Kinh kịch – loại hình nghệ thuật tinh tuý của Trung Hoa

Dân tộc Trung Hoa trải qua mấy nghìn năm tôi luyện và hoà hợp, kết tụ và phát triển đã thu hút được muôn phương mà lại có phong thái độc đáo, hình thành nên nền văn hoá rực rỡ muôn màu, đa nguyên nhất thể, rộng lớn sâu lắng mà lại mộc mạc tươi đẹp. Trong đó, Kinh kịch là một loại hình sân khấu đẹp có lịch sử trên 200 năm, được xem như một trong những di sản văn hóa đặc sắc nhất của văn hóa Trung Hoa.

Kinh kịch (京剧 – Jīngjù) hay còn gọi là “ca kịch Phương Đông”, là loại hình sân khấu đặc sắc của Trung Quốc mang đậm nét văn hóa thuần túy Á Đông. Vào tháng 11/2010, Tổ chức UNESCO đã chính thức công nhận Kinh kịch là “Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại”. 

Kinh kịch – một thể loại ca kịch dân gian được hình thành và phát triển mạnh tại Bắc Kinh vào thời vua Càn Long. Kinh kịch cũng đã trải qua với nhiều tên gọi: “Nam hí”, “Truyền kì”, “Côn Khúc”, “Huy Kịch” và bây giờ tên chính thức là “Kinh kịch”.

Có thể nói rằng, Kinh kịch là sự kết hợp giữa Huy kịch và Hán kịch. Kinh kịch được phát triển từ các nghệ thuật cổ đại dân gian từ xưa như tuồng – loại hình nghệ thuật tổng hợp, sự kết hợp hài hòa và đồng nhất giữa “Ca, nói, biểu hiện, đấu võ, vũ đạo”. 

Ban đầu, kinh kịch đơn giản chỉ ca múa kèm vũ đạo, tương tự như nghệ thuật tuồng. Hoặc có pha trộn thêm một số loại tạp kĩ như xiếc hoạt kê, các màn nhào lộn, kể chuyện hay những đoạn đối thoại và cả võ thuật. Cho đến thời nhà Đường, tên gọi “Kinh kịch” còn được gọi là “Hí kịch”. Các thể loại nghệ thuật khác của Trung Quốc thường lấy cốt truyện từ lịch sử. Họ thường lấy những vị anh hùng làm đề tài chính. Sang thời nhà Tống thì Kinh kịch còn được gọi là “Tham Quân hí” hay có thể gọi là “Tạp Kịch”.

Phần lớn các vở Kinh kịch đều có đời sống và cảm hứng từ các cốt truyện huyền thoại như cổ tích, truyền thuyết pha lẫn tính dã sử của tiểu thuyết Trung Quốc cổ điển. Chắc hẳn trong chúng ta đã quá quen thuộc với những tác phẩm như Mỹ Hầu Vương, Tam Quốc Diễn Nghĩa, Thủy Hử,… là những tác phẩm điện ảnh quen thuộc cũng đều được tái hiện lại một cách hoàn hảo thông qua loại hình nghệ thuật đặc sắc này. Vì vậy khi nghe và xem Kinh kịch cũng là chúng ta đang tìm hiểu về lịch sử cũng như văn hóa cổ xưa của đất nước Trung Hoa.

Các nhân vật trong Kinh kịch chủ yếu chia làm bốn vai chính: Sinh (vai nam), Đán (vai nữ), Tịnh (vai nam),Sửu (nam nữ đều có). “Sinh” (生) tùy theo tuổi tác và thân phận trong các vở kịch mà chia thành lão sinh, tiểu sinh và võ sinh. “Đán”(旦) bao gồm thanh y, hoa đán, võ đán, lão đán. “Tịnh”(净)vào vai nam hào kiệt hoặc thư sinh, đặc trưng nổi bật là phải vẽ nhiều màu sắc trên mặt, vì vậy còn gọi là “hoa kiểm”. “Sửu”(丑) là vai xấu xa hoặc hài hước lanh lợi.

Nhạc cụ để biểu diễn trong một vở Kinh kịch bao giờ cũng là sự kết hợp đồng bộ giữa bộ gió, bộ dây và bộ gõ, chúng tạo ra những tiếng đệm theo lời hát trầm bổng réo rắt vốn đã được xem là chuẩn mực, “quốc túy”, trong điệu hát Trung Hoa.

Cùng với các nhạc khí, nhân vật Kinh kịch còn sử dụng các loại đạo cụ khác như: đao, thương, kiếm, gậy, quạt,… để hỗ trợ cho diễn xuất và thể hiện tính cách riêng.

Nghệ thuật hóa trang trong Kinh kịch cũng rất đặc sắc. Vai “Sinh” và “Đán” phải vẽ lông mày, nâng lông mày và vẽ tròng mắt. Vai “Tịnh” và “Sửu” phải vẽ mặt nạ hay cụm từ mà miêu tả chính xác theo cách gọi của người Trung Quốc đó là Kiểm Phổ.

Kiểm phổ là cách hóa trang để diễn viên Kinh kịch hóa thân nhập vai nhân vật định sẵn, cách vẽ và hình vẽ sẽ khác nhau tùy thuộc vào nội tâm nhân vật thể hiện, và không được vẽ lẫn lộn giữa các vai khác nhau. Trong đó, phương pháp vẽ lại thiên hình vạn trạng, mỗi kiểm phổ có nét kỳ diệu riêng. Một số kiểm phổ chỉ đơn thuần dùng tay chấm màu vẽ và bôi nhẹ lên mặt, không cần dùng bút kẻ các đường nét, ví dụ như trong các tuồng Võ hí, diễn viên đóng các vai anh hùng đều áp dụng cách vẽ này.

Những tướng võ thông thường đa số đều phải vẽ mặt, nghĩa là dùng dầu trang điểm pha trộn các màu sắc khác nhau và vẽ lên mặt, màu sắc đậm nhạt, vòng mắt to nhỏ, lông mày thẳng hoặc cong, hoa văn biến hóa, lực vận bút mạnh nhẹ đều phải tuân theo chuẩn mực quy định, không được sơ suất; vai gian thần thì phải dùng mạt kiểm (mặt bôi, dùng tay bôi màu lên mặt) – lông mày được bôi đậm thêm, mắt vẽ hình tam giác, và vẽ thêm hai đường vân gian ác (giống như chân ruồi), bôi phấn lên mặt sao cho cả mặt có màu trắng xóa giống như bộ mặt giả, không được để lộ bộ mặt thật ra ngoài.

Kiểm phổ được vẽ tinh xảo, màu sắc rực rỡ, khuôn mặt có thể méo mó nhưng cũng có thể ngay thẳng, đường nét có thể thô hoặc mỏng, rất đa dạng. Qua Kiểm Phổ, khán giả có thể nhận biết các nhân vật trung thành hoặc gian trá, tốt đẹp hay xấu xa, lương thiện hay gian ác, cao thượng hay thấp hèn. Kiểm phổ chính là bằng chứng phát triển hoàn thiện của thủ pháp tả ý ước lệ trong Kinh kịch, hiểu rõ ý nghĩa tượng trưng mà Kiểm Phổ muốn thể hiện sẽ giúp ích cho việc tìm hiểu cốt truyện của tuồng kịch.

Kiểm phổ thể hiện tính cách, ví dụ như mặt đỏ thể hiện tính cách trung liệt, dũng cảm, chính nghĩa; mặt đen biểu thị sự thô bạo, hung dữ; mặt xanh dương biểu thị sự ngoan cường, dũng mãnh; mặt trắng biểu thị sự gian xảo, nham hiểm; “mặt đậu phụ” biểu thị sự a dua, nịnh bợ,…

Ngoài ra, còn rất nhiều kiểm phổ mà không thể liệt kê ra hết, vừa có thể dùng các màu sắc khác nhau để vẽ nên các hoa văn khác nhau nhằm lột tả hết tính cách của nhân vật trong vở kịch, giúp khán giả có cái nhìn cụ thể hơn.

Để biểu thị quan hệ huyết thống, có thể nhân vật cha con trong kịch sẽ được vẽ mặt cùng một màu, cách vẽ và hình vẽ sẽ to nhỏ khác nhau. Để biểu thị thân phận: nhân vật được vẽ màu vàng kim hoặc màu bạc không là tiên thì cũng là Phật; nhân vật được vẽ hình rắn, sâu bọ, cá, tôm thì chắc chắn sẽ là thủy quái hoặc sơn yêu; khuôn mặt lộ vẻ uy nghiêm đa phần là trung thần hoặc hiếu tử; mặt vẽ màu xanh lá hoặc xanh dương đều là những bậc anh hùng xuất thân trong tầng lớp nhân dân; vẽ “mắt eo”, “mày dùi cui” (nghĩa là ở giữa thô, phía dưới có hình tròn nhọn, phía trên rất nhọn, lông mày ngắn có hình dạng như chiếc dùi cui) cho nhân vật hòa thượng; kiểm phổ có mắt đen với vòng mắt nhỏ, miệng nhỏ chắc chắn sẽ là thái giám cung đình; bôi “miếng đậu phụ” màu trắng ở ngay giữa sống mũi đều là những vai phụ xuất hiện để chọc cười mua vui trong kịch.

Kiểm phổ còn có thể mở rộng phạm vi diễn xuất của diễn viên, diễn viên có thể đóng luôn các vai động vật, không cần phải kéo trâu thật ngựa thật lên sân khấu, và diễn viên vừa lột tả được hết tính cách của vai diễn, lại vừa có thể nói chuyện được, thú vị vô cùng.

Với loại hình nghệ thuật Kinh kịch, mặt nạ cũng được xem là yếu tố đặc sắc. Qua những sắc thái trên mặt nạ chúng ta có thể biết được nhân vật vai thiện hay ác. Mỗi khuôn mặt, mỗi kiểu tính cách lại có những cách tạo hình nhân vật khác nhau. Cho dù là nhân vật gian trá, thiện lành hay xấu xa, cao thượng hay thấp hèn đều thể hiện rõ nét trên khuôn mặt. Màu sắc trên khuôn mặt cũng chiếm giúp việc tạo hình được thành công hơn. Màu đỏ thường biểu thị cho những con người trung thành hết mực. Màu trắng thể hiện nhận vật gian trá,giả trân, độc ác. Màu xanh làm phản chiếu nhân vật kiên cường và dũng cảm. Mặt na màu bạc thể hiện sự tàn bạo. Màu vàng thể hiện thần phật quỷ quái. Màu sắc thể hiện được sự huyền ảo kì bí đồng thời cũng thu hút người xem hơn rất nhiều.

Trong Kinh kịch, không thể thiếu các màn nhào lộn, xiếc, và diễn trò. Sau này dưới sự ảnh hưởng của võ thuật Trung Hoa, những tiết mục Kinh kịch bắt đầu có các màn biểu diễn võ thuật làm cho buổi biểu diễn trở nên sinh động và cuốn hút hơn. Ngoài ra, Kinh kịch đã tạo nên một hệ thống động tác biểu diễn mang tính chất tượng trưng cao. Chẳng hạn như lấy một chiếc mái chèo biểu thị một con thuyền, hay một chiếc roi ngựa biểu thị một con ngựa. Diễn viên không cần đạo cụ vẫn có thể biểu diễn những động tác như lên lầu, xuống lầu, mở cửa, đóng cửa. Những động tác này tuy có hơi khuếch đại, nhưng có thể đem lại cảm giác chân thật cho khán giả.

Gắn liền với vẻ mặt trí tuệ của vai diễn cũng như nghệ thuật vũ đạo, múa võ, kỹ xảo xiếc điêu luyện…, sự độc đáo của Kinh kịch còn nằm trong vẻ đẹp hoàn mỹ của những trang phục dân tộc. Xuất xứ từ trang phục của triều đại nhà Minh (1368-1644), sự lộng lẫy và tinh xảo trong trang phục của Kinh kịch đến nay vẫn làm cho mọi người phải ngạc nhiên; kết hợp với trang phục, vai diễn tự nhiên và hoàn hảo trong sự nhuần nhuyễn giữa thực tế, trí tưởng tượng cũng góp phần tăng sự hoành tráng trong vở Kinh Kịch.

Phải nói rằng, người xưa có phong cách thưởng thức nghệ thuật rất thanh tao, chú trọng vào nội hàm chứ không chỉ là những màn phô diễn nghệ thuật. Bởi vậy mà Kinh kịch có sức sống tới mấy trăm năm mà không hề bị phai nhòa. 

Thật là tuyệt vời khi khám phá thêm một nét văn hóa rất Trung Hoa phải không nào? Du khách đã bị thu hút và tò mò muốn xem Kinh kịch này chứ? Nếu có cơ hội du lịch Nhật Bản, du khách hãy nhớ dành thời gian thưởng thức buổi biểu diễn Kinh kịch đặc sắc nhé! Chắc chắn du khách sẽ có thêm được một trải nghiệm thú vị trong hành trình khám phá vùng đất Trung Hoa.