9 loại nước sốt – “linh hồn” của ẩm thực Trung Hoa

Trung Quốc là một quốc gia rộng lớn với nền ẩm thực vô cùng phong phú. Nơi đây có rất nhiều món ăn ngon đã làm hài lòng du khách mỗi bữa ăn. Các món ăn này sở dĩ cuốn hút du khách cũng bởi được nêm nếm hoặc dùng kèm với các loại nước sốt thơm ngon.

Một bữa ăn “thô” – nghĩa là chỉ có thức ăn mà không có bất kì loại sốt hoặc nước chấm nào ăn kèm – sẽ có mùi vị món ăn giảm hẳn độ ngon. Hẳn ai trong chúng ta cũng từng xuýt xoa, gắp không ngưng đũa khi dùng các món ăn có vị sốt hấp dẫn. Có thể nói, nước sốt là linh hồn của các món ăn giúp kích thích vị giác của thực khách một cách tinh tế, khiến người dùng đắm chìm trong hương vị của món ăn.

Có thể nói, nước sốt là linh hồn của các món ăn, giúp món ăn vừa đậm đà lại vừa bắt mắt. Nước sốt khá đa dụng. Bên cạnh công dụng thổi bùng hương vị món xào, nước sốt còn dùng để trộn với mì ăn ngay hoặc chấm Dimsum thay thế nước tương đều để lại hậu vị đặc biệt.

Nói về sốt tại châu Á, nền ẩm thực Trung Hoa gần như được xếp lên hàng đầu vì sự phối hợp đầy sáng tạo các nguyên liệu với nhau để chế biến ra rất nhiều loại sốt làm phong phú món ăn. Trong số đó, 13 vị sốt tiêu biểu được ưa chuộng hiện nay chính là: Xì dầu, Sốt sa tế, Sốt tiêu đen, Sốt dầu mè, Sốt dầu hàu, Sốt tương đen, Sốt mận, Sốt XO, và Sốt Jim Bang.

Xì dầu

Xì dầu hay còn gọi là nước tương được bắt nguồn từ phương pháp ủ lên men truyền thống của Trung Quốc từ nhiều năm về trước. Nếu du khách có xem bộ phim “Bão táp gia tộc” của TVB – một bộ phim nói về cách nấu xì dầu của Trung Quốc thời xưa thì du khách sẽ hình dung được sự công phu của mỗi lu ủ xì dầu.

Với người Hoa, xì dầu không chỉ được sử dụng trong các món ăn nấu chín mà còn được dùng để tạo hương vị thơm ngon cho thực phẩm tươi sống. Tại đa số các nhà hàng Trung Hoa đều dùng xì dầu thay cho gia vị khi chế biến món cơm rang giúp món cơm tỏa mùi thơm đặc trưng và trở nên vô cùng hấp dẫn. Một bí quyết trong phong cách nấu ăn của người Hoa là họ thường dùng xì dầu nhạt để tạo hương vị và xì dầu đậm để tạo màu cho món ăn.

Sốt sa tế

Trung hoa vốn nổi tiếng đặc sản ớt, đây cũng chính là lý do mà sốt sa tế được mệnh danh là “linh hồn” của ẩm thực Trung Hoa. Vị cay ấm nóng của sốt sa tế khiến người dùng cảm thấy khoan khoái khi thưởng thức bữa ăn, đặc biệt là vào những ngày thời tiết se lạnh.

Làm từ ớt và muối, với tỏi và gia vị khác, người Hoa có thể dùng loại sốt này để tẩm ướp tất cả các món thịt, cá để tăng thêm hương vị cay nồng cho món ăn. Bởi vậy, sốt sa tế rất kích thích vị giác.

Sốt tiêu đen

Vừa nồng vị, vừa ấm nóng – sốt tiêu đen được xếp vào danh sách top 3 loại sốt được yêu thích nhất hiện nay. Khác với sốt sa tế, vị cay the nhè nhẹ của sốt tiêu đen khiến người dùng cảm thấy khoan khoái khi thưởng thức bữa ăn. Khi dùng bữa, người ăn dù có thưởng thức món nhiều dầu mỡ cũng không thấy ngấy vì có vị tiêu điều tiết hương vị ở mức vừa đủ.

Sốt tiêu đen the nồng không ngừng kích thích vị giác vì chứa nhiều gia vị giúp “dậy mùi” món ăn: tiêu đen, bơ lạt, hành tím, dầu hào thượng hạng.

Sốt dầu mè

Chỉ cần một lượng nhỏ “dầu bóng tối” này cũng đủ khiến món ăn trở nên hấp dẫn hơn với mùi hương đầy mê hoặc. Sốt dầu mè được làm từ hạt mè rang rồi ép lấy dầu.

Trong ẩm thực Trung Hoa, dầu mè thường để thêm hương vị cho nước sốt, nước chấm và các món nấu chín. Tuy vậy, dầu mè nói chung không được sử dụng như một loại dầu ăn, vì hương vị mạnh hơn các loại dầu khác như dầu đậu nành, dầu đậu phộng, khi chiên xào bằng dầu mè sẽ làm át mùi của những nguyên liệu khác.

Sốt dầu hàu

Dầu hàu là một loại nước sốt sền sệt màu nâu, có vị ngọt, ban đầu được chiết xuất từ những con hàu nhưng ngày nay được làm theo kiểu công nghiệp với các nguyên liệu khác như muối, đường, nước, chất điều hương vị, hương hàu tổng hợp… Dầu hàu có công dụng chính là làm gia vị để chế biến món ăn, giúp món ăn tăng hương, tăng vị và trở nên hấp dẫn hơn.

Dầu hàu ra đời từ năm 1888 ở Quảng Đông, do một người tên là Lee Kam Sheung làm ra sau khi người này vô tình để quên một nồi hàu nấu chín trong nước muối. Lee Kam Sheung thấy rằng mặc dù nồi hàu có mùi khét nhưng hương vị lên men lại rất đặc biệt. Sau này, Lee thành lập công ty chuyên sản xuất dầu hào và nước sốt gia vị, trở thành doanh nhân và phát triển thương hiệu ra toàn thế giới, chính vì vậy dầu hào mới phổ biến như hiện nay.

Sốt tương đen

Sốt tương đen hay Hoisin là tên gọi để chỉ loại sốt có màu nâu sậm, hơi quánh đặc, vị ngọt nhẹ và cay the. Loại nước sốt này được làm từ nước, đường, đậu tương, giấm trắng, gạo, muối ăn, bột mì, tỏi và ớt, cùng một số chất tạo màu và chất bảo quản. Tuy tên trong tiếng Trung của tương đen là “hải tiên tương” nghĩa là “nước tương cá biển”, nhưng trong thành phần của tương đen không có hải sản. Trong ẩm thực Trung Hoa, tương đen được dùng cho các món vịt quay Bắc Kinh, nem rán, và xá xíu. 

Sốt mận

Sốt mận có lẽ là món sốt độc đáo nhất trong số những loại vừa kể trên. Ở Trung Quốc, nước sốt mận với vị ngọt và chua được sử dụng trong các công thức nấu ăn hoặc làm sốt chấm đều ngon.

Sốt XO

Sốt XO được biết đến là một loại tương sò điệp, thơm ngậy vị hải sản. Tên gọi XO có nguồn gốc từ một loại rượu lâu năm được người dân Hồng Kông sử dụng trong các bữa ăn, tiệc liên hoan. Người Hồng Kông cũng quen dùng từ XO để chỉ chất lượng cao, xa xỉ, thượng hạng. Sốt XO được làm từ các loại nguyên liệu thượng hạng như: sò điệp, thịt heo muối, giăm bông thượng hạng, cá muối nguyên con, dầu nành, dầu ớt, dầu mè.

Sốt Jim Bang

Sốt Jim Bang là một trong những loại sốt nổi tiếng nhất Trung Hoa, xuất hiện trong nhiều món ăn, đặc biệt là hải sản. Hương vị đậm đà của nước sốt hòa quyện vào từng thớ thịt, làm tăng thêm vị ngọt và tươi của hải sản, khiến cho thực khách không thể cưỡng lại.

9 loại nước sốt kể trên đều có nhiều thú vị mang hơi hướng ẩm thực Trung Hoa rõ rệt. Nó không chỉ ngon đối với người dân địa phương mà ngày nay đã tiến ra ngoài biên giới để chinh phục những thực khách quốc tế. Nếu có dịp du lịch Trung Quốc, du khách đừng quên tìm mua những loại nước sốt để các món ăn thêm thơm ngon nhé!

Mức thu nhập của các thái giám Trung Hoa xưa

Thái giám là một nhóm người tương đối đặc biệt nhưng cũng là một bộ phận vô cùng quan trọng trong hoàng cung. Thái giám phải hầu hạ tất cả các thành viên hoàng tộc mỗi ngày. Vậy thì họ sẽ có mức thu nhập như thế nào? Mời du khách cùng chúng tôi tìm hiểu nhé!

Trong lịch sử Trung Quốc, thái giám đã có từ thời Tây Chu, đường thời gọi là “tử nhân” hoặc “hạng nhân”, “yêm doãn”, “nội tiểu thần”. Họ được tuyển vào cung để làm một số công việc như: truyền lệnh của nhà vua đến các quan, canh gác hậu cung, quét dọn phòng ốc, liên lạc giữa các vua và phi tần…

Đến thời nhà Tùy, nhà Đường, nhà Tống đặt ra cơ cấu Nội thị tỉnh do hoạn quan đảm nhiệm, trông coi các việc nội bộ ở trong cung đình. Hoạn quan ở hai triều Đường, Tống có người trực tiếp thống lĩnh quân đội. Vào thời nhà Minh, đặt ra Thập nhị giám, Tứ ty, Bát cục gọi là Nhị thập tứ nha môn, trông coi về việc phục dịch trong cung đình, mỗi cơ cấu có thái giám trông coi. Đến đời nhà Thanh có Tổng quản thái giám, người đứng đầu thái giám, trực thuộc Nội vụ phủ.

Để bước chân vào “nghề” thái giám, những người đàn ông đều phải trải qua quá trình tịnh thân (thiến) đầy đau đớn và nguy hiểm. Cũng bởi vậy mà con đường của các hoạn quan, thái giám tại Trung Hoa xưa không phải là lối đi mà nhiều người sẽ lựa chọn nếu như không bị đẩy vào tình cảnh khốn cùng.

Thế nhưng, trái ngược lại với suy nghĩ cho rằng đây là một nghề nghiệp thấp kém, trên thực tế, các thái giám thời xưa lại sở hữu tiền đồ được cho là rộng mở với mức lương bổng và những nguồn thu ngoài luồng khác mà ít ai có thể tưởng tượng tới.

Về thu nhập của tầng lớp thái giám bình thường, ta có thể lấy quy định của Thanh triều nói riêng để làm ví dụ. Bấy giờ, các thái giám trong hoàng cung nhà Thanh được chia làm 20 cấp bậc. Dù có lên được phẩm cấp cao nhất thì quyền lợi của họ cũng chỉ tương đương với chức quan tứ phẩm thời ấy.

Phạm vi công việc của thái giám rất rộng nhưng có thể tạm chia thành 2 nhóm. Một nhóm là thái giám hầu hạ bên cạnh Thái hậu, Hoàng đế, Hoàng hậu và các phi tần. Nhóm còn lại sẽ đảm nhận các công việc nặng nhọc hơn trong hoàng cung. Tuy nhiên, dù thuộc nhóm nào thì thái giám cũng đều có phân bậc rõ ràng, tạm chia thành 3 loại: Tổng quản, Thủ lĩnh, thái giám thông thường. Nhóm thái giám bên cạnh Thái hậu, Hoàng đế và Hoàng hậu đều là Tổng quản thái giám và Thủ lĩnh thái giám.

Thái giám với cấp bậc càng cao thì thu nhập càng nhiều. Thái giám tổng quản lương tháng là 8 lượng bạc, 8 đấu gạo, 1 quan 300 văn tiền (Văn tiền: Trên đồng tiền có văn tự nên gọi là “Văn”). Còn đối với thái giám thông thường thì con số này ở mức 2 lượng bạc, 2 đấu gạo và 600 văn tiền.

Vào thời nhà Thanh, 1 lượng bạc tương đương khoảng 500 NDT ngày nay, mỗi đấu gạo xấp xỉ 15 tệ. Nếu quy đổi dựa trên con số này, thì thu nhập của thái giám tổng quản Thanh triều sẽ là 4.000 NDT (xấp xỉ khoảng 13.600.000 VNĐ) cho mỗi tháng. Tương tự như vậy, thu nhập của thái giám bình thường sẽ vào khoảng hơn 1.000 NDT/tháng, tức là xấp xỉ khoảng hơn 3.400.000 VNĐ.

Thế nhưng, nguồn thu của các thái giám không chỉ dừng lại ở lương bổng chính thức, mà họ còn nhận được nhiều khoản khác như thưởng Tết, thưởng sinh nhật,… Đặc biệt nhất là đến lúc đại hôn của Hoàng đế hoặc Hoàng tử, ban thưởng sẽ càng nhiều hơn. Ngoài tiền và bạc, thái giám còn có thể nhận được tơ lụa, lông thú, châu báu, ngọc bích và nhiều bức tranh thư pháp có giá trị.

Trên thực tế, thái giám còn được xem là cầu nối giữa các nhân vật trong bộ máy thống trị. Do đó, cơ hội để có các khoản thu ngoài luồng cũng là không hề ít.

Nếu có thể hoàn thành nhiệm vụ mà chủ tử giao cho, những thái giám này sẽ còn có cơ hội được thưởng tiền hoặc tài vật.

Đặc biệt, thái giám còn được biết tới là người truyền tin của hoàng đế đến với các đại thần. Vì vậy mỗi lần đi truyền thánh chỉ, tầng lớp này cũng sẽ có nguồn thu nhập không công khai nhưng vô cùng hậu hĩnh. Ví dụ như ở thời nhà Thanh, khi các quan đại thần phạm sai lầm, nhà vua sẽ phái thái giám tới phủ đệ của họ để tuyên đọc thánh chỉ trách phạt. Mỗi lần như vậy, các quan viên này đều sẽ biếu thái giám tiền trà nước để duy trì mối quan hệ, dò hỏi thông tin hoặc nhờ họ nói đỡ dăm ba câu với nhà vua. Số tiền trà nước này có khi lên tới 400-500 lượng bạc, hoặc ít thì cũng khoảng 40-50 lượng. Từ đó không khó để nhận thấy, chỉ nhờ vào tuyên đọc một đạo thánh chỉ, các hoạn quan thời xưa đã có thể thu về tới 20 vạn NDT, bằng với mức thu nhập cả năm của một trí thức bình thường tại Trung Quốc ngày nay.

Có lẽ đúng như câu nói bỏ ra càng nhiều thì thu về càng lớn, các hoạn quan, thái giám thời xưa tuy phải trải qua tịnh thân mới có thể bước đi trên con đường này, thế nhưng nếu khôn khéo thì họ có thể kiếm được khối gia tài mà thường dân bách tính thời ấy cả đời cũng không dám mơ tới.

Vậy là qua bài viết này, du khách đã hiểu thêm được phần nào về cuộc sống sinh hoạt của tầng lớp thái giám trong lịch sử Trung Hoa. Nếu du khách là người có niềm đam mê với văn hóa, lịch sử của đất nước này thì hãy thực hiện một chuyến du lịch Trung Quốc nhé! Chắc chắn du khách sẽ có được nhiều khám phá và trải nghiệm thú vị khi đặt chân đến vùng đất rộng lớn này!

Lễ hội thuyền rồng sôi động và đầy màu sắc văn hoá truyền thống Trung Hoa

Trung Quốc được biết đến là một trong những đất nước có nền văn hóa lịch sử lâu đời và có nhiều di tích lịch sử nổi tiếng. Không chỉ vậy đất nước này còn có những lễ hội truyền thống rất đặc sắc mà du khách có thể tìm hiểu trong chuyến du lịch của mình. Trong những lễ hội đó không thể không nhắc đến Lễ hội thuyền rồng được diễn ra vào mỗi dịp Tết Đoan Ngọ.

Lễ hội thuyền rồng là nét văn hoá đặc sắc, có ý nghĩa và truyền thống lâu đời đối với người dân Trung Quốc. Theo tài liệu ghi chép, lễ hội thuyền rồng được tổ chức lần đầu tiên ở Phiên Ngu (nước Sở xưa – nay là tỉnh Quảng Châu), đây chính là nơi đã sản sinh ra một nền văn hoá truyền thống mang đậm bản sắc văn hoá của người dân Trung Quốc. 

Lễ hội thuyền rồng được tổ chức vào ngày 5/5 âm lịch hàng năm, diễn ra trên khắp các con sông của đất nước Trung Hoa. Cứ vào dịp này là trên các con lại xuất hiện hàng dài những chiếc thuyền đầy màu sắc. Người dân ngồi trên thuyền mặc những bộ trang phục truyền thống và ném bánh đậu nếp xuống sông.

Có rất nhiều giải thích cho nghi thức đặc biệt này, nhưng theo sử sách Trung Quốc thì lễ hội thuyền rồng được tổ chức nhằm mục đích để tưởng nhớ một vị quan văn thanh liêm của nước Sở vào thế kỷ thứ 4 TCN, đó là Khuất Nguyên.

Khuất Nguyên chủ trương khôi phục quan hệ giữa nước Sở và nước Tề láng giềng. Thời kỳ này được biết đến trong lịch sử Trung Quốc là Thời Chiến Quốc, lý do là 7 nước, hay 7 vương quốc xâu xé lẫn nhau trong suốt 200 năm, cho đến khi Tần Thuỷ Hoàng thống nhất Trung Hoa. Lúc bấy giờ, Vua nước Sở đã phá hỏng mối bang giao với nước láng giềng, nhưng Khuất Nguyên đã tự nỗ lực khôi phục sự hoà hảo với nước Tề và mang lại hoà bình tạm thời cho đất nước của ông. Tuy nhiên, triều đình nước Sở khi đó đầy rẫy tham nhũng, nhiều viên tham quan bị kẻ thù mua chuộc. Khuất Nguyên bị những viên tham quan gièm pha hãm hại, khiến vua Sở nổi giận không tin dùng Khuất Nguyên nữa.

“Chúng chen chúc trên đường vụ lợi,
Tấm lòng tham, tham mãi tham hoài!
Đem dạ mình đọ bụng người,
Sinh lòng ghen ghét, đặt lời gièm pha.”

Những dòng thơ trên đây nằm trong bài “Ly tao” của Khuất Nguyên, trong đó ông đã giãi bày câu chuyện bị đày ải của mình. Ông viết:

“Lòng chính trực bị xéo giày,
Tai nghe xiểm nịnh, lòng đầy lửa sân.”

Vua Sở đã đày Khuất Nguyên đến vùng quê Giang Nam, nơi đó ông dành nhiều tháng ngày để sáng tác thơ và suy
ngẫm trong cay đắng. Thơ của ông phản ánh tấm lòng trung thành với nhà vua, mặc dù bị hắt hủi.

“Chín lần trời hãy chứng minh,
Chỉ vì ta quá trung thành đấy thôi.”

Khi không còn những trung thần và nhân tài xung quanh nhà vua nữa, nước Sở nhanh chóng bị Tần đánh bại. Sau khi hay tin, Khuất Nguyên vô cùng đau xót:

“Biệt ly ta chẳng quản nài;
Xót mình lòng dạ đổi dời bao phen.”

Trong tuyệt vọng, Khuất Nguyên gieo mình xuống sông Mịch La tự vẫn. Khi người dân địa phương biết tin ông tự vẫn, họ vội lao ra sông trên những con thuyền gỗ, đánh trống và dùng mái chèo đập mạnh vào mặt nước để xua đuổi tà ma và cá, nhằm tìm kiếm và cứu ông trong tuyệt vọng. Khi không thể tìm thấy vị cố quan, họ đã ném cơm nắm xuống dòng sông. Một trong những lý do là để cúng cơm cho cô hồn của Khuất Nguyên. Theo tục lệ ở Trung Quốc, người chết vì tự vẫn sẽ trở thành cô hồn đói khát, phải đợi cho đến khi tiến trình sinh mệnh đặc định nơi dương gian kết thúc. Một lý do khác của việc rắc cơm xuống sông là để cho cá ăn mà không rỉa thi thể của Khuất Nguyên nữa.

Theo truyền thuyết, một đêm, Khuất Nguyên báo mộng cho một ngư ông rằng ông không thể ăn được cơm mà họ rắc xuống vì có một con rồng đã ăn hết. Vị quan nói với ngư ông hãy gói cơm trong lá cây ngải cứu thành hình kim tự tháp, bên ngoài buộc bằng chỉ ngũ sắc. Chỉ như vậy mới có thể xua đuổi con rồng và ông mới có thể ăn được cơm. Đây là câu chuyện đằng sau cuộc đua thuyền và những chiếc bánh làm từ gạo nếp mà người dân thường ăn trong dịp lễ hội thuyền rồng.

Với người dân Trung Quốc, lễ hội thuyền rồng không chỉ là dịp để tưởng nhớ vị anh hùng yêu nước Khuất Nguyên, mà đó cũng là ngày để xua đuổi tà ma, bệnh tật và cầu bình an trong cuộc sống. Bởi vậy mà người dân cũng thực hiện rất nhiều phong tục độc đáo: dọn dẹp nhà cửa và tắm nước thảo mộc giúp ngăn ngừa các bệnh ngoài da; treo cây ngải cứu và lá ngải cứu lên khung cửa nhà để xua đuổi sâu bọ và các động vật có độc; mang theo túi đựng nước hoa để khỏi bị côn trùng cắn và các vấn đề về da khác; chuẩn bị trước đầy đủ nước và tránh lấy nước từ giếng (vì theo mê tín dị đoan, nước trong giếng vào ngày đó rất độc); Dán chân dung các vị thần có hình dáng xấu xí, hung dữ lên cửa hoặc treo trong phòng để xua đuổi tà ma, bảo vệ ngôi nhà của mình; đeo vòng tay chuỗi ngũ sắc cho trẻ em với hi vọng may mắn và sức khỏe…

Lễ hội thuyền rồng gồm có 2 phần chính: phần lễ và phần hội. Trong phần lễ những ngư dân tại đây sẽ dâng hương cúng nhằm thể hiện sự kính trọng của họ đến tổ tiên, cùng với các vị thần linh của sông nước. Nó được xem là phần quan trọng, tất yếu không thể thiếu trong lễ hội. Tiếp theo đó sẽ diễn ra phần hội, đó chính các cuộc thi đua thuyền được diễn ra rất gay gắt, và thu hút được rất nhiều sự chú ý của người dân. Các nhóm sẽ cùng cạnh tranh quyết liệt cùng tiếng trống vang dội khắp dòng sông.

Không chỉ có thi đua thuyền, trong lễ hội còn có rất nhiều hoạt động vui nhộn và hấp dẫn khác như: thi uống rượu, thi nấu cơm trên thuyền, thi điêu khắc đầu rồng,…

Tham gia lễ hội thuyền rồng ngoài việc được hoà mình không khí, sôi động náo nức của lễ hội. Bên cạnh đó, trong lễ hỗi còn có sự xuất hiện của nhiều món ăn mang đậm màu sắc ẩm thực của truyền thống Trung Quốc. Trong đó không thể thiếu món bánh Zongzi (Bánh đậu nếp). Những chiếc bánh nếp hình tam giác xinh xinh với nhân đậu đỏ thơm ngon đã chứa đựng trong mình một truyền thống đề cao tiết tháo, cũng như góp phần tô điểm cho lễ hội thuyền rồng thêm phần rực rỡ, phong phú. Ở mỗi địa phương khác nhau lại có phiên bản Zongzi khác nhau. Nhưng về cơ bản, Zongzi là bánh nếp hấp lá tre có nhân đậu. Để tạo hình tam giác thật đúng chuẩn cho bánh, người ta thường cuốn lá tren vào một vật hình phễu, đổ nhân vào rồi mới gói lại. Bánh có lớp vỏ bằng nếp dẻo bùi, thơm mùi lá non, cùng lớp nhân đậu beo béo sần sật, tuy cách làm đơn giản nhưng hương vị thơm ngon khó quên.

Theo phong tục của người Trung Quốc, ngoài ăn bánh Zongzi, người ta còn ăn Jiandui (Bánh rán mè). Cũng như Zongzi, nhân chính của Jiandui là đậu, và loại đậu được ưa thích nhất là đậu đỏ. Màu đỏ tượng trưng cho sự thịnh vượng, dồi dào và may mắn rất được người Trung Hoa ưa dùng vào những dịp lễ lạc, đặc biệt là trong lễ hội thuyền rồng náo nhiệt với hàng trăm con thuyền khoe sắc.

Ngoài ra, các món ăn từ lươn, món trứng hấp trà, và bánh Dagao (làm bằng cách đập gạo nếp luộc thành bột nhão) cũng là những món ăn “có mặt” trong mỗi dịp lễ hội thuyền rồng.

Nếu du khách là một người yêu thích văn hoá Trung Quốc thì vào 5/5 âm lịch hãy đến và hoà mình vào lễ hội thuyền rồng sôi động này nhé! 

Thư pháp – môn nghệ thuật tinh tuý của đất nước Trung Hoa

Trung Quốc có nền văn hóa tồn tại qua hàng ngàn năm, thấm nhuần trong dòng máu của những người dân nơi đây. Một số nét văn hóa đã trở thành truyền thống và thói quen của người Trung Hoa trong đời sống, học tập và làm việc của họ. Một trong số đó là nghệ thuật thư pháp.

Thư pháp, nếu hiểu một cách nôm na theo cách chiết tự thì: “Thư” là viết, ghi chép lại; “Pháp” là hình pháp, mẫu mực, cách thức, phép tắc. Như vậy, “Thư pháp” là mẫu mực của chữ viết, hay hiểu cách khác là nó đã được nâng tầm lên thành một môn nghệ thuật riêng biệt. 

Thư pháp Trung Hoa được hình thành từ rất sớm: vào khoảng thế kỷ thứ II – IV. Từ đó, nó trở thành một môn nghệ thuật tao nhã của các tao nhân và người có học.

Nghệ thuật thư pháp giúp người ta rèn luyện óc thẩm mỹ cũng như nâng cao tính kiên nhẫn của mỗi người theo học. Đối với người Trung Quốc, thư pháp không phải ai cũng học tập và lĩnh hội được hết cái hay của nó mà phải trải qua khổ luyện, tu tâm dưỡng tính, nuôi dưỡng tình cảm. Người Trung Quốc có câu: “Thư pháp khả dĩ tu tâm dưỡng tính, đào dã tâm tình” (Thư pháp có thể khiến người ta tu tâm dưỡng tính, rèn luyện tình cảm). Người chơi và viết thư pháp cũng lắm công phu: Phải biết cách đặt thân đúng, đặt bút đúng theo các quy tắc riêng, mắt nhìn thẳng, dụng bút phải chuẩn, thời gian luyện tập dài, không được nóng vội.

Thư pháp gắn với “Văn phòng tứ bảo” gồm có: giấy, mực, nghiên, bút, mỗi thứ phải tuân theo quy cách, phải đúng loại thì chữ mới đẹp được. Giấy phải là loại giấy “xuyến chỉ” đắt tiền, mực thì dùng loại mực thỏi hoặc mực trấp pha theo tỉ lệ và phải điều tiết khi viết, nghiên mực phải có độ nghiêng nhỏ để tránh bị đọng mực. Bút lại càng phức tạp hơn, bút chuyên dụng để viết thư pháp gồm các loại tiểu, trung, đại, phải có mao quản (ngòi bằng lông để có thể thấm mực dễ dàng), phải có đủ các bộ phận: Đào tuyến (sợi dây để treo bút), bút quản (quản bút bằng trúc), bút hào (búp lông giống búp sen), bút căn (phần lông gắn với quản bút). Vậy mới thấy, thú chơi thư pháp công phu và tỉ mỉ như thế nào.

Chữ viết thể hiện trong thư pháp thường là chữ Hán hoặc chữ Nôm theo các phong cách khác nhau. Mỗi phong cách lại có những đặc trưng riêng về cách thể hiện. Ngày nay trên Thế giới có 5 phong cách viết thư pháp là Khải, Triện, Lệ, Hành và Thảo. Khải thư là kiểu chữ được sử dụng phổ biến và thông dụng nhất ngày nay. Nó được dùng trong lĩnh vực quảng cáo, in ấn. Đặc biệt là loại chữ dành cho những người mới bắt đầu học chữ Hán. Khải thư có bố cục ngay ngắn theo dạng hình vuông, được viết chậm rãi và cẩn thận. Khác với các loại chữ khác, khi viết thì ngòi bút được nhấc lên khỏi mặt giấy. Triện Thư là loại chữ thư pháp có lịch sử lâu đời và được lưu hành rộng rãi. Triện thư gồm 2 kiểu chữ là Đại Triện và Tiểu Triện. Đây là loại chữ thư pháp kiểu cổ, các nét thanh, bố cục đơn giản. Lệ thư là bước phát triển cao hơn của Triện thư. Hầu hết nét bút của Lệ thư là những nét vuông thể hiện sự mạnh mẽ, đơn giản về đường nét. Hành thư là loại chữ thư pháp gần giống với chữ viết tay thông thường. Khác với các kiểu chữ khác, chữ Hành thư khi viết thì ngòi bút ít nhấc lên khỏi mặt giấy. Chính vì thế các nét chữ trong cùng một chữ được viết nối liên tục nhau. Hành thư có đường nét phóng khoáng, dễ đọc, bố cục chữ tròn trịa, ít góc cạnh. Thảo thư là kiểu chữ mang tính nghệ thuật cao, thiên về cảm hứng của người viết. Các nét chữ được biến tấu đầy thi vị, thanh thoát, tốc độ viết nhanh chóng. Các nét chữ thể hiện sự liên kết, uyển chuyển tạo nên sự liên hoàn cho các bộ chữ. Khi viết, ngòi bút được hạn chế nhấc lên khỏi mặt giấy. Thảo thư được viết để thể hiện đại ý của văn tự, chính vì thế mà không phải ai cũng có thể thưởng thức được loại thư pháp này.

Một tác phẩm thư pháp là thể hiện giữa thư thể và thư gia. Nội dung và hình thức của thư pháp phải hòa hợp để xác định bố cục và thư thể trong tác phẩm. Người viết thư pháp phải trải qua thời gian tìm hiểu và khổ luyện lâu dài mới có thể vẽ nên những nét tựa “rồng bay phượng múa”. 

Khi thưởng thức một tác phẩm thư pháp, người ta thường đánh giá nó qua bút pháp và sự sáng tạo của tác giả, thể hiện qua từng nét bút nhanh – chậm, độ đậm – nhạt của mực hay sự tương phản giữa giấy và mực.

Thư pháp của người Trung Hoa được xem như một loại hình nghệ thuật, thậm chí là một môn học với đầy đủ cơ sở lý luận mà người ta gọi là “Thư học”. Thư pháp đòi hỏi có sự khổ luyện cao, người viết nếu thiếu kiên nhẫn sẽ khó học thành, như câu nói: “Học thư vô nhật bất lâm trì” (Học thư pháp không có ngày nào mà không vào ao). Thuật ngữ “lâm trì” chỉ sự khổ luyện thư pháp xuất phát từ giai thoại của thư pháp gia Trương Chi mỗi ngày luyện tập viết chữ xong lại rửa bút ở ao khiến nước đen như mực (Lâm trì học thư, trì thủy tận mặc). Về sau này, “lâm trì” được dùng để chỉ sự luyện tập thư pháp. Ngược dòng lịch sử Trung Hoa, thời đại nào cũng có những nhà thư pháp lẫy lừng với phong cách rất riêng. Thời Hán với Trương Chi say mê thư pháp, không có giấy phải viết lên vải lụa cho đến khi không còn chỗ viết thì đem nhuộm để cắt may thành quần áo mặc. Sau này, thư pháp gia nổi tiếng Vương Hi Chi (nhà Tấn) noi gương Trương Chi mà bỏ đến 15 năm rèn luyện chữ nghĩa để trở thành “Thư thánh” (một trong Thập Thánh được dân gian Trung Quốc ca ngợi và truyền tụng). Thế mới thấy, nghệ thuật con chữ có sức hút thật mãnh liệt với người đời xưa.

Nghệ thuật viết chữ đẹp của người phương Bắc phải kể đến Vương Hi Chi và dòng dõi nhà ông. Vương Hi Chi ngày trước bắt đầu luyện chữ thư pháp bằng cách viết chữ “Vĩnh” (chữ hội tụ đầy đủ tám nét cơ bản trong cách viết chữ Hán), tạo nên “Vĩnh tự bát pháp” – bài học cơ bản cho người tập viết thư pháp. Không chỉ có Vương Hi Chi mà con cháu ông cũng say mê nghiên cứu thư pháp. Con trai ông Vương Hiến Chi cũng yêu thích viết chữ không kém gì cha nên ngay từ thuở nhỏ đã gánh nước đổ đầy 18 chum nước để mài mực. Hai cha con Vương Hi Chi và Vương Hiến Chi nổi tiếng với lối viết chữ Thảo, được người đời xưng tụng là “Thảo Thánh Nhị Vương” (Hai vị vua của lối viết chữ thảo), chữ thảo của hai ông mềm mại, uyển chuyển, trở thành khuôn mẫu của cách viết chữ thảo cho hậu thế luyện theo. Dòng dõi nhà Vương Hi Chi còn phải kể đến nhà sư Thích Trí Vĩnh (Vĩnh Thiền Sư), tương truyền là cháu bảy đời của Vương Hi Chi, sống đời nhà Tấn, là người khổ luyện thư pháp nhiều đến nỗi thoái bút (bút bị cùn do viết chữ) chất cao thành gò. Vĩnh Thiền Sư tu luyện ở chùa Vĩnh Hân, yêu thích thư pháp đến nỗi 40 năm luyện chữ trên lầu chùa mà không xuống đất (Đăng lâu bất hạ tứ thập niên, Thiền Sư cũng là người kế tục và nghiên cứu, phát triển “Vĩnh tự bát pháp” (Tám nét tạo thành chữ “Vĩnh”) đã được khởi xướng từ thời ông tổ bảy đời Vương Hi Chi. Giai thoại về Vĩnh Thiền Sư kể lại rằng: Khi nhà sư đã luyện chữ đạt đến mức độ điêu luyện, người người biết đến ông, ham thích và mong muốn sở hữu chữ ông đã chen lấn nhau xin chữ dẫm nát ngạch cửa đến nỗi phải lấy sắt bao lại, gọi là “Thiết môn hạn”. Nhà Đường có nhà sư Hoài Tố nhà nghèo không có tiền mua giấy, phải tập viết trên lá chuối mà được xưng tụng là “Thảo thánh”. Dần dần, người yêu thích thư pháp không chỉ là bậc vua chúa, kẻ sĩ mà còn có cả thứ dân cũng rất thích mà ngày nay còn lưu truyền nhiều câu chuyện thú vị: Đường Thái Tông rảnh rỗi lại luyện “Trừu không luyện tự” (lấy ngón tay mà viết chữ vào không khí), nửa đêm đốt đuốc luyện Lan Đình tự (chữ của Vương Hi Chi trong “Lan Đình tập tự”) thật đáng khâm phục. Lương Vũ Đế vì quá ham thích nét chữ Thư Thánh đã truyền lệnh thu thập bút tích và ra lệnh trong cung phải lấy chữ viết của Vương Hi Chi làm chuẩn, nhà vua còn sai Chu Hưng Tự soạn “Thiên tự văn” bằng bốn cách viết thư pháp của Vương Hi Chi, dùng nó làm phương tiện dạy chữ Hán và viết thư pháp trong cung còn lưu truyền tới ngày nay.

Thư pháp đồng hành với sự phát triển và ổn định của chữ Hán, có lịch sử trải dài và thời đại nào cũng có những thư gia tiêu biểu với dấu ấn cá nhân không pha trộn. Đời nhà Tần không thể không kể đến “đệ nhất thư pháp gia” – Tể tướng Lý Tư, Triệu Cao hay Mẫu Kính. Nhà Hán cũng góp mặt những thư gia như Sử Du, Trương Chi, Tào Hỷ, Sái Ung, Lương Hộc, Lưu Đức Thăng… Đời Tam Quốc và Tây Tấn có Hàm Đan Thuần, Vỹ Đản, cha con Vệ Ký – Vệ Cẩn, Lục Cơ… Đời Đông Tấn có gia đình Vương Hi Chi – Vương Hiến Chi – Vương Tuần – Vương Dân. Thư pháp đời Nam Bắc triều có Bạc Thiệu Chi, Vương Tăng Kiều, Đào Hoằng Cảnh, Vương Bao… Xuôi đến thời thịnh vượng nhất của thư pháp chữ Hán là đời Tùy – Đường cũng sản sinh nhiều cái tên như: Trí Vĩnh, Đinh Đạo Hộ, Âu Dương Tuân, Ngu Thế Nam, Lục Giản Chi, Vũ Tắc Thiên, Lý Ung, Trương Húc, Hàn Trạch Mộc, Hạ Tri Chương, Nhan Chân Khanh, Liễu Công Quyền, Đỗ Mục, Cao Nhàn… Đời Ngũ Đại với Dương Ngưng Thúc, Từ Huyễn… Đời Tống có Lý Kiến Trung, Vương An Thạch, Tô-Hoàng-Mễ-Sái (Tô Thức, Hoàng Đình Kiên, Mễ Phế, Sái Tương), Nhạc Phi, Lục Du, Vương Đình Quân… Đời nhà Nguyên có Triệu Mạnh Phủ, Tiêu Vu Khu, Nghê Tán,… Đời Minh – Thanh với những cái tên tiêu biểu như: Cha con Tống Liêm – Tống Thoại, Trần Hiến Chương, Thẩm Chu, Hình Đồng, Trương Thụy Đồ, Phó Sơn, Vương Đạc, Kim Nông, Bao Thế Thần, Hà Thiệu Cơ, Trần Diệc Hi, Tề Bạch Thạch, Trịnh Bản Kiều… Ngay cả đến thời hiện đại, số lượng thư gia cũng hết sức nhiều, có thể kể đến vài cái tên như: Trịnh Văn Trác, Tăng Hi, Hoàng Tân Hồng, Hồ Tiểu Thạch, Lỗ Tấn, Quách Mạt Nhược, Vu Hữu Nhiệm, Mã Nhất Phù,…

Trên đây chỉ là vài cái tên tiêu biểu nhất của nghệ thuật thư pháp chữ Hán qua các triều đại. Kỳ thực, số lượng các nhà thư pháp Trung Hoa còn rất nhiều và ngày càng có nhiều người tiếp nối bộ môn nghệ thuật này. Điểm qua một số cái tên như vậy cũng đủ để thấy sức hấp dẫn lòng ham thích nghiên cứu, luyện tập của người Trung Quốc lớn thế nào. Thư pháp tinh tế không chỉ ở chỗ phải trải qua khổ luyện mới có nét chữ đẹp, có hồn, mà nghệ thuật “cho chữ” cũng là một nét văn hóa. Chữ được viết ra là kết tinh của những năm tháng khổ luyện không ngừng của người viết, nó còn thể hiện cảm xúc, tình cảm và suy nghĩ của người tạo chữ. Chính vì thế, việc cho chữ cho ai cũng là điều mà các thư gia hết sức coi trọng, không phải ai cũng được tặng chữ. Văn hóa Trung Quốc nặng lễ nghĩa, coi trọng sách vở, chữ nghĩa, người có học luôn được trọng vọng, làm quan cũng lấy chữ nghĩa làm đầu, lời nói của người nhiều chữ rất có trọng lượng… tâm lý ấy không chỉ tồn tại trong xã hội mà ngay trong cả phạm vi gia đình truyền thống người Hoa, kẻ thất học không bao giờ được xem trọng, khó có thể thay đổi địa vị của mình. Mặt khác, viết thư pháp lại được xem là nghệ thuật của chữ nghĩa, do đó người viết cũng không thể tặng chữ mình cho đối tượng mình không xem trọng. Rất khó để có thể ép một thư gia viết chữ khi tâm họ không mong muốn, vì khi đó nét chữ sẽ không đẹp vì tấm lòng không thỏa mãn. Truyền thống từ ngày xưa để lại, các nhà thư pháp chỉ tặng chữ chứ không đem ra bán như bây giờ, họ cũng chỉ tặng anh em, bạn bè thân hữu mà họ quý mến, tuyệt đối không cho chữ tùy tiện. Người được tặng chữ phải là người có học, biết quý trọng và nâng niu chữ mình được tặng. Người Trung Quốc thường treo chữ thư pháp ở giữa gian phòng khách, hay bên cột nhà chính, hay trước cửa, cổng nhà, đình, thể hiện sự trang trọng, đề cao chữ được tặng, xem chữ là một vật quý giá trong nhà, ở những vị trí đặc biệt quan trọng trong không gian sống.

Trên đây là một vài nét về nghệ thuật thư pháp của Trung Hoa. Nếu du khách là người yêu thích môn nghệ thuật  tinh túy này thì hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc để có cơ hội khám phá nhé! Chúc các du khách có một chuyến đi vui vẻ và thú vị!