Gốm sứ – biểu tượng của nền văn minh Trung Hoa cổ đại

Một trong những phát minh quan trọng của người Trung Hoa xưa là gốm sứ. Tuy không được xếp vào hàng các phát minh vĩ đại nhất như giấy hay thuốc súng, nhưng gốm sứ cũng là kết tinh của trí tuệ và sức mạnh của người dân Trung Hoa.

Trong tiếng Anh từ “china” có nghĩa là Trung Quốc, nhưng cũng có một hàm nghĩa khác là: “đồ gốm”. Việc gắn liền giữa hình ảnh đồ gốm và Trung Hoa mang ý nghĩa rằng, nhắc tới Trung Hoa là nhớ tới đồ gốm, là nơi khơi nguồn cho nghệ thuật gốm sứ thế giới, là cái nôi của kho tàng nghệ thuật của nhân loại.

Một cách nhìn khác trong cách viết chữ Hán, chữ “Tao” chỉ nghề gốm, theo như hình vẽ mô tả của chữ viết cổ giáp cốt văn, hàm ý tả một người ngồi xổm trên mặt đất tay cầm thanh gỗ đang nặn đất sét. Những phát hiện khảo cổ đã chứng minh rất sớm từ thời kỳ đồ đá mới (khoảng 8000-2000 BC) người Trung Hoa đã phát minh ra đồ gốm.

Trong giới khảo cổ, người ta đã phát hiện ra chữ viết trên gốm đầu tiên được phát hiện trên một mảnh gốm còn sót lại từ triều đại nhà Thương là mảnh gốm duy nhất tìm thấy cho đến nay trong khi có nhiều mảnh gốm cổ hơn không có chữ.

Bằng cách sử dụng chất đồng vị phóng xạ C14, các nhà khảo cổ đã kết luận nghề gốm của Trung Hoa cổ xưa ra đời vào năm 9000 trước Thiên Chúa giáng sinh. Như vậy, nghề gốm đã có một lịch sử lâu đời và Trung Hoa đã để lại một di sản gốm sứ to lớn.

Trải qua nhiều thời đại gốm sứ Trung Quốc không ngừng chuyển mình và vươn lên đỉnh cao, cho ra các sản phẩm đặc sắc, ấn tượng.

Trong nền văn minh của thời đồ đá, đồ đất nung được trang trí màu và những sản phẩm đồ gốm xương sứ trắng hoặc đỏ đã được ra đời và cho đến thời Longshan thì xuất hiện thêm đồ gốm sứ đen và chúng trở lên phát triển hơn.

Vào thời nhà Thương (1600-1100 BC), gốm sứ men tro, gốm men ngọc đã bắt đầu xuất hiện. Lúc này, các màu chính của đồ gốm sứ chỉ gồm 3 màu: đỏ, xám, và đen. Càng về sau, người Trung Hoa đã bắt đầu biết sử dụng kỹ thuật phủ men màu, màu sắt của đồ gốm trở nên đa dạng và sáng sủa hơn. Cuối thời Xuân-Thu cho tới thời Chiến quốc, những sản phẩm gốm sứ Trung Quốc có đặc trưng xương gốm cứng cáp, chúng được nung ở nhiệt độ cao với các lớp họa tiết ấn tượng đã được hình thành và phát triển mạnh mẽ.

Đến đời nhà Đường (618-907), gốm sứ đã phát triển với tốc độ vượt trội cả về số lượng và chất lượng. Những sản phẩm của họ có hồi hướng từ những bức tranh thủy mặc, tượng nặn.

Các sản phẩm đồ gốm thời kỳ này mang theo 3 loại màu sắc mà người ta gọi là “tam sắc” hay “tam thái”. Người ta gọi là “tam sắc” vì ba màu men thường đuợc dùng là vàng, xanh lá cây và trắng mặc dù một số mẫu vật vẫn mang hai màu hoặc bốn màu. Được phát triển dựa trên cơ sở gốm men màu nâu và xanh lá cây ở triều đại Hán, nó đại diện cho một đỉnh cao của việc phát triển nghề gốm tại Trung Hoa và cũng nổi tiếng trên thế giới trong thời đại của nó.

Theo các tư liệu khảo cổ mà người ta khai quật được thì đồ gốm ba màu thời Đường đào thấy được làm là tượng ngựa, lạc đà, tượng nhỏ hình người phụ nữ, vại đầu rồng và tượng nhạc công. Trong số này, tượng các con lạc đà đã đạt được sự ngưỡng mộ cao nhất, trình bày dưới dạng đang chở hàng hóa tơ lụa hoặc đang mang nhạc công trên lưng như thể tái tạo lại hình ảnh sống động, chân thật của người dân vùng trung Á vào thời đó đang thực hiện vận chuyển hàng hóa dọc theo con đường tơ lụa với tiếng chuông len keng của những con lạc đà.

Gốm tráng men 3 màu được sản xuất trong suốt triều đại nhà Đường nổi tiếng với sắc màu rực rỡ, được giới quý tộc ưa chuộng sử dụng như đồ trang trí trong nhà, thậm chí còn được dùng để mai táng người chết.

Gốm ba màu thời Đường được phát triển cách đây 1.300 năm không chỉ thể hiện được vẻ đẹp dịu dàng và men mịn đầy màu sắc, mà còn thể hiện tính nghệ thuật cao và là báu vật văn hóa Trung Hoa.

Mặc dù gốm ba màu thời Đường rất hưng thịnh nhưng lại có lịch sử tồn tại khá ngắn (thế kỷ thứ VIII) của triều đại, vào thời kỳ ấy các đồ vật thuộc loại này thường được các quý tộc dùng vào việc an táng, do đó những gì tìm thấy ngày nay rất giới hạn về số lượng và được đánh giá là báu vật quý hiếm, được đánh giá cao nhờ vào màu sắc rực rỡ của chúng.

Trong thời Bắc Tống, đồ gốm sứ trắng đã được cải tiến với lớp men trắng ngà và hoa văn chạm khắc đầy tinh tế tạo ra cảm giác ba chiều rất đẹp mắt. Cũng trong thời kỳ này, gốm sứ Trung Quốc đã xuất hiện thêm nhiều loại gốm vô cùng độc đáo theo từng vùng miền.

Ở thời Nam Tống, những lò nung Guan chuyên sản xuất các sản phẩm gốm men ngọc với lớp men dày và xương gốm màu đen đặc trưng. Các vật dụng gốm sứ Trung Quốc cũng được sản xuât hàng loạt với chất lượng cao cùng những nét đặc trưng riêng biệt.

Thời kỳ Mông Nguyên (1205-1368), đồ sứ Thanh Hoa xuất hiện, cũng giống như bối cảnh văn hoá Nguyên Khúc, phong cách nghệ thuật dân dã, nghệ thuật thị dân và nghệ thuật dân tộc tương đối đa nguyên đã thâm nhập vào kỹ thuật chế tác đồ sứ, mặc dù chưa trở thành chính thống nhưng khuynh hướng thẩm mỹ thiên về tính trang trí này (tiêu biểu là dòng gốm sứ xanh trắng) đã có sự khác biệt rất lớn so với khuynh hướng mỹ học thiên về tính tự nhiên và hàm súc (tiêu biểu là dòng sứ không màu) của thời trước. Bên cạnh đó những sản phẩm đồ gốm sứ có màu đỏ đồng được vẽ dưới men sử dụng bùn nhuộm có oxít đồng cũng đã ra đời. Các sản phẩm này được ưa chuộng và xuất khẩu sang các khu vực lân cận và các nước láng giềng.

Cho đến thời vua Minh Hiến Tông, từ năm 1465-1487 đồ gốm sứ Trung Quốc bắt đầu được nâng tầm lên đỉnh cao của sự hoàn hảo với các sản phẩm là những chiếc chén, đĩa nhỏ sử dụng phương thức trang trí đặc biệt với các chủ đề đã được phác họa dưới lớp men xanh lam bên dưới và chúng được tô màu trên lớp men bên ngoài.

Thời đại Hoàng đế Minh Thế Tông, vào những năm 1522-1566 các lò nung gốm tư nhân với năng suất cao đã được chỉ định chuyên sản xuất gốm sứ cho hoàng tộc. Tuy nhiên những quy đinh về kiểu cách, chất lượng của đồ gốm hoàng gia cũng ngày càng trở nên khó khăn và yêu cầu cao hơn.

Cuối cùng là tới triều đại nhà Thanh, gốm sứ Trung Hoa lại có những bước đột phá mới, đặc biệt vào thời kì trị vì của vua Khang Hy (1622-1722). Người Trung Quốc đã sử dụng thành công loại bột men màu, và điều chỉnh nhiệt độ lò nung cho ra sản phẩm gốm với độ bóng mịn tuyệt đối. Cũng trong thời Khang Hy, họ đã sáng tạo một số men màu mới đặc biệt trong số đó có dạng màu đỏ, màu tím, màu đỏ san hô, màu đen bóng. Tăng thêm các tông màu trên bảng màu của sản phẩm, người Trung Quốc như làm chủ ngọn lửa và nhiệt độ lò nung, kỹ thuật chế tác men và phối màu khi chế tác đã đạt tới sự phong phú trọn vẹn.

Trải qua những năm tháng phát triển của lịch sử cùng với sự thăng hoa trong nghệ thuật chế tác gốm sứ, kỹ thuật làm men màu, tô vẽ và khắc chế trên các tác phẩm gốm sứ đã có sức hút mãnh liệt tới giới thượng lưu phương Tây. Và từ đó người Trung Quốc bắt đầu xuất khẩu và mang gốm sứ cho thị trường phương Tây, tạo thành cơn sốt mãnh liệt trong việc sưu tầm và sử dụng những sản phẩm này. Điều đó đã làm lên thương hiệu của Trung Quốc, và gốm sứ là hình ảnh gắn liền với văn minh Trung Hoa.

Gốm sứ đã góp phần tạo nên một nền văn hóa Trung Hoa đặc sắc, và đây cũng là một trong những lý do thu hút lượng lớn khách du lịch quốc tế tìm đến khám phá hàng năm. Nếu du khách cũng yêu thích nền văn hóa truyền thống của vùng đất rộng lớn này thì hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé!

Kết nơ – một loại hình nghệ thuật vào thời Trung Quốc cổ xưa

Đẹp mắt, công phu và cầu kỳ trong khi tuân theo các nguyên tắc đơn giản, những chiếc nơ kết là một phần của lịch sử Trung Hoa, và những ghi chép từ thời cổ đại chính là bằng chứng cho việc sử dụng những chiếc nơ để ghi lại tất cả các sự kiện quan trọng.

Kết nơ (hay: Tết dây, Thắt nút dây) là một loại hình nghệ thuật thủ công dân gian truyền thống của người Trung Hoa. Kết nơ được xác định là xuất hiện từ thời văn minh tiền cổ, sau đó được phổ biến rộng rãi dưới thời nhà Đường, nhà Minh. Nghệ thuật kết nơ đã trải qua một dòng chảy lịch sử lâu dài, nó được giữ gìn, duy trì và tiếp tục phát triển tới ngày nay với những nét đặc trưng vô cùng độc đáo.

Trong suốt chiều dài hơn năm ngàn năm lịch sử, kết nơ được cho là xuất hiện cùng với lịch sử của loài người. Theo tư liệu khảo cổ, các nhà nghiên cứu lịch sử cho rằng, việc kết nơ bắt đầu xuất hiện từ thời cổ xưa, khi mà con người còn chưa có văn tự, chữ viết. Nó được dùng để giúp người ta ghi nhớ sự việc.

Dần dần việc kết nơ để nhớ sự kiện đã phát triển và trở thành một loại hình nghệ thuật ở Trung Quốc, được dùng để trang trí, trở thành món đồ trang trí thủ công dân gian của người Trung Hoa. Nó không chỉ là biểu hiện của trí tuệ con người thời cổ xưa khi kết nơ để thay thế cho chữ viết, mà còn nó chiếm vị trí quan trọng trong lĩnh vực nghệ thuật và thẩm mĩ.

Vào thời kỳ đầu của văn minh Trung Quốc, người ta coi một đoạn dây nhỏ cũng quý giá không khác gì danh dự, vì bản thân từ “thăng” (dây) được phát âm giống với từ “thần” (thần thánh). Nét viết chữ “thăng” cũng hướng người Trung Hoa (được gọi là “long nhân”) tới sự sùng kính, vì nét viết chữ “thăng” được cho là giống với một con rồng đang bay lượn.

Trong văn hóa của người Trung Hoa, họ luôn coi mình là con cháu của rồng. Vì vậy, rồng là một con vật tưởng trưng rất đỗi linh thiêng đối với người Trung Hoa và cũng chính vì lý do đó mà người cổ đại rất sùng bái sợi dây, họ dùng nó như một dạng kí tự thay cho chữ viết để ghi nhớ các sự việc.

Những chiếc nơ kết còn mang những ý nghĩa ẩn dụ bắt nguồn từ ngôn ngữ: chữ “Kết” (结- jié) được chiết tự từ chữ “Ty” và chữ “Cát” (吉-jí), trong đó “Ty” có nghĩa là lụa hoặc là dây, còn “Cát” nghĩa là thịnh vượng, một địa vị cao trong xã hội, cuộc sống trường thọ, may mắn, của cải, sức khỏe và sự bình an. “Phúc, lộc, thọ, hỷ, tài, an, khang” đều thuộc phạm trù “Cát”. “Cát” là chủ đề theo đuổi vĩnh hằng của dân tộc Hoa Hạ, bởi vậy, đồ mỹ nghệ dân gian kết dây này đã trở thành vật truyền tải sự tinh túy của nền văn hóa truyền thống Trung Quốc và được lưu truyền đến ngày nay một cách rất tự nhiên.

Nét viết chữ “Kết” miêu tả một chiếc thắt nơ. Chính vì thế, nó còn tượng trưng cho những mối quan hệ, có thể mở rộng ra là sức mạnh bao trùm, sự hài hòa và những cảm xúc của con người. Những ý nghĩa này có được là nhờ khả năng phản ánh cụ thể của các bộ chữ tượng hình Trung Quốc. Ví dụ, “kết thực” nghĩa là ra quả, “kết giao” nghĩa là làm bạn, “kết duyên” nghĩa là đến với nhau vì duyên phận, “kết hôn” nghĩa là lập gia đình với nhau, và “đoàn kết” nghĩa là hợp lại cùng nhau.

Nhờ mối liên hệ khăng khít của những chiếc nơ kết với văn hoá Trung Hoa, nghệ thuật kết nơ tiếp tục được lưu truyền như một loại hình văn hóa dân gian được yêu thích. Thú vui này đã trở thành một loại hình nghệ thuật phổ biến trong suốt triều đại nhà Đường (618-907) và triều đại nhà Tống (960-1279), và đã từng chứng kiến thời hoàng kim trong thời kỳ chuyển giao giữa triều đại nhà Minh và triều đại nhà Thanh (1368-1911), khi mà những chiếc nơ kết thường tô điểm cho các bộ trang phục truyền thống. Môn nghệ thuật này có mặt từ trong những mục đích sử dụng đơn giản, cho đến những vật dụng trang trí trong các đám hội hè – như các chuỗi hạt, trâm cài đầu, và hoa tai. Một số loại nơ kết nhất định, chẳng hạn như “Nơ kết may mắn”, được dùng như một tấm bùa hộ mệnh, để xua đuổi những điều xấu xa, tránh tai họa và mang lại may mắn.

Những chiếc nơ kết được làm từ một sợi dây dài ít nhất 1m, được tạo ra từ chất liệu lụa, bông, gai, ni lông, sợi pha trộn,… Đặc điểm lớn nhất của nơ kết là từ đầu đến cuối đều được bện kết trên cùng một sợi dây, cách kết dây phải tuân theo những quy luật riêng tùy theo kiểu dáng và ngụ ý sử dụng của nó. Các sợi dây được gấp lại, chồng lên nhau, cuộn tròn, thêu và trở thành những tác phẩm lôi cuốn. Mặc dù nhiều chiếc nơ kết có vẻ như rất phức tạp và mang tính nghệ thuật cao trong mẫu vẽ và thiết kế, tất cả chúng đều được tạo ra theo 20 kỹ thuật cơ bản. Người xưa cũng dựa vào nguyên lý thái cực, âm dương để cấu thành phương thức cơ bản nhất của kết, trên dưới đồng nhất, trái phải đối xứng, mặt trước mặt sau giống nhau, phần đầu và phần đuôi kết nối liền nhau. 

Tên gọi của một chiếc nơ kết cụ thể phụ thuộc vào hình dáng, công dụng, nơi nó được tạo ra, và ý nghĩa của chiếc nơ. Lấy ví dụ, chiếc nơ “nhân đôi tài lộc” có tên gọi từ những đồng tiền xu cổ bằng đồng của Trung Quốc xếp chồng lên nhau. Tên gọi “nơ cúc áo” hàm ý nói đến công dụng cuối cùng của nó là một chiếc cúc áo. Chiếc nơ “thập thiên” không chỉ trông giống như biểu tượng chữ “Vạn” mà người Trung Quốc thường dùng để tượng trưng cho thập thiên (mười nghìn), mà nó còn thường được thấy trên các bức tượng Bồ Tát Quán Âm, vị Bồ Tát từ bi vô lượng. Chiếc nơ “trường cửu” lấy hình mẫu từ hình tượng bát tiên (8 vị tiên), tượng trưng cho sự thường chuyển vĩnh cửu mà từ đó vạn vật được sinh thành. Chiếc nơ này tượng trưng cho những mối tương quan bất diệt và là nền tảng của sự biến hóa.

Thoạt nhìn, kết nơ phức tạp, nhưng lại rất đơn giản. Đặc điểm của nó là mỗi chiếc kết đều được kết từ một sợi dây, có tạo hình độc đáo. Nếu kết hợp các kết lại với nhau, trang điểm thêm những vật biểu tượng khác thì sẽ hình thành một đồ mỹ nghệ trang trí truyền thống đa dạng.

Trong khoảng thời gian của thế kỷ 20 vừa qua, và đặc biệt kể từ thời kỳ “Tân Trung Hoa” dưới sự cai trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc, môn nghệ thuật truyền thống này đã bị mất đi tầm quan trọng của nó. Chỉ trong những năm 1990, nghệ thuật kết nơ, cũng như các trang phục thêu truyền thống Trung Quốc mới chứng kiến một sự phục hồi, và những nghệ thuật này kể từ đó đã quay trở lại thịnh hành trên khắp Trung Quốc.

Nghệ thuật kết nơ đã góp phần tạo nên một nền văn hóa Trung Hoa đặc sắc, và đây cũng là một trong những lý do thu hút lượng lớn khách du lịch quốc tế tìm đến khám phá hàng năm. Nếu du khách cũng yêu thích nền văn hóa truyền thống của vùng đất rộng lớn này thì hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! Chúc du khách có một chuyến đi vui vẻ và nhiều điều thú vị!

Thăng trầm ngọc tỷ truyền quốc của Tần Thủy Hoàng

Ngọc tỷ là vật tượng trưng cho quyền lực tối thượng của Hoàng đế và còn được coi là Quốc bảo, nên được cất giữ tôn trọng truyền từ đời này sang đời khác. Muốn củng cố tư cách Hoàng đế của mình, các vua chúa phải nắm được trong tay “Ngọc tỷ truyền quốc”. Một trong những ngọc tỷ nổi tiếng bậc nhất trong lịch sử Trung Hoa chính là “Hòa thị bích” – ngọc tỷ truyền quốc của Tần Thủy Hoàng.

Với 8 chữ triện “受 命 於 天 既 壽 永 昌” (Phiên âm: Thụ mệnh ư thiên, ký thọ vĩnh xương) và chế tác từ khối ngọc quý giá bậc nhất Trung Quốc, Ngọc tỷ truyền quốc của Tần Thủy Hoàng là báu vật mà bất cứ vị hoàng đế nào cũng muốn sở hữu. Là biểu tượng của quyền lực thời phong kiến, ngọc tỷ truyền quốc trải qua nhiều chuyện vô cùng ly kỳ, gắn với sự hưng thịnh và suy vong của nhiều triều đại Trung Hoa.

Ngọc tỷ truyền quốc nguyên là “Ngọc bích họ Hòa” – Quốc bảo của nước Sở thời Chiến Quốc, sau lưu lạc các nước rồi mới được Thủy Hoàng Đế dùng để đẽo ngọc.

Sử cũ kể lại rằng vào thời Xuân Thu, một người đàn ông nước Sở tên là Biện Hòa đã tình cờ nhặt được một viên đá ngọc ở trên núi. Biết đây là vật báu hiếm thấy trên đời nên Biện Hòa đã dâng tặng cho Sở Lệ Vương (trị vì 757-741 TCN).

Không biết là vật gì nên Sở Lệ Vương liền mời chuyên gia về ngọc tới để phân biệt. Tuy nhiên, đáng tiếc là người này không nhận ra đặc điểm của báu vật mà cho rằng đó chỉ là loại đá bình thường thường.

Kết cục bi đát là Biện Hòa mắc tội khi quân và bị nhà vua ra lệnh chặt đứt chân trái. Sau đó, Sở Võ Vương lên ngôi và Biện Hòa lúc này lại tiếp tục dâng tặng đá ngọc quý lên, nhưng nhà vua trẻ cũng cho rằng đó thực chất chỉ là một hòn đá và thế là thêm một lần nữa người đàn ông bị hàm oan và mất tiếp cái chân phải.

Thời gian cứ thể trôi đi cho đến khi Sở Văn Vương lên ngôi, Biện Hòa bấy giờ đã tuổi già sức yếu lại còn bị tàn phế vì mất hai chân, ông ngồi ôm hòn đá quý ngồi dưới chân ngọn Sở Sơn mà gào khóc vô cùng thảm thiết, đến nỗi sau ba ngày ba đêm chảy cả máu mắt ra. Nghe tin lạ này, Văn Vương đã phái người tới để hỏi nguyên nhân, Biện Hòa thưa rằng: “Tôi khóc không phải là thương cho hai chân tôi bị chặt, chỉ thương là ngọc thật mà cho là đá thường và bị xem là kẻ nói đối. Đó là lý do tại sao tôi lại than thở”. Nhà vua nghe xong liền cho ngọc công kiểm tra lại thật kỹ thì quả nhiên đây là viên ngọc bích tinh khiết hoàn hảo, xác thực lời của Biện Hòa là thật. Kể từ đó, viên ngọc quý có tên gọi là “Hòa thị bích” (hay Ngọc bích họ Hòa) và được coi là quốc bảo của nước Sở.

Câu chuyện về nguồn gốc của “Hòa thị bích” có lẽ còn được pha trộn giữa sự thật và truyền thuyết. Quốc bảo này bắt đầu “lưu lạc” khi Sở Thành Vương quyết định ban thưởng cho quan Lệnh doãn Chiêu Dương, người lập công to với nước Sở. Tuy nhiên, không may sau đó Chiêu Dương đã làm mất “Hòa thị bích” và không tìm ra thủ phạm.

Mãi đến năm 283 TCN, không rõ tại sao viên ngọc quý hiếm này lại tái xuất và trở thành quốc bảo của nước Triệu dưới giai đoạn trị vì của Triệu Huệ Văn Vương. Sau đó, câu chuyện về ngọc quý xuất hiện ở nước Triệu truyền đến tai của Tần Chiêu Tương Vương (cụ nội của Tần Thủy Hoàng).

Tần Chiêu Tương Vương lúc đó là viết thư cho Triệu vương và đề nghị dùng tới 15 tòa thành để đổi lấy “Hòa thị bích”. Kết quả là Triệu Vương đồng ý và Lan Tương Như được cử đi sứ sang nước Tần để đổi ngọc lấy thành. Tuy nhiên, sau khi biết được Tần Vương có ý định cướp ngọc mà không muốn đổi thành, Lan Tương Như đã dùng kế dọa đập vỡ “Hòa thị bích”, nhờ vậy mới đưa được báu vật trở về nước Triệu.

Mãi tới năm 228 TCN, khi nước Tần đánh bại nước Triệu thì mới chiếm được “Hòa thị bích”. Sau khi đánh bại 6 nước chư hầu, hoàn thành đại nghiệp thống nhất Trung Hoa, Tần Thủy Hoàng đã ra lệnh cho Tôn Thọ đẽo viên ngọc quý này thành ngọc tỷ truyền quốc vào năm 221 TCN. Tôn Thọ chế ra Ngọc tỷ vuông vức bốn tấc, phía trên khắc hình con rồng cuộn khúc, tinh xảo khéo léo, phía dưới khắc tám chữ triện. Tám chữ này do Thừa tướng Lý Tư viết, chiếu theo ý của Tần Thủy Hoàng: “受 命 於 天 既 壽 永 昌” (Phiên âm: Thụ mệnh ư thiên, ký thọ vĩnh xương). Nghĩa là: Nhận mệnh trời ban, tồn tại mãi mãi / Đế vi Đế, thự thụ cự ký nhĩ chi chân. Kể từ đó, “Hòa thị bích” trở thành Ngọc tỷ truyền quốc của nhà Tần, mang ý nghĩa tượng trưng cho vương triều chính thống, ngôi vị và quyền lực tối thượng của hoàng đế.

Dòng chữ trên ngọc tỷ “Hòa thị bích” thể hiện mong muốn bảo vật này có thể được truyền lại từ đời này sang đời khác, nhưng thật không ngờ, nhà Tần chỉ tồn tại ngắn ngủi. Nhà Tần truyền đến Tần Tử Anh thì diệt vong. Theo Sử ký, gian thần Triệu Cao sau khi giết Tần Nhị Thế từng định mang ngọc tỷ để làm vua nhưng không được quần thần tin phục nên phải lập Tử Anh lên ngôi. Tử Anh giết được Triệu Cao lúc cơ nghiệp nhà Tần đã không thể cứu vãn.

Tháng 10/206 TCN, khi Lưu Bang tiến quân vào Hàm Dương, Tần Tử Anh dùng dây đeo ấn của mình buộc vào cổ, niêm phong ngọc tỷ và phù tiết, đứng ở quỹ đạo chờ dâng cho Lưu Bang để xin hàng. Ngọc tỷ truyền quốc từ nhà Tần chuyển sang nhà Hán (206 TCN) và trở thành ngọc tỷ truyền quốc của triều đại nhà Hán.

Ngọc tỷ truyền quốc được nhà Hán coi là báu vật, giữ trong cung ở Trường An, tượng trưng hoàng quyền, còn khi sử dụng đóng công văn thì dùng 6 loại ngọc tỷ khác nhau: Hoàng đế Hành Tỉ (皇帝行璽), Hoàng đế Chi Tỉ (皇帝之璽), Hoàng đế Tín Tỉ (皇帝信璽), Thiên tử Hành Tỉ (天子行璽), Thiên tử Tín Tỉ (天子信璽), Thiên tử Chi Tỉ (天子之璽).

Năm 8, Hán Đế là Nhũ Tử Anh bị ngoại thích Vương Mãng cướp ngôi. Vương Mãng sai em là An Dương hầu Vương Thuấn vào trong hậu cung ép Thái hoàng Thái hậu Vương Chính Quân, mẹ của Hán Thành Đế và là cô ruột của Vương Mãng, trao Ngọc tỷ truyền quốc cho mình, nhưng Vương Chính Quân từ chối, mắng anh em họ Vương rồi cầm ngọc tỷ truyền quốc ném mạnh xuống đất, khiến cho viên ngọc tỷ này bị sứt một góc. Sau Vương Mãng sai người dùng vàng để khảm lại chỗ sứt đó.

Năm 23, Vương Mãng bị quân khởi nghĩa Lục Lâm đánh bại. Trước khi chết, ông đeo ngọc tỷ trên cổ. Một viên tướng của quân Lục Lâm giết Vương Mãng, đem dâng Ngọc tỷ cho chủ tướng. Đến Nnm 25, Hoàng tộc họ xa của nhà Hán là Lưu Tú đánh bại các lực lượng khởi nghĩa và cát cứ, lập ra nhà Đông Hán, Ngọc tỷ truyền quốc lại trở về tay nhà Hán.

Cuối thời Đông Hán, xảy ra loạn “Thập thường thị” (hoạn quan) và Đổng Trác. Đổng Trác thao túng triều đình, làm nhiều điều ác, các chư hầu họp lại đánh. Năm 190, Đổng Trác bị quân các trấn đánh bại, bỏ kinh thành Lạc Dương, mang Hán Hiến Đế sang Trường An. Trước khi đi Đổng Trác đốt phá kinh thành cũ. Tướng chư hầu là Tôn Kiên tiến vào Lạc Dương bắt được Ngọc tỷ trong giếng Chân Cung.

Các chư hầu chia phe phái đánh lẫn nhau. Năm 191, Tôn Kiên nghe lời Viên Thuật đem quân tiến đánh Kinh Châu, chinh phạt Lưu Biểu, bị tử trận. Con Tôn Kiên là Tôn Sách phải nương nhờ Viên Thuật. Thuật bèn nhân cơ hội vợ Tôn Kiên là Ngô thị đem quan tài chồng về quê, bắt giữ lại và cướp đoạt Ngọc tỷ rồi xưng Đế ở Thọ Xuân (Hoài Nam).

Viên Thuật bị Tào Tháo và Lã Bố đánh bại. Năm 199, Viên Thuật ốm chết. Thủ hạ của Thuật là Từ Lục đem Ngọc tỷ truyền quốc dâng cho Tào Tháo – người đang nắm Hán Hiến Đế sau khi Đổng Trác bị giết. Tào Tháo tuy nắm được Ngọc tỷ nhưng sợ mang tiếng cướp ngôi nhà Hán nên chỉ xưng Vương. Năm 220, con Tào Tháo là Tào Phi lên thay cha, phế vua Hiến Đế lập ra nhà Tào Ngụy, Ngọc tỷ truyền quốc chính thức thuộc về họ Tào.

Năm 265, Tư Mã Viêm ép vua Nguỵ là Tào Hoán phải nhường ngôi, lập ra nhà Tấn, Ngọc tỷ lại rơi vào tay dòng họ Tư Mã.

Nhà Tây Tấn tồn tại 52 năm thì bị diệt vong (316), phải chạy xuống Giang Nam, gọi là Đông Tấn. Lưu Thông nước Hán Triệu của người Hung Nô diệt Tây Tấn, nắm được Ngọc tỷ. Sau đó Hậu Triệu của người Yết diệt Hán Triệu, Ngọc tỷ thuộc về Hậu Triệu của Thạch Lặc.

Năm 352, nước Nhiễm Ngụy diệt Hậu Triệu, Ngọc tỷ lại vào tay vua nước này là Nhiễm Mẫn (người Hán). Nhưng ngay năm đó Mẫn đi đánh Tiền Yên bị tử trận, Thái thú Bộc Dương của Nhiễm Ngụy là Đái Thi đem truyền Quốc Ngọc tỷ hiến cho hoàng đế nhà Đông Tấn. Ngọc tỷ trở về tay người Hán.

Năm 420, Lưu Dụ cướp ngôi nhà Đông Tấn, chiếm được Ngọc tỷ, lập ra nhà Lưu Tống. Từ đó Ngọc tỷ truyền quốc truyền qua các triều đại Nam triều thời Nam Bắc triều là Lưu Tống, Nam Tề, Lương, Trần. Bắc triều không có Ngọc tỷ.

Năm 589, nhà Trần bị nhà Tùy ở Trung nguyên tiêu diệt, Ngọc tỷ truyền quốc lọt vào tay nhà Tùy. Đến năm 617, Tùy Dạng Đế bị Vũ Văn Hóa Cập phát động chính biến giết và chiếm được Ngọc tỷ truyền quốc. Vũ Văn Hóa Cập xưng Đế, lập ra nước Hứa, nhưng chính quyền này chỉ tồn tại có 1 năm sau bị Hạ vương Đậu Kiến Đức đánh bại, bắt và giết ở Liêu Thành. Năm 621, Đậu Kiến Đức bị nhà Đường đánh bại, bị bắt giết ở Trường An, người vợ đem Ngọc tỷ truyền quốc dâng cho Đường Cao Tổ Lý Uyên. Từ đó Ngọc tỷ thuộc về nhà Đường.

Năm 907, Chu Ôn cướp ngôi nhà Đường lập ra nhà Hậu Lương, Ngọc tỷ lại rơi vào tay nhà Hậu Lương.

Qua thời Ngũ đại Thập quốc tới nhà Tống kế tục, Ngọc tỷ thuộc về nhà Tống. Năm 1127, hai vua Tống Huy Tông và Tống Khâm Tông bị quân Kim (người Nữ Chân) bắt đưa về Bắc Kinh, Ngọc tỷ rơi vào tay nhà Kim. Nhà Nam Tống của Triệu Cấu không có Ngọc tỷ truyền quốc.

Năm 1234, nhà Kim bị người Mông Cổ diệt, Ngọc tỷ rơi vào tay nhà Nguyên. Năm 1368, Nguyên Thuận Đế bị Minh Thái Tổ đánh đuổi, cầm Ngọc tỷ chạy lên Mạc Bắc. Nhà Minh làm chủ Bắc Kinh nhưng không nắm được Ngọc tỷ truyền quốc.

Sau này, dòng dõi của Nguyên Thuận Đế là Lâm Đan Hãn chết, Ngọc tỷ được mang dâng cho vua Hậu Kim của người Nữ Chân là Hoàng Thái Cực – con Nỗ Nhĩ Cáp Xích. Từ đó đến khi Hậu Kim đổi thành nhà Thanh và tiến vào Trung nguyên diệt nhà Minh, Ngọc tỷ trong tay nhà Thanh.

Ngọc tỷ truyền quốc truyền đến vua cuối cùng nhà Thanh là Phổ Nghi. Sau Cách mạng Tân Hợi (1911), Phổ Nghi bị phế, Phùng Ngọc Tường lấy Ngọc tỷ giao lại cho một ủy viên cơ quan tiền thân của Bảo Tàng Cố cung.

Có ý kiến cho rằng Ngọc tỷ truyền quốc đã bị thiêu hủy khi Hậu Đường Mân Đế bị Thạch Kính Đường cướp ngôi năm 936 đã cầm Ngọc tỷ nhảy vào lửa tự thiêu và Ngọc tỷ truyền cho nhà Tống sau này chỉ là Ngọc tỷ giả.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về lịch sử triều đại của một đất nước đông dân nhất thế giới này. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn, hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! Chúc du khách có một chuyến đi vui vẻ và thú vị!

“Bữa cơm đoạn đầu đài” dành cho tử tù trước khi bị hành hình trong lịch sử Trung Hoa cổ đại

Theo phong tục có từ thời xưa, tử tù trước khi bị xử trảm sẽ được cho ăn một bữa thịnh soạn no nê, đôi lúc trong những món ăn còn có một miếng thịt sống. Ý nghĩa của tập tục này là gì? Mời du khách cùng chúng tôi tìm hiều qua bài viết này nhé!

Cổ nhân quan niệm rằng, con người ta khi đến thế gian này vốn là không dễ dàng, cho nên lúc rời đi thì càng đàng hoàng càng tốt. Điều này không chỉ đúng đối với những người thuận theo quy luật “sinh lão bệnh tử” mà nó còn đúng cho cả những người phạm tội nặng phải bị xử trảm. 

Thời phong kiến cổ đại đề cao việc “dùng nhân từ để trị”, hết sức coi trọng sinh mạng. Về cơ bản, các quan chức sẽ chọn xử trảm tù nhân sau tiết thu và trước khi bắt đầu mùa đông. Đối với người xưa, “Thu hậu vấn trảm” không chỉ thuận theo thiên thời mà còn là một con đường sống cho các tử tù.

Các tù nhân bị kết án tử ở nhiều vùng khác nhau thường được quan lớn trong triều xem xét lại trước khi hành hình. Nhưng vì việc di chuyển trong thời cổ đại lạc hậu, phải mất vài tháng để chuyển tin tức đến Kinh thành, nên trong quá trình này, người thân của tử tù vẫn còn cơ hội để tìm bằng chứng mới và lật ngược bản án. Chính vì thế, “Thu hậu vấn trảm” cũng ngăn chặn sự bất công ở một mức độ nhất định. Điều này cũng là tuân theo Thiên ý, mùa thu, vào thời điểm này mọi thứ đang dần khô héo, và việc xử tử tội phạm xảy ra là lẽ đương nhiên.

Về ngày xử trảm cũng có nhiều quy định phức tạp, ví dụ như xử trảm phải vào lúc giờ ngọ ba khắc (tức 11 giờ 45), giờ khác ngoài thời điểm này là không phù hợp. Người xưa cho rằng, đây là khoảng thời gian dương khí nhất trong ngày, chọn hành hình vào thời điểm này có thể ngăn chặn quỷ hồn quay trở lại trần gian làm điều không tốt cho người khác.

Trước khi xử trảm những tên tội phạm này sẽ được cho ăn một bữa cơm cuối cùng. Bữa ăn cuối cùng này được gọi là “bữa cơm đoạn đầu đài” hay còn gọi là “bữa cơm từ dương”. Đây là bữa ăn cuối cùng trong cuộc đời tử tù, chính vì thế nha dịch của quan phủ đều cố gắng chuẩn bị thịnh soạn nhất có thể. Trong “bữa cơm đoạn đầu” này ít nhất phải có hai món, thông thường là có thịt, rau, cơm, bánh bao. Tuy nhiên, dù được cung cấp một bữa ăn ngon nhưng hầu hết các tử tù đều không thể nuốt trôi được. Bởi vào thời điểm này họ rất lo lắng, cảm xúc không thường ổn định. Cũng có lúc thì có một vò rượu cho những người thích uống rượu để họ lặng lẽ lên đường trong cơn say.

Người xưa quan niệm không nên làm ma đói nên dù có phạm lỗi gì đi chăng nữa thì khi chết thì coi như đã trả hết nợ, nên bữa cơm ăn no trước khi xử trảm cũng là một thiện chí đối với những người này.

Theo ghi chép lịch sử, “bữa cơm đoạn đầu đài” có sớm nhất vào thời Xuân Thu. Sau khi Sở Trang Vương, một trong 5 vị vua của thời Xuân Thu bình định, dẹp loạn, ông đã tống giam các quan lại và kết án tử hình. Vì muốn thể hiện là một người có tấm lòng rộng lượng, ông ra lệnh khoản đãi những phản thần kia, cho họ ăn thêm bữa trước khi chết, đợi bọn họ sau khi ăn uống no đủ sẽ hành hình, tránh phải làm ma đói dưới âm phủ. Kể từ đó, “bữa cơm đoạn đầu đài” vẫn tiếp diễn, và kéo dài cho đến các triều đại sau này.

Các triều đại khác nhau có quy định về “bữa cơm đoạn đầu đài” khác nhau, nhà Tống quy định rõ ràng, tiền cơm không được ít hơn tiêu chuẩn 5.000 xu. Vào thời điểm đó, số tiền này là một khoản khổng lồ. Dù những quan chức ở các cấp đều biển thủ một ít nhưng số tiền còn lại cho “bữa cơm đoạn đầu” không hề ít.

Vào thời nhà Minh và nhà Thanh, “cơm trảm” có một chút đặc biệt, ngoài đồ ăn chín còn có một miếng thịt sống được đặt trong bát.

Vào thời cổ đại, hầu hết người dân đều tin vào luân hồi và địa ngục, họ tin vào thuyết luân hồi chuyển thế. Tương truyền sau khi bị xử trảm, linh hồn sẽ lìa khỏi xác, bị hắc bạch vô thường áp giải linh hồn về âm phủ, rồi giao cho quỷ đầu bò, mặt ngựa áp giải đến nơi xét xử. Sau khi xét xử họ phải bước qua cầu Nại Hà đến uống canh Mạnh Bà rồi mới chuyển sinh. Bên cạnh cầu Nại Hà luôn có một con chó hung hãn. Một khi hồn ma bị con chó hung ác này nuốt chửng, hồn ma sẽ không thể tái sinh. Vì vậy, viên quản ngục bỏ một miếng thịt sống vào bát của người tù để cho người tù đem xuống âm phủ cho con chó dữ ăn để có thể tái sinh thuận lợi. Cho nên tử tù chẳng những không nổi giận mà còn rất cảm kích khi thấy miếng thịt sống đấy.

Đặt miếng thịt sống vào bát cơm của tử tù tưởng là hành động khinh người của người thời cổ đại nhưng nó có thể làm giảm bớt áp lực tâm lý cho tử tù. Hơn nữa, đây cũng được xem như “lòng nhân đạo” của người xưa.

Thời cổ đại, mọi người chịu ảnh hưởng của Nho giáo rất sâu sắc, do đó các vị Hoàng đế khi cai trị đất nước cũng chú ý ít nhiều đến sự nhân đạo, phép tắc, ngay cả tử tù cũng sẽ để họ được hưởng phẩm giá cuối cùng. Và “bữa cơm đoạn đầu” thời cổ đại chính là biểu hiện của tư tưởng đó.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về lịch sử triều đại của một đất nước đông dân nhất thế giới này. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn, hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! Chúc du khách có một chuyến đi vui vẻ và thú vị!

Tiết Tần – mỹ nhân có cái chết thê thảm nhất thời Bắc Tề trong lịch sử Trung Hoa

Trong lịch sử Trung Hoa cổ đại có hai nữ nhân nhận cái chết thê thảm nhất. Một là Thích Phu Nhân, sủng phi của Hán Cao Tổ Lưu Bang, bà đã bị Lã Hậu giết chết bằng những đòn ghen tuông tàn độc. Người còn lại là Tiết Tần, phi tần của Văn Tuyên Đế Cao Dương. Hôm nay, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về Tiết Tần – nữ nhân mang mệnh khổ, chết không toàn thây lại còn bị rút xương làm đàn tì bà.

Gia tộc Cao thị thời Bắc Tề rất khác biệt với các gia tộc khác. Họ không chỉ không thể trị quốc mà còn hoang dâm vô đạo, giết người tàn bạo. Đó là lý do mà các nhà sử học gọi Bắc Tề là vương triều “cầm thú” đầy dâm loạn.

Văn Tuyên Đế Cao Dương (526-559) là Hoàng đế khai quốc của triều đại Bắc Tề trong lịch sử Trung Hoa. Trong giai đoạn đầu trị vì, Văn Tuyên Đế chú tâm đến các vấn đề quân sự, vì thế sức mạnh quân sự của Bắc Tề lúc này ở vào thời kỳ đỉnh cao. Ông ta cũng cố cân bằng gánh nặng thuế và giảm bớt hủ bại, tham nhũng trong triều bằng cách trả bổng lộc hậu hĩnh cho các quan lại.

Tuy nhiên, về sau Văn Tuyên Đế càng ngày càng trở nên tàn bạo và có các hành vi thất thường do chứng nghiện rượu, khiến triều chính rơi vào hỗn loạn, người người oán hận. Mỗi lần uống rượu say, Văn Tuyên Đế liền trở thành một kẻ sát nhân tàn bạo, chém giết người bừa bãi để mua vui. Do đó, một đại thần có tài tên là Dương Âm đã phải lập ra một nhóm các tù nhân đã bị kết án tử hình để khi Văn Tuyên Đế muốn giết ai đó, thì sẽ đưa một tù nhân trong nhóm đến để Văn Tuyên Đế hành quyết. Nếu tù nhân đó có thể sống sót thì sẽ được phóng thích.

Cao Dương cũng thường bắt dân nữ đưa vào hoàng cung và hưởng lạc cùng thân tín. Tính cách của vị Hoàng đế này có thể được miêu tả bằng chữ “thối nát”. Trong cuốn sử “Tư trị thông giám”, tác giả Tư Mã Quang từng mô tả Văn Tuyên Đế rằng: “Văn Tuyên Đế uống rất nhiều rượu và thích sống phóng đãng, thường thực hiện các hành vi cuồng bạo theo ý muốn nhất thời của mình. Đôi lúc, khi thời tiết ấm áp, ông ta có thể khỏa thân phơi nắng song ngay cả vào mùa đông giá rét, ông ta cũng lột quần áo và chạy khắp nơi. Có lần, ông hỏi một người đàn bà trên đường rằng: “Thiên tử là người như thế nào?”. Người đàn bà đáp rằng: “Điên điên khùng khùng, có Thiên tử nào như vậy đâu”. Tức giận, Văn Tuyên Đế liền ra lệnh chặt đầu người đàn bà”.

Lúc bấy giờ, có một nàng ca kỹ rất xinh đẹp – Tiết Tần – rất được Cao Dương cực kỳ sủng ái. Nhưng ở thời cổ đại, gần vua như gần hổ. Dù được Hoàng đế nhất mực sủng ái Tiết Tần cũng không tránh được cái chết thê thảm.

Tiết Tần có một người em gái cũng xinh đẹp không kém. Cao Dương thường xuyên đến quán rượu của người này và sau đó đã phát sinh tư tình. Em gái của Tiết Tần cũng rất thông minh, dựa vào mối quan hệ này, nghĩ rằng Hoàng đế rất yêu thương mình nên đã cầu xin Cao Dương phong cho cha ruột chức quan Tư Đồ.

Ai ngờ Cao Dương vừa cười vui vẻ đã lập tức cau có nổi giận, hắn chỉ vào em gái của Tiết Tần và nói: “Tư Đồ là chức quan quan trọng trong triều, ngươi muốn xin là xin được sao?”. Nói xong hắn đích thân dùng cưa cưa chết nữ nhân này.

Một thời gian sau, Cao Dương nghi ngờ Tiết Tần và Cao Nhạc (thúc thúc của Cao Dương) có mối quan hệ mờ ám. Không nói không rằng, hắn đã ban rượu độc cho Cao Nhạc, sau đó chặt đầu Tiết Tần chỉ với một nhát dao. Tiếp đó, Cao Dương giấu thủ cấp đầy máu của Tiết Tần trong tay áo rồi đến dự yến hội.

Trên yến hội đêm hôm đó, Cao Dương uống rất nhiều rượu, tinh thần vô cùng sảng khoái. Khi yến hội đến cao trào, hắn rút thủ cấp khỏi tay áo và ném thẳng lên bàn tiệc. Cao Dương còn ra lệnh cho người mang thi thể của Tiết Tần đến trước mặt mọi người. Ông ta thậm chí còn đùa giỡn với thi thể của Tiết Tần khiến tất cả những người dự tiệc đều kinh hãi, rùng mình. Sau đó đoạn chi và rút xương chân ngay tại chỗ, hắn muốn dùng xương chân của Tiết Tần để làm một cây đàn tì bà. Như vậy, Tiết Tần đã trở thành Phi tần đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa cổ đại bị rút xương làm đàn tì bà. Về sau, khi ôm cây đàn tì bà đó, Cao Dương rơi nước mắt mà nói: “Giai nhân nan tái đắc” (Người đẹp khó gặp lại). 

Sau khi biến xương chân của Tiết Tần thành đàn tì bà, Cao Dương đã tổ chức tang lễ cho nàng. Lúc đấy, hắn đi theo đoàn đưa tang và khóc rất to như thể bản thân rất đau lòng.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về lịch sử triều đại của một đất nước đông dân nhất thế giới này. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn, hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! Chúc du khách có một chuyến đi vui vẻ và thú vị!

Mối quan hệ tai tiếng của Minh Hy Tông trong lịch sử Trung Hoa

Việc Hoàng đế nạp Phi tần hơn tuổi có lẽ không phải là trường hợp hiếm gặp trong lịch sử Trung Hoa, thế nhưng thông dâm với nhũ mẫu của chính mình thì có lẽ chỉ có trường hợp của Minh Hy Tông. 

Minh Hy Tông (23/12/1605 – 30/9/1627), tên thật là Chu Do Hiệu, là vị Hoàng đế thứ 16 của nhà Minh trong lịch sử Trung Hoa, trị vì từ năm 1620 đến năm 1627. Trong thời gian tại vị, ông chỉ dùng một niên hiệu là Thiên Khải, nên còn được gọi là Thiên Khải Đế.

Ông là con trai trưởng của Minh Quang Tông – vị Hoàng đế tại vị ngắn nhất trong lịch sử nhà Minh, do ông băng hà chỉ sau 29 ngày tại vị. Còn mẹ của Minh Hy Tông là Hiếu Hòa Hoàng hậu Vương thị. Không may là vị Hoàng hậu này mất sớm, nên từ nhỏ, Chu Do Hiệu đã thiếu bàn tay chăm sóc của mẹ. Vua cha đã phải tuyển lựa nhũ mẫu vào cung để chăm sóc Hoàng tử. Theo sử sách, Chu Do Hiệu có tật rất “kén” vú nuôi. Có đến hàng trăm vú nuôi được đưa vào cung nhưng đều không thể cho Hoàng tử bú được. Chỉ đến khi Khách Thị được đưa vào thì Chu Do Hiệu mới tỏ ra ngoan ngoãn nghe lời. Chỉ đến khi Khách thị (tên thật là Khách Ấn Nguyệt) được đưa vào cung, thì lúc đó Chu Do Hiệu mới chịu ngoan ngoãn nghe lời. Thời điểm đó, Khách thị khoảng 18 tuổi, đã có chồng là một nông dân ở Bảo Định, Hà Bắc và có một đứa con gái. Tuy nhiên, đứa con gái của bà không may qua đời chỉ sau khi sinh khoảng 1 tháng.

Chu Du Hiệu cứ thế lớn lên trong sự chăm sóc của Khách thị. Theo quy định, các nhũ mẫu sẽ phải rời khỏi cung điện trước khi Hoàng tử lên 7 tuổi nhưng điều này không được áp dụng với Khách thị. Càng trưởng thành, Chu Do Hiệu càng quấn quýt hơn với người nhũ mẫu này. Thậm chí, nếu không gặp nhũ mẫu ít nhất một lần một ngày, Chu Do Hiệu sẽ cảm thấy bứt rứt, khó chịu trong người, thành ra dễ cáu giận với nhiều người. 

Vào năm 1620, Minh Quang Tông băng hà, Chu Do Hiệu lên ngôi Hoàng đế khi mới 15 tuổi. Dù đã là vua một nước, nhưng Minh Hy Tông vẫn luôn quấn quýt bên Khách thị như hình với bóng.

Nói Minh Hy Tông có tình cảm với nhũ mẫu Khách thị cũng chẳng có gì sai, khi ông là do một tay người phụ nữ này nuôi lớn. Tuy nhiên, tình cảm đấy không đơn thuần là tình thương như con dành cho mẹ mà là của những cặp tình nhân đối đãi với nhau. Thậm chí, các nhà sử gia còn khẳng định rằng chắc chắn giữa Minh Hy Tông và Khách thị có chuyện ân ái chăn gối. Bởi lẽ, khi Minh Hy Tông lên ngôi vua, Khách thị đã trên dưới 40 tuổi nhưng bà vẫn đẹp tựa mỹ nhân 28 tuổi, khiến Hy Tông đang độ tuổi xuân thì mê mẩn. Hơn nữa, dù là gái góa chồng nhưng vốn xinh đẹp lẳng lơ nên chưa bao giờ Khách thị tự coi mình là nhũ mẫu của Hy Tông. Theo sử liệu ghi chép, mỗi sáng sớm, Khách thị đều tới tẩm cung của Hy Tông để hầu hạ vua cho tới nửa đêm mới về.

Chính vì có tình ý với nhũ mẫu nên khi Minh Hy Tông lên ngôi Hoàng đế chưa được bao lâu, ông đã phong cho Khách thị làm Phụng Thánh phu nhân, lại ấm phong cho con trai của họ Khách là Hầu Hưng Quốc chức Cẩm Y Vệ chỉ huy sứ, sai bộ Hộ chọn 20 mẫu đất tốt ban cho họ Khách làm ruộng hương hỏa. Việc gia phong quá hậu hĩnh cho một người vú nuôi như vậy đương nhiên gặp phải sự phản đối kịch liệt từ phía các đại thần. Để dẹp yên dư luận, Minh Hy Tông ra một chỉ dụ nói rất rõ công đức không ai có thể sánh bằng của Khách thị.

Với chỉ dụ này, Khách thị từ một người dân thường đã trở thành một phu nhân cao quý, có thể hưởng hết những vinh hoa phú quý của thế gian. Tuy nhiên, việc phong tước vị cho Khách thị không phải là ân sủng cuối cùng của Minh Hy Tông dành cho người vú nuôi của mình. Càng về sau, Minh Hy Tông càng sủng ái Khách thị hơn, thậm chí tới mức nhiều sử gia hiện nay cũng cảm thấy không thể lý giải nổi.

Mùa đông năm 1620, Khách thị chuyển vào sống ở phía tây của cung Càn Thanh, Hoàng đế Hy Tông tới nơi chúc mừng. Hoàng đế thưởng yến, Tư Chung Cổ dẫn đầu các thái giám đứng ra diễn trò, Hoàng đế rất lấy làm vui nên cho phép Khách thị từ nay có thể ra vào cung bằng kiệu nhỏ, tự mình lựa chọn thái giám trong cung làm người khiêng kiệu, mọi lễ nghi đều không khác gì Phi tần.

Năm Thiên Khải thứ 2, Khách thị phụng chỉ chuyển tới cung Hàm An, thế lực càng lớn hơn. Minh Hy Tông ban Khách thị các thái giám Thôi Lộc, Hứa Quốc Ninh… hơn 10 người, cộng thêm những kẻ khác tự nguyện tới phục vụ chăm sóc cho có tới cả trăm. Mỗi lần tới sinh nhật của Khách thị, Hoàng đế đều tự tới nơi để chúc mừng, ban thưởng vô số.

Tiền lương bổng dùng ở chỗ Khách thị có khi còn được hối thúc gấp hơn cả ở chỗ của Hoàng đế. Mặc dù đã là Phụng Thánh phu nhân, ăn bổng lộc của Hoàng đế, tuy nhiên, cơm nước của Hy Tông vẫn do Khách thị đứng ra lo liệu. Mỗi ngày ba bữa, Hoàng đế ăn không hết ngự yến đều ban xuống cho Khách thị. Một ngày ba bữa nội thị mang đồ ăn trong cung phải đi lại không ngớt giữa hai nơi.

Dựa vào tình cảm của Minh Hy Tông, Khách thị lấy đó để gây sóng gió trong hậu cung và đã có những cơn ghen vô cớ đối với các Phi tần được Minh Hy Tông sủng ái. Nhiều Phi tần đã bị Khách Thị đánh ghen, thê thảm nhất chính là Trương Dục Phi. Ngày đó, Trương thị nhập cung làm cung nữ lúc mới 6 tuổi, tới khi 17 thì lọt vào mắt xanh của Hoàng đế, được nạp làm phi tần và may mắn mang thai rồi thăng cấp làm Dục Phi.

Khách thị thấy thế thì ghen ghét điên cuồng, bà bày kế hãm hại Dụ Phi tội khi quân rồi đày vào lãnh cung, không được tiếp thức ăn, nước uống. Cuối cùng, Trương Dục Phi tội nghiệp dù mang long thai vẫn chết thảm khi mới 18 tuổi. Không những thế, Dục Phi còn bị táng dưới phận cung nữ, tận đến đời sau mới được khôi phục danh dự.

Không chỉ Trương Dục Phi, Khách thị còn ngấm ngầm ra tay sát hại nhiều Hoàng tử, Công chúa khác, thậm chí tới cả Hiếu Ai Triết Hoàng hậu Trương thị cũng bị nằm trong số đó. Vào năm 1623, Hoàng hậu có thai nhưng do luôn đối đầu với Khách thị và đại hoạn quan Ngụy Trung Hiền – kẻ “ngồi cùng thuyền” làm khuynh đảo triều Minh với Khách thị – nên Hoàng hậu bị hai kẻ này hãm hại. Đứa trẻ chết trong bụng mẹ và sau được truy phong làm Hoài Xung thái tử Chu Từ Nhiên.

Tuy nhiên, dù được Minh Hy Tông sủng ái đến đâu thì rốt cuộc, Khách Thị tới cuối đời vẫn chỉ mang phận vú nuôi hèn kém và chưa một lần được xướng vào hàng Quý phi danh giá cao sang, thậm chí đã bị xử tử.

Ngày 30/9/1627, Minh Hy Tông qua đời khi chỉ vừa 21 tuổi. Em út của ông lên nối ngôi, đó là Hoàng đế Minh Tư Tông. Lúc này, Minh Tư Tông ra lệnh đày Ngụy Trung Hiền đến Phụng Dương. Đi được nửa đường, Hoàng đế Minh Tư Tông lại ra lệnh bắt lại Ngụy Trung Hiền với cáo buộc mưu phản. Ngụy Trung Hiền khi đó biết mình cùng đường, quyết định tự sát (thắt cổ) thay vì đối mặt với phiên tòa xét xử và bản án tử hình. Dù vậy, nhưng Ngụy Trung Hiền sau đó bị phanh thây và đem bêu xác trước làng quê của ông ta để thị chúng, kết thúc tham vọng vương quyền đáng sợ của hoạn quan họ Ngụy khiến nhiều người vô tội phải chết oan uổng.

Sau khi Ngụy Trung Hiền chết, Minh Tư Tông tiếp tục công cuộc thảo phạt bè đảng hoạn quan trong triều đình, bắt đầu một cuộc thanh toán trên quy mô lớn đối với những viên thái giám có manh nha chống đối triều đình. Cùng với đó là Khách thị, gia quyến họ Ngụy và họ Khách, những người cùng cánh với Ngụy, Khách lần lượt bị hạ lệnh bắt và xử tử.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về lịch sử triều đại của một đất nước đông dân nhất thế giới này. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn, hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! Chúc du khách có một chuyến đi vui vẻ và thú vị!

Nguyên nhân các Phi tần Trung Hoa không được phép trực tiếp nuôi dưỡng con ruột

Quy định của triều đại nhà Thanh trong việc nuôi dạy các Hoàng tử, Công chúa vô cùng khắt khe. Theo đó, không ai được phép nuôi dạy con ruột của chính mình kể cả Hoàng hậu. Tại sao lại như vậy? Mời du khách cùng chúng tôi tìm hiểu lý do nhé!

Trong lịch sử phong kiến Trung Hoa, những tiểu Hoàng tử, Công chúa ngay từ khi lọt lòng đã sống trong nhung lụa, tuy nhiên, họ lại không có được niềm hạnh phúc được được lớn lên trong vòng tay chăm sóc, yêu thương của mẹ đẻ. Bởi tất cả họ phải được nuôi dưỡng bởi các “Nãi ma”, còn gọi là Nãi nương, Nãi tử, Nhũ mẫu, Nhũ nương,… Công việc chính của những nữ nhân này là cho Hoàng tử và Công chúa bú sữa. Điều này khiến không ít người phải thắc mắc, tại sao các Hoàng đế lại không cho phép phi tần đích thân cho con ruột của mình uống sữa mà phải tìm nhũ mẫu? Nguyên nhân đơn giản nhưng lại phản ánh tâm tư thâm sâu của Hoàng đế.

Trước hết, trên thực tế, nữ nhân duy nhất trong hậu cung được Hoàng đế công nhận thật sự là Hoàng hậu. Những Phi tần khác dù có được nhiều sủng ái nhưng địa vị của họ hoàn toàn không sánh bằng Hoàng hậu. Thậm chí khi những Phi tần bình thường sinh con, Hoàng đế sẽ không cho phép Phi tần đích thân nuôi con mà đều được nuôi dưỡng dưới danh nghĩa Hoàng hậu hoặc một số vị Phi có địa vị cao trong hậu cung. Và để đảm bảo sinh hoạt thường ngày của các tiểu Hoàng tử, tiểu Công chúa, trong hoàng cung sẽ có những vị nhũ mẫu đặc biệt.

Tiếp theo đó, do điều kiện sống thời cổ đại không tốt, dù quyền cao chức trọng hay cực kỳ nhiều tiền, những gia đình giàu có, thậm chí là các Phi tần cũng không thể đảm bảo sau khi sinh song sức khỏe sẽ bình thường và người mẹ sẽ có đủ sữa để cho con bú. Để con có thể ăn no, tốt nhất nên thuê “vú nuôi”.

Thứ ba, thời cổ đại, phụ nữ nói chung coi chồng là tất cả, là bầu trời. Sau khi sinh xong mà mải chăm sóc con, không hầu hạ chồng thì sẽ có tội, mang lỗi. Ngoài ra, đàn ông luôn có nhiều thê thiếp, nên bị thất sủng là điều rất đáng sợ với phụ nữ thời xưa. Khi có vú nuôi chăm sóc con cái, phụ nữ sau sinh mới có thể bồi bổ sức khỏe, chăm sóc nhan sắc, chuyên tâm cung phụng, hầu hạ và lấy lòng chồng mình.

Hơn nữa, hầu hết các Phi tần hậu cung đều dựa vào nhan sắc mới có được ân sủng của Hoàng đế. Nhưng ai cũng biết rõ, sau khi sinh con, thân thể của các Phi tần đều sẽ có sự biến đổi. Lúc đó, nếu tiếp tục đích thân cho con bú thì rất có thể sẽ khiến sức khỏe lẫn hình thể xấu đi. Vì vậy, để đảm bảo vinh sủng về sau của mình, các Phi tần cũng sẵn sàng để nhũ mẫu giúp mình chăm con.

Cuối cùng là một nguyên nhân quan trọng hơn, đó là Hoàng đế muốn tránh tình trạng Hoàng tử dựa vào thế lực ngoại thích của mẹ ruột. Thực tế, gần như các vị Hoàng tử đều tham gia các cuộc đấu tranh giành ngôi báu. Tuy nhiên, ngôi Hoàng đế chỉ có một, chính vì vậy mà họ sẽ không ngần ngại dùng mọi nguồn lực xung quanh mình, trong đó có sự ủng hộ của mẹ ruột, và khi thừa kế ngai vàng Hoàng đế đó sẽ không dành quá nhiều ân sủng cho mẹ, tránh sự lộng quyền của hoàng thân quốc thích đối với việc triều chính. 

Từ những nguyên nhân trên có thể thấy rõ tâm tư của Hoàng đế, điều này không chỉ đảm bảo sự ổn định ở hậu cung mà còn có thể khiến các Phi tần xung quanh Hoàng đế có thể kéo dài dung mạo trẻ trung. Quan trọng nhất là việc để nhũ mẫu trực tiếp nuôi dưỡng Hoàng tử, Công chúa rất quan trọng với vấn đề thừa kế ngôi vàng.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về lịch sử triều đại của một đất nước đông dân nhất thế giới này. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn, hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! Chúc du khách có một chuyến đi vui vẻ và thú vị!

Nụ cười của một mỹ nhân làm diệt vong một triều đại trong lịch sử Trung Hoa

Trên đời này chỉ có một mỹ nhân với nụ cười hiếm hoi khiến cho vương triều diệt vong, đó chính là Bao Tự. Nàng mang vẻ đẹp “hồng nhan họa thủy”, là Vương hậu của Chu U Vương trong lịch sử Trung Hoa cổ đại.

Theo phong tục của người Hoa, ngày “Tam Nương” là khoảng thời gian đem lại sự xui xẻo cho gia chủ, một tháng sẽ có một tháng có 6 như vậy, tính theo lịch âm là các ngày 3, 7, 13, 18, 22, 27. Những ngày đó chính là ngày sinh và mất của 3 đại mỹ nhân đã khiến cả một vương triều sụp đổ, gồm có Muội Hỉ, Đắc Kỷ và Bao Tự.

Trong khi Muội Hỉ và Đắc Kỷ đều khiến vị Vua của mình yêu say đắm và bỏ bê việc nước, lũng đoạn triều đình, thì có lẽ Bao Tự là trường hợp đặc biệt nhất khi nàng gần như chẳng cần phải làm gì, chỉ cần cười cũng khiến cả vương triều nhà Chu phải diệt vong. 

Bao Tự, hay Tụ Tự hoặc Ly Bích, là Vương hậu thứ hai của Chu U Vương, vị Thiên tử cuối cùng của giai đoạn Tây Chu trong lịch sử Trung Hoa. Bao Tự là một mỹ nhân cực kỳ xinh đẹp và quyến rũ, khiến Chu U Vương mê đắm.

Bao Tự là người nước Bao (nay là khu vực Hán Trung, tỉnh Thiểm Tây), họ Tự. Cũng như hầu hết phụ nữ thời Tiên Tần, phụ nữ nước này được gọi bằng tên nước nơi mình sinh ra kèm theo họ gia tộc đằng sau, do đó nàng được gọi luôn là Bao Tự. Một số phụ nữ nổi bật có thuỵ hiệu sẽ được gọi theo thứ tự: nước – hiệu – họ, ví dụ như Tề Văn Khương, trong đó “Tề” là nước bà sinh ra, “Văn” là hiệu, còn “Khương” là họ gia tộc của Tề vương.

Nguồn gốc của Bao Tự được Sử ký Tư Mã Thiên ghi lại mang màu sắc truyền thuyết. Đông Chu Liệt Quốc của Phùng Mộng Long cũng thêm bớt một vài tình tiết nhưng về đại thể vẫn giữ nét truyền thuyết đó. Chu bản kỉ trong Sử ký Tư Mã Thiên chép:

“Thời Hạ Hậu thị (nhà Hạ) suy vi, có hai con rồng thần vào sân đình của vua tự xưng là vua nước Bao. Triều đình bèn tế lễ, rồng thần nhả lại dãi và được lưu vào hộp gỗ. Từ đời nhà Hạ qua đời nhà Thương không ai dám mở hộp dãi rồng. Đến thời Chu Lệ Vương mở hộp ra xem, nước dãi biến thành con thằn lằn đen chạy vào hậu cung, làm một cung nữ mới 12 tuổi mang thai. Sau 38 năm, người cung nữ đó sinh ra một bé gái đẹp như thiên thần, sợ là vật tai dị nên vứt đứa trẻ xuống sông Thanh Thủy.

Thời Chu Tuyên vương, có câu đồng dao: “Gỗ dâu làm cung, gỗ cơ làm bao, bao đựng tên sẽ diệt nhà Chu”. Một đôi vợ chồng không biết có lệnh cấm bán gỗ dâu và gỗ cơ, mang ra chợ bán liền bị triều đình truy bắt. Họ chạy trốn giữa đường thì gặp đứa trẻ bị thả trôi sông, bèn ôm mang theo đến Bao quốc. Khi người nước Bao có tội, bèn lấy một cô gái dâng hiến cho Chu U Vương chuộc tội. Cô bé lớn lên chính là Bao Tự”. Cũng từ đây, cuộc đời nàng Bao Tự sang một trang mới, bắt đầu kéo theo những sóng gió cho nhà Chu.

Từ khi nhập cung, Bao Tự được Chu U Vương sủng ái bởi nàng là một mỹ nhân duyên dáng, xinh đẹp tuyệt trần. Nhưng khổ thay, Bao Tự không bao giờ cười và điều này làm Chu Ung Vương rất là đau lòng, tìm mọi cách để khiến nàng cười.

Một trong những cách vua dùng để “mua” nụ cười của nàng Bao Tự đó là xé lụa. Chuyện kể rằng, khi Chu U Vương dò hỏi mãi về chuyện nàng không chịu cười, Bao Tự đã nói: “Tiện thiếp chẳng thiết gì cười. Hôm trước có người xé lụa, nghe tiếng cũng lấy làm vui”. U Vương như bắt được vàng, ông bèn truyền lệnh cho viên quan giữ kho mỗi ngày phải dâng vào cung 100 tấm lụa rồi sai cung nữ đứng xé. Dù phải bỏ cả ngàn vàng để mua một nụ cười của mỹ nhân nhưng khi hàng ngàn tấm vải lụa bị xé nát tan, nàng Bao Tự mới chỉ tươi vui hơn một chút chứ vẫn chưa chịu nhoẻn miệng cười với nhà vua.

Không chịu thua cuộc, vị vua mê gái đã tuyên bố sẽ tìm cách để làm ái khanh cười. Ông bèn truyền cho quần thần xem ai có cách gì làm Bao Tự cười thì sẽ được thưởng. Trong đó có một viên quan đã hiến kế giả đốt lửa báo tin có giặc. Kế sách này đã chinh phục được nụ cười của Bao Tự nhưng chính nó lại khiến vua mất nước.

Sử sách chép lại, một hôm Chu U Vương dắt Bao Tự đến đài phong hỏa Ly Sơn chơi. Thời đó, đài phong hỏa là công trình để truyền tin tức chiến tranh, có binh sĩ đóng ở đó suốt ngày, nếu có địch xâm phạm biên giới, binh sĩ sẽ đốt khói lửa ngay, truyền tin báo động. Và khi kinh đô bị đe dọa thì đài phong hỏa Ly Sơn đốt khói lửa làm hiệu truyền tin cho các nước chư hầu biết để đem quân đến giúp đỡ.

Bao Tự không tin rằng chỉ cần một ngọn lửa như thế mà quân ở các nước chư hầu cách xa cả nghìn dặm sẽ đến kịp thời. Và để chứng minh cho Bao Tự thấy, cũng là để nàng nở nụ cười hiếm hoi, Chu U Vương đã lập tức sai quân đốt lửa ngay. Quân chư hầu mấy nước lân cận trông thấy các cột lửa cháy, ngỡ là có giặc bèn mang quân ứng cứu. Đến kinh thành, thấy mọi người vẫn đi lại bình thường, không có giặc giã gì, Chu U Vương thì đang uống rượu mua vui với Bao Tự nên các chư hầu ngơ ngác nhìn nhau, biết là mình bị vua đùa giỡn. Bao Tự ở trên đài, tận mắt trông thấy các chư hầu ngày thường phong độ, giờ ai cũng ngơ ngác, lúng túng đã không nhịn được cười. Nhìn Bao Tự cười khanh khách, Chu U Vương vô cùng vui sướng. Sau này, để mang tiếng cười cho người đẹp, Chu U Vương thi thoảng lại thắp tháp dầu và các chư hầu lại bị lừa.

Chu U vương say mê Bao Tự, xa lánh vương hậu họ Thân. Con trai của Bao Tự được U vương rất yêu quý, định lập làm Thái tử và muốn phế truất thái tử Nghi Cữu. Cha Thân Hậu bèn liên hệ với quân Khuyển Nhung bên ngoài kéo vào đánh úp Cảo Kinh.

Chu U Vương vội cho đốt lửa hiệu triệu chư hầu tới cứu, nhưng các chư hầu cho rằng lần này cũng là trò đùa nên chẳng chút bận tâm. U Vương mang Bao Tự và con nhỏ bỏ chạy, bị quân Khuyển Nhung đuổi theo giết chết. Riêng Bao Tự bị vua Khuyển Nhung bắt về cung để mua vui.

Quân Khuyển Nhung cướp phá giết người kinh thành. Thân Hậu ân hận mang họa cho dân Cảo Kinh bèn viết thư triệu các nước chư hầu Tấn, Tần, Trịnh đến đánh quân Khuyển Nhung. Quân ba nước kéo đến đánh tan quân Nhung. Vua Nhung bỏ chạy. Bao Tự thấy quân các nước kéo vào cung bèn thắt cổ tự vẫn, kết thúc một đời mỹ nhân làm khuynh quốc khuynh thành.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về lịch sử triều đại của một đất nước đông dân nhất thế giới này. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn, hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! Chúc du khách có một chuyến đi vui vẻ và thú vị!

Hiếu Trang Duệ Hoàng hậu dù bị mù nhưng vẫn được hoàng đế sủng ái cả đời

Nhắc đến vị trí mẫu nghi thiên hạ, người ta thường nghĩ ngay tới những người phụ nữ sắc nước hương trời mới có thể được Hoàng đế sủng ái, hết mực yêu chiều. Tuy nhiên, Hiếu Trang Duệ Hoàng hậu lại là một ngoại lệ. Mặc dù bà bị mù một bên mắt, tàn phế một chân nhưng vẫn được Hoàng đế Minh Anh Tông yêu thương trân trọng cả đời.

Hiếu Trang Duệ Hoàng hậu hay Tiền Hoàng hậu (02/8/1426 – 15/7/1468) là Hoàng hậu duy nhất của Minh Anh Tông Chu Kỳ Trấn và là đích mẫu của Minh Hiến Tông Chu Kiến Thâm.

Hiếu Trang Duệ Hoàng hậu mang họ Tiền, nguyên quán ở vùng Hải Châu. Tuy ghi chép gia cảnh hàn vi, nhưng “hàn vi” của nhà quan trường so với nhà bình dân học vụ thì cũng rất khác biệt. Ông cố nội là Tiền Chỉnh, phục vụ Minh Thành Tổ khi còn là Yên vương, nhậm “Yên Sơn hộ vệ Phó thiên hộ”, ông nội Tiền Thông làm quan đến “Kim Ngô Hữu vệ Chỉ huy sứ”, cha bà là Đô đốc đồng tri Tiền Quý, một tước quan võ hàng Chính nhị phẩm, từng nhiều lần cùng Thành Tổ và Minh Tuyên Tông tòng giá Bắc chinh. Vào thời điểm Tiền thị trưởng thành thì Tiền Quý đã là “Trung phủ Đô đốc đồng tri”.

Mùa xuân năm Chính Thống thứ 7 (1442), Tiền thị thông qua tuyển mỹ nhập cung, được Trương Thái hoàng Thái hậu chọn làm Hoàng hậu. Khi đó, Minh Anh Tông 15 tuổi, còn Tiền thị 16 tuổi.

Minh Anh Tông là Hoàng đế đầu tiên của nhà Minh đăng cơ khi tuổi còn nhỏ, khi chỉ vừa 9 tuổi. Do vậy, vị thê tử nguyên phối của ông chính là Hoàng hậu chính thức đầu tiên, không phải do sách phong từ vị trí Thái tử phi hay Vương phi hoặc tần phi. Bà nội của Anh Tông, Trương Thái hoàng Thái hậu là một người phụ nữ kiệt xuất, khi bà giúp chồng Minh Nhân Tông Chu Cao Sí giữ vững vị trí Thái tử, phò trợ con trai Minh Tuyên Tông và giờ là cháu trai. Từ vị trí của mình, bà biết rõ vị trí Hoàng hậu có ảnh hưởng đến thế nào đối với Hoàng đế, vì vậy việc tuyển chọn cháu dâu do đó cũng rất tỉ mỉ.

Tiền thị khi đó so với những mỹ nhân tham gia tuyển cùng không phải có xuất thân quá nổi bật hay vẻ đẹp sắc nước hương trời, tuy nhiên, Trương Thái hoàng Thái hậu đã cảm nhận được nhân phẩm xuất chúng của bà.

Minh Anh Tông có được người vợ thông tuệ, hết mực nết na thì rất vui sướng. Hai người sống những ngày tháng tân hôn vô cùng hạnh phúc và vui vẻ.

Một lần, Minh Anh Tông chợt để ý rằng gia tộc của Hoàng hậu đều chỉ giữ những chức quan khá tầm thường, không quan trọng. Thế nên, ông muốn cất nhắc, phong tước một số người trong gia tộc Tiền thị để Hoàng hậu được nở mày nở mặt. Thế nhưng khi nhà vua đề cập việc này với Hoàng hậu thì bà ngay lập tức từ chối. Bà nói rằng, trong gia tộc, chưa ai có công lao, đóng góp to lớn trong triều đình hoặc có tài năng xuất chúng để xứng đáng được phong tước cả. Về sau, nhà vua cũng nhắc lại việc này thêm vài lần nữa và lần nào Hoàng hậu cũng một mực khước từ, qua đó mà Minh Anh Tông càng hiểu thêm về tấm lòng và tính cách công bằng, chính trực của bà. Bà cũng rất thông cảm chuyện nạp phi, nên không bao giờ ngăn cản Minh Anh Tông sủng hạnh phi tử, do vậy số con cái của Anh Tông khai chi tán diệp cũng không tệ. Tình cảm Đế – Hậu từ đó mà càng trở nên sâu nặng, thắm thiết.

Chỉ có một điều đáng tiếc, đó là dù Minh Anh Tông hết mực sủng ái và rất mong chờ, nhưng Tiền Hoàng hậu vẫn không thể sinh cho ông một vị Hoàng tử nào, trong khi các phi tần khác đều liên tục sinh nở. Nhà Vua ngày đêm mong ngóng, không phải vì muốn có Đích tử mà sợ rằng nếu truyền ngôi vị cho Hoàng thứ tử, thì sinh mẫu sẽ lạm quyền, ức hiếp Tiền Hoàng hậu.

Năm Chính Thống thứ 14 (1449), xảy ra Sự biến Thổ Mộc bảo. Lúc đó, Minh Anh Tông thân chinh cầm quân xuất trận để bảo vệ bờ cõi trước sự xâm lược của các bộ lạc Mông Cổ. Ông để cho em trai Chu Kỳ Ngọc ở lại trấn thủ kinh thành. Thái giám Vương Chấn khi ấy ngang nhiên mượn danh Hoàng đế chỉ huy quân đội tùy tiện, phong tỏa hết thảy những thông tin bất lợi với Minh Anh Tông khiến quân nhà Minh liên tiếp bại trận, thương vong vô số.

Mãi cho đến khi thấy tình hình chiến sự trở nên vô cùng bất lợi, Vương Chấn bèn tìm cách thoát li khỏi nhà vua, thế nhưng trên đường tẩu thoát, hắn bị quân Mông Cổ bắt được và giết chết. Về phần Minh Anh Tông, ông bị bắt giữ làm con tin.

Ngày 18/8, tin tức Minh Anh Tông bị bắt lan đến kinh thành. Trong triều chấn động, Tôn Thái hậu mệnh Thành vương Chu Kỳ Ngọc giám quốc, lại huy động các quan công khanh vơ vét tài sản để chuộc Hoàng đế. Tiền Hoàng hậu bán hết tài sản riêng, cốt để mong chuộc được Minh Anh Tông. Nhưng Khả Hãn Mông Cổ là Dã Tiên lại thấy có thể lấy Minh Anh Tông uy hiếp nhà Minh, vừa có thể mượn sức nhà Minh hoàn thành việc thống nhất Mông Cổ, lại có thể uy hiếp đến Bắc Kinh. Trước tình thế đó, ngày 6/9, Tôn Thái hậu gấp gáp khuyên mời Thành vương Chu Kỳ Ngọc lên ngôi, tức Minh Đại Tông, còn Minh Anh Tông trở thành Thái thượng hoàng nhằm ổn định tình hình, tổ chức đánh trả quân Mông Cổ.

Nhận được hung tin chồng bị bắt làm tù binh, anh trai Tiền Khâm và em trai Tiền Chung cũng tử trận, Tiền Hoàng hậu đau đớn đến độ chỉ muốn chết đi. Điều duy nhất mà Tiền hậu có thể làm đó là ngày ngày quỳ gối dập đầu trước Phật, thành tâm khẩn cầu hi vọng trượng phu có thể bình an trở về. Suốt một thời gian dài cầu khấn, mùa đông với cái lạnh cắt da cắt thịt đã khiến tình hình sức khỏe của Tiền Hoàng hậu suy giảm đến mức không thể tự đứng dậy được. Không ngừng quỳ lạy bất kể ngày đêm, không ngừng khóc thương người chồng đang bị bắt, vậy nên một chân bà đã bị thương nặng dẫn đến tàn phế, một bên mắt cũng đã bị mù. Năm đó, bà mới chỉ 24 tuổi.

Có lẽ tấm lòng son sắt, kiên trinh của Tiền Hoàng hậu đã lay động trời xanh nên Minh Anh Tông cuối cùng cũng được quân Mông Cổ trao trả cho nhà Minh. Năm đầu Cảnh Thái (1450), ngày 3/8, Minh Anh Tông từ Mạc Bắc trở về kinh, được tôn làm Thái thượng hoàng và bị giam lỏng ở Nam Cung. Gặp lại Tiền thị, Minh Anh Tông không khỏi xót xa. Bà giờ đã tàn phế, dung mạo tiều tụy nhưng tấm chân tình của bà vô cùng đáng quý. Lúc này, Tiền Hoàng hậu dọn đến Nam Cung để sống cùng trượng phu của mình, thậm chí phải có lúc bán đồ thêu để có tiền sinh sống qua ngày.

7 năm sau (tháng Giêng, năm Cảnh Thái thứ 8 – 1457), Minh Đại Tông bạo bệnh qua đời. Ngày 17 tháng Giêng, Minh Anh Tông lần nữa lại lên làm hoàng đế.

Hoàng đế phục vị, vì vậy cần sắc phong một vị Hoàng hậu mới. Mọi người đều nghĩ Chu Quý phi, người đã sinh ra trưởng tử Chu Kiến Thâm sẽ ngồi lên ngôi vị Hoàng hậu. Thành thật mà nói, so với Tiền thị tàn tật, không sinh cho nhà vua một đứa con nào thì Quý phi Chu thị có ưu thế hơn hẳn: không những có nhan sắc mà lại sinh cho nhà vua đến 3 Hoàng tử, trong đó con trai của Chu Quý phi là Chu Kiến Thâm đã được phong làm Hoàng thái tử. Bản thân Chu Quý phi sinh hạ Hoàng thái tử nên cũng nôn nóng muốn trở thành Hoàng hậu. Nhìn thấu được dã tâm của Chu thị, Anh Tông vẫn kiên quyết giữ Tiền thị làm Hoàng hậu. Với ông, tình nghĩa sâu nặng và tấm lòng sắt son của Tiền thị vượt lên trên tất thảy những tính toán thông thường. Dù rằng bà không có con nhưng sự trân quý của nhà vua dành cho bà chưa khi nào suy chuyển. Chu Quý phi tham vọng cũng vì thế tiêu tan.

Tháng 12, năm Thiên Thuận thứ 8 (1464), Minh Anh Tông đã mắc bệnh nặng. Đến ngày 6 tháng Giêng, đã không thể thượng triều, phải truyền Thái tử đến Văn Hoa điện xử lý quốc sự. Ngày 16 tháng ấy, Minh Anh Tông trước mặt bá quan công bố di chiếu, rồi băng hà. Di chiếu cho Hoàng thái tử Chu Kiến Thâm kế vị, tức Minh Hiến Tông.

Minh Anh Tông từ trước đã không vừa mắt Chu Quý phi, nhưng vì địa vị của Thái tử mà bỏ qua không so đo, cũng một phần vì không nghĩ mình sẽ qua đời sớm. Vào lúc này, Minh Anh Tông sợ mình băng hà thì Chu phi sẽ gây khó dễ Tiền Hoàng hậu, nên trước khi lâm chung đã nói với Thái tử: “Hoàng hậu danh vị đã định, phải tẫn hiếu thiên niên”. Nhưng Minh Anh Tông chính là không yên tâm Chu phi sẽ tác oai tác oái, khiến Thái tử sợ mẹ mà làm bậy, bèn quyết định kéo tay Đại học sĩ Lý Hiền mà dặn dò: “Sau khi Tiền hoàng hậu thiên thu, phải cùng Trẫm hợp táng!”. Đại học sĩ Lý Hiền khóc không thành tiếng, cũng lấy lời này viết lên di chiếu.

Năm Thành Hóa nguyên niên (1465), tháng 3, tức 2 tháng sau khi Minh Anh Tông băng hà, triều thần tôn Tiền Hoàng hậu là Hoàng Thái hậu, gọi là Từ Ý Hoàng Thái hậu, còn Chu Quý phi cũng được tôn là Hoàng Thái hậu nhưng không có tôn hiệu.

Ngày 26 tháng 6 (âm lịch), năm Thành Hóa thứ 4 (1468), Tiền Thái hậu qua đời, thọ 42 tuổi. Theo di chiếu cũng như quy tắc đích – thứ, Tiền Thái hậu là người duy nhất có thể “hợp song táng” cùng Minh Anh Tông vào Dụ lăng.

Nhưng quyền lợi đáng có này của Tiền Thái hậu khiến Chu Thái hậu tức giận, yêu cầu Minh Hiến Tông xây chỗ khác mà an táng Tiền Thái hậu, chỉ một mình Chu Thái hậu tương lai có thể hợp táng với Anh Tông. Hiến Tông răm rắp nghe theo mẹ đẻ, tìm đủ loại lý do để không theo di chiếu của Tiên hoàng. Sự việc này khiến hơn 99 đại thần, đứng đầu là Đại học sĩ Bành Thời liền thượng tấu về chuyện phải hợp táng Tiền Thái hậu cùng Minh Anh Tông như di chiếu. Chu Thái hậu biết tin này cực kỳ phẫn nộ. Đối với hành động trắng trợn quái ác của Chu Thái hậu, Chấp sự trung Ngụy Nguyên cùng đồng liêu hơn 39 người, Ngự sử Khang Doãn Thiều cùng đồng liêu hơn 41 người quyết định đòi lại công đạo cho Tiền Thái hậu, ngay khi hạ triều liền ở ngoài Văn Hoa điện quỳ khóc. Bắt đầu một chiến dịch đình công trong triều đình để buộc Chu Thái hậu đồng ý việc hợp táng của Tiền Thái hậu. Đó là tháng 6 âm lịch, trời Bắc Kinh nắng hạ, quần thần 99 người quỳ từ giờ Tỵ (tức 9 giờ đến 11 giờ buổi sáng) đến giờ Thân (tức khoảng 5 giờ chiều), khóc lóc thảm thiết bao trùm toàn bộ hậu cung. Chu Thái hậu nhiều lần bắt Hiến Tông buộc quần thần thoái lui, nhưng họ kiêng quyết: “Không có ý chỉ hợp táng Tiền Thái hậu thì không dám lui”. Chu Thái hậu không ngờ một Tiền thị tàn phế lại có thể khiến các đại thần đồng lòng đòi công đạo, nên cảm thấy ức chế nhưng vẫn không còn cách nào khác gật đầu việc hợp táng của Tiền Thái hậu.

Tháng 7 năm đó, Minh Hiến Tông chính thức dâng thụy hiệu cho Tiền Thái hậu, là Hiếu Trang Hiến Mục Hoằng Huệ Hiển Nhân Cung Thiên Khâm Thánh Duệ Hoàng hậu. Tháng 9 năm đó, Tiền Thái hậu được hợp táng cùng Minh Anh Tông, đưa vào địa lăng bên trái.

Dù cuối cùng Tiền Thái hậu đã được đưa vào Dụ lăng hợp táng với Minh Anh Tông, song Chu Thái hậu vẫn uất ức. Do khi xây dựng Dụ lăng không có dự lưu việc sẽ an táng thêm 1 Hoàng hậu nữa, nên không thiết kế thích hợp cho trường hợp đồng táng “Nhất đế Nhị hậu”. Để hợp táng Tiền Thái hậu, và tương lai là Chu Thái hậu, triều đình lại lần nữa thi công, đào thông một đường hầm từ phần mộ Tiền Thái hậu đến phần mộ của Anh Tông.

Chu Thái hậu lúc này mua chuộc thái giám làm việc đào mộ, không chỉ khiến đường hầm đi chệch so với mộ của Minh Anh Tông mười mấy trượng, mà giữa đường còn lấy đất đá chèn ngăn lại. Còn phần mộ tương lai của Chu Thái hậu thì thẳng tắp đến mộ của Anh Tông, lối mộ cũng rộng rãi thoáng đãng. Ngoài ra, mỗi dịp có hiến tế trong Phụng Tiên điện, Chu Thái hậu còn không cho phép bày bức họa của Tiền Thái hậu cùng thần vị. Đến sau khi Chu Thái hậu qua đời vào thời Minh Hiếu Tông, Hoàng đế theo lệ mở Dụ lăng để đưa bà nội của mình vào, thì kinh ngạc phát hiện sự tình mà bà nội mình làm năm xưa.

Biết sự việc đã rồi, Minh Hiếu Tông đã có ý cho sửa lại đường thông, triệu tập các Đại học sĩ bàn nghị một cuộc họp rất lớn, muốn vì Tiền Thái hậu mà khai thông đường hầm. Nhưng những vị Âm dương sư và các quan viên của Khâm thiên giám không tán đồng vì ảnh hưởng phong thủy, sự việc bèn thôi. Đường thông của Tiền Thái hậu mãi mãi bị ngăn lấp, không thông được với mộ phần của Minh Anh Tông.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về lịch sử triều đại của một đất nước đông dân nhất thế giới này. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn, hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! Chúc du khách có một chuyến đi vui vẻ và thú vị!

Tào Đằng – hoạn quan duy nhất trong lịch sử Trung Hoa được truy tôn là Hoàng đế

Hoạn quan là một chức quan trong nội đình, không có quyền can dự chính sự. Nhưng do là người thân cận Hoàng đế, được tin dùng nên nhiều Hoạn quan đã nắm luôn đại quyền chính trị, lũng đoạn triều cương, song không có ai dám nhòm ngó ngôi thiên tử. Thế nhưng, trong lịch sử 3.000 năm của Trung Hoa vẫn có một người đường đường chính chính được truy phong làm Hoàng đế, đó là Cao Hoàng Đế Tào Đằng.

Tào Đằng, tự Quý Hưng, người Tiêu Bái, là một hoạn quan nổi tiếng thời Đông Hán. Tào Đằng là con thứ 3 của Tào Tiết, từ nhỏ đã bị đẩy vào cung làm hoạn quan. Tào Đằng chính thức nhập cung làm Hoạn quan thời vua Hán An Đế (107-126). Không chỉ là một trong những Hoạn quan phục vụ nhiều đời Vua nhất (tổng cộng qua 5 triều đại) trong lịch sử Trung Hoa, Tào Đằng còn được chính sử ghi nhận như một vị đại thần có nhiều công lao thời Đông Hán.

Lúc bấy giờ, Tào Đằng vào cung để làm người hầu cho Thái tử (sau này là Hán Thuận Đế) đọc sách. Tào Đằng làm việc cẩn thận chu đáo nên rất được Thái tử yêu quý, sau đó cùng kết đôi với con gái nhà họ Ngô và nhận con nhà Hạ Hầu làm con nuôi – tức là Tào Tung, cha của Tào Tháo.

Sau khi Hán Thuận Đế lên ngôi, Tào Đằng được nhận chức Trung thường thị. Làm việc hơn 30 năm đều rất cẩn thận nên được hoàng đế rất ưu ái. Rồi khi Hán Thuận Đế băng hà, con trai mới vừa đầy 2 tuổi kế vị, chưa đầy một 1 sau đã bị chết. Sau những cuộc tranh giành ngai vị trong hoàng tộc, các vị đại thần đều muốn lập Lưu Toán lên ngôi nhưng Đại tướng quân là Lương Ký không chấp nhận và lập con của Bột Hải Hiếu Vương là Lưu Tán lên ngôi.

Hoàng đế Lưu Tán tuy nhỏ tuổi nhưng khá thông minh, nhiều việc đã làm cho Lương Ký lo sợ, nên cuối cùng y tìm cách đầu độc chết vị hoàng đế lên ngôi chưa đầy 1 năm này. Tới lúc này các đại thần càng tăng áp lực để đưa Thanh Hà vương Lưu Toán lên ngôi, Lương Ký thì muốn lập em rể của mình là Lưu Trí, nhưng thấy thái độ của các đại thần nên vẫn loay hoay chưa biết nên làm thế nào.

Thanh Hà Vương Lưu Toán tuy là người cẩn trọng, đại thần trong triều đều ủng hộ thế nhưng khi Tào Đằng và một số hoạn quan khác đến gặp Lưu Toán thì lại bị y coi thường là lũ hoạn quan ái nam ái nữ. Điều này làm cho bọn Tào Đằng vừa uất hận vừa sợ hãi nên không muốn Lưu Toán lên ngôi.

Tào Đằng liền cùng các hoạn quan khác tới nhà Lương Ký để khuyên nhủ rằng: “Tướng quân lâu nay vẫn làm hoàng thân quốc thích quản lý triều chính, quan hệ trong triều phức tạp, không thiếu những sai sót. Thanh Hà vương lại là người nghiêm minh, nếu như lên ngôi thì việc tướng quân gặp nạn chỉ là chuyện sớm muộn mà thôi. Chẳng bằng lập Lưu Trí lên ngôi, như thế có thể bảo vệ được vinh hoa phú quý”.

Lương Ký quả đã nghe theo lời kiến nghị của Tào Đằng, lập Lưu Trí lên ngôi – tức Hán Hoàn đế (146-167). Tào Đằng nhờ thế mà được phong đến tận chức Đại trường thu, tước Phí Đình Hầu.

Trong thời gian phục vụ trong cung, Tào Đằng đã tiến cử nhiều nhân sĩ cho triều đình nhà Đông Hán như: Ngu Phóng ở Trần Lưu, Biên Thiều, Diên Cố ở Nam Dương, Trương Ôn, Trương Miễn ở Hoằng Nông, Đường Khê ở Đồi Xuyên Đích… Ngay cả Chủng Cáo – một người từng nghi oan Tào Đằng nhận hối lộ sau đó cũng được ông đánh giá cao năng lực – làm tới chức Tư đồ.

Về cơ bản, Tào Đằng không chỉ là một Hoạn quan tuyệt đối trung thành qua các đời vua mà còn là người nhân đức, lại kết giao rộng rãi, có ơn tiến cử với nhiều nhân sĩ trong triều Đông Hán và được người đương thời rất kính phục. Đấy là những thứ mà phàm kẻ là Hoạn quan hiếm khi có được.

Nhưng Hoạn quan tốt, trong lịch sử Trung Quốc cũng đâu phải là hiếm nên việc Tào Đằng được truy tôn Hoàng đế hàng chục năm sau khi mất dĩ nhiên không can hệ tới tài năng hay đức độ của ông lúc còn sống. Tào Đằng là Hoạn quan duy nhất xưa nay có được tước hiệu cao quý này là bởi những thành công chính trị tột bậc đời con cháu ông.

Sau khi Tào Đằng chết, con nuôi là Tào Tung kế thừa tước vị. Những năm cuối thời Hoàng đế, Tào Tung được phong làm Tư lệ hiệu úy, đến khi Hán Linh Đế lên ngôi, lại thăng chức Đại tư nông, Đại hồng lô, quản lý các việc lễ nghi và tài chính trong nước, chức thuộc hàng cửu khanh. Cuối thời Đông Hán còn có chế độ dùng tiền để mua chức, Tào Tung không vừa ý với chức Đại hồng lô của mình, bỏ ra tiền vạn để mua cho mình chức Thái Úy – đứng đầu Tam công. Có thể nói Tào Tung đã đạt đến đỉnh điểm trong con đường chính trị của mình.

Về sau, khi thấy thế cuộc hỗn loạn, Tào Tung từ quan mà trở về Lạc Dương. Khi Đổng Trác tiếm quyền, Lạc Dương trở thành một nơi hỗn loạn, Tào Tung đem gia quyến về huyện Hoa ở Thái Sơn tránh nạn. Về sau lại đưa con là Tào Đức cùng vợ trở về đại bản doanh của Tào Tháo ở Duyễn Châu. Nhưng mới đi tới Từ Châu thì Trương Khải, người được giao nhiệm vụ hộ tống Tào Tung, không cưỡng nổi sự quyến rũ của vàng bạc châu báu của họ Tào nên đã sai binh lính giết chết y, cướp đi tài sản và chạy về Hoài Nam. Tào Tháo sau đó đã hai lần phát động binh mã đánh Từ Châu để trả thù cho cha của mình.

Dưới sự chỉ huy của Tào Tháo, thế lực của Ngụy càng ngày càng hùng mạnh, cho tới khi Tào Tháo chết (năm Kiến An thứ 25, tức năm 220), Vương thế tử Tào Phi kế nghiệp chức Thừa tướng nhà Hán, nhận danh hiệu Ngụy vương. Tháng 10/220, Tào Phi ép Hán Hiến Đế Lưu Hiệp nhường lại ngôi vị, tự xưng là Ngụy Đế, trở thành vị Hoàng đế đầu tiên của Tào Ngụy.

Tháng 5/226, Văn Hoàng Đế Tào Phi bệnh tình nguy kịch, trước khi chết đã hạ chiếu lập con trai mình là Bình nguyên vương Tào Duệ làm Hoàng Thái tử. Tào Duệ sau đó chính thức lên ngôi, lấy hiệu Minh Hoàng Đế, trị vì nhà Tào Ngụy từ 226 đến 239, tổng 11 năm.

Tào Duệ sau khi lên ngôi đã truy tôn Tào Đằng thụy hiệu “Cao Hoàng Đế”, đời sau thường gọi là “Ngụy Cao Đế”. Sau đó nhà Tây Tấn thay Ngụy song danh hiệu này vẫn được giữ. Chính vì vậy, hoạn quan Tào Đằng trở thành một trong năm hoàng đế của vương triều Tào Ngụy và cũng là hoạn quan duy nhất trong lịch sử Trung Hoa được phong là Hoàng đế.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về lịch sử triều đại của một đất nước đông dân nhất thế giới này. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn, hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! Chúc du khách có một chuyến đi vui vẻ và thú vị!