long thứ 2 (1737), Kim Quý Nhân được Càn Long đế sắc phong thành Tần. Khi định huy hiệu, Nội vụ phủ soạn ra 4 huy hiệu lần lượt là “Lệnh”, “Uyển”, “Gia” và “Túy”, sau cùng định chọn “Gia tần”. Theo Hồng xưng thông dụng của Nội vụ phủ, chữ “Gia” có Mãn văn là “Gitulkhan”, có nghĩa là “đáng khen”. Ngày 4/12 (âm lịch) cùng năm đó, lấy Lễ bộ Thượng thư Nhậm Lan Chi làm Chính sứ, Nội Các Học sĩ Ngô Gia Kỳ  làm Phó sứ, tiến hành lễ sách phong.

Năm Càn Long thứ 4 (1739), ngày 14/1 (tức ngày 21 tháng 2 dương lịch), bà hạ sinh Hoàng tứ tử Vĩnh Thành, là vị hoàng tử đầu tiên của Càn Long Đế sau khi đăng cơ.

Năm thứ 6 (1741), ngày 13/2, chỉ dụ tấn lên Phi. Cùng năm tháng 11, lấy Lễ bộ Thượng thư Tam Thái làm Chính sứ, Lễ bộ Thị lang Mãn Sắc làm Phó sứ, hành sắc phong lễ. Năm Càn Long thứ 11 (1746), ngày 15/10, bà lại sinh hạ Hoàng bát tử Vĩnh Tuyền.

Năm Càn Long thứ 13 (1748), ngày 1/7 (âm lịch), Nhàn Quý phi Na Lạp thị được lập làm Nhiếp lục cung sự Hoàng Quý phi, lễ nghi đều như sách lập Hoàng hậu. Do đại lễ long trọng này, Càn Long Đế cũng đại phong hậu cung, dụ tấn Gia phi Kim thị thành Quý phi. Cùng năm, ngày 9/7, Gia Quý Phi phúc khí tràn đầy, lại sinh thêm một Hoàng tử, đáng tiếc Hoàng tử này yểu mệnh nên chưa được 1 tuổi đã hoăng thệ.

Cứ tưởng con đường sinh nở của bà tới đây là dừng lại và bà đã an phận ở vị trí Gia Quý phi, nhưng không, năm Càn Long thứ 17 (1751), ngày 7/2, bà tiếp tục hạ sinh Hoàng thập nhất tử Vĩnh Tinh.

Cũng chính vì do liên tục sinh nở nên sức khỏe của Gia Quý Phi đã sớm cạn kiệt. Bà đã lâm trọng bệnh và qua đời vào ngày 15/11, ở tuổi 42. Bà được đích thân Sùng Khánh Hoàng Thái hậu truy phong thành Thục Gia Hoàng Quý phi, đồng thời cũng là 1 trong 5 hậu phi duy nhất được an táng ở Dụ lăng phi viên tẩm cùng Càn Long Đế, bên cạnh Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu, Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu, Tuệ Hiền Hoàng Quý phi và Triết Mẫn Hoàng Quý phi. Thần bài của bà được đặt ở Tây Noãn các trong Long Ân điện, phía Tây bài vị của Tuệ Hiền Hoàng quý phi (ở giữa Noãn các), và phía Đông, cũng là đối diện chính là bài vị của Triết Mẫn Hoàng Quý phi.

Đáng lưu ý là dù đã qua đời, nhưng những ân sủng của bậc Thiên tử dành cho bà vẫn còn tiếp tục. Chẳng hạn như việc Hoàng đế Gia Khánh (kế vị Càn Long đế) đã hạ lệnh gia tộc Kim Thị của Thục Gia Hoàng Quý phi được đổi thành Kim Giai Thị và nhập vào Mãn Châu Chính Hoàng kỳ. Đến năm Gia Khánh thứ 23, hoàng đế truyền chỉ chính thức sửa tên Kim Thị thành Kim Giai thị trong ngọc điệp hoàng gia, biểu thị ân sủng thâm hậu đối với gia tộc của bà. Từ đây gia tộc trở nên hưng thịnh, Kim Giản lần lượt nhậm Tương Hoàng kỳ Hán quân Đô thống, rồi Lại bộ Thượng thư. Con là Ôn Bố, sơ thụ Bái đường a, Lam Linh Thị vệ, Tổng binh trấn Thái Ninh, Nội vụ Phủ đại thần, Võ Anh điện Tổng đài quan, Tương Hồng kỳ Hán quân Phó đô thống, Công bộ Thị lang, Chính Hồng kỳ Mông Cổ Phó đô thống, cuối cùng là Thượng thư bộ Hộ. Cháu Thiện Ninh, tập nhậm Thế quản Tá lĩnh, còn Kim Huy từng nhậm Tả Thị lang bộ Binh. Gia tộc từ khi liên hôn hoàng thất, dần dần phát đạt.

Quả thật, mặc dù với xuất thân Triều Tiên nhưng Thục Gia Hoàng Quý phi Kim Giai Thị không những không bị “đào thải” sớm trong chốn hậu cung nhà Thanh vốn thâm độc nhiều tâm cơ, mà còn trụ vững, nâng cao phi vị của mình cho tới khi cuối đời và mang về cho gia tộc không ít vinh hiển đúng là chuyện hiếm thấy.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất kỳ khách du lịch nước ngoài nào. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn thì hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc nhé!

Vén màn bí mật về chế độ lương thưởng của phi tần nhà Thanh

Hẳn trong hình dung của hậu thế, các phi tần của nhà vua đều sẽ được hưởng thụ cuộc sống ăn sung mặc sướng, tiêu tiền như nước. Tuy nhiên, thực tế là các phi tần trong lịch sử Trung Hoa, đặc biệt là vào thời nhà Thanh, vốn không có quyền tự do tiêu xài tiền bạc mà cũng chỉ được phát bổng lộc ở một mức nhất định.

Vào thời nhà Thanh, khi chế độ quản lý hậu cung đã đạt tới mức hoàn thiện và chặt chẽ nhất, thì đời sống chi tiêu của những phi tử nơi cung cấm thậm chí cũng được quy định hết sức rạch ròi.

Chiếu theo quy chế của Thanh cung, hậu cung của các vị Hoàng đế chỉ được phép có 1 Hoàng hậu, 1 Hoàng Quý phi, 2 Quý phi, 4 Phi, 6 Tần. Các cấp bậc thấp hơn như Quý nhân, Thường tại, Đáp ứng tuy không giới hạn số lượng nhưng cũng không thể lựa chọn một cách tùy tiện.

Về chế độ cấp phát bổng lộc, mỗi hàm phi vị khác nhau sẽ được hưởng thụ những đại ngộ khác nhau. Đãi ngộ này sẽ bao gồm cả ngân lượng cấp theo năm và các nhu yếu phẩm phục vụ cho cuộc sống hàng ngày của họ. 

Theo lẽ thông thường, người được hưởng thụ đãi ngộ cao nhất trong hậu cung Thanh triều (chỉ tính riêng các thê thiếp của Hoàng đế) nghiễm nhiên sẽ là Hoàng hậu. Dựa vào ghi chép của Thanh cung, Hoàng hậu mỗi năm được hưởng 1.000 lượng bạc.

Một lượng bạc của thời nhà Thanh sẽ ứng với khoảng 250 NDT ngày nay. Như vậy, các Hoàng hậu của vương triều này mỗi năm sẽ nhận được 250.000 NDT/năm, tương đương mức lương 20.800 NDT/tháng (xấp xỉ với khoảng 73.000.000 VND/tháng).

Hưởng mức đãi ngộ cao thứ hai là Hoàng Quý phi. Nhân vật được ví như “Phó Hoàng hậu” trong hậu cung này sẽ được hưởng 800 lượng bạc mỗi năm, tương đương khoảng 200.000 NDT/năm, ứng với mức lương 16.600 NDT/tháng (xấp xỉ với khoảng 58.000.000 VND/tháng).

Các vị Quý phi trong hậu cung Thanh triều mỗi năm được cấp phát 600 lượng bạc làm bổng lộc, tương đương với khoảng 150.000 NDT/năm, ứng với mức lương gần 12.500 NDT/tháng (xấp xỉ với khoảng 43.750.000 VND/tháng)

Những người ở hàng Phi vị sẽ được hưởng bổng lộc 300 lượng bạc/năm, tương đương 75.000 NDT/năm, ứng với mức lương 6.250 NDT/tháng (xấp xỉ với khoảng 21.900.000 VND/tháng).

Những phi tử mang Tần vị thường được cấp phát 200 lượng bạc mỗi năm, tương đương 50.000 NDT/năm, ứng với mức lương khoảng 4.200 NDT/tháng (xấp xỉ với khoảng 14.700.000 VND/tháng).

Quý nhân trong hậu cung Thanh triều mỗi năm được cấp 100 lượng bạc làm bổng lộc, tương đương 25.000 NDT/năm, ứng với mức lương 2.000 NDT/tháng, xấp xỉ với khoảng 7.000.000 VND/tháng.

Xếp dưới Quý nhân là các Thường tại, nhóm người này được phát 50 lượng bạc làm bổng lộc hàng năm, tương đương 12.500 NDT/năm, ứng với mức lương hơn 1.000 NDT/tháng (xấp xỉ với khoảng 3.500.000 VND/tháng).

Đứng cuối trong danh sách những phi tần có chức vị trong hậu cung là các Đáp ứng. Họ chỉ nhận được 30 lượng bạc để chi tiêu cho cả năm, tương đương với 7.500 NDT/năm, ứng với mức lương 625 NDT/tháng, xấp xỉ với khoảng 2.900.000 VND/tháng).

Ngoài số bổng lộc được xem như tiền lương kể trên, mỗi phi tần ở các thứ bậc khác nhau sẽ được hưởng những đãi ngộ khác nhau về nhu yếu phẩm. Số vật dụng này sẽ bao gồm lăng la tơ lụa, đồ ăn hàng ngày, số cung nữ hầu hạ… Ngoài ra, vào dịp sinh nhật của mỗi phi tử, nhà vua sẽ ban thưởng cho họ quà tặng là những lễ vật riêng. Trong các dịp lễ tết, những phi tần có con đều được Hoàng đế phát “hồng bao”. Số ngân lượng hoặc lễ vật được phát trong các dịp này được gọi là “thứ bổng”, tương đương với tiền thưởng trong thời hiện đại.

Mặc dù được quy định rõ ràng, thế nhưng thông qua các đãi ngộ kể trên, không khó để nhận thức mức độ chênh lệch giữa những người có thứ bậc khác nhau là rất lớn. Thực tế là chỉ cần hơn kém một thứ bậc là đãi ngộ của người có phẩm hàm cao hơn gần như đã gấp đôi, gấp rưỡi người ở hàng thấp hơn. Đó là chưa kể tới việc Hoàng hậu thậm chí còn được hưởng đãi ngộ gấp tới hàng chục lần so với các phi tần cấp thấp.

Chính vì thế, để tồn tại trong chốn Hậu cung, họ đã phải nỗ lực cả đời để cải thiện đia vị của mình, cũng như tránh khỏi những mưu kế hiểm độc. Và có lẽ cũng chính vì những đãi ngộ khác nhau về cấp bậc ấy mà những phi tần nơi hậu cung đã sẵn sàng đánh đổi cả tính mạng để tiêu diệt đối thủ, tranh giành sự sủng ái của nhà vua.

Hậu cung Trung Hoa cổ đại luôn có những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện ấy lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về vùng đất “đặc biệt” này. Hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc để tự mình khám phá được nhiều điều thú vị hơn nhé!

Điểm danh 20 loại Bánh bao “vạn người mê” ở Trung Quốc

Không ngoa khi nói rằng bánh bao là một trong những món ăn trứ danh góp phần làm nên tên tuổi cho nền ẩm thực Trung Quốc. Nó không chỉ thơm ngon mà còn được biến tấu theo nhiều kiểu đa dạng và vô cùng độc đáo.

Gạo là một loại lương thực chủ yếu của người dân Trung Quốc nên cơm hay mì là món ăn chính trong bữa ăn của họ. Nhưng nếu có một cuộc thăm dò để tìm kiếm món ăn thông dụng nhất Trung Quốc, du khách sẽ nhận được câu trả lời, đó chính là bánh bao.

Bánh bao có mặt ở khắp nơi, từ các quán hàng lề đường cho đến những nhà hàng cao cấp. Và đặc biệt, mỗi một thành phố của đất nước Trung Quốc đều có một dạng đặc trưng riêng, đến cả người bản xứ cũng chưa chắc đã thưởng thức đủ hết các loại. Và dưới đây là 20 loại bánh bao đặc trưng nhất của Trung Quốc:

Gou Bu Li (Bánh bao Cẩu Bất Lý)

Bánh bao có tên “Cẩu Bất Lý” (Gou Bu Li), nghĩa là “chó cũng không thèm ăn” là một đặc sản nổi tiếng được xếp vào “Thiên Tân tam tuyệt” (3 món ngon bậc nhất ở thành phố Thiên Tân, Trung Quốc). Loại bánh bao này ngon đến mức từng khiến Từ Hy Thái hậu phải thốt lên rằng: “Cao lương mỹ vị chim trời cá biển đều không ngon bằng loại bánh bao này, đây mới đúng là món ăn trường thọ”.

Bánh bao Cẩu Bất Lý nổi tiếng và được nhiều người yêu thích là nhờ hương vị ngon đặc biệt. Bánh bao Cẩu Bất Lý sử dụng nguyên liệu thịt lợn trộn với loại nước sốt đặc biệt được hầm từ xương sườn trong nhiều giờ liền. Ngoài ra, người thợ còn cho thêm dầu mè, xì dầu tự làm, gừng, hành lá và một số gia vị gia truyền khác làm nên phần nhân ngon tuyệt hảo.

Phần vỏ bánh cũng được chế biến cầu kỳ không kém. Bột mì sau khi được ủ men với thời gian thích hợp thì được nhào nặn và cán mỏng thành những hình tròn rồi cho nhân vào gói lại. Trong lúc gói bánh, người thợ làm bánh sẽ khéo léo dùng tay nặn bánh thành rất nhiều nếp gấp đều nhau ở trên đỉnh, tạo thành một bông cúc trắng rất xinh xắn và đẹp mắt.

Chính phần nhân ngon đặc biệt, phần vỏ bánh mềm thơm lại đẹp mắt nên bánh bao Cẩu Bất Lý ngày càng nổi tiếng, tiếng lành đồn xa, người người kéo đến thưởng thức nườm nượp.

Bánh bao ba hạt lựu

Bánh bao ba hạt lựu là món ăn đặc sản của Dương Châu. Nó nổi tiếng là nhờ có vỏ bánh trắng như tuyết, cảm giác mềm mềm, nhân thịt thì thơm ngon. Cái tên “ba hạt lựu” là vì được làm từ thịt gà thái hạt lựu, thịt heo thái hạt lựu và măng thái hạt lựu, tất cả trộn đều tạo ra hương vị lạ miệng thơm ngon.

Bánh bao xá xíu

Đây là cái tên quen thuộc trong các tiệm Dim Sum ở Quảng Đông. Bánh bao xá xíu có hình dạng khá nhỏ, ở trên thường không gấp nếp mà hơi vỡ để lộ phần nhân hấp dẫn. Muốn đúng vị thì phải dùng xá xíu có mỡ và thịt vừa làm nhân, vỏ bánh sau khi được hấp chín phải mềm và mịn, lan tỏa mùi hương xá xíu đậm đà.

Bánh bao chiên (Sheng Jian Bao)

Sheng Jian Bao là một loại bánh bao chiên đặc sản, là món điểm tâm phổ biến nhất ở Thượng Hải kể từ đầu những năm 1900. Hình ảnh của Sheng Jian Bao thường gắn liền với các đầu bếp ở một quán hàng ăn sáng nhỏ cùng với một chiếc chảo đen khổng lồ, được đậy bằng cái nắp gỗ nặng trịch.

Món bánh này bên ngoài có lớp vỏ giòn, nước dùng đậm, thịt thơm nức. Cắn nhẹ một cái, mùi thịt, mùi dầu, mùi hành cùng mùi cứ quanh quẩn trong miệng mãi không tan. Do người Thượng Hải có thói quen gọi bánh bao là màn thầu nên bánh bao chiên ở Thượng Hải thường được gọi là “màn thầu chiên”.

Tiểu long bao (Xiaolongbao)

Đây là một loại bánh bao đặc biệt bắt nguồn từ Nanxiang – một vùng ngoại ô của Thượng Hải. Loại bánh bao này có nhân làm từ tôm, thịt hay các loại hải sản. Ngoài ra, phần xếp ly phía trên mặt bánh cũng luôn phải đảm bảo đủ 18 ly tròn trĩnh và vừa vặn. Xiao Long Bao có khá nhiều loại, có loại vỏ dày, vỏ mỏng, có loại hấp, loại chiên trong chảo nóng hay cả loại nhân thịt heo, nhân thịt cua… 

Điều thú vị hơn cả là Xiaolongbao có nước dùng nóng hổi được bao quanh từng miếng bánh. Du khách hãy tưởng tượng, từng chiếc bánh Xiaolongbao thơm ngon với nước dùng nóng hôi hổi, chỉ cần cắn nhẹ một miếng là vị nhân đậm đà tứa ra đầu lưỡi, mềm, thơm… còn gì đã hơn thế nữa chứ?

Khi thưởng thức chiếc bánh này thì du khách phải dùng đầu đũa khẽ làm rách lớp vỏ bột bên ngoài một chút để phần nước súp bên trong chảy ra lòng thìa. Sau đó, hãy húp thật nhẹ nhàng phần nước súp này rồi từ từ thưởng thức đến nhân thịt và lớp vỏ mỏng bên ngoài. Ngoài ra, nếu cảm thấy có vị nhạt thì du khách có thể chấm Xiaolongbao với một ít nước tương trộn giấm và gừng nhỏ thái sợi để tăng thêm hương vị.

Bánh bao nước (Thang Bao)

Thang Bao là món ăn rất độc đáo ở Thượng Hải nói riêng và Trung Quốc nói chung, bởi cũng là chiếc bánh bên ngoài là bột mì, vỏ mỏng, bên trong là nhân thịt như biết bao loại bánh Dimsum khác, nhưng để ăn được Thang Bao, thực khách nhất định phải nhờ đến sự trợ giúp của chiếc ống hút.

Thang Bao được làm từ những nguyên liệu giống như bánh bao thông thường nhưng thêm một thành phần rất đặc biệt, đó là “thạch da heo”. Để làm thành phần này, đầu bếp sẽ đun nóng nước với da lợn, gừng và hành, sau đó để đông thành thạch, trộn chung với các thành phần còn lại và ngồi vào nhân bánh. Khi hấp ở nhiệt độ cao, thạch sẽ tan ra, tạo thành một dung dịch nóng sốt, vừa miệng và ngon tuyệt hảo. Chiếc bánh sau khi hấp cũng sẽ béo hơn nhiều so với bánh bao thông thường.

Với những ai lần đầu nếm thử, việc cắm ống hút vào chiếc bánh sẽ hơi bỡ ngỡ, nhưng hương vị nóng sốt, ấm nồng của gừng, béo béo của thịt heo, đậm đà của các gia vị hài hòa sẽ khiến thực khách thực sự ngỡ ngàng.

Sau khi hút xong nước, thực khách sẽ dùng đũa để ăn vỏ và phần nhân còn lại như một chiếc bánh thông thường. Bánh thường được ăn kèm xì dầu hay một loại nước sốt hơi chua chua.

Bánh bao chiên nước Lợi Tân

Có mặt từ đời nhà Thanh, món bánh bao này nhìn tưởng giống bánh trứng gà non nhưng thực ra lại khác hoàn toàn. Đặc điểm chính là vỏ bánh mỏng có màu vàng vàng, được chiên cháy xém phần đáy nên rất giòn và thơm lại không cứng. Bên trong chỉ là nhân bánh bao bình thường nhưng kết hợp với bên ngoài độc đáo nên được nhiều người biêt đến.

Momo Bao

Momo Bao là món bánh bao bắt nguồn và rất phổ biến tại Tây Tạng, thường được ăn kèm trong các bữa ăn Thukpa (Thenthuk). 

Momo Bao với hai hình dạng khác nhau: hình tròn hoặc hình trăng lưỡi liềm. Những chiếc bánh Momo có phần to và nặng hơn so với bánh bao truyền thống của Trung Quốc, thường có nhân là hỗn hợp gồm khoai tây và rau băm nhỏ, thịt gà hoặc bò cùng các gia vị như gừng, rau mùi và tỏi.

Thông thường, những chiếc bánh Momo sau khi được làm xong thì đem hấp chín hoặc chiên giòn, ăn kèm với nước sốt ớt tự chế và một bát súp thơm ngon. Súp ăn cùng có thể bao gồm thịt, mì sợi, rau xanh và một ít củ cải.

Bánh bao nướng

Là món ăn chính nổi tiếng nhất nhì đất Tân Cương, vỏ bánh bao nướng được làm từ bột mì chưa lên men, không được cán mỏng như nhiều loại khác, bốn mặt được xếp thành hình vuông. Nhân bánh được làm từ thịt dê và mỡ đuôi dê thái hạt lựu, hành tây, bột thì là,… thêm chút nước và trộn đều. Đem bánh được gói kỹ dán trên thành trong hố nang, nướng trong 10 phút. Vậy là đã có món bánh ngon “níu chân” du khách gần xa.

Manti Bao

Manti Bao là một loại bánh bao có nguồn gốc từ khu tự trị Tân Cương và là món ăn phổ biến ở vùng Trung Á. Bánh bao Manti có nhân là một hỗn hợp gồm thịt, thường là thịt cừu hoặc thịt bò, được bọc trong một lớp vỏ bột mì, sau đó đem luộc hoặc hấp. Tuy món ăn này đơn giản, nhưng nó có một hương vị rất lạ khiến du khách tò mò muốn nếm thử nhiều lần.

Ngoài ra, Manti Bao còn có một công thức biến tấu vô cùng thú vị, xuất hiện từ giữa thế kỷ 15 và vẫn còn tồn tại trong nền ẩm thực hiện đại của Thổ Nhĩ Kỳ. Manti Bao sẽ được hấp chín và rưới đầy hỗn hợp sốt làm từ sữa chua, bơ đun chảy, tỏi và bột gia vị, tạo thành một món ăn rất đẹp mắt.

Bánh bao nước thịt chua

Thêm một món bánh bao ngon và độc lạ tại Tân Cương mà du khách sẽ có cơ hội thưởng thức đó là bánh bao thịt cừu được “tắm” trong súp chua nóng.

Món ăn này có một hương vị rất đặc biệt và khác những loại bánh bao bình thường. Nước súp để rưới lên bánh bao chính là điểm nhấn tạo nên sự khác biệt nhất ở món ăn với hạt vừng, tỏi tây thái nhỏ và rau mùi thêm hương vị đậm đà cho nước súp để lại ấn tượng khó quên cho thực khách.

Sủi cảo (Shui jiao)

Nếu du khách là fan của phim kiếm hiệp chắc hẳn du khách sẽ không còn xa lạ gì với Sủi cảo (bánh chẻo). Đây là một loại thực phẩm cực kỳ phổ biến tại miền Bắc Trung Quốc nói riêng và toàn bộ Trung Quốc nói chung.

Món bánh trứ danh này có hình thù là “bán nguyệt” với đường viền đều. Theo người Trung Hoa, hình dáng nửa vầng trăng của Sủi cảo nhằm tượng trưng cho sự may mắn. Nếu kéo dài hài đầu sủi cảo hình bán nguyệt nối liền với nhau giống như một nén bạc tương trưng cho cuộc sống tiền bạc dư dả, sung túc. Ngoài ra, Sủi cảo còn được người ta in hình bông lúa mì trên vỏ bánh với mong ước một năm trồng trọt bội thu. Bởi thế với người Trung Quốc ăn Sủi cảo vào đầu năm sẽ đem đến nhiều điều may mắn và cuộc sống sung túc hơn.

Cách làm Sủi cảo cũng mang nhiều ý nghĩa khá thú vị. Quá trình chuẩn bị cầu kì nhất là băm thịt và rau. Khi băm nhân, dao và thớt chạm vào nhau phát ra tiếng rắn chắc. Theo quan niệm của người Trung Quốc băm nhân với thời gian càng dài tức là gói Sủi cảo càng nhiều, tức là cuộc sống đầm ấm, khá giả.

Vỏ bánh được làm từ loại gạo nếp ngon và xay nhuyễn cùng với một chút gừng tươi để tạo hương vị đặc biệt. Bột sau khi nhào nặn được cán mỏng thành những miếng hình tròn rồi cho nhân vào. Khi nước trong nồi sôi, bỏ Sủi cảo vừa gói vào nồi rồi lấy vợt quấy đến đáy nồi để cho bánh không bị dính nồi. Trong khi nấu, thường là phải cho thêm 3 lần nước lạnh, vì trong tiếng Trung, từ này đồng âm với “phúc đi rồi lại đến”. Nấu sủi cảo thường từ 10-20 phút là chín.

Sủi cảo có thể làm được rất nhiều món như hấp, chiên, nấu canh. Đặc biệt ăn sủi cảo phải chấm với xì dầu thêm chút gừng và ớt thì mới dậy vị.

Há cảo (Har Gow)

Há cảo là một loại bánh bao có nguồn gốc từ Triều Châu và thường được dùng vào các bữa ăn sáng hoặc là món điểm tâm. Loại bánh này cực ngon và dễ ăn.

Cũng như các loại bánh bao khác, vỏ ngoài Há cảo được làm từ hỗn hợp bột mì, bột há cảo và bột năng. Bên trong chiếc bánh là các loại nhân rất đa dạng bao gồm thịt, tôm, cùng các loại rau củ quả…

Món Há cảo thông dụng thường là Há cảo hấp, ngoài ra còn Há cảo chiên. Há cảo được gói theo hình trăng lưỡi liềm, khi chín lớp vỏ bánh trở nên trong mờ lấp ló nhân tôm thịt hồng hồng đẹp mắt, cộng với chút xanh của hành lá cùng mùi thơm hấp dẫn đã trở thành món ăn ưa chuộng của rất nhiều thực khách. Hả cảo ăn kèm với nước chấm cho thêm vị đậm đà và có thể trang trí thêm để đẹp mắt.

Hoành thánh (Hun tun)

Hoành thánh là món khá quen thuộc với người Việt. Tuy nhiên, phải được dịp thưởng thức tại chính “quê hương” của chúng, du khách được cảm nhận trung thực nhất về món ăn này.

Hoành thánh được làm từ bột mì, có nhân là hỗn hợp thịt, hải sản và rau băm nhỏ. Hoành thánh có thể đem hấp hoặc chiên rán. Hoành thánh có thể ăn riêng kèm với nước sốt gia vị hoặc tại vùng Quảng Đông, hoành thánh được dùng nhiều trong món mì vằn thắn, súp vằn thắn.

Guo tie

Guo tie còn được gọi là “Potstickers”, là một món ăn Trung Quốc phổ biến có tầm ảnh hưởng và thậm chí đã lan truyền rộng rãi đến một số quốc gia như Nepal, Nhật Bản, cả Đông và Tây Châu Á.

Bề ngoài của Guo tie có hình dạng gần giống với hoành thánh nhưng vỏ dày và dẹt hơn. Nhân bánh được chế biến từ thịt băm nhỏ và các loại rau củ. Chúng thường được luộc hoặc chiên cho tới khi cháy cạnh trong chảo gang. Loại bánh này ăn kèm với tương ớt hoặc sốt giấm đậu nành thì tuyệt!

Bánh bao súp Khai Phong

Có lịch sử hơn 100 năm, đây là một trong những món ăn nổi tiếng phải ăn khi đến Trung Quốc. Vỏ bánh bao mỏng, nhân bánh dày, chứa đầy súp và dầu, lúc nhấc lên thì giống như một chiếc đèn lồng, khi đặt xuống thì giống như hoa cúc. Và đặc biệt món bánh bao này không cỏ lớp vỏ bao kín mà vẫn hở ở phần chóp trên, nhưng khi hấp vẫn giữ được hương vị của nhân, khi ăn thì phải húp phần nước súp ở trên trước.

Bánh bao súp gạch cua

Bánh bao súp gạch cua của thành phố Tĩnh Giang thuộc tỉnh Giang Tô tuy không nổi tiếng ở nước ngoài nhưng rất được nhiều người Trung Quốc ăn tẩm bổ. Dù cũng có phần nước súp bên trong như Xiaolongbao nổi tiếng và cách ăn tương tự, nhưng phần súp của món này có mùi vị khác hoàn toàn. Khi ăn, ta có thể liên tưởng đến món súp cua đặc sệt thơm lừng nhưng phần nguyên liệu có chút cao cấp hơn khi dùng gạch cua để nấu tạo màu đỏ cam cực đẹp.

Bánh bao chỉ

Bánh bao chỉ là loại bánh bao tròn, màu trắng, có nguồn gốc ở Hồng Kông. Bánh bao chỉ có vỏ mềm mịn, dẻo dai làm từ bột nếp, phủ 1 lớp bột dừa. Thông thường, bánh bao chỉ có phần nhân ngọt ở bên trong với 4 loại nhân: mè đen, dừa, đậu xanh, đậu phộng.

Tangyuan

Tangyuan hay còn gọi là Yuan xiao là một loại bánh bao đặc trưng thường có mặt trong Lễ hội đèn lồng – là ngày cuối cùng của lễ kỷ niệm năm mới âm lịch, người ta ăn bánh để biểu thị cho sự đoàn tụ, hài hòa và vui vẻ trong gia đình.

Tangyuan có hình tròn, vỏ ngoài của bánh được làm bằng bột gạo nếp, bên trong là các loại nhân ngọt có thể là từ vừng, bột đậu, hoặc trái cây khô… Sau khi làm xong, bánh có thể được luộc, chiên hoặc hấp. Tangyuan có vị ngọt, thơm và ăn rất ngon. Mỗi cách đều tạo ra vị ngon riêng.

Xíu mại (Shao mai)

Shao mai có hình dáng độc đáo hơn so với các loại bánh trên. Nó có nguồn gốc từ vùng Nội Mông. Món bánh này mềm, khá dễ làm và giá thành rẻ. Nhân bánh đa dạng được làm từ thịt heo, rau củ, hải sản và các loại nấm… được gói trong một lớp vỏ mỏng, bên trên được trang trí bằng thịt cua hoặc cà rốt băm nhỏ với màu cam, hoặc dùng đậu để có được màu xanh đẹp mắt điểm trên từng miếng xíu mại.

Ẩm thực Trung Hoa quả thực vô cùng đa dạng. Chỉ riêng bánh bao thôi mà cũng có rất nhiều loại khác nhau rồi. Nếu có cơ hội du lịch Trung Quốc, du khách đừng bỏ qua cơ hội thưởng thức những đặc sản thơm ngon này nhé! Chắc chắc du khách sẽ phải “mê mệt” vì chúng.

Tết Nguyên Đán của người dân Trung Hoa

Mỗi năm đến dịp Tết Nguyên Đán, người Trung Quốc lại thực hiện hành trình di dân lớn nhất trong năm để tìm về nguồn cội. Tết Nguyên Đán ở Trung Quốc là thời điểm “vàng” trong năm để du khách có dịp tìm hiểu, khám phá về nét văn hóa độc đáo tại quốc gia có bề dày lịch sử lâu đời. Đối với người Trung Quốc, đây là dịp trọng đại trong một năm.

Tết Nguyên Đán là lễ hội truyền thống quan trọng nhất trong năm của một số dân tộc Châu Á như Trung Quốc, Việt Nam, Hàn Quốc, Triều Tiên,…Tết Nguyên Đán đánh dấu sự kết thúc của năm cũ và khởi đầu một năm mới.

Chữ “Tết” được người Việt Nam đọc chệch đi từ chữ “Tiết” (mùa màng, lễ hội) mà thành. Trong khi đó, cả hai chữ “Nguyên Đán” (元旦) nghĩa là “sự khởi đầu buổi sáng mới”; “nguyên” có nghĩa là sự khởi đầu hay sơ khai và “đán” có nghĩa là buổi sáng sớm, cho nên đọc đúng phiên âm phải là “Tiết Nguyên Đán”. Thời xa xưa, người Trung Quốc gọi Tết Nguyên Đán bằng nhiều tên khác nhau như: “Nguyên thần”, “Tuế đầu”, “Niên tiết”, “Nguyên thần”, “Nguyên nhật”,…

Tết được tính từ ngày đầu tiên của tháng âm lịch đầu tiên – ngày Chính (Chánh Nguyệt) và kết thúc vào ngày tổ chức lễ hội đèn lồng rằm tháng giêng. Đêm giao thừa của Trung Quốc, ngày dành cho sum họp gia đình, được gọi là đêm Trừ Tịch với “trừ” nghĩa là thay đổi, hoán đổi và “tịch” là đêm, “trừ tịch” nghĩa là “đêm của sự thay đổi””đêm của thời khắc giao thời”.

Tết Nguyên Đán là ngày tết âm lịch dài nhất và quan trọng nhất ở Trung Quốc, thường kéo dài từ ngày 8/12 âm lịch đến ngày 15 tháng Giêng âm lịch.

NGUỒN GỐC TẾT NGUYÊN ĐÁN

Liên quan đến nguồn gốc của Tết Nguyên Đán có nhiều cách diễn giải, tuy nhiên, giả thiết được nhiều người Trung Quốc đại lục phổ biến chấp nhận hiện nay đó là thời kỳ vua Nghiêu vua Thuấn, vào chính ngày mà vua Nghiêu lên nắm ngai vàng, ông đã dẫn theo thuộc hạ của mình lên núi khấn bái trời đất, kể từ đó, người ta gọi ngày này là “tuế thủ” và coi là khởi đầu của một năm. Đây là một trong những giả thuyết được lưu truyền rộng rãi nhất.

Còn theo lịch sử Hồng Kông, nguồn gốc Tết Nguyên Đán có từ đời Tam Hoàng Ngũ Đế và thay đổi theo từng thời kỳ các triều đại. Thời kỳ Tam Hoàng, nhà Hạ chuộng màu đen nên chọn tháng giêng, tức tháng Dần làm tháng đầu năm mới.Nhà Thương thích màu trắng nên lấy tháng Sửu, tức tháng chạp, làm tháng đầu năm. Còn nhà Chu ưa sắc đỏ nên chọn tháng Tý, tức tháng mười một, làm tháng Tết. Mãi cho đến đời nhà Hán, sau khi Hán Vũ Đế thống nhất giang sơn đã đặt lại ngày đầu năm mới vào tháng Dần, tức tháng Giêng. Từ đó về sau, trải qua bao nhiêu thời đại, không còn nhà vua nào thay đổi về tháng Tết nữa.

Cũng có nghiên cứu cho rằng Tết Nguyên Đán có nguồn gốc từ phong tục “Tế lễ tháng chạp” (lạp tế) từ thời thượng cổ, đến nay đã có lịch sử phát triển hơn 4.000 năm. Ngay từ thời kỳ vua Nghiêu vua Thuấn, xã hội Trung Quốc đã xuất hiện hoạt động “Lạp tế”. Lạp tế tức là hoạt động tế lễ bách thần diễn ra vào tháng cuối cùng trong năm (lạp nguyệt), nhằm cảm tạ thần linh đã phù hộ cho mọi người được no đủ, mùa màng bội thu. Nghi thức tế lễ này vô cùng trang trọng, mọi người phải chuẩn bị những loại thực phẩm ngon nhất để tế tự bách thần. Bởi thế, người ta phải đi săn (đả liệp), nhằm kiếm thịt thú rừng tươi, có mùi vị thơm ngon để làm tế phẩm. Thời cổ, chữ “liệp” đồng nghĩa với chữ “lạp”, bởi vậy “Lạp tế” còn có ý nghĩa là hoạt động “săn bắt, tế tự”.

Ngoài ra, Tết Nguyên Đán của người dân Trung Hoa cũng bắt nguồn từ truyền thuyết về con Niên. Theo truyền thuyết, khởi đầu của Tết Nguyên Đán Trung Quốc là một cuộc chiến chống lại con niên (Niên Thú) quanh năm sống dưới đáy biển. Con niên hay đến vào dịp đầu năm mới để phá hoại gia súc, mùa màng, giết hại dân làng, đặc biệt là trẻ con. Để bảo vệ mình, dân làng đặt thức ăn trước cửa nhà vào dịp đầu năm và sau đó, già trẻ trai gái cùng dắt nhau lên núi trốn chạy con niên. Mọi người tin rằng sau khi ăn những thức ăn đó, nó sẽ không tấn công dân làng nữa. Một lần, có một ông già ăn xin đến thôn làng, khi đó dân làng đã trốn hết lên núi, chỉ còn một bà lão ở lại cho ông thức ăn và khuyên ông lão nhanh chân đi trốn. Ông lão bất ngờ nói: “Hãy cho tôi ở lại nhà hôm nay, tôi sẽ đuổi được con niên đi”. Thế rồi vào đêm trừ tịch (giao thừa), con niên đến thôn như thường lệ, nhưng phát hiện ra có điều bất thường, ngoài cửa nhà bà lão đầu thôn có dán giấy đỏ, bên trong nhà có ánh lửa sáng rực, con niên khi đó đã vô cùng sợ hãi, kêu to một tiếng toan tháo chạy. Ngay khi đến gần cửa, bên trong vườn đột nhiên phát ra tiếng pháo nổ lớn, con niên khiếp đảm, một mạch chạy thẳng ra cửa mà không dám quay đầu trở lại nữa. Sau này, dân làng mới hiểu ra rằng con niên sợ màu đỏ, ánh lửa và tiếng pháo nổ. Do đó, về sau, vào những ngày đầu năm mới, dân làng đều treo đèn lồng đỏ, dán giấy đỏ trên cửa sổ, cửa ra vào. Mọi người cũng dùng pháo hoa để làm cho con niên khiếp sợ. Từ đó, con niên không bao giờ tới làng nữa. Cuối cùng, con niên bị Hồng Quân Lão Tổ bắt (ngài là thầy dạy của Tam Thanh – là ba vị thần tiên tối cao trong Đạo Giáo). Con niên trở thành vật cưỡi của Hồng Quân Lão Tổ.

PHONG TỤC ĐÓN TẾT NGUYÊN ĐÁN CỦA NGƯỜI DÂN TRUNG HOA

Dọn dẹp và trang trí nhà cửa

15 ngày trước khi thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới bắt đầu, người dân Trung Quốc đã bắt đầu tất bật cho các hoạt động mua sắm quần áo, đồ trang trí, thực phẩm cất trữ. Vài ngày trước Tết thường là từ 2-3 ngày, mọi người sẽ bắt đầu dọn dẹp nhà cửa, để loại bỏ đi những mảnh vụn, mảnh đất xấu của năm trước. Việc dọn dẹp này được xem như là cách để xua đi những thứ cũ kỹ đã qua và chào đón điều mới mẻ trong năm mới.

Dọn dẹp nhà cửa thường là hoạt động chung, tất cả các thành viên trong gia đình sẽ tham gia hoạt động này. Đây là một cách để tạo sự gắn kết các thành viên trong nhà, đồng thời cũng mang đến khoảng thời gian thư giãn, thoải mái nhất cho mọi người. Kết hợp với dọn dẹp vệ sinh, nhiều gia đình cũng sơn sửa lại nhà, tạo nên một không gian mới mẻ hơn để chào đón năm mới.

Sau đó, người ta sẽ thực hiện trang trí nhà cửa của mình bằng nhiều hình thức:

  • Treo câu đối xuân

Bắt nguồn từ thời đại Shu (hơn 1.000 năm trước), các câu đối cho Tết Nguyên Đán có một lịch sử lâu dài và phong phú. Vào thời cổ đại, những cặp câu đối này được chạm khắc thành những tấm thẻ làm từ thân cây đào.

Theo truyền thuyết, có một cây đào khổng lồ trong thế giới linh hồn. Mỗi buổi sáng, những linh hồn đến thăm thế giới loài người phải trở về đó. Lối vào được bảo vệ bởi hai vị thần. Những linh hồn gây hại trong đêm sẽ bị bắt và cho hổ ăn. Mọi người bắt đầu khắc tên của hai vị thần này vào gỗ đào để chống lại những linh hồn hung ác. Điều này chuyển thành những lời phước lành bằng văn bản, sau đó chúng thành những câu thơ trên giấy đỏ.

Ngày nay, khi đến Trung Quốc, du khách có thể thấy chúng dọc theo cánh cửa của hầu hết mọi gia đình trong mùa năm mới. Một dòng thứ ba ngắn hơn tùy ý được đặt phía trên khung cửa. Nhiều ý muốn được đưa vào những bài thơ này. Số lượng từ của mỗi dòng nên giống nhau; nếu du khách tự viết, hãy sử dụng bộ đếm từ để đảm bảo mỗi dòng chứa cùng số lượng từ.

Các định dạng và âm điệu nên đồng nhất hoặc bổ trợ cho nhau. Một số người viết thậm chí còn muốn sử dụng sự lặp âm đầu hoặc sử dụng các từ giống nhau cho hai bên. Có vô số phiên bản và phong cách khác nhau, nhưng mỗi cặp câu đối đều truyền đạt mong muốn của người viết cho năm mới.

  • Dán chữ “Phúc”

Tương tự, người Trung Quốc cũng trang trí ngày Tết bằng một số từ nhất định. Từ phổ biến nhất là từ “Phúc” – nghĩa là hạnh phúc và may mắn. Nó được viết bằng thư pháp trên một mảnh giấy đỏ vuông. Những thứ này có thể được dán lên tường, cửa ra vào hoặc cửa sổ.

Chữ “Phúc” thường được kết hợp vào các đồ trang trí khác, chẳng hạn như giấy cắt và tranh. Như một cách chơi chữ, nhiều người thích đặt chữ “Phúc” đảo ngược. Bởi chữ dán ngược nghĩa là “Phúc Đảo”, chữ “Đảo” trong tiếng Hán đồng âm với chữ “Đáo” (倒 – Dào), nó đồng âm với từ “ở đây” (到). Trò chơi chữ này thể hiện rằng vận may đang đến, hoặc đã ở đây.

  • Dán tranh Thần cửa

Theo tín ngưỡng dân gian Trung Quốc có nhiều vị thần khác nhau, cũng như các nhân vật lịch sử được tôn kính (có thật hoặc huyền thoại) và trong đó có vị thần mang tên Thần Cửa. Đúng như tên gọi, tranh của những vị thần này được dán lên cửa chính của một ngôi nhà, vì lối vào chính theo truyền thống bao gồm hai cửa, nên các vị thần luôn xuất hiện theo cặp.

Theo truyền thuyết, thợ săn quỷ nổi tiếng nhất tên là Zhong Kui có khuôn mặt rất đáng sợ. Đây là lý do tại sao tất cả các vị thần Cửa đều có đôi mắt giận dữ, gương mặt nhiều nếp nhăn và giữ vũ khí truyền thống. Thần sẵn sàng bảo vệ gia đình trước bất kỳ con quỷ hay linh hồn nào.

  • Tranh cắt giấy nghệ thuật

Cắt giấy là một nghề thủ công dân gian, nó có thể được sử dụng quanh năm, nhưng được dùng đặc biệt trong Tết Nguyên Đán. Tranh cắt giấy nghệ thuật thường thấy trên các cửa sổ, theo đúng tên gọi của nó là “cửa sổ hoa”. Các nghệ nhân sẽ tỉ mỉ tạo ra những tác phẩm tuyệt đẹp này và dán chúng lên cửa sổ bằng keo dính từ cơm.

Những đồ trang trí này thường tượng trưng cho sự thịnh vượng và lời chúc tốt lành, chúng được làm bằng giấy đỏ. Hình ảnh bao gồm cá, đào, lúa, rồng, phượng,… Những hình ảnh ấy là biểu tượng cho những điều tốt lành, chẳng hạn như con cá, theo tiếng Trung Quốc có phát âm giống phước lành. Những hình ảnh khác như rồng và đào, là biểu tượng từ truyện dân gian và truyền thuyết. Xiên đâm cá và hình ảnh liên quan khác, đại diện cho hy vọng một vụ thu hoạch tốt…

  • Dán các loại tranh có ý nghĩa

Nghĩa đen của loại tranh cụ thể này là “bản vẽ của năm mới”. Chúng còn được gọi là “bản in Năm Mới”. Đây là một nghề thủ công có lịch sử ít nhất một nghìn năm. Chúng phù hợp với tất cả các đồ trang trí năm mới, những bức tranh này được người dân sử dụng để bày tỏ mong muốn cho năm tới.

Phong cách nghệ thuật truyền thống của Trung Quốc đã quen được sử dụng, nhưng với sự phát minh của công nghệ in, phong cách và hình ảnh được mô tả đa dạng hơn. Một số người gọi những bức tranh này là bách khoa toàn thư về đời sống dân gian. Các khái niệm có thể xuất phát từ các sinh vật trên trời đến truyện dân gian hay các hoạt động hàng ngày.

Phần lớn các bản in mô tả một đứa trẻ như búp bê mũm mĩm hoặc một phụ nữ xinh đẹp. Những hình ảnh này thể hiện mong muốn về những đứa trẻ khỏe mạnh và một gia đình hạnh phúc. Có ba trường phái đặc biệt của tranh dân gian Trung Quốc: Táohuā wù (桃花坞) từ Tô Châu (苏州 -Sūzhōu), Yángliǔqīng (杨柳青) từ Thiên Tân (天津 -Tiānjīn) và Wéifāng (潍坊) từ Sơn Đông (山东 – Shāndōng).

  • Treo đèn lồng

Tết Nguyên Đán ở Trung Quốc kéo dài tổng cộng 15 ngày, với các hoạt động khác nhau cho mỗi ngày, đặc biệt là Lễ hội đèn lồng. Có rất nhiều kiểu đèn lồng, từ hình dạng cơ bản như hình cầu, đến hoa sen và thậm chí là rồng! Một số người viết chữ “Phúc”, thơ hoặc thư pháp lên đèn lồng trước khi thả chúng.

Đèn lồng Kongming, được đặt theo tên của Khổng Tử, nó đặc biệt quan trọng trong Lễ hội đèn lồng. Mọi người viết ra những điều ước ở mỗi bên của đèn lồng và thả chúng bay lên trời, với hy vọng điều ước của họ sẽ thành hiện thực trong năm mới.

Tiễn Ông Táo về trời

Theo như truyền thuyết thì mỗi gian bếp của từng nhà đều có ông thần Táo (hay gọi tắt là Ông Táo). Vào ngày 23/12 âm lịch thì ông Táo sẽ bay về trời báo cáo cho Ngọc Hoàng về những sự việc đã xảy ra dưới hạ giới trong năm qua. Vì thế, tiễn ông Táo về trời là một phong tục Tết Nguyên Đán ở Trung Quốc mà người dân địa phương luôn thực hiện. Món ăn để dâng cúng ông Táo thường là bánh đường, bánh rán và súp đậu hũ.

Làm bánh bao hấp vào đêm giao thừa

Ăn bánh bao hấp trong những ngày Xuân về là một phong tục Tết Nguyên Đán ở Trung Quốc mang ý nghĩ truyền thống, lâu đời. Và người dân địa phương thường trang trí những chấm tròn đỏ lên bánh bao để tạo màu sắc tươi sáng. Trước đây thì mọi người trong gia đình luôn quây quần lại để cùng nhau làm bánh. Nhưng hiện nay, do xã hội phát triển, mọi người cũng không có thời gian tự làm nên họ sẽ mua bánh bao bán sẵn trong siêu thị hay cửa hàng tiện lợi để đem về cúng. Chỉ có một số vùng quê nông thôn là vẫn còn giữ gìn tập tục truyền thống này.\

Đốt pháo, bắn pháo hoa

Pháo hoa không chỉ làm sáng bầu trời đêm ở thời khắc chuyển giao từ năm cũ sang năm mới mà còn mang trong mình nét giao hưởng rực rỡ đầy màu sắc, âm thanh vui nhộn được phát ra. Hơn nữa, ý nghĩa của việc bắn pháo hoa đêm giao thừa ở Trung Quốc còn được cho là để xua đuổi tà mà, quỷ quái đến gần.

Hiện ở đất nước Trung Quốc không chỉ có pháo hoa mà còn có cả các loại pháo thông thường được người dân đốt mỗi độ Tết đến xuân về. Đây là một phong tục Tết Nguyên Đán ở Trung Quốc để tạo nên bầu không khí rộn ràng những ngày đầu năm. Đầu tiên sẽ đốt một dây pháo nhỏ rồi tiếp theo là đốt 3 tiếng pháo lớn hơn tượng trưng cho việc năm cũ đã qua và chào đón năm mới đang tới. Tuy nhiên, việc đốt pháo đã bị cấm ở những thành phố lớn của Trung Quốc. Và chỉ còn xuất hiện tại một số vùng nông thôn hẻo lánh.

Ăn mặc trang trọng

Đây là thời điểm rất tốt để mặc quần áo truyền thống của Trung Quốc. Trang phục truyền thống của Trung Quốc (được làm từ lụa) có thể được mua tại Phố người Hoa. Gắn liền với niềm vui, hạnh phúc, may mắn, thịnh vượng và an khang, quần áo màu đỏ sẽ đảm bảo rằng bạn đã thể hiện trọn vẹn tinh thần của ngày Tết. Ngoài màu đỏ, màu vàng cũng là một màu được sử dụng rất nhiều trong dịp đón năm mới, hoặc họ có thể học cách kết hợp cả 2 màu này. Người Trung Quốc tránh ăn mặc quần áo có màu đen trong dịp Tết. Màu đen tượng trưng cho điềm xui rủi, và thậm chí cái chết.

Thờ cúng Tổ tiên

Nhằm tỏ lòng biết ơn và tôn trọng những gì tổ tiên đã ra cho mình, các gia đình Trung Quốc đã thờ cúng tổ tiên của mình, đặc biệt là rất trang trọng vào những ngày này. Có rất nhiều phong tục truyền thống để thể hiện lòng biết ơn của họ, chẳng hạn như cúi lạy trước mộ hoặc bàn thờ tổ tiên hoặc chuẩn bị thức ăn và đồ uống để thờ cúng tổ tiên.

Đi chùa

Vào dịp tết Nguyên Đán, người Trung Quốc có thói quen đi chùa hay đền thờ để cầu may mắn. Họ sẽ thắp nhang và khấn nguyện. Hầu hết các ngôi chùa đều chào đón tất cả mọi người, không chỉ riêng người Trung Quốc. Đặc biệt, họ cũng thường tìm được ống xăm may mắn ở gần lối đi vào các đền thờ hoặc chùa. Khấn nguyện xin một quẻ xăm, rồi lắc ống xăm cho đến khi một thẻ xăm rơi ra. Sẽ có một thầy bói giải thích quẻ xăm đó cho khách.

Bữa ăn lớn cùng gia đình

Một bữa ăn lớn cùng gia đình là cách chào đón năm mới phổ biến nhất của người Trung Quốc. Một thành phần quan trọng trong các món ăn vào Tết Nguyên Đán là mì trường thọ. Món mì trường thọ thay cho lời chúc mạnh khỏe, sống lâu. 

Trong mâm cơm ấy cũng không thể thiếu món cá. Bởi vì, theo quan niệm của người Hoa thì cá là món ăn sẽ mang lại cho họ sự giàu có, phùng vinh, dư giả suốt năm. Điều đặc biệt nhất ở đây là vào dịp Tết Nguyên Đán, khi ăn họ sẽ không ăn hết mà chỉ ăn phần thân cá còn phần đuôi và đầu cá sẽ để lại qua đêm theo quan điểm của họ là “niên niên hữu dư”.

Mâm cơm Tết Nguyên Đán của người Trung Quốc không thể gọi là đầy đủ nếu thiếu món salad cá Yu sheng (hay còn được biết với tên Lo Hei), là món salad đầy màu sắc của cá tươi và rau, quả. Những năm gần đây, các nguyên liệu đã trở nên ngày càng phong phú, bao gồm sứa, đu đủ, khoai lang, hẹ ngâm và nhiều hơn nữa.

Ngoài ra, các ngày khác trong bữa ăn thường có bánh tổ (Nian Gao). Loại bánh này được làm từ gạo nếp loại tốt, cùng với đường và một chút gừng tươi; ăn chiếc bánh này truyền tải mong ước các thành viên trong gia đình lúc nào cũng luôn kết dính, gắn bó với nhau bền vững. Phiên âm Nian Gao còn mang ý nghĩa chỉ sự thịnh vượng, tiến bộ, luôn đi lên.

Còn có rất nhiều món ăn khác mà mỗi gia đình Trung Hoa quây quần bên nhau để thưởng thức như: Sủi cảo, Khâu nhục, Xá xíu, Lạp vịt, Chả giò, Bánh xoắn chiên, Bánh củ cải (Luo Buo Gao), Chè trôi nước, các loại trái cây (cam quýt, đào, bưởi), mứt gừng, hồng khô,…

Chúc Tết người thân, bạn bè

Vào những ngày đầu năm mới, người Trung Quốc sẽ đến chơi nhà của người thân, bạn bè, có thể dùng chung bữa cơm thân mật. Trong chuyến đi này, họ sẽ gửi cho nhau những lời chúc năm mới may mắn, an lành và tốt đẹp. Trẻ em thì luôn ngoan ngoãn, vui tươi, người già thì nhiều sức khỏe,…

Mừng tuổi bằng phong bao đỏ

Vào ngày Tết cổ truyền của Trung Quốc, người lớn sẽ tặng những phong bao màu đỏ có tiền mừng tuổi cho trẻ nhỏ (bao lì xì). Ý nghĩa của phong bao này là mang tới sức khỏe dồi dào, may mắn… Cho tới ngày nay, phong tục Tết cổ truyền của Trung Quốc này thay đổi một chút, đó là những người trẻ cũng sẽ tặng những phong bao đỏ cho ông bà, bố mẹ, để thay lời chúc sức khỏe và bình an.

Múa lân sư tử

Múa lân sư tử trong tiếng trống lớn là một nghi thức mang tính biểu tượng trong năm mới. Hai hay ba người luôn mặc trang phục đặc biệt và chuyển động đầu sư tử để xua đuổi xui xẻo và mang đến may mắn.

Có thể thấy, ngày Tết Nguyên Đán ở Trung Quốc cũng có nhiều nét đặc sắc như Việt Nam. Nếu có dịp du lịch Trụng Quốc vào những ngày đầu xuân năm mới, du khách sẽ có cơ hội tìm hiểu sâu hơn về các phong tục đón Tết nơi đây.

Nét thú vị về đôi đũa trong văn hoá Trung Hoa

Đối với mỗi người dân Trung Hoa, đôi đũa là một vật dụng quen thuộc không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày. Dù sau này, trên bàn ăn đã xuất hiện thêm các dụng cụ từ phương Tây như nĩa, dao… thì đôi đũa vẫn giữ được sự quan trọng của mình. Vì thế, đôi đũa đã trở thành một nét văn hóa rất độc đáo của Trung Quốc.

Có nhiều quốc gia tự coi mình là nơi sản sinh ra đôi đũa. Điều này còn cần được nghiên cứu thêm. Tuy nhiên, ở Trung Quốc đôi đũa đóng vai rất trò quan trọng trong truyền thống văn hóa. Từ xa xưa, đũa được những người dân bên bờ sông Trường Giang gọi là “Zhu” có nghĩa là “dừng lại”. Nhưng đối với những người thủy thủ đi trên tàu, “dừng lại” là một điều không may mắn. Vì thế thay bằng gọi Zhu” họ gọi là “Kuai có nghĩa là nhanh nhẹn, hoạt bát. Từ đó đến nay, người Trung Hoa gọi đôi đũa là “Kuai”.

Người Trung Quốc không dùng dao và dĩa trong bữa ăn bởi theo quan niệm của học thuyết Khổng Tử, đó là những vật dụng liên quan đến bạo lực và binh đao. Trong khi đó, đũa tượng trưng cho sự thanh cao và lòng nhân từ, đây cũng là hai nội dung chính của học thuyết Khổng Tử. Một lý do nữa không kém phần quan trọng đó là các món ăn của người Trung Quốc thích hợp với đũa hơn là dao và dĩa. Do đó, đôi đũa đóng một vai trò quan trọng trong truyền thống văn hóa của người Trung Hoa.

3 TRUYỀN THUYẾT VỀ SỰ RA ĐỜI CỦA ĐÔI ĐŨA 

Đôi đũa là một phần của văn hóa Trung Hoa cổ xưa, được kể lại trong rất nhiều các truyền thuyết và câu chuyện dân gian khác nhau trong lịch sử. Trong đó, 3 truyền thuyết phổ biến nói về sự ra đời của đôi đũa là: Đát Kỷ và đôi đũa (truyền thuyết được lưu truyền vùng Giang Tô); Đại Vũ dùng cành cây, cành trúc gắp thức ăn (truyền thuyết được lưu truyền vùng Đông Bắc); Khương Tử Nha và đôi đũa trúc.

Trước hết, chúng ta sẽ nói tới Truyền thuyết về Đát Kỷ và sự ra đời của đôi đũa. Tương truyền tại vùng Giang Tô, vua Trụ (triều đại nhà Thương) buồn vui thất thường, khi hắn ăn uống thì hoặc là chê thịt cá không tươi, khi lại mắng canh gà nóng quá, thậm chí còn bực bội vì mặt nhạt không hợp khẩu vị,… Kết quả rất nhiều ngự trù đã mất mạng dưới thái độ hách dịch của vị hôn quân này.

Yêu hồ Đát Kỷ được vua Trụ sủng ái, mỗi lần có yến tiệc, để tránh làm Trụ Vương nổi giận, Đát Kỷ đều thử đồ ăn trước. Có một lần Đát Kỷ chọn ra được vài món hợp khẩu vị nhưng thấy phần quá nóng, thời gian lại gấp không kịp cho đổi. Trong lúc vội quá Đát Kỷ liền nhanh trí rút trâm ngọc trên đầu rồi kẹp đồ ăn và thổi, sau đó mới đưa cho Trụ Vương.

Trụ Vương thấy hành động gắp đồ ăn của Đát Kỷ lạ mắt nên rất vui, từ đó ngày nào cũng yêu cầu Đát Kỷ làm như thế. Mỹ nhân này liền nhờ người thợ thủ công làm cho hai cây trâm ngọc thật dài để gắp đồ ăn. Đây chính là hình thức đầu tiên của đũa ngọc. Về sau cách gắp đồ ăn này được truyền đến dân gian, sinh ra đôi đũa trúc.

Truyền thuyết này không hợp với bằng chứng lịch sử. Giới khảo cổ học trước đây đã khai quật khu lăng mộ thời nhà Ân Thương ở khu Hầu Gia Trang, thuộc An Dương và đã tìm thấy loại đũa bằng thép, qua khảo chứng niên đại thì sớm hơn thời mạt kỳ Trụ Vương nhà Thương.

Một truyền thuyết phổ biến khác trong dân gian cho rằng đôi đũa được Hoàng đế Hạ Vũ tìm ra. Hạ Vũ nổi tiếng là một vị vua nhân cách đạo đức ngay thẳng và có tài chống lũ lụt.

Trong một giai đoạn lịch sử, khi đất nước mà ông trị vì liên tục bị lũ lụt nghiêm trọng đe dọa, vì quá bận rộn với công việc cải cách hệ thống những con đê để kiểm soát nước nên Hạ Vũ không thể dành thời gian để gặp vợ và con mình, không thể cùng họ dùng một bữa cơm tươm tất.

Một lần nọ, khi cùng những binh lính đến một hòn đảo, Hạ Vũ đích thân chuẩn bị dụng cụ nấu ăn và lửa để nấu thịt. Vì quá đói do làm việc cật lực dưới trời mưa lớn và nước ngập mọi nơi, đồng thời muốn rút ngắn thời gian ăn uống để quay lại công việc, ông đã bẻ hai nhành cây nhỏ từ một cành cây gần đó và dùng chúng để trực tiếp gắp thịt thả vào nồi nước đang sôi. Những người hầu cận và binh lính có mặt lúc đó cũng bắt chước ông. Và cây đũa đã ra đời trong hoàn cảnh như vậy.

Truyền thuyết này nếu tính theo thời gian thì lại khá hợp lý. Tuy nhiên, cũng không có gì khảo chứng chuẩn xác điều này.

Truyền thuyết thứ ba thì lại kể rằng, vì Khương Tử Nha quá nghèo túng, vợ của ông muốn hại chết ông để lấy người khác. Một hôm người vợ nói: “Ông đói phải không? Tôi nấu thịt cho ông rồi, mau dùng đi nhé!”.

Khương Tử Nha tay đang cầm miếng thịt, bỗng một con chim bay từ ngoài cửa sổ vào rồi mổ vào tay Khương Tử Nha. Khương Tử Nha đau quá kêu “ai da” một tiếng, rồi xua đuổi con chim đi. Lần thứ hai cầm miếng thịt con chim lại bay vào mổ vào tay ông. Sau ba lần liên tục, Khương Tử Nha bất giác nghi ngờ, không lẽ miếng thịt này không ăn được? Thế là Khương Tử Nha đuổi theo con chim ra ngoài, chạy đến một sườn núi không có người. Con chim lúc này đậu trên một cành trúc rồi kêu lên lảnh lót: “Khương Tử Nha ôi Khương Tử Nha, ăn thịt không được dùng tay cầm, đồ để gắp thịt ở dưới chân ta đây…”.

Khương Tử Nha nghe thế thì nghĩ đây đúng là con chim thần, bèn nghe theo chỉ điểm của chim, bẻ hai nhánh trúc nhỏ rồi đi về nhà. Về đến nhà người vợ lại thúc giục ông ăn thịt, Khương Tử Nha dùng hai que trúc thò vào trong bát kẹp miếng thịt, đâu ngờ từ một đám khói xanh bốc lên từ que trúc, “tại sao que trúc lại bốc khói, không lẽ có độc?” Nghĩ thế Khương Tử Nha liền gắp miếng thịt bắt vợ ăn. Người vợ sợ hãi vội bỏ chạy đi. Câu chuyện sau đó bị nhiều người biết, vợ Khương Tử Nha không còn dám đầu độc ông nữa, còn hàng xóm láng giềng thì ai nấy học cách dùng nhánh trúc ăn cơm.

Truyền thuyết này không phù hợp với lịch sử. Khương Tử Nha sống cùng thời vua Trụ nhà Thương, đã có vua Trụ dùng đũa ngà voi, vậy thì đũa trúc của Khương Tử Nha không phải nguồn gốc đầu tiên của đũa.

Tất cả những điều trên đều chỉ là lời đồn đại và chưa hề có ghi chép lịch sử chính xác về người đã tạo ra đũa. Chúng ta chỉ có thể nói rằng chiếc đũa là phát minh của một người Trung Quốc cổ đại có bộ óc thông minh.

VẬT LIỆU TẠO NÊN ĐÔI ĐŨA

Giới khảo cổ học ở Trung Quốc đã khai quật khu lăng mộ thời nhà Ân Thương ở khu Hầu Gia Trang, thuộc An Dương. Họ đã tìm thấy loại đũa bằng thép. Có thể coi đây là bằng chứng khảo cổ sớm nhất mà chúng ta tìm thấy được liên quan đến vật dụng này.

Ngày nay, đôi đũa ở Trung Quốc có thể được tạo ra từ nhiều vật liệu khác nhau như tre, gỗ, nhựa, sứ, bạc, đồng, ngà, ngọc, xương, thậm chí là đá. Tuy nhiên, đũa tre vẫn là loại được sử dụng thường xuyên nhất trong cuộc sống hàng ngày của người Trung Quốc.

Ý NGHĨA ĐẰNG SAU CỦA ĐÔI ĐŨA TRONG VĂN HÓA TRUNG HOA

Đứng ở góc độ tự nhiên, đôi đũa là thể hiện của các yếu tố của triết học Trung Hoa, đặc biệt là nhị phân âm dương. Hai chiếc đũa phải được sử dụng như một cặp, một cái giữ vững chắc trong khi cái kia di chuyển, để sử dụng. Điều này phản ánh sự hòa hợp của âm và dương như các yếu tố thụ động và hoạt động tương ứng tạo nên khái niệm về một tổng thể năng lượng.

Theo truyền thống Trung Hoa, chiều dài tiêu chuẩn của một chiếc đũa là 7 thốn (1 thốn = 3,33m) và 6 phân (1 phân = 3,33mm). Điều này tượng trưng cho thất tình lục dục của con người trong đạo lý của Phật giáo. Ăn cơm cũng giống như tu thân dưỡng tính, loại bỏ những dục vọng trong mỗi con người.

Đôi đũa có hình dạng một đầu vuông và đầu còn lại hình tròn tượng chưng cho trời và đất: “Trời tròn còn đất vuông”. Điều này có nguồn gốc từ bát quái trong triết học của người Trung Quốc. Đây là nguồn gốc sinh ra vạn vật. Chúng ta dùng đầu tròn để gắp thức ăn tượng chưng cho câu nói: “Dân dĩ thực vi tiên” (Dân coi thực là trời).

Đũa thường có một cặp, tượng chưng cho âm và dương. Khi dùng đũa, một chiếc giữa chặt, chiếc còn lại chuyển động. Tượng chưng cho “tĩnh và động” phản ánh sự hòa hợp trong âm dương.

Khi cầm đũa đúng cách, những ngón tay tự nhiên đặt vào 3 vị trí: Ngón cái và ngón trỏ trên cao, ngón út và ngón đeo nhẫn ở dưới thấp, ngón giữa nằm ở giữa 2 chiếc đũa. Điều này không đơn giản chỉ là một quy ước bề mặt, nó còn tượng trưng cho quan niệm truyền thống của người Trung Hoa xưa về trời, đất và con người.

Ngón út và ngón đeo nhẫn hỗ trợ lẫn nhau dưới thấp, biểu thị cho Đạo của đất. Ngón cái và ngón trỏ tương ứng với sự linh hoạt và ổn định hoặc những luật lệ trên thiên thượng.

Ngón giữa là biểu tượng cho vị trí khó khăn nhưng danh giá của một vị vương, theo truyền thống gọi là thiên tử. Đây chính là người vừa phải đáp ứng nhu cầu, mong ước của người dân vừa phải tuân thủ đạo đức và thuận theo mệnh trời.

Người Trung Quốc cổ đại tin rằng ở đôi đũa có tồn tại mối liên kết giữa trời đất và con người. Những niềm tin đó đã thâm nhập vào văn hoá và cuộc sống. Đó là từ các nghi lễ tôn giáo được tổ chức trong triều đình đến các phong tục dân gian truyền từ đời này sang đời khác trong dân chúng, lưu truyền bao đời.

NGHI THỨC DÙNG ĐŨA CỦA NGƯỜI TRUNG HOA

Đũa thường được giữ trong tay phải và việc sử dụng đũa bằng tay trái được coi là nghi thức không thích hợp ở Trung Quốc.

Nghịch đũa được coi là một hành vi xấu, còn gắp thức ăn cho người già, trẻ em sẽ được coi là lịch sự và chu đáo.

Khi đi ăn với người lớn tuổi, người Trung Quốc thường để người lớn cầm đũa trước mình.

Thông thường, một người chủ nhà mến khách sẽ chủ động gắp thức ăn từ đĩa vào đĩa của khách.

Gõ đũa vào thành bát được cho là hành động bất lịch sự bởi vào thời cổ đại Trung Quốc, những người ăn xin thường làm vậy để thu hút sự chú ý.

Văn hóa Trung Hoa quả thật có rất nhiều điều thú vị mà khi đặt chân đến đây du khách mới có thể khám phá một cách trọn vẹn. Hãy để tour Trung Quốc của chúng tôi là chiếc cầu nối đưa du khách đến với một nền văn hóa đặc sắc này nhé!