Hiếu Trang Duệ Hoàng hậu dù bị mù nhưng vẫn được hoàng đế sủng ái cả đời

Nhắc đến vị trí mẫu nghi thiên hạ, người ta thường nghĩ ngay tới những người phụ nữ sắc nước hương trời mới có thể được Hoàng đế sủng ái, hết mực yêu chiều. Tuy nhiên, Hiếu Trang Duệ Hoàng hậu lại là một ngoại lệ. Mặc dù bà bị mù một bên mắt, tàn phế một chân nhưng vẫn được Hoàng đế Minh Anh Tông yêu thương trân trọng cả đời.

Hiếu Trang Duệ Hoàng hậu hay Tiền Hoàng hậu (02/8/1426 – 15/7/1468) là Hoàng hậu duy nhất của Minh Anh Tông Chu Kỳ Trấn và là đích mẫu của Minh Hiến Tông Chu Kiến Thâm.

Hiếu Trang Duệ Hoàng hậu mang họ Tiền, nguyên quán ở vùng Hải Châu. Tuy ghi chép gia cảnh hàn vi, nhưng “hàn vi” của nhà quan trường so với nhà bình dân học vụ thì cũng rất khác biệt. Ông cố nội là Tiền Chỉnh, phục vụ Minh Thành Tổ khi còn là Yên vương, nhậm “Yên Sơn hộ vệ Phó thiên hộ”, ông nội Tiền Thông làm quan đến “Kim Ngô Hữu vệ Chỉ huy sứ”, cha bà là Đô đốc đồng tri Tiền Quý, một tước quan võ hàng Chính nhị phẩm, từng nhiều lần cùng Thành Tổ và Minh Tuyên Tông tòng giá Bắc chinh. Vào thời điểm Tiền thị trưởng thành thì Tiền Quý đã là “Trung phủ Đô đốc đồng tri”.

Mùa xuân năm Chính Thống thứ 7 (1442), Tiền thị thông qua tuyển mỹ nhập cung, được Trương Thái hoàng Thái hậu chọn làm Hoàng hậu. Khi đó, Minh Anh Tông 15 tuổi, còn Tiền thị 16 tuổi.

Minh Anh Tông là Hoàng đế đầu tiên của nhà Minh đăng cơ khi tuổi còn nhỏ, khi chỉ vừa 9 tuổi. Do vậy, vị thê tử nguyên phối của ông chính là Hoàng hậu chính thức đầu tiên, không phải do sách phong từ vị trí Thái tử phi hay Vương phi hoặc tần phi. Bà nội của Anh Tông, Trương Thái hoàng Thái hậu là một người phụ nữ kiệt xuất, khi bà giúp chồng Minh Nhân Tông Chu Cao Sí giữ vững vị trí Thái tử, phò trợ con trai Minh Tuyên Tông và giờ là cháu trai. Từ vị trí của mình, bà biết rõ vị trí Hoàng hậu có ảnh hưởng đến thế nào đối với Hoàng đế, vì vậy việc tuyển chọn cháu dâu do đó cũng rất tỉ mỉ.

Tiền thị khi đó so với những mỹ nhân tham gia tuyển cùng không phải có xuất thân quá nổi bật hay vẻ đẹp sắc nước hương trời, tuy nhiên, Trương Thái hoàng Thái hậu đã cảm nhận được nhân phẩm xuất chúng của bà.

Minh Anh Tông có được người vợ thông tuệ, hết mực nết na thì rất vui sướng. Hai người sống những ngày tháng tân hôn vô cùng hạnh phúc và vui vẻ.

Một lần, Minh Anh Tông chợt để ý rằng gia tộc của Hoàng hậu đều chỉ giữ những chức quan khá tầm thường, không quan trọng. Thế nên, ông muốn cất nhắc, phong tước một số người trong gia tộc Tiền thị để Hoàng hậu được nở mày nở mặt. Thế nhưng khi nhà vua đề cập việc này với Hoàng hậu thì bà ngay lập tức từ chối. Bà nói rằng, trong gia tộc, chưa ai có công lao, đóng góp to lớn trong triều đình hoặc có tài năng xuất chúng để xứng đáng được phong tước cả. Về sau, nhà vua cũng nhắc lại việc này thêm vài lần nữa và lần nào Hoàng hậu cũng một mực khước từ, qua đó mà Minh Anh Tông càng hiểu thêm về tấm lòng và tính cách công bằng, chính trực của bà. Bà cũng rất thông cảm chuyện nạp phi, nên không bao giờ ngăn cản Minh Anh Tông sủng hạnh phi tử, do vậy số con cái của Anh Tông khai chi tán diệp cũng không tệ. Tình cảm Đế – Hậu từ đó mà càng trở nên sâu nặng, thắm thiết.

Chỉ có một điều đáng tiếc, đó là dù Minh Anh Tông hết mực sủng ái và rất mong chờ, nhưng Tiền Hoàng hậu vẫn không thể sinh cho ông một vị Hoàng tử nào, trong khi các phi tần khác đều liên tục sinh nở. Nhà Vua ngày đêm mong ngóng, không phải vì muốn có Đích tử mà sợ rằng nếu truyền ngôi vị cho Hoàng thứ tử, thì sinh mẫu sẽ lạm quyền, ức hiếp Tiền Hoàng hậu.

Năm Chính Thống thứ 14 (1449), xảy ra Sự biến Thổ Mộc bảo. Lúc đó, Minh Anh Tông thân chinh cầm quân xuất trận để bảo vệ bờ cõi trước sự xâm lược của các bộ lạc Mông Cổ. Ông để cho em trai Chu Kỳ Ngọc ở lại trấn thủ kinh thành. Thái giám Vương Chấn khi ấy ngang nhiên mượn danh Hoàng đế chỉ huy quân đội tùy tiện, phong tỏa hết thảy những thông tin bất lợi với Minh Anh Tông khiến quân nhà Minh liên tiếp bại trận, thương vong vô số.

Mãi cho đến khi thấy tình hình chiến sự trở nên vô cùng bất lợi, Vương Chấn bèn tìm cách thoát li khỏi nhà vua, thế nhưng trên đường tẩu thoát, hắn bị quân Mông Cổ bắt được và giết chết. Về phần Minh Anh Tông, ông bị bắt giữ làm con tin.

Ngày 18/8, tin tức Minh Anh Tông bị bắt lan đến kinh thành. Trong triều chấn động, Tôn Thái hậu mệnh Thành vương Chu Kỳ Ngọc giám quốc, lại huy động các quan công khanh vơ vét tài sản để chuộc Hoàng đế. Tiền Hoàng hậu bán hết tài sản riêng, cốt để mong chuộc được Minh Anh Tông. Nhưng Khả Hãn Mông Cổ là Dã Tiên lại thấy có thể lấy Minh Anh Tông uy hiếp nhà Minh, vừa có thể mượn sức nhà Minh hoàn thành việc thống nhất Mông Cổ, lại có thể uy hiếp đến Bắc Kinh. Trước tình thế đó, ngày 6/9, Tôn Thái hậu gấp gáp khuyên mời Thành vương Chu Kỳ Ngọc lên ngôi, tức Minh Đại Tông, còn Minh Anh Tông trở thành Thái thượng hoàng nhằm ổn định tình hình, tổ chức đánh trả quân Mông Cổ.

Nhận được hung tin chồng bị bắt làm tù binh, anh trai Tiền Khâm và em trai Tiền Chung cũng tử trận, Tiền Hoàng hậu đau đớn đến độ chỉ muốn chết đi. Điều duy nhất mà Tiền hậu có thể làm đó là ngày ngày quỳ gối dập đầu trước Phật, thành tâm khẩn cầu hi vọng trượng phu có thể bình an trở về. Suốt một thời gian dài cầu khấn, mùa đông với cái lạnh cắt da cắt thịt đã khiến tình hình sức khỏe của Tiền Hoàng hậu suy giảm đến mức không thể tự đứng dậy được. Không ngừng quỳ lạy bất kể ngày đêm, không ngừng khóc thương người chồng đang bị bắt, vậy nên một chân bà đã bị thương nặng dẫn đến tàn phế, một bên mắt cũng đã bị mù. Năm đó, bà mới chỉ 24 tuổi.

Có lẽ tấm lòng son sắt, kiên trinh của Tiền Hoàng hậu đã lay động trời xanh nên Minh Anh Tông cuối cùng cũng được quân Mông Cổ trao trả cho nhà Minh. Năm đầu Cảnh Thái (1450), ngày 3/8, Minh Anh Tông từ Mạc Bắc trở về kinh, được tôn làm Thái thượng hoàng và bị giam lỏng ở Nam Cung. Gặp lại Tiền thị, Minh Anh Tông không khỏi xót xa. Bà giờ đã tàn phế, dung mạo tiều tụy nhưng tấm chân tình của bà vô cùng đáng quý. Lúc này, Tiền Hoàng hậu dọn đến Nam Cung để sống cùng trượng phu của mình, thậm chí phải có lúc bán đồ thêu để có tiền sinh sống qua ngày.

7 năm sau (tháng Giêng, năm Cảnh Thái thứ 8 – 1457), Minh Đại Tông bạo bệnh qua đời. Ngày 17 tháng Giêng, Minh Anh Tông lần nữa lại lên làm hoàng đế.

Hoàng đế phục vị, vì vậy cần sắc phong một vị Hoàng hậu mới. Mọi người đều nghĩ Chu Quý phi, người đã sinh ra trưởng tử Chu Kiến Thâm sẽ ngồi lên ngôi vị Hoàng hậu. Thành thật mà nói, so với Tiền thị tàn tật, không sinh cho nhà vua một đứa con nào thì Quý phi Chu thị có ưu thế hơn hẳn: không những có nhan sắc mà lại sinh cho nhà vua đến 3 Hoàng tử, trong đó con trai của Chu Quý phi là Chu Kiến Thâm đã được phong làm Hoàng thái tử. Bản thân Chu Quý phi sinh hạ Hoàng thái tử nên cũng nôn nóng muốn trở thành Hoàng hậu. Nhìn thấu được dã tâm của Chu thị, Anh Tông vẫn kiên quyết giữ Tiền thị làm Hoàng hậu. Với ông, tình nghĩa sâu nặng và tấm lòng sắt son của Tiền thị vượt lên trên tất thảy những tính toán thông thường. Dù rằng bà không có con nhưng sự trân quý của nhà vua dành cho bà chưa khi nào suy chuyển. Chu Quý phi tham vọng cũng vì thế tiêu tan.

Tháng 12, năm Thiên Thuận thứ 8 (1464), Minh Anh Tông đã mắc bệnh nặng. Đến ngày 6 tháng Giêng, đã không thể thượng triều, phải truyền Thái tử đến Văn Hoa điện xử lý quốc sự. Ngày 16 tháng ấy, Minh Anh Tông trước mặt bá quan công bố di chiếu, rồi băng hà. Di chiếu cho Hoàng thái tử Chu Kiến Thâm kế vị, tức Minh Hiến Tông.

Minh Anh Tông từ trước đã không vừa mắt Chu Quý phi, nhưng vì địa vị của Thái tử mà bỏ qua không so đo, cũng một phần vì không nghĩ mình sẽ qua đời sớm. Vào lúc này, Minh Anh Tông sợ mình băng hà thì Chu phi sẽ gây khó dễ Tiền Hoàng hậu, nên trước khi lâm chung đã nói với Thái tử: “Hoàng hậu danh vị đã định, phải tẫn hiếu thiên niên”. Nhưng Minh Anh Tông chính là không yên tâm Chu phi sẽ tác oai tác oái, khiến Thái tử sợ mẹ mà làm bậy, bèn quyết định kéo tay Đại học sĩ Lý Hiền mà dặn dò: “Sau khi Tiền hoàng hậu thiên thu, phải cùng Trẫm hợp táng!”. Đại học sĩ Lý Hiền khóc không thành tiếng, cũng lấy lời này viết lên di chiếu.

Năm Thành Hóa nguyên niên (1465), tháng 3, tức 2 tháng sau khi Minh Anh Tông băng hà, triều thần tôn Tiền Hoàng hậu là Hoàng Thái hậu, gọi là Từ Ý Hoàng Thái hậu, còn Chu Quý phi cũng được tôn là Hoàng Thái hậu nhưng không có tôn hiệu.

Ngày 26 tháng 6 (âm lịch), năm Thành Hóa thứ 4 (1468), Tiền Thái hậu qua đời, thọ 42 tuổi. Theo di chiếu cũng như quy tắc đích – thứ, Tiền Thái hậu là người duy nhất có thể “hợp song táng” cùng Minh Anh Tông vào Dụ lăng.

Nhưng quyền lợi đáng có này của Tiền Thái hậu khiến Chu Thái hậu tức giận, yêu cầu Minh Hiến Tông xây chỗ khác mà an táng Tiền Thái hậu, chỉ một mình Chu Thái hậu tương lai có thể hợp táng với Anh Tông. Hiến Tông răm rắp nghe theo mẹ đẻ, tìm đủ loại lý do để không theo di chiếu của Tiên hoàng. Sự việc này khiến hơn 99 đại thần, đứng đầu là Đại học sĩ Bành Thời liền thượng tấu về chuyện phải hợp táng Tiền Thái hậu cùng Minh Anh Tông như di chiếu. Chu Thái hậu biết tin này cực kỳ phẫn nộ. Đối với hành động trắng trợn quái ác của Chu Thái hậu, Chấp sự trung Ngụy Nguyên cùng đồng liêu hơn 39 người, Ngự sử Khang Doãn Thiều cùng đồng liêu hơn 41 người quyết định đòi lại công đạo cho Tiền Thái hậu, ngay khi hạ triều liền ở ngoài Văn Hoa điện quỳ khóc. Bắt đầu một chiến dịch đình công trong triều đình để buộc Chu Thái hậu đồng ý việc hợp táng của Tiền Thái hậu. Đó là tháng 6 âm lịch, trời Bắc Kinh nắng hạ, quần thần 99 người quỳ từ giờ Tỵ (tức 9 giờ đến 11 giờ buổi sáng) đến giờ Thân (tức khoảng 5 giờ chiều), khóc lóc thảm thiết bao trùm toàn bộ hậu cung. Chu Thái hậu nhiều lần bắt Hiến Tông buộc quần thần thoái lui, nhưng họ kiêng quyết: “Không có ý chỉ hợp táng Tiền Thái hậu thì không dám lui”. Chu Thái hậu không ngờ một Tiền thị tàn phế lại có thể khiến các đại thần đồng lòng đòi công đạo, nên cảm thấy ức chế nhưng vẫn không còn cách nào khác gật đầu việc hợp táng của Tiền Thái hậu.

Tháng 7 năm đó, Minh Hiến Tông chính thức dâng thụy hiệu cho Tiền Thái hậu, là Hiếu Trang Hiến Mục Hoằng Huệ Hiển Nhân Cung Thiên Khâm Thánh Duệ Hoàng hậu. Tháng 9 năm đó, Tiền Thái hậu được hợp táng cùng Minh Anh Tông, đưa vào địa lăng bên trái.

Dù cuối cùng Tiền Thái hậu đã được đưa vào Dụ lăng hợp táng với Minh Anh Tông, song Chu Thái hậu vẫn uất ức. Do khi xây dựng Dụ lăng không có dự lưu việc sẽ an táng thêm 1 Hoàng hậu nữa, nên không thiết kế thích hợp cho trường hợp đồng táng “Nhất đế Nhị hậu”. Để hợp táng Tiền Thái hậu, và tương lai là Chu Thái hậu, triều đình lại lần nữa thi công, đào thông một đường hầm từ phần mộ Tiền Thái hậu đến phần mộ của Anh Tông.

Chu Thái hậu lúc này mua chuộc thái giám làm việc đào mộ, không chỉ khiến đường hầm đi chệch so với mộ của Minh Anh Tông mười mấy trượng, mà giữa đường còn lấy đất đá chèn ngăn lại. Còn phần mộ tương lai của Chu Thái hậu thì thẳng tắp đến mộ của Anh Tông, lối mộ cũng rộng rãi thoáng đãng. Ngoài ra, mỗi dịp có hiến tế trong Phụng Tiên điện, Chu Thái hậu còn không cho phép bày bức họa của Tiền Thái hậu cùng thần vị. Đến sau khi Chu Thái hậu qua đời vào thời Minh Hiếu Tông, Hoàng đế theo lệ mở Dụ lăng để đưa bà nội của mình vào, thì kinh ngạc phát hiện sự tình mà bà nội mình làm năm xưa.

Biết sự việc đã rồi, Minh Hiếu Tông đã có ý cho sửa lại đường thông, triệu tập các Đại học sĩ bàn nghị một cuộc họp rất lớn, muốn vì Tiền Thái hậu mà khai thông đường hầm. Nhưng những vị Âm dương sư và các quan viên của Khâm thiên giám không tán đồng vì ảnh hưởng phong thủy, sự việc bèn thôi. Đường thông của Tiền Thái hậu mãi mãi bị ngăn lấp, không thông được với mộ phần của Minh Anh Tông.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về lịch sử triều đại của một đất nước đông dân nhất thế giới này. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn, hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! Chúc du khách có một chuyến đi vui vẻ và thú vị!