pho ma thanh trieu phai song thu voi cung nu 3a

Phò mã Thanh triều phải “qua đêm” đầu tiên với cung nữ mới có thể lấy được công chúa làm vợ

Dưới thời nhà Thanh trong lịch sử phong kiến Trung Hoa, những người muốn trở thành Phò mã phải đạt nhiều tiêu chuẩn và thậm chí còn phải trải qua một thử thách khá quái gở, đó là phải “qua đêm” đầu tiên với một người khác không phải là công chúa. Công cuộc thử nghiệm này đạt yêu cầu, người đó mới có thể lấy được công chúa làm vợ.

Hoàng đế muốn kén rể cho con gái của mình, lẽ hiển nhiên không thể làm qua quýt. Thông thường, người được tuyển chọn đều do Hoàng hậu, Hoàng đế đích thân lựa chọn trong các quần thần. Các tiêu chí đầu tiên được quan tâm, đó chính là: xuất thân, ngoại hình, diện mạo, tài cán và cuối cùng là tuổi tác của các “ứng viên Phò mã”. 

Đặc biệt, ở triều đại nhà Thanh, vốn được biết đến với những quy tắc cung cấm vô cùng kỳ quái, hà khắc thì việc tuyển chọn Phò mã lại càng không phải chuyện đơn giản.

Hoàng đế nhà Thanh rất coi trọng huyết thống tôn quý và chính tông của mình vì thế luôn luôn để ý đến sức khỏe của các đời con, cháu. Chính vì thế, khi các công chúa chọn phò mã, ngoài các tiêu chí kể trên còn phải thỏa mãn yêu cầu về sức khỏe thể chất, sức khỏe tình dục.

pho ma thanh trieu phai song thu voi cung nu 2

Sức khỏe thể chất rất dễ kiểm tra nhưng sức khỏe tình dục thì lại khó phát hiện vấn đề. Lúc này, cung nữ “thử hôn” được sử dụng như một phép thử. Cụ thể, theo ghi chép, sau khi công chúa chọn và xác định hôn nhân với Phò mã thì Hoàng hậu hoặc Thái hậu sẽ chọn ra một cung nữ vào vai “công chúa sống thử”. Cung nữ này phải “chung đụng” với ứng viên Phò mã khoảng hơn 10 ngày, tối đa là 1 tháng.

Đây chính là thời điểm thử thách Phò mã. “Công chúa sống thử” sẽ liệt kê lại tất cả các biểu hiện của Phò mã, sau đó sẽ về bẩm báo với Hoàng hậu hoặc Thái hậu. Bằng cách này, những nhân vật điều hành hậu cung sẽ nắm được yếu tố sinh lý, tính cách… của người mà họ đã chọn cho con, cháu gái mình.

pho ma thanh trieu phai song thu voi cung nu 1

Nếu kết quả tốt, hôn sự sẽ được tiến thêm một bước. Nếu cung nữ bẩm báo trải nghiệm không mấy tốt đẹp, hôn sự sẽ bị hoãn lại. Sau 2 – 3 tháng, nếu “cung nữ thử hôn” mang thai chứng tỏ Phò mã không có vấn đề gì, hôn sự sẽ tiếp tục được tiến hành. Ngược lại, hôn sự sẽ bị hủy bỏ.

Mặc dù được Thái hậu hoặc Hoàng hậu đích thân tuyển chọn, những việc tuyển chọn cung nữ làm công việc này không hề đơn giản. Để kiểm tra được Phò mã, cung nữ đó ắt phải là người có kinh nghiệm dạn dày, thông minh, tinh tế và nhanh nhẹn. Tuy nhiên, chọn người để phục vụ Phò mã, tuyệt đối không được chọn những cô gái đã từng được Hoàng đế “ban ân”. Trong khi đó, nếu chọn một cô gái bình thường để “sống thử”, hẳn họ sẽ chẳng có đủ kinh nghiệm để hoàn thành nhiệm vụ, trừ khi được bề trên “chỉ điểm” hoặc mua sách về xem trước. Vì thế, thông qua việc chọn cung nữ “sống thử” với Phò mã, khó có thể có được kết quả đáng tin cậy. Những biểu hiện của Phò mã có tốt hay không, rất khó có thể đánh giá một cách chính xác.

pho ma thanh trieu phai song thu voi cung nu 4 e1660658519613

Thanh triều thực hiện chế độ “công chúa sống thử” thực ra là do lo sợ công chúa “lấy nhầm chồng”. Đây là việc đại sự nên không thể làm sơ sài cho phải đạo. Hình thức “sống thử” này có thể lý giải nhưng trên thực tế, hầu như nó vô tác dụng.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất kỳ khách du lịch nước ngoài nào. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn thì hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc nhé!

2 ong vua vong on boi nghia 10

2 ông vua “vong ơn bội nghĩa” nhất trong lịch sử phong kiến hàng ngàn năm của Trung Hoa

Trong lịch sử phong kiến hàng ngàn năm của Trung Hoa, Lưu Bang và Chu Nguyên Chương được đánh giá là hai ông vua “vong ơn bội nghĩa” nhất.

Lưu Bang quyết diệt trừ bằng được “chiến thần” Hàn Tín

Lưu Bang diệt trừ chư hầu, trở thành Hoàng đế khai quốc nhà Hán là nhờ công lớn của “chiến thần” Hàn Tín, nhưng đến cuối cùng, Hán Cao Tổ đã “vong ơn bội nghĩa” quyết diệt trừ Hàn Tín bằng được.

2 ong vua vong on boi nghia 1

Hàn Tín (229-196 TCN) nổi tiếng là “chiến thần” bách chiến bách thắng trong thời Hán – Sở tranh hùng sau khi Tần Thủy Hoàng qua đời. Theo sử sách, Hàn Tín mồ côi cha mẹ từ nhỏ. Ông sống cuộc đời cực khổ, có những hôm không câu được cá không có gì ăn. Khi mẹ mất, vì muốn xây cất cho mẹ ngôi mộ ở nơi đẹp đẽ trên núi cao mà bán cả nhà cửa, xách kiếm đi lang thang ngoài chợ.

2 ong vua vong on boi nghia 2

Năm 209 TCN, khởi nghĩa chống nhà Tần bùng nổ. Cuộc đời Hàn Tín bước sang một trang mới khi ông gia nhập nghĩa quân do Hạng Lương và cháu là Hạng Vũ đứng đầu. Nhưng không được Hạng Vũ trọng dụng, ông chuyển sang đầu quân cho Hán vương Lưu Bang, lúc bấy giờ cạnh tranh quyền lực quyết liệt với Sở Bá Vương Hạng Vũ. Nhờ mối quan hệ với Tướng quốc nhà Hán là Tiêu Hà, Hàn Tín cuối cùng cũng được trọng dụng và được Lưu Bang phong làm Tướng quân.

Hàn Tín lên đàn nhận phong tướng xong bèn phân tích cho Hán vương về những thế mạnh, yếu của Hạng Vũ và cách thức đánh bại Sở, đối thủ lớn nhất lúc bấy giờ của nhà Hán. Lưu Bang kể từ đó bắt đầu xem trọng Hàn Tín.

2 ong vua vong on boi nghia 3

Trong vòng 10 năm kể từ khi được Lưu Bang tin dùng, Hàn Tín đích thân đem quân chinh chiến, gặt hái hết thành công này đến thành công khác. Năm 206 TCN, ông dẫn quân bình định Tam Tần, do các vua chư hầu Chương Hàm (Ung vương), Tư Mã Hân (Tắc vương) và Đổng Ế (Địch vương) nắm quyền.

Đội quân do Hàn Tín chỉ huy đánh đâu thắng đó, ông chinh phạt nước Hàn, diệt Ngụy, lấy Triệu, thu phục nước Yên, chiếm nước Tề và tiến đến kẻ thù lớn nhất là Tây Sở Bá Vương Hạng Vũ.

Năm 202 TCN, Lưu Bang theo kế của Trương Lương, bội ước mang quân đánh úp Hạng Vũ nhưng đại bại. Lúc này, Lưu Bang mới nhờ cậy đến Hàn Tín và Bành Việt mang quân đến tiếp viện. Nhờ Hán Tín ra tay mà quân Hán mới vây chặt được Tây Sở Bá Vương Hạng Vũ ở Cai Hạ, Trung Quốc, kết liễu đối thủ lớn nhất đời Lưu Bang.

Sau những chiến tích vang dội lẫy lừng, Hàn Tín được Lưu Bang sắc phong làm Tề vương, sau lại được thăng làm Sở vương, nắm quyền bá chủ một vùng. Thế nhưng, việc phong vương cho Hàn Tín của Lưu Bang cũng nhằm chủ đích muốn đẩy Hàn Tín rời kinh đô và giảm tầm ảnh hưởng của “chiến thần” này trong triều.

Năm thứ hai Hàn Tín lên làm Sở vương, có người đã dâng tấu cáo buộc Hàn Tín mưu phản. Bản thân Lưu Bang cũng hiểu rõ đó là lời vu cáo vô căn cứ, nhưng vẫn nhân cơ hội này để hạ bệ Hàn Tín.

2 ong vua vong on boi nghia 4

Khi có người bẩm báo Hàn Tín mưu phản, các quan trên triều đều vô cùng phẫn nộ. Lưu Bang chưa tỏ thái độ ngay, kín đáo hỏi ý kiến Trần Bình. Trần Bình có hỏi: “Quân của bệ hạ có tinh nhuệ hơn quân của Hàn Tín không?”. Lưu Bang trả lời: “Không sánh kịp”. Trần Bình lại hỏi tiếp: “Tướng của bệ hạ có mạnh hơn tướng của Hàn Tín không?”. Lưu Bang lại trả lời: “Sao sánh bằng!”

Tới lúc này, Trần Bình mới nói: “Quân không tinh bằng quân hắn, tướng không giỏi hơn tướng hắn, lại muốn đem quân đi đánh, chẳng khác nào cố ép hắn phải làm phản”. Lưu Bang nghĩ cũng xuôi nên lên kế hoạch bắt Hàn Tín. Khi ấy, Lưu Bang lấy danh nghĩa thiên tử đi tuần, xuống gần nước Sở ở phía Nam. Hàn Tín không biết ứng phó như thế nào, bởi không biết Lưu Bang muốn bắt mình hay không.

Để tỏ lòng trung thành, Hàn Tín bèn lấy đầu người bạn cũ Chung Ly Muội nộp cho Lưu Bang. Bởi Lưu Bang thuở xưa rất căm ghét Chung Ly Muội khi người này còn là tướng dưới quyền Hạng Vũ. Nhưng ngay sau đó, Hàn Tín lập tức bị bắt, đem giải về kinh thành. Hàn Tín vì không phục, nhưng chỉ biết than trời: “Thỏ chết thì giết chó, chim hết thì bẻ cung, diệt xong địch thì công thần phải chết”.

2 ong vua vong on boi nghia 5

Nhưng, Lưu Bang cũng không vội vàng giết Hàn Tín ngay, Hán Cao Tổ chỉ nhân cơ hội này khiến Hàn Tín mất đi thanh danh “khai quốc công thần”. Sau này, mặc dù cũng được phóng thích, nhưng Hàn Tín bị giáng chức làm “Hoài Âm Hầu”. Theo tước vị, dưới Vương là Công và sau đó mới đến Hầu. Điều này khiến ông vô cùng căm phẫn.

Năm 200 TCN, viên tướng Trần Hy được cử đến trấn thủ Cự Lộc ở tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc. Trước khi lên đường, Trần Hy có tới chào từ biệt Hàn Tín. Hàn Tín nói: “Nếu ngươi đi đến đó, ắt sẽ có người cáo ngươi mưu phản, trước sau sẽ bị giáng họa”. Không rõ vì câu nói này của Hàn Tín hay không mà Trần Hy làm phản thật. Lúc này đích thân Hán Cao Tổ dẫn quân đi dẹp loạn, để Thái tử Lưu Doanh ở lại trấn thủ kinh thành.

Năm 196 TCN, Lưu Bang ngự giá thân chinh, Hàn Tín cáo bệnh không theo, còn cho người mang thư đến chỗ Trần Hy, hẹn sẽ làm nội ứng tại kinh thành, theo sử sách chép lại. Sự việc bại lộ, Lã hậu cùng Tiêu Hà nhân cớ này trừ khử Hàn Tín. Lã hậu phao tin biên ải đại thắng, Trần Hy bị diệt, mời quần thần vào cung mở tiệc ăn mừng. Hàn Tín vì chột dạ nên định cáo bệnh, nhưng không qua mắt được Lã hậu. Hàn Tín vừa vào cung đã bị bắt sống và bị xử tử ở cung Trường Lạc. Ba đời nhà họ Hàn cũng bị xử tội chu di.

2 ong vua vong on boi nghia 6

Tuy nhiên, cái chết của Hàn Tín được các nhà nghiên cứu lịch sử Trung Quốc ngày nay kết luận rằng, đây là một sự sắp xếp có chủ ý của vợ chồng Lưu Bang – Lữ Trĩ. Vì công lao, tài năng của Hàn Tín quá lớn khiến cho Lưu Bang không bao giờ yên tâm và buộc phải tìm cách trừ khử. Và việc ông bị kết tội câu kết với phản thần Trần Hy làm nội gián thực ra chỉ là sự vu cáo. Thực tế, Hàn Tín không hề có âm mưu làm phản. Nếu muốn làm phản, Hàn Tín có nhiều cơ hội kể từ khi còn là Sở Vương, cho đến lúc giết Chung Ly Muội để chứng tỏ lòng trung thành. Đến cuối cùng, Hàn Tín mà có ý làm phản thì chắc hẳn sẽ không dám theo Tiêu Hà vào cung để cho Lã hậu bắt chém.

Không phải một mình Hàn Tín là nạn nhân của Lưu Bang, mà hàng loạt các khai quốc công thân khác, những người được phong vương rồi cũng bị phế truất để thay bằng các hoàng tử nhà họ Lưu.

Thế mới thấy, Lưu Bang là một ông vua “vong ơn bội nghĩa” thế nào!

Chu Nguyên Chương giết bạn vào sinh ra tử

Sau Lưu Bang, Chu Nguyên Chương cũng được đánh giá là một điển hình trong số những Hoàng đế khai quốc giết công thần, dù công trạng của ông đối với xã tắc Minh triều khi đó là không thể phủ nhận. Trước khi truyền ngôi cho Thái tử, Chu Nguyên Chương đã ra tay “dọn đường”, “tắm máu” công thần – những người anh em đã đồng cam cộng khổ với mình như: Hồ Duy Dung, Lam Ngọc,…

2 ong vua vong on boi nghia 7

Vào năm Hồng Vũ thứ 5, khi vương triều Đại Minh về cơ bản đã thái bình, cả nước đón chờ một thời đại trị vì mới. Nhưng, theo cùng sự phát triển của đất nước, Chu Nguyên Chương đã nhanh chóng nhận ra được rằng, kẻ địch từ bên ngoài tuy đã bị tiêu diệt nhưng kẻ thù bên trong lại vẫn đang đe dọa đến chính quyền của ông.

Ông cho rằng, thù trong này không ai khác mà chính là những chiến hữu đã sát cánh bên ông, cùng ông đoạt thiên hạ, bởi vì những người này cậy vào việc bản thân có chiến công, có quan hệ nên đã lộng quyền, làm xằng bậy khắp nơi, phá vỡ luật pháp, thậm chí còn dám câu kết đảng phái, mưu đoạt lợi ích riêng. Chính vì thế, bắt đầu từ năm Hồng Vũ thứ 13, Chu Nguyên Chương đã lên kế hoạch để tiêu diệt công thần khai quốc. Cũng chính vào năm ấy, vụ án Hồ Duy Dung chấn động thiên hạ xảy ra, kéo theo hơn 15.000 quan viên có liên quan, phần lớn trong số đó đều bị xử tội chết.

2 ong vua vong on boi nghia 8

Đến năm Hồng Vũ thứ 23, Chu Nguyên Chương ra tay với Thái sư Lý Thiện Trường, những người từng một thời là rường cột quốc gia lần lượt bị ép chết.

Song sự việc vẫn chưa kết thúc tại đó, đến năm Hồng Vũ thứ 26 (1393), Cẩm Y Vệ báo cáo phát hiện Lam Ngọc tạo phản, cho nên vụ án Lam Ngọc đáng sợ lại tiếp diễn. Chu Nguyên Chương lên kế hoạch tiêu diệt Thống binh Đại tướng. Theo sách sử ghi chép, chỉ trong vòng 3 ngày ngắn ngủi, số người liên quan đến vụ án đã lên tới 25.000 người. Những người liên quan trong đó phần lớn là quan viên cao cấp cùng quý tộc, tất cả họ đều bị xử lưu đày hoặc chém đầu.

2 ong vua vong on boi nghia 9

Theo ghi chép, 3 năm sau khi xảy ra vụ án Lam Ngọc, sau khi Tống Quốc công Phùng Thắng bị xử tử, các thế lực quân sự của Đại Minh đều bị chặt đứt, đến khi nhìn lại, võ tướng đều đã là những gương mặt mới, còn các vị danh tướng hầu như đã chẳng còn lại một ai.

Từ hai trường hợp trừ khử công thần chấn động trong lịch sử Trung Hoa này, có thể dễ dàng nhận thấy, những người có công lao quá lớn, danh tiếng quá cao đa phần đều sẽ gặp nguy hiểm.

Khi Hoàng đế đăng cơ, thù trong giặc ngoài đều được dẹp yên cũng là lúc các ông hoàng tính đến chuyện đề phòng cảnh giác và mối họa sẽ được dịch chuyển sang những công thần có công lớn trong triều. Họ đều lo sợ rằng một ngày nào đó chính các công thần này sẽ uy hiếp đến ngai vàng của họ hoặc con cháu họ. Để ổn định giang sơn xã tắc, bảo vệ ngôi báu cho bản thân và dòng tộc, các công thần tự nhiên trở thành cái gai trong mắt vua. Có lẽ đây chính là lý do mà Lưu Bang đã giết Hàn Tín và Chu Nguyên Chương giết Hồ Duy Dung cùng vô số công thần khác.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất kỳ khách du lịch nước ngoài nào. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn thì hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc nhé!

cuoc noi loan cua 7 tong that nha han 6

Cuộc nổi loạn của 7 tông thất nhà Hán trong lịch sử Trung Hoa cổ đại

Trong lịch sử Trung Hoa cổ đại, Hán Cao Tổ Lưu Bang kể từ khi làm Hoàng đế chủ trương phong vương cho tông thất, quyền lực của các Hoàng tử lấn át cả Hoàng đế. Sau này đã dẫn đến cuộc nổi loạn của 7 tông thất nhà Hán. Cuộc nổi loạn ấy diễn ra vào năm 154 TCN, dưới triều đại của Hán Cảnh Đế Lưu Khải – vị Hoàng đế thứ 6 của nhà Hán.

Sau khi đoạt ngôi từ tay nhà Tần, Hán Cao Tổ Lưu Bang đã phong vương cho các công thần. Nhưng vài năm sau khi nắm vững ngôi vị, Lưu Bang lần lượt trừ khử hoặc phế truất các công thần làm Vương các nước chư hầu (loại bỏ những vương thất khác họ) và chỉ phong Vương cho các con cháu họ Lưu, đồng thời giao ước với các quan đại thần: “Ai không phải họ Lưu mà làm vương thì thiên hạ cùng đánh nó”. Giao ước này được những trung thần như: Trần Bình, Chu Bột thực hiện triệt để sau khi Lã hậu qua đời (180 TCN). Hai người đã khởi xướng việc diệt các chư hầu, phe cánh họ Lã mà Lã hậu dựng lên trong thời gian cầm quyền, tôn Đại vương Lưu Hằng làm Hán Văn Đế (Hoàng đế thứ 5 của nhà Hán). Lúc này, Hán Văn Đế chỉ trực tiếp nắm quyền cai quản 1/3 lãnh thổ Trung Hoa, tập trung quanh kinh đô Trường An, 2/3 còn lại do các vương thất với quân đội riêng nắm quyền.

cuoc noi loan cua 7 tong that nha han 4

Hán Văn Đế soạn chiếu trao ngôi Vương nước Tề, Triệu, Sở cho người trong họ để đền đáp công lao trong cuộc chiến chống họ Lã. Tuy nhiên, Tế Bắc vương Lưu Hưng Cư và Hoài Nam vương Lưu Trường lần lượt bộc lộ ý định làm phản năm 177 TCN và 174 TCN và bị tiêu diệt.

Để giảm thế lực các chư hầu, Hán Văn Đế nghe theo kiến nghị của đại thần là Giả Nghị, nhân lúc Tề vương qua đời bèn chia nhỏ nước Tề làm 6 nước: Tề, Tế Bắc, Tế Nam, Giao Tây, Giao Đông, Tri Xuyên; với nước Hoài Nam, ông điều Hoài Nam Vương Lưu Hỷ làm Thành Dương Vương, chia Hoài Nam làm 3: Hoài Nam, Hành Sơn, Lư Giang.

Chính sách chia nhỏ chư hầu của Hán Văn Đế mới thực hiện được bước đầu. Các đại thần lại khuyên Hán Văn Đế nên tiếp tục làm yếu nước Ngô nhưng Hán Văn Đế ngại thế lực của Ngô vương Tỵ (con Lưu Trọng – anh Cao Tổ, tức anh họ của Văn Đế) rất lớn, nước Ngô lại giàu mạnh nên không nghe theo.

Một ván cờ “không chịu thua” rước đại họa “Thất quốc chi loạn”

Theo Sử ký của sử gia Tư Mã Thiên, một lần nọ, con trai của Ngô vương Lưu Tỵ là Lưu Hiền đến thăm con trai Hán Văn Đế là Thái tử Lưu Khải. Hai hoàng tử cùng nhau vui chơi trong vài ngày, tận hưởng giàu sang. Trong một ván cờ, Thái tử Lưu Khải đi nhầm nước cờ, biết mình sắp thua nên muốn rút lại nước cờ đã đi. Lưu Hiền không chấp nhận. Hai bên lời qua tiếng lại dẫn đến ẩu đả. Lưu Khải vì nhất thời tức giận, đã cầm bàn cờ đánh vào đầu Lưu Hiền, đến khi dừng tay thì Hoàng tử nước Ngô đã nằm bất động.

cuoc noi loan cua 7 tong that nha han 1

Hán Văn Đế một mặt cảnh cáo Lưu Khải, mặt khác cho người đưa thi hài Lưu Hiền về nước Ngô an táng, gửi lời thương tiếc sâu sắc. Ngô vương Lưu Tỵ đứng bên quan tài con trai mà hết sức tức giận, yêu cầu sứ giả đem Lưu Hiền về kinh đô Trường An chôn cất. “Thiên hạ đều là của Lưu gia, con của ta chết tại Trường An, thì chôn cất tại Trường An, đưa về nước Ngô làm gì”, Ngô vương Lưu Tỵ uất ức nói. Kể từ đó, Lưu Tỵ đem lòng căm ghét triều đình, thường xuyên cáo ốm, không một lần đặt chân tới Trường An. Sứ giả triều đình diện kiến, Lưu Tỵ tuyên bố không gặp. Hán Văn Đế nể tình anh em họ, không truy cứu những hành động này của Lưu Tỵ.

Cuộc nổi loạn của vương thất nhà Hán

Năm 157 TCN, Hán Văn Đế qua đời, Thái tử Lưu Khải lên nối ngôi, tự là Hán Cảnh Đế. Cảnh Đế nghe theo lời đại thần, tiếp tục làm giảm thế lực chư hầu, theo đó sẽ tước bớt quận Đông Hải của Sở Vương Mậu, tước bớt quận Dự Chương và quận Cối Kê của Ngô Vương Lưu Tỵ, tước bớt quận Thường Sơn của Triệu Vương Toại và 6 huyện của Giao Tây Vương Ngang.

Trong lúc triều đình đang bàn bạc, Ngô Vương Lưu Tỵ nghe tin mình bị cắt đất, sợ sau này sẽ bị mất hết đất đai quyền hành nên quyết định khởi sự. Nghe tiếng Giao Tây Vương dũng mãnh thiện chiến, chư hầu thường nể sợ, Ngô Vương Lưu Tỵ sai đại phu Ứng Cao đến kêu gọi Lưu Ngang cùng làm phản. Sau đó Lưu Tỵ đích thân đến gặp Lưu Ngang ước hẹn kế hoạch tây tiến.

Quần thần Giao Tây biết ý đồ của Lưu Ngang, khuyên không nên làm phản, vì thế lực chư hầu yếu hơn thiên tử; giả sử thành công lại dễ dẫn đến tranh chấp thiên hạ giữa Ngô và Giao Tây. Lưu Ngang không nghe, sai sứ sang kêu gọi các nước Tề, Tri Xuyên, Giao Đông, Tế Nam, Tế Bắc ước hẹn cùng làm phản. Ngô Vương Lưu Tỵ cũng ước hẹn với nước Triệu, Sở cùng khởi binh.

cuoc noi loan cua 7 tong that nha han 5

Không lâu sau, lệnh tước đất các chư hầu từ Trường An ban ra. 7 nước chư hầu do Ngô Vương Lưu Tỵ khởi binh. Liên quân 7 nước chủ trương đánh mạnh về phía Tây, chiếm trọn các khu vực trung tâm ở Trung Hoa, vây hãm kinh đô Trường An. Ngô Vương ra lệnh tổng động viên, huy động được hơn 20 vạn người. Tế Bắc vương Lưu Chí lúc đầu đồng ý hưởng ứng nổi loạn nhưng đến phút cuối đổi ý, quyết định không tham gia. Hai vương thất khác không kịp điều binh mã theo liên quân tây tiến.

Để đối phó lực lượng phản loạn, triều đình nhà Hán chia quân làm 3 đạo. Đạo quân chủ lực do Chu Á Phu thống lĩnh, tấn công phe nổi loạn ở vùng Đông Nam. Hai đạo quân còn lại đối phó quân Triệu ở phía Bắc và quân phản loạn ở bán đảo Liêu Đông.

Ở Trường An, đại thần Viên Áng đòi Hán Cảnh Đế xử tử Tiều Thổ, là người đề ra chủ trương cắt đất của các phiên vương. Nhưng cái chết của Tiều Thổ vẫn không ngăn Ngô vương Lưu Tỵ lui quân. Viên Áng được giao làm sứ giả truyền tin triều đình đồng ý ngừng tước đất của các vương thất. Nhưng Ngô Vương hay tin cười lớn nói: “Ta bây giờ đã là Hoàng đế phía Đông, chẳng lẽ còn phải lạy người khác hay sao?”

cuoc noi loan cua 7 tong that nha han 2

Đến lúc này, quân chủ lực của Ngô Vương đang vây đánh nước Lương của Lương Vương Lưu Vũ. Chu Á Phu không đem quân ứng cứu ngay lập tức mà chỉ huy kỵ binh cắt đứt tuyến đường vận lương của quân Ngô. Lưu Tỵ liền quay sang đánh quân triều đình nhưng bị Chu Á Phu phản kích đánh tan tác. Sau thất bại ở An Huy, quân Ngô gần như tan rã. Lưu Tỵ rút tàn quân trở về Trấn Giang, tỉnh Giang tô ngày nay. Lưu Tỵ bị quân địa phương giết chết, đem đầu về Trường An dâng Hán Cảnh Đế. 6 Hoàng tử khác tham gia nổi loạn lần lượt bỏ mạng trên chiến trường, hoặc chọn cách tự sát. Tế Bắc vương Lưu Chí vì bị bức bách làm phản, đến cuối cùng không xuất quân hưởng ứng nên được miễn tội chết, cải phong làm Tri Xuyên Vương.

Loạn 7 nước kéo dài từ tháng 1 đến tháng 3 âm lịch năm 154 TCN thì bị dẹp. Quân làm phản thất bại hoàn toàn, các vua chư hầu làm phản đều mất mạng. Hòa bình nhanh chóng được lập lại trên lãnh thổ Trung Quốc.

Tập trung quyền lực về tay Hoàng đế

Dẹp xong loạn 7 nước, Hán Cảnh Đế ra lệnh xóa bỏ nước phong của các chư hầu này, đưa đất đai về dưới quyền quản lý trực tiếp của Hoàng đế. Ngoài ra, ông còn tiến hành chỉnh lý địa giới một số nước chư hầu, thu nhỏ quyền lực của họ. Đặc ân phong con Sở Vương là Lưu Lễ làm Sở Vương, nhưng nước bị thu nhỏ chỉ có quận Bành Thành; nước Đại cũng bị thu hẹp chỉ có quận Thái Nguyên.

cuoc noi loan cua 7 tong that nha han 3

Sau này, Hán Cảnh Đế tiếp tục chính sách làm yếu các chư hầu. Sau khi Lương Vương Lưu Vũ em ông qua đời, ông chia nước Lương làm 5 nước nhỏ, khiến số lượng chư hầu nhà Tây Hán lên tới 25 nước, nhiều nhất kể từ khi nhà Hán thành lập. Thế lực chư hầu yếu hơn nhiều so với trước. Sau đó đến thời Hán Vũ Đế còn tiếp tục theo đuổi chính sách này, loại bỏ hoàn toàn việc cắt đất phong hầu khiến cho chế độ quân chủ trung ương tập quyền ngày càng được củng cố.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất kỳ khách du lịch nước ngoài nào. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn thì hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc nhé!

tong trieu khong xay ra tranh quyen doat vi 5

Tống triều trong lịch sử Trung Hoa cổ đại không có chuyện tranh quyền đoạt vị giữa các Hoàng tử

Trong lịch sử cổ đại Trung Hoa, hầu như mỗi triều đại đều xuất hiện những cuộc tranh quyền đoạt vị giữa các Hoàng tử. Ấy vậy mà có một vương triều từ khi lập quốc cho tới thời điểm diệt vong lại chưa từng xuất hiện những cuộc tranh quyền đoạt vị nội bộ như vậy. Ngoại lệ hiếm hoi này chính là nhà Tống – triều đại từng trị vì lãnh thổ Trung Hoa trong hơn 300 năm.

Nhà Tống là hoàng triều cai trị Trung Quốc từ năm 960 đến năm 1279. Triều đại này được sáng lập bởi Tống Thái Tổ sau khi ông soán ngôi Hoàng đế Hậu Chu rồi kết thúc thời kỳ Ngũ đại Thập quốc. 

Trong suốt thời gian tồn tại triều đại nhà Tống, các Hoàng tử chưa bao giờ dám làm ra hành động cướp ngôi Thái tử hay công khai đấu đá lẫn nhau. Theo quan điểm của Qulishi (Trung Quốc), điều này xuất phát từ 4 nguyên nhân quan trọng sau đây:

Các Hoàng đế nhà Tống không đông con nhiều cháu

Khác với Hoàng đế của các vương triều phong kiến khác, đa số Hoàng đế nhà Tống đều không có con cái, đặc biệt là con trai nối dõi. Chẳng những thế mà Hoàng tử của vương triều này đều yểu mệnh qua đời, số người sống bình an tới tuổi trưởng thành cũng chẳng còn lại bao nhiêu.

tong trieu khong xay ra tranh quyen doat vi 3

Bất luận là thời kỳ Bắc Tống hay Nam Tống, việc số lượng Hoàng tử quá ít luôn là một nỗi lo đối với hoàng tộc của triều đại này. Thậm chí dưới thời Tống Thái Tông, Tống Chân Tông hay Tống Nhân Tông, các Hoàng đế thường xuyên gặp phải phiền não về vấn đề chọn người kế vị. Tới thời Tống Cao Tông tại vị, ông thậm chí đã phải chọn người kế nghiệp từ con cháu thuộc trực hệ Thái Tổ vì bản thân không có con trai ruột.

Chính vì hậu duệ ít ỏi, cho nên việc các Hoàng tử đấu đá tranh ngôi Thái tử có ít cơ hội phát sinh hơn rất nhiều so với những giai đoạn lịch sử khác.

Các Hoàng tử không có cơ hội tạo lập phe cánh

Tống triều là vương triều lấy văn trị quốc, thậm chí còn có quan điểm cho rằng triều đại này vốn “trọng văn khinh võ. Vì thế, các Hoàng tử, tông thất, thậm chí ngay tới các tướng lĩnh đức cao vọng trọng đều không có cách nào gây dựng thế lực cho riêng mình.

Nhìn tổng quát các triều đại trong lịch sử phong kiến Trung Hoa, nguồn cơn của những cuộc đấu đá tranh quyền giữa các Hoàng tử phần nào đều có liên quan tới việc họ đã có phe cánh và thế lực của riêng mình. Minh chứng tiêu biểu cho nhận định này là cuộc đấu đá giữa Lý Thế Dân và Thái tử Lý Kiến Thành thời nhà Đường năm xưa. Hai nhân vật này chẳng những có binh lực mà thậm chí còn sở hữu cả một đoàn đội cố vấn để mưu tính đường đi nước bước.

tong trieu khong xay ra tranh quyen doat vi 2

Tuy nhiên, các Hoàng tử nhà Tống lại không giống như vậy. Bởi Hoàng đế của triều đại này chẳng những thi hành nhiều chế độ nhằm kìm kẹp các võ tướng mà còn tiến hành quản lý nghiêm ngặt đối với chính các thành viên trong hoàng tộc. Do đó, bản thân các Hoàng tử không được kết giao với đại thần, càng không thể thông qua những cuộc hôn nhân chính trị để kết bè kéo cánh.

Hơn nữa, các vua nhà Tống một khi đã chọn người thừa kế thì cũng sẽ an bài ổn thỏa những biện pháp bảo vệ cho Tân đế tương lai. Cho nên việc phát sinh chính biến sau khi kế vị gần như là điều không thể xảy ra.

Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng giúp vương triều nhà Tống thoát được cảnh Hoàng tử đấu đá tranh quyền.

Tiếng nói của các đại thần được coi trọng

Như đã nói ở trên, Tống triều là vương triều lấy văn trị quốc nên các quan văn rất có tiếng nói trong triều đình, thậm chí sức ảnh hưởng của họ còn vượt qua những chức quan can gián vào thời nhà Minh.

Dưới thời nhà Minh, các quan can gián tuy nhiều, nhưng quyền chủ động đa số vẫn nằm trong tay Hoàng đế. Còn vào thời Tống, quyền chủ động phần nhiều lại thuộc về phát ngôn của các đại thần. Bởi tiếng nói của họ rất được giai cấp thống trị thời bấy giờ coi trọng và để tâm cân nhắc.

tong trieu khong xay ra tranh quyen doat vi 1

Khi người thừa kế đã được định, họ sẽ ủng hộ và ra sức bảo vệ người được Hoàng đế chọn làm Thái tử. Nếu như Hoàng đế có ý định phế bỏ hoặc Hoàng tử khác có ý tranh đoạt, các quan đại thần thời bấy giờ cũng sẽ phản đối một cách thẳng thắn và kịch liệt.

Ý kiến của họ có sức ảnh hưởng không hề nhỏ đối với nội bộ triều đình. Do đó, ngay cả khi có kẻ soán ngôi đoạt vị thành công nhưng không nhận được sự ủng hộ từ triều thần thì cũng sẽ khó mà cai quản thiên hạ trong tương lai.

Ảnh hưởng của lễ giáo

Tống triều chịu ảnh hưởng nặng nề của lễ giáo. Mặc dù phải tới thời Nam Tống, trường phái tư tưởng này mới bắt đầu trở nên phổ biến. Tuy nhiên, những quan niệm, lễ giáo của lễ giáo đã thâm căn cố đế từ thời Bắc Tống. Vì vậy, triều đại này bị trói buộc bởi rất nhiều phép tắc, quy củ, ngay tới hoàng tộc, tông thất cũng không ngoại lệ.

tong trieu khong xay ra tranh quyen doat vi 4

Do bị lễ giáo hạn chế, các Hoàng tử Tống triều cũng không dám làm ra những hành động trái với đạo lý như soán ngôi đoạt vị hay công khai đấu đá.

Tống triều tôn sùng lễ giáo, cho nên các tầng lớp, giai cấp cao trong xã hội đều sống một cách vô cùng quy củ. Điều này cũng góp phần triệt hạ những âm mưu tranh đoạt ngay từ trong trứng nước, giúp cho nội bộ thêm ổn định.

Cũng chính bởi sở hữu những đặc thù như trên, cho nên thời nhà Tống không hề xuất hiện hiện tượng các Hoàng tử tranh đoạt ngôi vị Thái tử hay soán ngôi đoạt vị. Nếu xét trên phương diện này nói riêng, Tống triều có thể xem là triều đại có một không hai trong lịch sử Trung Hoa cổ đại.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất kỳ khách du lịch nước ngoài nào. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn thì hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc nhé!t chân đến vùng đất rộng lớn này.

8 dao quan hung manh trong lich su trung hoa co dai 9

10 đội quân hùng mạnh và thiện chiến nhất trong lịch sử Trung Hoa cổ đại

Trong lịch sử Trung Hoa cổ đại xuất hiện nhiều đạo quân hùng mạnh và thiện chiến đến nỗi khi nhắc đến tên của họ, kẻ thù đã phải run sợ. Trong số đó phải nhắc đến: quân Tần, kỵ binh Hung Nô, quân thiết kỵ Mông Cổ, quân triều Hán, đội quân Bắc Phủ thời Đông Tấn, quân đội Tương, quân nhà Đường, Thủy sư nhà Minh, thiết kỵ Quan Ninh, Bát kỳ Mãn Châu.

Quân Tần

Đây là một trong những đội quân hùng mạnh nhất lịch sử cổ đại Trung Hoa. Đương thời, sức mạnh của quân Tần khiến các nước nghe danh đã khiếp sợ. Không chỉ có công dẹp 6 nước chư hầu, thống nhất Trung Hoa mà điều khiến đối thủ kinh sợ đó chính là sức mạnh quân đội được trang bị vũ trang hùng mạnh.

8 dao quan hung manh trong lich su trung hoa co dai 1

Có 2 lý do quan trọng để tạo nên sức mạnh “khủng khiếp” cho đội quân này:

Chế độ quân đội đặc biệt: Quân đội của nước Tần vô cùng cơ động. Khi thanh bình thì làm nông vụ, lúc có chiến tranh nông dân sẽ trở thành binh sĩ. Một điều đặc biệt là chế độ công tội trong quân đội nhà Tần vô cùng rõ ràng. Bất kể là tướng lĩnh hay binh sĩ nhà Tần chỉ cần lấy được thủ cấp của quân địch mang về sẽ được phong vị, được cấp nhà cửa ruộng vườn và nô bộc. Nếu càng kiếm được nhiều thủ cấp của kẻ địch thì tước vị càng cao. Chính vì thế tinh thần chiến đấu của quân Tần luôn lên cao như vũ bão.

Quân Tần được trang bị vũ trang đầy đủ và hiện đại. Điều này làm giảm tỷ lệ thương vọng, tăng hiệu quả chiến đấu và giúp quân Tần trở thành đội quân hùng mạnh nhất trong lịch sử Trung Hoa cổ đại.

Kỵ binh Hung Nô

8 dao quan hung manh trong lich su trung hoa co dai 2

Quân Hung Nô có khả năng linh hoạt trong di chuyển, tấn công nhanh như tia chớp khiến đối phương không kịp trở tay, có thể thay thế nhiều lần ngựa trong một ngày mà vẫn đảm bảo khả năng chiến đấu. Ngoài ra, đội quân này còn sở hữu vũ khí chính là cung, mạnh hơn rất nhiều so với các loại cung của quân đội phương Tây thời đó.

Quân thiết kỵ Mông Cổ

Đội quân thiết kỵ Mông Cổ có quân số tối đa 1.000.000 binh sĩ khi họ bắt đầu cuộc chinh phạt vào năm 1206. Họ đánh bại hầu hết các quốc gia ở Châu Á và Châu Âu ngay cả với những nước có quân đội lớn gấp nhiều lần. Trong thời gian dài, những kỵ binh Mông Cổ gần như không thể ngăn chặn. 

Thành công của đội quân này nhờ vào chiến thuật và chiến lược tài tình của Thành Cát Tư Hãn, người sáng lập Đế chế Mông Cổ. Đội quân này thoát khỏi sự trói buộc của tư tưởng quân sự truyền thống ở Châu Âu, hình thành nên một đế chế có quy mô lớn chưa từng có trên thế giới và cũng nổi tiếng với khả năng tàn sát kinh hoàng.

8 dao quan hung manh trong lich su trung hoa co dai 3

Khi xét riêng từng kỵ binh, có thể quân thiết kỵ Mông Cổ không bằng các kỵ binh Macedonia hay Ottoman nhưng khi hợp lực cùng nhau tác chiến thì đội quân này vô cùng mạnh, thậm chí có thể xem là mạnh nhất. Họ giống như những con thú dữ trên chiến trường được sinh ra trên lưng ngựa và chỉ với một mục đích là xông thẳng vào trận địa để giết chóc. Hầu như không có nơi nào chống đỡ được vó ngựa của quân Mông Cổ.

Khác với quân đội của dân tộc du mục truyền thống, đội quân thiết kỵ Mông Cổ vừa có sức chiến đấu cá nhân hơn người, lại vừa có kỷ luật quân sự nghiêm khắc và trang bị vũ khí tiên tiến với sở trường của người Hán; vừa có thể tác chiến kỵ binh đại quy mô, lại vừa có thể có hỏa pháo tiên tiến nhất đương thời, có khả năng đả kích từ cự ly xa hùng mạnh. Đó thực sự là một điển hình kết hợp một cách hoàn mỹ ưu thế khoa học kỹ thuật và lực chiến đấu, không trách người Châu Âu gọi đó là “họa da vàng”.

Đội quân triều Hán

Đương thời, quân đội nhà Hán và đội quân La Mã được xem là hai thế lực hùng mạnh nhất thế giới. Tuy nhiên, chiến tích của nhà Hán vẫn “nhỉnh hơn” quân La Mã rất nhiều khi xét đến các cuộc chiến với những dân tộc du mục. Quân Hán có sức chiến đấu mạnh, sử dụng nhiều nỏ, phát huy được cực cao tinh thần “dã man” của dân du mục. Hơn thế nữa, đội quân này được huấn luyện nghiêm khắc và tướng lĩnh ưu tú. Tất cả điều này giúp cho đội quân nhà Hán chiếm ưu thế lớn hơn đội quân của các quốc gia khác trong các trận chiến. Đây cũng là mô hình quân đội điển hình toàn năng trong lịch sử nhân loại.

8 dao quan hung manh trong lich su trung hoa co dai 4

Vương triều nhà Hán tồn tại trên 400 năm, chỗ không giống với các triều đại khác là cho dù đã vào thời kỳ cuối của sự thống trị, nhưng quân đội vẫn duy trì được sức chiến đấu hùng mạnh. Về điểm này, các vương triều khác không thể so sánh được.

Đội quân Bắc Phủ, Đông Tấn

Trận chiến Phì Thủy là một chiến dịch điển hình nổi tiếng nhất trong lịch sử cổ đại Trung Hoa về việc “lấy ít địch nhiều”. Hơn 870.000 quân Đê tinh nhuệ đã bị đánh bại bởi 8.000 quân Bắc Phủ. Chính vì thế, danh tiếng của đội quân Bắc Phủ đã vang danh thiên hạ.

8 dao quan hung manh trong lich su trung hoa co dai 6

Điều đặc biệt là đội quân tinh nhuệ này được xây dựng lên từ những người nông dân phương Bắc chạy loạn xuống phía Nam chứ vốn không phải là những binh sĩ dày dạn chiến trường. Mỗi người nông dân trong đội quân này đều có sẵn mối thâm thù trong huyết quản với Ngũ Triều. Mỗi người đều mang trọng tránh và nhiệm vụ khôi phục lại giang sơn của cha ông. Thêm nữa, được sự lãnh đạo của chiến lược gia nổi tiếng nhất Đông Tấn Tạ An và tướng lĩnh chỉ huy nổi tiếng nhất Đông Tấn là Lưu Lao đã làm nên sức mạnh và khả năng thiện chiến cho đội quan danh tiếng lừng lẫy này.

Đội quân Tương

8 dao quan hung manh trong lich su trung hoa co dai 7

Đội quân Tương được xây dựng trong thời kỳ Thái Bình Thiên Quốc (1850-1864) bởi viên tướng Tăng Quốc Phiên. Lực lượng nòng cốt của đội quân này được chiêu mộ từ những nông dân và được huấn luyện, trang bị vũ trang đầy đủ. Đầu năm 1854, lực lượng của đội quân này đã lên đến 17.000 người và có công lớn trong việc đánh bại phong trào Thái Bình Thiên Quốc.

Đội quân nhà Đường

Nhà Đường là triều đại cường thịnh nhất trong lịch sử Trung Hoa, cũng là một niềm kiêu hãnh lớn nhất về mặt quân sự với nhiều tướng lĩnh xuất chúng và những đoàn binh tinh nhuệ. Trong đó, đặc biệt phải nhắc đến “Đội quân áo giáp sắt đen” đã làm bao kẻ thù thất kinh sợ hãi.

Đường quân là một đội quân hùng mạnh do nhiều dân tộc hợp thành. Vì thế, ở khu vực biên trấn có rất nhiều binh sĩ và cả giới tướng lĩnh người dân tộc thiểu số. Quân đội triều Đường phân thành quân Trung ương và quân Phiên trấn. Quân Phiên trấn có quy mô duy trì khoảng 500.000. Lính của quân Phiên trấn ngoài việc do triều đình tuyển lựa thì cũng có quyền tự chiêu mộ.

Quân đội chủ lực của triều Đường thường bao gồm: bộ và kỵ binh hỗn hợp, một quân đoàn tiêu chuẩn có khoảng 12.500 bộ binh, 5.000 đến 6.000 kỵ binh và 1.000 đến 2.000 lính quân nhu quân dụng. Dưới quân là doanh, dưới doanh là đoàn, mỗi đoàn quản lý 2 lữ, mỗi lữ là 100 người, tổng cộng khoảng 20.000 người.

Trong 12.500 bộ binh thì giáp binh là 7.500, binh mạch đao khoảng 2.500 (mạch đao: cây thương hình hạt lúa kiều mạch). Những bộ binh này mỗi người có một cây cung với 30 mũi tên, một cây thương, và con dao nặng cán ngắn. Tỷ lệ trang bị cung nỏ của quân đội triều Đường lên đến 120%, mỗi binh sĩ đều có 3 loại vũ khí trở lên. Nếu so với quân thời Tần và Hán thì hỏa lực mạnh hơn từ 3 – 5 lần, sức tấn công cũng mạnh hơn nhiều.

8 dao quan hung manh trong lich su trung hoa co dai 8

Kỵ binh thời nhà Đường không trang bị nặng nề như thời Nam – Bắc triều và có chiến giáp bảo vệ hoàn thiện. Giáp đen thời kỳ đầu dần dần bị loại bỏ và thay thế bằng giáp minh quang. Giáp minh quang có tấm kim loại hình tròn ở sau lưng và trước ngực bảo vệ, vì được mài sáng như gương và chiếu ra ánh sáng làm lóa mắt nên gọi là giáp minh quang. Kỵ binh Đường quân có phân chia thành mức độ nặng nhẹ khác nhau. Huyền Giáp Binh (đội quân giáp đen) là do Đường Thái Tông (Lý Thế Dân) lập ra, người được trang bị áo giáp, ngựa cũng được trang bị đồ bảo vệ. Kỵ binh hạng nặng mặc dù không nhiều nhưng bởi vì được phòng hộ tốt, lực tấn công lớn, là đội quân chủ lực trong các cuộc tấn công dã chiến.

Theo “Tư trị thông giám”, cuốn sử nổi tiếng do nhà sử học Tư Mã Quang viết: “Tần vương Lý Thế Dân đã chọn ra hơn 1.000 binh lính kỵ binh, và tất cả đều mặc đồng phục áo giáp đen. Ông chia quân thành các cánh quân bên trái và cánh quân bên phải, để cho Tần Thúc Bảo, Trình Giảo Kim, và Uất Trì Kính Đức thống lĩnh đội quân. Trong mỗi trận chiến, Lý Thế Dân đều mặc áo giáp đen và thống lĩnh đội quân tiên phong để tấn công kẻ thù. Khi đội quân đã tấn công thì không một kẻ thù nào có thể ngăn cản được. Vì thế, kẻ thù rất sợ nó”.

Mỗi binh sĩ trong đội quân áo giáp sắt đen đều phải rất thiện chiến, mỗi người trong số họ đã được lựa chọn từ trong vô số các ứng cử viên. Đội quân này cũng chính là một tập thể có sức mạnh chiến đấu mạnh mẽ phi thường. Sức mạnh tổng hợp của 1.000 binh sĩ như một thể thống nhất tạo ra sự kết hợp hoàn hảo, có thể chống lại được quân địch mạnh hơn mình gấp 10 lần.

Đội quân này cũng được đặt dưới sự chỉ huy của các danh tướng tài ba mà người chỉ huy cao nhất chính là Lý Thế Dân, một chiến lược gia quân sự đại tài. Ngoài ra, các chiến binh cũng luôn có tinh thần chiến đấu cao, luôn khát khao chiến thắng. Bất kể đối phương mạnh đến mấy, những chiến binh này vẫn luôn giữ một niềm tin bất khả chiến bại. Điều đó giúp họ có được sức mạnh phi thường, bất khả chiến bại trên chiến trường.

Ngoài trang bị vũ khí thì bộ phận hậu cần cũng chuẩn bị rất đầy đủ. Mỗi binh sĩ có một túi lương khô bằng da dê quấn ở eo, có thể dùng trong ba ngày. Mỗi người còn có cái áo khoác lông thú, lính tinh nhuệ áo có bọc da, còn có thêm một túi nước, cũng bằng da. Những vật phẩm dùng ngựa thồ mang theo gồm: chén, dao nhỏ, rũa, kìm, khóa, thuốc, muối ăn, đá lấy lửa, búa, đá mài, khố, dây đai trán, mũ nỉ, thảm, chăn, 3 đôi giầy. Thường thì cứ 7 lính chiến đấu lại có 3 lính hậu cần phụ trách quản lý ngựa và đồ quân nhu cùng các công cụ giao thông khác. Quả là vô cùng chu đáo!

Sức mạnh chiến đấu đáng sợ của quân đội nhà Đường, nhất là đội quân áo giáp đen không phải là một huyền thoại, mà trong lịch sử còn lưu lại rất nhiều chiến thắng oanh liệt và hào hùng của họ. Quân đội tinh nhuệ là một trong những yếu tố giúp Đại Đường trở thành vương triều rực rỡ nhất lịch sử Trung Hoa.

Đội quân Thủy sư nhà Minh

Thủy sư nhà Minh nổi tiếng về độ tinh nhuệ và thiện chiến. Đạo quân này ra đời dưới thời Hồng Vũ đế, được trang bị hỏa khí gồm pháo và súng tay, đánh dấu cho sự hình thành hải quân sử dụng vũ khí nóng sớm nhất thế giới. Do đó, Thủy sư nhà Minh được đánh giá là lực lượng hải quân hàng đầu thế giới vào thời điểm đó.

Hồng Vũ đế đã ra lệnh thiết lập 56 thủy sư vệ, mỗi vệ gồm 50 chiến thuyền và 5.000 thủy quân. Tuy nhiên hầu hết lực lượng này chiến lực tương đối yếu. Quy mô hải quân nhà Minh sau đó đã được mở rộng dưới thời Vĩnh Lạc. Hải quân nhà Minh lúc này được chia thành hạm đội hoàng gia đóng tại Nam Kinh, hai hạm đội duyên hải bao gồm hạm đội Tây Dương của Trịnh Hòa và hạm đội vận chuyển lương thực.

8 dao quan hung manh trong lich su trung hoa co dai 5

Sau các cuộc viễn dương của Trịnh Hòa dưới thời Vĩnh Lạc, chính sách mở rộng lực lượng thủy sư bị lung lay do những nguyên nhân chủ quan và khách quan. Bất chấp mâu thuẫn trong nội bộ triều đình nhà Minh với vấn đề hải quân, Hạm đội Bảo thuyền vẫn có thể thống trị những lực lượng hải quân châu Á khác, điều này cho phép nhà Minh cử các quan lại hoặc thiết lập tuyên úy sứ cai trị Lữ Tống (Luzon) và Cự Cảng (Palembang), cũng như can thiệp vào nội bộ các quốc gia như Sri Lanka và Bataks. Năm 1521, trong Hải chiến Đồn Môn, hạm đội thủy sư Đại Minh đã đánh bại hạm đội của người Bồ Đào Nha, mà ngay sau đó thủy sư nhà Minh đã thắng người Bồ Đào Nha trong trận hải chiến Tây Thảo Loan vào năm 1522. Năm 1633, thủy sư nhà Minh một lần nữa đánh bại hải đội của người Hà Lan và cướp biển tại Hải chiến Liêu La Loan. Một số lượng lớn những luận thuyết quân sự, bao gồm những thảo luận, đánh giá về tác chiến hải quân được xuất bản, bao gồm Võ Bị Chí và Kỷ Hiệu Tân Thư. Ngoài ra, các xác thuyền đắm đã được tìm thấy ở Biển Đông, bao gồm xác thương thuyền và chiến thuyền Trung Hoa chìm vào khoảng năm 1377 và 1645.

Gần 300 năm lịch sử nhà Minh, đạo quân Thủy sư chưa từng một lần thất bại, đáng tiếc triều đình sụp đổ, sự huy hoàng của đội quân danh tiếng này cũng chìm đắm theo.

Thiết kỵ Quan Ninh của Viên Sùng Hoán, nhà Minh

Thời Minh, đạo quân Nữ Chân nổi tiếng là hùng mạnh, nhưng rốt cuộc đạo quân này đã bị thư sinh Viên Sùng Hoán đánh bại. Triều Minh thực hiện chế độ quan văn cầm quân nhưng may làm sao lại có Viên Sùng Hoán có thiên tài quân sự.

8 dao quan hung manh trong lich su trung hoa co dai 10

Trong đại chiến Ninh Viễn, 10.000 tàn binh đã đánh bại 130.000 quân thiết kỵ Bát kỳ, nhưng là trong tấn công và phòng ngự nên nhiều người chưa phục, tuy vậy trong hội chiến Ninh Cẩm, thiết kỵ Quan Ninh rõ ràng là đã đánh bại Bát kỳ trong dã chiến. Trong một trận đánh tại ngoại thành Bắc Kinh 9.000 kỵ binh Quan Ninh đã ngăn chặn được 100.000 quân Bát kỳ.

Thiết kỵ Quan Ninh không thua đội ngũ kỵ binh tố chất cao của quân Bát kỳ Mãn Thanh mà trang bị hỏa khí lại hơn, kỵ binh phần lớn được trang bị súng hỏa long và súng bắn lửa, có thể nói là tấn công giỏi phòng thủ hay, rất tiếc là Viên Sùng Hoán không đủ thời gian để mở rộng đạo quân này.

Bát kỳ Mãn Châu

Vào thế kỷ 17 ở Đông Á, Bát kỳ Mãn Châu đúng là một đạo quân vô địch, đấu triều Minh, bình Triều Tiên, đánh Sa hoàng Nga buộc ông ta phải ký điều ước Ni Bố Sở năm 1689 dâng hơn 1.000.000km2 lãnh thổ cho Trung Quốc, nhất thống Trung Hoa. Đội quân này có thể nói là niềm huy hoàng cuối cùng trong quân sự cổ đại Trung Quốc.

8 dao quan hung manh trong lich su trung hoa co dai 11

Trang bị của đạo quân này tương đối kém nhưng vũ khí tinh thần và sĩ khí của nó là xuất sắc nhất. Biên chế quân sự nghiêm nhặt, điều kiện sinh hoạt ác liệt, năng lực sinh tồn mạnh mẽ đã khiến đạo quân này cuối cùng đánh bại triều Minh thống nhất Trung Hoa, xây dựng nên một đế chế rộng lớn nhất thế giới mà không một quốc gia Châu Âu nào khi đó làm được.

Với những thông tin chia sẻ trên đây, du khách đã có thêm sự hiểu biết về các đội quân hùng mạnh nhất trong lịch sử Trung Hoa cổ đại. Nếu du khách là người yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn khám phá nhiều hơn thì hãy Book Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! Chúc du khách có một chuyến đi vui vẻ và thú vị!

vu dieu cham 10

Cham Dance – “Vũ điệu thần linh” của Phật giáo Tây Tạng, Trung Quốc

Điệu nhảy Cham là nét độc đáo của Phật giáo Tây Tạng, còn được gọi là “Vũ điệu thần linh”. Nó là một màn trình diễn đầy màu sắc và ấn tượng, đồng thời là vũ điệu nhiều ý nghĩa. Khác với các điệu múa thông thường, Vũ đệu Cham mang ý nghĩa tôn giáo nên chỉ có các nhà sư, Lạt-ma mới được biểu diễn. Đó là một hình thức thiền cho cả vũ công và khán giả.

Đối với các nhà sư, biểu diễn múa Cham là một hình thức cúng dường. Trong buổi khiêu vũ, các nhà sư đóng giả các vị thần và những người bảo vệ. Các nhà sư đệm theo điệu nhảy với âm nhạc được chơi trên các nhạc cụ truyền thống. Họ chơi trống cầm tay, chũm chọe, trống lớn, kèn thổi, kèn trumpet, kèn dài. Họ tụng kinh theo nhịp trống và niệm chú.

Đối với khách nước ngoài, trang phục cầu kỳ và trang trí mặt nạ là điểm thu hút chính của vũ hội. Bởi vì các thần hộ mệnh Tây Tạng xuất hiện trong hình dạng “phẫn nộ“, một số du khách đầu tiên đến Tây Tạng thậm chí còn gọi nó là “vũ điệu ma quỷ“.

Những điệu múa này không chỉ mang lại niềm vui cho người xem mà còn có ý nghĩa tâm linh đặc biệt. Những vũ điệu nghi lễ để lại những dấu ấn nghiệp chướng mạnh mẽ trong tâm trí những ai quan sát chúng. Chúng cho phép người xem đạt được công đức tâm linh và giải thoát khỏi đau khổ thế gian.

Nguồn gốc của Vũ điệu Cham

Nguồn gốc của múa Cham không được biết rõ ràng. Nó là một trong những cội nguồn với nghệ thuật huyền bí Mật tông, Cham được cho là có nguồn gốc đầu tiên từ dãy Himalaya.

vu dieu cham 1

Theo truyền thuyết, truyền thống khiêu vũ Cham được bắt đầu bởi Guru Padmasambhava vào cuối năm thứ 8 CN. Khi vua Tây Tạng, Trishong Detsen gọi Guru Padmasambhava để xua đuổi tà ma để xây dựng tu viện Samye. Guru tôn kính đã thực hiện nghi lễ khiêu vũ. Nghi thức tương tự theo thời gian đã trở thành Vũ điệu Cham công phu, một môn thực hành đặc trưng cho tông phái của Phật giáo Đại thừa.

Ý nghĩa của Vũ điệu Cham

Múa Cham xuất hiện như một hình thức giảng dạy, khi các nhà sư có thể kể những câu chuyện tôn giáo cho khán giả. Trong những ngày đầu Phật giáo phát triển, phần lớn dân chúng không biết chữ và việc in ấn rất tốn kém. Đó là lý do tại sao khiêu vũ trở thành một hình thức quan trọng không chỉ đơn thuần là giải trí, mà còn là một cách truyền bá giáo lý Phật giáo và ban phước lành.

vu dieu cham 7

Các nhà sư biểu diễn vũ điệu Cham trong các lễ hội tôn giáo. Những lễ hội này thu hút mọi người từ cả những vùng du mục xa xôi. Một trong những lễ hội nổi tiếng nhất là Saga Dawa. Ngày này tưởng nhớ sự Đản sinh, Thành đạo và Nhập Niết bàn của Đức Phật. Đó là ngày tốt lành nhất trong năm. Một điệu múa Cham được biểu diễn vào ngày hôm đó để tưởng nhớ đến Đức Phật và Pháp.

Một chức năng quan trọng khác của Vũ điệu Cham là cầu mong một thế giới hòa bình, bảo vệ muôn loài khỏi ma quỷ. Đó là sự cúng dường cho Bồ Tát để loại bỏ mọi đau khổ và lo lắng, và mang lại niềm vui và hạnh phúc.

Các loại hình đặc trưng của Vũ điệu Cham

Có một số chủ đề của Múa Cham, một số đặc trưng cho các trường phái khác nhau của Phật giáo Tây Tạng.

Những vị thần bảo vệ “phẫn nộ”

vu dieu cham 3

Các nhân vật trung tâm của điệu múa là những vị thần Phật bảo vệ phẫn nộ, chẳng hạn như: Mahakala, Yama, Hayagriva, Palden Lhamo, Begtse, và những người khác. Những nhân vật này sẽ gây ấn tượng mạnh nhất đối với du khách bởi những chiếc mặt nạ cầu kỳ và trang phục sặc sỡ. Bất chấp vẻ ngoài lực lượng của họ, những người bảo vệ này chỉ khiến những linh hồn xấu xa sợ hãi. Họ là những vị Hộ Pháp cần thiết cho Phật giáo Tây Tạng.

Điệu nhảy thần linh với chủ đề trung tâm là lời cầu nguyện với Phật để chế phục ma quỷ. Điệu múa cho thấy chúng sinh đang chịu đựng những chướng ngại xấu, những ảo tưởng và những rắc rối.

Những bộ xương nhảy

Một đặc điểm chung khác của Múa Cham là một nhà sư đeo mặt nạ đầu lâu và trang phục trang trí hình bộ xương. Người Tây Tạng không bị đe dọa bởi cái chết, vì họ tin vào luân hồi và coi cái chết là bước cần thiết cho một cuộc sống mới và cuối cùng là giác ngộ.

vu dieu cham 2

Có nhiều loại nhân vật bộ xương khác nhau: Ging thường mặc trang phục bộ xương đơn giản và đeo mặt nạ hình đầu lâu; Gangre đeo một chiếc mặt nạ đầu lâu được trang trí. Họ thường biểu diễn khiêu vũ theo cặp. Các vũ công bộ xương Citipati biểu diễn theo cặp nam – nữ. Mặt nạ đầu lâu có 5 đầu lâu nhỏ hơn trên đỉnh. Citipati là một trong những hình thức của Mahakala. Sự hợp nhất của hai vị thần tượng trưng cho vũ điệu bất diệt của cái chết và một nhận thức hoàn hảo.

Điệu nhảy Guru

Padma Sambhava (Guru Rinpoche trong tiếng Tây Tạng) là một Đạo sư Ấn Độ thế kỷ thứ 8 và là người sáng lập Nyingmapa. Theo người Tây Tạng, Padma Sambhava là người bắt đầu truyền thống Múa Cham. Đó là lý do tại sao múa Cham thường miêu tả cảnh cuộc đời của Padmasambhava.

vu dieu cham 9

Điệu múa Guru được thực hiện vào ngày 10 tháng 6 theo lịch Tây Tạng để kỷ niệm ngày ngài giác ngộ. Các nhà sư biểu diễn vũ điệu trong mặt nạ và trang phục của 8 biểu hiện của Guru Rinpoche. Trong tay, họ cầm nhiều dụng cụ đặc biệt khác nhau mà Guru Rinpoche đã sử dụng.

Điệu nhảy trên bầu trời – Điệu nhảy nghi lễ và biến đổi không gian vũ trụ

Thực hiện trong một mạn đà la, với một nhà sư tụng kinh ở trung tâm. Những người biểu diễn ca ngợi công đức của tất cả Phật và Bồ tát trong mười phương bằng ca hát và nhảy múa.

vu dieu cham 6

Padmasambhava, vị thiền sư vĩ đại, một người có tri thức, đã khuất phục những con quỷ trong khu vực Samye bằng cách thực hiện một điệu nhảy nghi lễ. Nó dựa vào mandala vĩ đại với hành động. Bằng cách làm đó, vị thiền sư đã làm dịu sự ác độc của các vị thần và ác quỷ. Do đó thiền sư ràng buộc chúng mạnh mẽ bằng cách tách mặt đất ra và bổ sung cho nó hiệu quả và với nghi lễ trục xuất, sợi chỉ và vũ khí huyền diệu. Điệu nhảy gắn liền với cội nguồn của Mật tông và có rất nhiều quyền năng.

Người Tây Tạng coi điệu múa này là nguyên mẫu của Cham. Nó cũng phản ánh bản chất của Vũ điệu Mật tông Tây Tạng liên quan đến không gian nghi lễ: tạo ra một cõi thanh tịnh cho một ngôi đền, một bảo tháp hay một mạn đà la sẽ được xây dựng trên đó.

Điệu múa hươu / nai (Milarepa Cham) bắt nguồn từ truyền thuyết về nhà huyền bí Phật giáo thế kỷ 11 Jetsun Milarepa, người đã thuần hóa một con chó để bảo vệ một con hươu đã vào hang động của mình. Điệu nhảy được cho là bắt nguồn từ Tser Gontham, một tu viện Kagyu bên sông Lhasa ở Tây Tạng.

vu dieu cham 4 1

Điệu múa hươu có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào màn trình diễn. Nếu nó được biểu diễn bởi một nhóm, các vũ công biểu thị và đại diện cho “một trong nhiều vị thần bảo vệ” và chúc mừng năm mới của các thế lực tiêu cực. Nhưng khi nó được biểu diễn bởi một vũ công, anh ta đại diện cho con nai đã được Milarepa thuần hóa và giải cứu.

Vũ điệu Mũ đen

vu dieu cham 8

Điệu múa Mũ đen (Zhananga Cham) gắn liền với truyền thuyết về vị vua tàn nhẫn của Tây Tạng, Langdarma, người đã phá hủy nhiều tu viện và hành quyết các nữ tu và nhà sư Phật giáo. Người ta tin rằng một nhà sư Phật giáo tên là Lhalung Pelgyi Dorje đã thực hiện một màn tắm rửa trước mặt nhà vua trước khi dùng một mũi tên tấn công ông.

Những người biểu diễn mặc một chiếc áo choàng được gọi là phod-ka, và một chiếc tạp dề dài màu đen có thêu “viền đầu lâu”. 

vu dieu cham 5

Điệu múa của Ông già râu trắng ở Mông Cổ (The Old White Man from Mongolia) có lẽ là một trong những bổ sung gần đây nhất trong lịch sử 800 năm tuổi của các điệu múa Tây Tạng. Đây là điệu nhảy duy nhất mà người biểu diễn được phép nói, và người ta tin rằng điệu múa bắt nguồn từ một giấc mơ mà Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13, Thubten Gyatso, đã có khi ông chạy trốn từ Tây Tạng đến Mông Cổ vào năm 1904. Trong buổi biểu diễn, vũ công mặc một chiếc áo choàng trắng và cầm một cây gậy trong tay.

Gar Cham có lẽ là một trong số ít điệu múa được thực hiện bí mật bởi các Lạt-ma. Mặc dù nó là một loại Cham Dance, nhưng nó không phải để công chúng xem. Điệu nhảy này so với các điệu nhảy khác, yên tĩnh hơn và chủ yếu bao gồm các chuyển động của tay, trong khi các điệu nhảy khác lại “phẫn nộ” và tràn đầy năng lượng hơn, tập trung nhiều hơn vào động tác chân. 

Mô tả cuộc tranh luận Phật giáo ở Tu viện Kumbum

Mỗi năm một lần, du khách có thể xem Vũ điệu Cham mô tả cuộc tranh luận của Hội đồng Lhasa giữa Moheyan và Kamalasila. Điệu múa kể về câu chuyện ám sát vị vua tàn ác chống Phật giáo Tây Tạng Langdarma. Nó tượng trưng cho sự chiến thắng của cái thiện trước cái ác.

Trên đây là một số thông tin thú vị về Vũ điệu Cham truyền thống của Tây Tạng. Nếu có dịp đến vùng đất này trong hành trình du lịch Trung Quốc, du khách đừng bỏ qua cơ hội được một lần “thưởng thức” Vũ điệu Cham đặc sắc nhé! Chúc các du khách có một chuyến đi vui vẻ và thú vị!

giay bon hoa 6

Giày “Hoa bồn để” – đôi giày cao gót truyền thống của phụ nữ dân tộc Mãn Châu ở Trung Quốc

Bên cạnh bộ trang phục truyền thống, giày dép cũng có những nét đặc trưng riêng thể hiện nét đặc trưng riêng của một quốc gia, dân tộc. Và đối với người Mãn Châu ở Trung Quốc cũng không ngoại lệ, đặc biệt hình ảnh người phụ nữ Mãn Châu rất ấn tượng với đôi giày “hoa bồn để” truyền thống. 

Giày “Hoa bồn để” của phụ nữ dân tộc Mãn Châu còn có nhiều tên gọi khác nhau như: Kỳ hài, giày “đế móng ngựa”, giày “đế cao”. Trong các bộ phim cổ trang Trung Quốc về triều đại nhà Thanh đều xuất hiện hình ảnh các vị phi tần, công chúa, hay cung nữ đi đôi giày cao lênh khênh này. Tuy nhiên, trong thực tế, đa phần cung nữ đều không đi loại giày này vì nó gây khó khăn trong khi làm việc. Những cung nữ cấp bậc thấp, làm công việc giặt giũ, quét dọn lai càng không được phép đi.

giay bon hoa 3

Theo ghi chép, các đôi giày “Hoa bồn để” thường có phần gót cao 5cm, 15cm và thậm chí cao đến 25cm. Phần gót thường được bọc trong lớp vải trắng và gắn ở phần giữa của giày. Vì gót cao như thế khiến người mang giày rất khó di chuyển, cần có sự hỗ trợ của các cung nữ và phải đi rất chậm.

Xoay quanh về nguồn gốc của giày “Hoa bồn để” có rất nhiều cách giải thích khác nhau:

Đôi giày “Hoa bồn để” có nguồn gốc từ một câu chuyện của người Mãn. Khi cha của công chúa tộc Mãn Châu Đa La Cam Chu bị một thủ lĩnh bộ lạc tên là Cáp Tư Cổ Hãn sát hại, kinh thành A Khắc Đội của họ bị cướp. Đa La Cam Chu quyết tâm lấy lại kinh thành, báo thù cho cha. Tuy nhiên, xung quanh thành là đầm lầy, nước sâu hơn 3 thước (khoảng hơn 1m), người và ngựa không thể đi qua. Đa La Cam Chu bèn chế tạo ra một loại giày có tên là “đôi chân hạc bằng gỗ”, giúp nàng đưa quân vượt đầm lầy, lấy lại kinh thành.

Sau này, phụ nữ dân tộc Mãn khi hái nấm và quả dại thường đi loại giày này để tránh rắn độc cắn. Nó dần trở thành một loại giày gỗ cao gót đi hàng ngày, với hai đầu rộng, ở giữa hẹp. Dù phần cao gót có hình dạng khác nhau, thân giày đều được chế tác cầu kỳ và gọi chung là “kỳ hài”.

giay bon hoa 1

Nhiều người cho rằng sau khi người Mãn Châu di cư xuống phía Nam Trung Quốc, họ đã bị ảnh hưởng bởi văn hóa của người Hán. Mãn Châu là một dân tộc thuộc nhóm người Tungus, sinh sống ở vùng Đông Bắc Trung Quốc và Đông Nam nước Nga. Tộc Mãn Châu chuyên cưỡi ngựa săn bắn, vốn sùng bái đôi chân tự nhiên của phụ nữ. Trong khi đó, phụ nữ quý tộc người Hán lại có tục bó chân, với quan niệm chân càng nhỏ càng đẹp. Do đó, nam giới Mãn Châu lúc bấy giờ bị ảnh hưởng, chỉ thích lấy vợ người Hán bó chân để tỏ ra là người quý tộc. Phụ nữ Mãn Châu vốn có đôi chân tự nhiên đã phát minh ra loại giày này, giấu đi bàn chân thô dưới ống quần dài.

giay bon hoa 1

Trong cuộc nổi dậy vào thế kỷ 17, người Mãn thu phục nhà Minh và lập ra nhà Thanh. Năm 1644, vua Thuận Trị lên ngôi, định đô ở Bắc Kinh. Để củng cố địa vị của nhà Thanh, vua cho truyền bá trang phục và trang sức của người Mãn, xóa bỏ ảnh hưởng phong tục, tập quán của người Hán, cấm phụ nữ Mãn Châu bó chân. Như vậy, những chiếc giày “bồn hoa” đã được ra đời. Không chỉ đáp ứng được nhu cầu về cái đẹp của các cung phi mà nó còn phù hợp với lệnh của Hoàng đế.

Các phi tần người Mãn rất yêu cái đẹp. Khi ở trong cung, các cuộc đấu đá tranh giành quyền lực giữa những người phụ nữ của vua chúa là không thể tránh khỏi. Và một trong những cách để họ làm nổi bật bản thân hơn là sử dụng giày “bồn hoa”. Mặc dù khi mang giày này rất khó di chuyển nhưng nó sẽ khiến dáng đi trông uyển chuyển hơn. Do hình dạng đặc biệt của những chiếc giày cũng khiến dáng người trông cao, thon thả hơn.

giay bon hoa 4

Ý kiến khác lại cho rằng, giày “bồn hoa” dày có thể chống lại cái lạnh của thời tiết. Người Mãn Châu đến từ vùng Đông Bắc lạnh lẽo của Trung Quốc. Để tránh rét lạnh, những chiếc giày có phần đế dày, giữ ấm cho chân rất tốt là ưu tiên hàng đầu của người phụ nữ Mãn Châu.

Dù theo cách giải thích nào, giày “Hoa bồn để” với lịch sử phát triển vài trăm năm cũng trở thành một trong những biểu tượng thời trang của phụ nữ thời đại nhà Thanh trong lịch sử phong kiến Trung Hoa.

Lịch sử, văn hóa và con người Trung Hoa còn có rất nhiều điều thú vị. Du khách hãy thực hiện một chuyến du lịch Trung Quốc để tự mình khám phá nhé! Chúc các du khách có một chuyến đi vui vẻ!

4 cai nhat cua can long 7

4 “cái nhất” của Càn Long Đế trong lịch sử Trung Hoa

Càn Long là vị Hoàng đế thứ 6 của nhà Thanh trong lịch sử Trung Hoa. Ông cũng là vị vua sở hữu nhiều kỷ lục nhất: sống thọ nhất (88 tuổi), cai trị lâu nhất (60 năm), sống xa hoa nhất triều Thanh và là một trong số ít Hoàng đế phong lưu của quốc gia này.

Thanh Cao Tông Càn Long tên thật là Ái Tân Giác La Hoằng Lịch (1711 – 1799) là Hoàng đế thứ 6 của nhà Thanh; nhưng trên thực tế là Hoàng đế thứ 4 sau khi nhập quan. Năm 1736, ông lên ngôi Hoàng đế và lấy niên hiệu là Càn Long.

Ông nối tiếng là một trong những vị vua trị vì anh minh nhất trong các thời đại triều đình phong kiến ở Trung Hoa. Ông vua này không chỉ có giỏi “việc nước” mà còn “đảm việc nhà”. Theo ghi chép từ lịch sử, Hoàng đế Càn Long tiếp nhận đến hơn 40 người vợ mà số lượng giai lệ xếp hàng dài cũng lên đến hơn ngàn người. Ngoài những kỷ lục “vô tiền khoáng hậu” từ chính trị cho đến hậu cung, từ “việc nước” cho đến “việc nhà”, Càn Long Đế còn ghi danh với “nhiều cái nhất” khác chưa ai sánh bằng.

Ông vua phong lưu bậc nhất

4 cai nhat cua can long 5

Càn Long được hậu thế gọi là “Hoàng đế phong lưu”, ông không chỉ có tam cung lục viện với hơn 40 bà vợ và hàng ngàn cung tần mỹ nữ, mà ông còn có nhiều mối tình dân gian khi mỗi lần “vi hành”. 

Đối với vị Hoàng hậu đầu tiên là Phú Sát thị, Càn Long rất mặn nồng, ân ái, nhưng ông vẫn đò đưa, lét lút tư thông với em dâu vợ là Phú Sát phu nhân – vợ của Phó Hằng – khiến Phú Sát Hoàng hậu ôm hận mà chết.

Sau đó, Lệnh Phi Ngụy Giai thị được sắc phong lên làm Hoàng Quý phi, cai quản lục cung, bà kém Càn Long Đế 16 tuổi. Bà là một người thông minh, lanh lợi, rất hiểu đạo nghĩa vợ chồng nên đều mắt nhắm mắt mở cho qua đối với việc phong lưu của vua Càn Long và được vua rất sủng ái.

4 cai nhat cua can long 4

Ông đối xử tình cảm với Lệnh Phi mặn nồng là vậy, nhưng sau khi có sự xuất hiện của Hương Phi, mỹ nữ xứ Tân Cương vào cung, Càn Long Đế lại nhanh chóng quên đi Lệnh Phi, chỉ chuyên tâm sủng ái Hương Phi. Thậm chí, ông còn cho xây các công trình của người Hồi giáo ở trong cung, đón họ hàng thân thích của Hương Phi vào thành và thuê riêng đầu bếp người Hồi giáo đến phục vụ các món ăn.

Vị vua sống xa hoa nhất Thanh triều

Càn Long cũng được biết tới là vị vua “chịu chơi” nhất triều Thanh. Có thể nói rằng: “Xét về độ xa hoa, nếu Càn Long đứng thứ hai thì trong các vị vua thời Thanh triều không ai dám đứng thứ nhất”. Ông hay tổ chức đại tiệc trong cung, cũng thường xuyên ra ngoài Tử Cấm Thành đi tìm thú vui ở những nơi có ca kĩ.

4 cai nhat cua can long 3

Theo tài liệu sử ghi chép, năm Càn Long đế mừng thọ 60 tuổi, ông đã gọi quan lại trong nước và sứ thần nước ngoài tới dự. Cung đình bấy giờ được trang hoàng rực rỡ, treo đèn kết hoa, bên lề đường xây dựng các sân khấu biểu diễn để dành cho các gánh hát, dùng lụa màu làm núi giả, dùng những tấm thiếc trắng để làm giả sóng biển. Còn lần mừng thọ 80 tuổi, vua Càn Long tổ chức một buổi yến tiệc cho gần 6.000 người tham sự. Ước tính chi phí cho hai lần mừng đại thọ tốn đến mười triệu lạng bạc bấy giờ.

Sự xa hoa của ông không chỉ thể hiện trong lối sống hằng ngày mà ngay cả trong những chuyến tuần du Giang Nam. Càn Long đã thực hiện tuần du phương nam 6 lần, bằng với số lần tuần du của Hoàng đế Khang Hy. Tuy nhiên, chi phí mỗi chuyến đi của Càn Long lại nhiều gấp 10 lần so với Khang Hy. 

Những chuyến tuần du phương nam của Càn Long, chủ yếu là đi thăm thú, ăn chơi hưởng lạc. Ông ta thường bắt đầu những chuyến tuần du vào mùa xuân, mùa đẹp nhất trong năm.

4 cai nhat cua can long 1

Một trong những chuyến tuần du tốn kém khủng khiếp nhất, phải kể đến vào năm Càn Long thứ 12 (năm 1748), Càn Long học theo Khang Hy, cùng với mẹ là Sùng Khánh Hoàng Thái hậu, xuống Giang Nam thăm thú. 

Càn Long tuần du xuống phía Nam, chỉ riêng thuyền lớn đã huy động hơn một nghìn chiếc. Thuyền lớn mà Càn Long sử dụng phải dùng đến sức kéo của cả ngàn dân phu mới di chuyển được trên sông. Riêng ngựa được huy động đến 6.000 con, lạc đà 600 con, người hầu, cung nữ, phi tần cho đi theo đến vài ngàn người.

Vốn Càn Long thích nghe kinh kịch, nên suốt lộ trình, các nơi Càn Long đi qua, quan lại đều cho xây dựng sân khấu để hát xướng. Những gánh hát nổi tiếng của Trung Quốc bấy giờ đều đổ xô đến hai tỉnh Giang Nam, Chiết Giang biểu diễn.

4 cai nhat cua can long 2

Trên chặng đường từ Bắc Kinh đến Hàng Châu, tổng cộng có 36 hành cung được xây dựng, cứ 20 dặm lại có một nhà công quán. Trên đường Càn Long đi qua đều phải trải thảm, che bằng lụa. Đặc biệt, ở những nơi Càn Long tuần du qua, giá của hàng hóa lại bị đội lên gấp 2-3 lần, khiến cho phủ Nội vụ (nơi quản lý tài chính, chi tiêu hoàng gia) phải oằn mình trang trải.

Mỗi khi đến nơi nào quan lại, nhân dân tổ chức đón rước linh đình, làm Càn Long hài lòng, đều sẽ được ban thưởng rất nhiều. Ước tính, chi phí cho mỗi cuộc tuần du của Càn Long lên đến 200 trăm vạn lạng bạc.

Vì tiêu xài quá độ, phủ Nội vụ nhiều năm liền bị thâm hụt ngân quỹ, còn các đại thần mỗi khi nghe hai chữ “tuần du” đều khiếp vía.

Hoàng đế cai trị lâu nhất

Thời kì trị vì của vua Càn Long kéo dài hơn 60 năm từ 18/10/1735 đến 9/2/1796, và là thời cực thịnh về kinh tế và quân sự của nhà Thanh. Vào thời này, lãnh thổ nhà Thanh kéo dài đến châu thổ sông Ili và Tân Cương và lãnh thổ Trung Quốc mở rộng đến tối đa: khoảng 11.000.000km², so với 9.000.000km² hiện tại. Ông bắt chước cách thức cai trị của ông nội mình là Khang Hy, người mà ông rất ngưỡng mộ.

4 cai nhat cua can long 6

Khi còn trẻ, Càn Long đã khiến Khang Hi ngạc nhiên về rất nhiều lĩnh vực, nhất là về văn học nghệ thuật. Và Khang Hi đã cho rằng Càn Long có thể sẽ là xứng đáng trở thành Hoàng đế kế vị của nhà Thanh sau Ung Chính.

Lúc lên ngôi, Càn Long có mở một số cuộc viễn chinh (đã thất bại), và thu nạp nhiều phụ nữ, tuần du các nơi, kết nạp lộng thần tham ô Hòa Thân…

Năm 1796, ông nhường ngôi cho con là Ngung Diễm, lên làm Thái Thượng hoàng, giữ vững quyền triều chính.

Thực chất, thời kỳ trị vì của Càn Long Đế kéo dài 60 năm, vẫn kém Khang Hy 1 năm. Tuy nhiên, khi Càn Long thoái vị truyền ngôi cho con không phải là do qua đời hay sức khỏe quá suy yếu mà chỉ là do ông không muốn vượt quá số năm trị vì của ông nội Khang Hy, người mà Càn Long Đế vô cùng kính trọng. Sau khi truyền ngôi cho con là Gia Khánh lên làm Thái Thượng hoàng, Càn Long vẫn quyết định mọi chuyện quốc gia đại sự, trong cung đình vẫn dùng Càn Long niên hiệu. Vì vậy, lúc bấy giờ, triều Thanh tồn tại cùng lúc “hai vị hoàng đế”. Do đó, nếu nói Càn Long là vị Hoàng đế cai trị lâu nhất quả thực cũng không sai.

Càn Long là ông vua sống thọ nhất

Trong lịch sử Trung Hoa, Càn Long nổi tiếng là một vị vua phong lưu, đa tình với nhiều thê thiếp. Trong khi đó, tục ngữ có câu: “Rượu là thuốc độc của gan, phong lưu, háo sắc là con dao sắc cắt gân, cưa xương con người”. Điều này muốn nói rằng, nếu một người quá phong lưu, háo sắc sẽ gây hại tới thể chất, làm giảm tuổi thọ. Thế nhưng, Càn Long Đế lại sống thọ tới 88 tuổi, trở thành ông vua sống thọ nhất trong lịch sử Trung Hoa (mất vào năm Gia Khánh thứ 4 – 1799).

4 cai nhat cua can long 8

Ông là một trong 4 vị đế vương thọ nhất của Trung Hoa, trên 80 tuổi, ba người kia là: Lương Vũ Đế Tiêu Diễn (86 tuổi), Tắc Thiên Đại Thánh Hoàng đế (82 tuổi) và Tống Cao Tông (81 tuổi). Đồng thời, ông cũng là vị Hoàng đế có tuổi thọ cao nhất Trung Hoa.

Với những thông tin về Hoàng đế Càn Long mà chúng tôi vừa trên sẻ trên đây, hẳn du khách cảm thấy thích thú và muốn khám phá nhiều hơn về vị vua nổi tiếng này. Vậy còn chần chờ gì nữa mà du khách không đặt ngay cho mình một Tour Trung Quốc để tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn nhé!

cai chet lang xet cua 8 ong vua 9

Cái chết “lãng xẹt” của 8 ông Vua trong lịch sử Trung Hoa cổ đại

Trong danh sách các Hoàng đế  Trung Hoa có rất nhiều nhân vật nổi danh. Người thì có chiến công lừng lẫy, người là hôn quân vạn người căm ghét, người là bù nhìn bất tài khiến cả triều đại sụp đổ,… Tuy nhiên, cũng có những Hoàng đế lại ghi dấu ấn trong lịch sử theo một cách rất riêng khi có cái chết chẳng giống ai.

Lịch sử Trung Hoa cổ đại từng ghi nhận những trường hợp Hoàng đế có cái chết “lãng xẹt” với những lý do không ai ngờ tới: chết uất vì vợ gian dâm, chết ngạt vì bị phi tần lấy gối đè, chết vì ngã xuống hố phân, chết đói chết khát, hay chết vì bị con trai xẻo mũi,…

1. Hiếu Văn Đế chết uất vì vợ gian dâm

Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế Thác Bạt Hoành (467-499) nổi tiếng là nhà cải cách, bậc “minh quân”, được ca ngợi, đưa cả vào sách giáo khoa trung học với đánh giá là một nhà cải cách thành công hiếm có thời cổ đại. Thế nhưng, vị Hoàng đế anh minh người dân tộc thiểu số đó lại đột ngột qua đời ở tuổi 32 khi sự nghiệp đang chói sáng khiến người đời thương tiếc. Trong chính sử chỉ chép đơn giản là ông chết vì bệnh mà không nói rõ đó là bệnh gì, nhưng nguyên nhân sâu xa là chết uất vì vợ của mình (Phùng Hoàng hậu) gian dâm với thái giám.

cai chet lang xet cua 8 ong vua 1

Vào mùa thu năm 497, Thác Bạt Hoành đã mở một cuộc tấn công lớn vào Nam Tề đang nổi lên cát cứ. Tuy nhiên, trong khi Hoàng đế vắng mặt, Phùng Hoàng hậu đã bí mật rồi ngang nhiên dan díu với một tên thái giám giả là Cao Bồ Tát và buộc em gái ông là Bành Thành Công chúa kết hôn với em trai bà ta là Bắc Bình công Phùng Túc.

Bành Thành Công chúa trốn khỏi Lạc Dương chạy đi tìm Thác Bạt Hoành tố cáo tội thông gian của Phùng Hoàng hậu. Thác Bạt Hoành quay về Lạc Dương bắt Cao Bồ Tát, Phùng Hoàng hậu và phụ tá của bà là Song Mông thẩm vấn. Phùng Hoàng hậu vừa nhìn thấy chồng đã ra sức khóc lóc kêu oan, Thác Bạt Hoành bịt tai lại không nghe và kết luận rằng Hoàng hậu đã thực sự phạm tội thông dâm. Tuy nhiên, do không muốn gia tộc họ Phùng phải hổ thẹn, ông đã không phế truất bà ngay mà ra lệnh tống giam. Nhưng việc hoàng hậu ngoại tình với hoạn quan đã giáng đòn chí tử vào Thác Bạt Hoành, quá uất ức vì bị phản bội, ông suy sụp không gượng lại nổi rồi qua đời ở tuổi 32.

2. Tấn Cảnh Công Cơ Cứ chết vì rơi xuống hố phân

Tấn Cảnh Công (cai trị: 599 TCN – 581 TCN), tên thật là Cơ Cứ, con trai của Tấn Thành Công, là vị vua thứ 27 của nước Tấn. Ở ngôi được 19 năm, Tấn Cảnh Công qua đời đột ngột vì bạo bệnh. Về cái chết của vị Hoàng đế này, hậu thế thường lưu truyền giai thoại Cảnh Công băng hà vì đột tử trong nhà vệ sinh!

Theo “Đông Chu liệt quốc chí”, vào năm 581 TCN, Tấn Cảnh Công lâm bệnh nặng. Bấy giờ, triều đình có tìm đến người thầy bói nổi danh đất Tang Môn để tiên đoán vận mệnh cho chúa công. Khi ấy, người thầy bói này có phán: “Chúa công sẽ không kịp ăn lúa mạch mới năm nay”, ý nói Tấn Cảnh Công chắc chắn sẽ đoản mệnh qua đời ngay trong năm.

cai chet lang xet cua 8 ong vua 2

Bản thân Tần Cảnh Công và bá quan văn võ trong triều đều không tin. Bởi lẽ chúa công tuy lâm bệnh, nhưng thân thể tráng kiện, vốn không dễ “đoản mệnh. Hơn nữa, bấy giờ trên lãnh thổ nước Tấn, nhiều vùng đã có lúa mạch chín.

Để chứng minh lời tiên đoán kia là vô căn cứ, Tấn Cảnh Công đã hạ lệnh cho những địa phương có lúa chín lập tức thu hoạch để dâng lên nhà vua. Khi lúa mạch dâng tới nơi, bá quan có hỏi thầy bói đất Tang Môn: “Lúa mạch mới đã để ở đây rồi, nhà ngươi còn dám bảo chúa công không kịp nếm nữa hay không?”. Vị thầy bói ấy vẫn một mực tin vào điều mình tiên đoán, lập tức bị quan quân lôi ra ngoài chém đầu.

Bá quan sau đó liền sai người dùng lúa mạch này nấu cháo để dâng lên nhà vua. Kỳ lạ thay, cháo vừa đến tay, Tấn Cảnh Công chưa kịp nếm thì đã cảm thấy bụng chướng, bao tử đau dữ dội, vội gọi người cõng tới nhà vệ sinh. Người hầu vừa cõng tới nơi, Tấn Cảnh Công vì quá đau đớn, chân đứng không vững, ngã xuống hố phân. Thấy chúa công long thể bất thường, người hầu vội ẵm lên, nhưng vừa chạm vào đã nhận ra Tấn Cảnh Công tắt thở từ bao giờ.

Cho tới ngày nay, ít ai để tâm Tấn Cảnh Công qua đời vì bệnh gì, nhưng giai thoại về việc ông vua chết vì rơi xuống hố phân cứ mãi lưu truyền về sau.

3. Chu Tuyên Đế Vũ Văn Uân chết yểu vì “mây mưa” quá độ

Chu Tuyên Đế Vũ Văn Uân (559-580) là một Hoàng đế của triều đại Bắc Chu trong lịch sử Trung Quốc. Tương truyền, chính vì thói ham mê xác thịt quá độ mà ông vua này không sống lâu để hưởng phú quý. Dâm loạn 2 năm đã chết yểu. Ngay từ khi mới lớn lên Vũ Văn Uân đã thèm khát đàn bà, dâm loạn không sao tả xiết, vị Hoàng tử này được sử sách ghi lại nổi bật lên là thói hoang dâm.

Vũ Văn Vân đam mê chuyện xác thịt đến nỗi từ khi còn là Hoàng tử đã mong mỏi ngày đêm được kế vị ngai vàng để thả sức hưởng mọi lạc thú. Vì thế, khi vua cha qua đời, ông ta chẳng những không buồn mà còn than rằng phụ hoàng chết quá muộn. Mồ cha chưa ấm, vị vua trẻ 19 tuổi đã thông dâm với các phi tần, cung nữ của cha. Rồi ông ra hạ chỉ tuyển chọn gái đẹp khắp mọi miền để hưởng lạc.

cai chet lang xet cua 8 ong vua 5

Theo tục lê, khi vua trước chết đi vua này lên thay trị vì thì toàn thể phi tần đều bị cho vào lãnh cung nhưng Chu Tuyên đế đã không bỏ sót một ai, giữ lại tất cả, ngày đêm hoang dâm vô độ. Tất cả những người đàn bà có nhan sắc lọt vào mắt Chu Tuyên đế đều không thể thoát, cho dù đó là vợ của các đại thần. Chu Tuyên đế thèm khát ăn chơi, hưởng lạc, dâm loạn đến nỗi chỉ một năm sau ngày bước lên ngai vàng, ông ta đã nhường phắt ngôi báu cho đứa con trai 7 tuổi để dành toàn bộ thời gian cho việc hưởng thụ sắc dục.

Tham vọng trở thành Hoàng đế của Vũ Văn Uân cũng chỉ gói gọn trong vấn đề xác thịt, để hưởng lạc thú một cách thoải mái nhất. Cũng vì mây mưa quá độ, dùng thuốc kích thích vô tội vạ mà vị thái thượng hoàng trẻ tuổi này mắc bệnh nặng, qua đời chỉ một năm sau đó, khi mới 21 tuổi. Tính hoang dâm của Chu Tuyên đế không chỉ làm hại tính mạng ông ta, mà còn làm sụp đổ cả triều Bắc Chu, vốn đã được người cha tài năng của ông ta làm cho hùng mạnh. Một thời gian sau khi Tuyên đế chết, bố vợ ông ta là Dương Kiên đã cướp ngôi của cháu ngoại (con trai Tuyên Đế) để lập ra nhà Tùy.

4. Đông Tấn Hiếu Vũ Đế chết ngạt vì bị phi tần lấy gối đè

cai chet lang xet cua 8 ong vua 3

Đông Tấn Hiếu Vũ Đế Mã Tư Diệu (361-396) là Hoàng đế thứ 9 của triều Đông Tấn. Giống như những Hoàng đế khác, Mã Tư Diệu rất thích uống rượu. Vào một ngày năm 396, Mã Tư Diệu cùng Trương Quý Nhân cùng nhau uống rượu ở cung điện mùa hè. Vì uống say nên hai người cãi nhau, do cãi không lại được với Trương Quý nhân, Hiếu Vũ Đế liền nói: “Nàng đừng tưởng ta sủng ái nàng mà coi thường ta, hậu cung của ta có rất nhiều phụ nữ, một ngày nào đó ta sẽ phế nàng tìm một người trẻ đẹp hơn!”, rồi sau đó lên giường đi ngủ. Có câu: “Người nói vô tâm, người nghe có ý”, Trương Quý nhân vô cùng tức giận, liền tìm vài cung nữ lấy gối úp lên mặt Mã Tư Diệu khiến ông ta chết ngạt.

5. Bắc Tề Văn Tuyên Đế chết đói chết khát vì nghiện rượu

Bắc Tề Văn Tuyên Đế Cao Dương (526-559) là hoàng đế khai quốc của triều đại Bắc Tề trong lịch sử Trung Quốc. Ban đầu khi lên ngôi, ông được rất nhiều người tin tưởng bởi bản lĩnh chính trị và sự sáng suốt của mình. Tuy nhiên, sự hưng thịnh của triều đại ông cai trị chẳng kéo dài được bao lâu khi Cao Dương bắt đầu giở thói nghiện rượu.

Văn Tuyên Đế dần trở thành đối tượng bị dân lành căm ghét vì chính sách cai trị tàn bạo, thường xuyên lên cơn điên loạn. Trong “Tư trị thông giám” có viết, sau khi say rượu Văn Tuyên đế thường có những hành vi bất thường, ví như ca hát nhảy múa cả ngày, mặc trang phục dân tộc đi loanh quanh. Có hôm ông bôi cả phấn son lên mặt mình, khoe khoang cơ thể khắp nơi. Chưa dừng lại ở đó, Cao Dương còn thường xuyên lê la ngoài đường phố, thậm chí nằm ngủ ở đó như một tên vô gia cư. Các đại thần và thuộc hạ thường xuyên nhắc nhớ Cao Dương nên chú ý hành vi của mình, nhưng càng ngày ông càng trở nên điên loạn.

cai chet lang xet cua 8 ong vua 6

Đỉnh điểm là trong một lần ra phố, ông kéo một người đàn bà lại hỏi: “Thiên tử của nước ta trông như thế nào?”. Bà này lập tức đáp, “Lão ta suốt ngày điên điên khùng khùng, cư xử như đồ ngốc. Có thiên tử nào như thế chứ”. Nghe thế, Cao Dương bèn sai người chặt đầu người phụ nữ ấy. Rượu chè khiến Cao Dương mất lí trí đến mức ông còn từng có ý định nhảy vào đám lửa tự sát.

Đến năm 559, sau 9 năm tại vị, Cao Dương qua đời. Đáng nói, ông không phải chết vì uống rượu quá độ mà bởi mắc chứng kén ăn nặng do uống quá nhiều rượu trong một thời gian dài. Cuối đời Cao Dương không ăn được cũng chẳng uống nước bình thường được, kết quả dẫn đến việc tự làm mình chết đói chết khát. Có thể nói, đây là cái chết kì lạ bậc nhất của trong lịch sử phong kiến Trung Quốc.

6. Hạ Cảnh Tông chết vì bị con trai xẻo mũi

Hạ Cảnh Tông Lý Nguyên Hạo (1003-1048) là Hoàng đế khai quốc của nhà Tây Hạ. Giống như những vị quân vương trong lịch sử, Lý Nguyên Hạo đắm chìm trong men say của những chiến công mà bỏ rơi việc triều chính, trở nên tàn nhẫn và vô cùng háo sắc. Ông ta nhìn thấy vợ của con trai mình (Thái tử Ninh Lệnh Cách) xinh đẹp, liền chiếm đoạt và lập thành “hoàng hậu mới”. Rồi lại mượn cớ giết chết công thần Dã Lợi Ngộ, để thông dâm với thê thiếp của vị công thần này.

cai chet lang xet cua 8 ong vua 4

Thái tử Ninh Lệnh Cách vì bị cha cướp mất vợ trong lòng nảy sinh hận thù đã âm mưu ám sát cha mình. Vào đêm nguyên tiêu năm 1048, Ninh Lệnh Cách vào cung ám sát Lý Nguyên Hạo. Lý Nguyên Hạo bị con trai xẻo mũi vì kinh sợ mà qua đời.

7. Tần Vũ Công Doanh Đảng chết vì đỉnh đồng rơi vào người

cai chet lang xet cua 8 ong vua 8

Tần Vũ Công Doanh Đảng (chưa rõ năm sinh – mất vào năm 688 TCN) là Hoàng đế của nước Tần thời xuân Thu. Ông là người khỏe mạnh, cường tráng, thích làm những việc khác người, hơn nữa lại sống vào thời kỳ nhà Tần rất hưng thịnh nên có thể nói tiền đồ của ông còn tiến xa. Nhưng một lần khi đi đến Lạc Dương, thấy một chiếc đỉnh đồng to, lại nghe nói có dũng sỹ họ Mạnh đã từng nâng được chiếc đỉnh đồng lên, Tần Vũ Công nhất mực đòi tự nâng chiếc đỉnh đồng đó, vừa mới nhấc lên vì run tay chiếc đỉnh đồng nặng hơn trăm cân rơi xuống, đè nát chân của Tần Vũ Công. Dù được thuộc hạ tích cực cứu chữa nhưng do vạc đồng nguyên khối quá nặng làm vết thương của ông trở nên nghiêm trọng, cuối cùng Doanh Đãng qua đời khi chỉ mới 23 tuổi.

8. Minh Hy Tông chết vì sợ hãi quá độ

Trong danh sách các vị vua chết một cách chẳng giống ai dĩ nhiên không thể thiếu Minh Hy Tông Chu Do Hiệu (1605-1672). Chu Do Hiệu là con trai trưởng của Minh Quang Tông Chu Thường Lạc.

cai chet lang xet cua 8 ong vua 7

Cha ông vất vả leo từ vị trí Thái tử lên đến ngôi vua chưa đầy một tháng thì qua đời, được mệnh danh là Hoàng đế xui xẻo nhất nhà Minh và đồng thời có cái chết cũng bí ẩn bậc nhất trong lịch sử. Có thể du khách chưa biết, sự kiện Chu Thường Lạc qua đời khi đang tuổi tráng niên là một trong tứ đại kỳ án của nhà Minh.

Nối gót số phận hẩm hiu của cha, Chu Do Hiệu cũng khiến hậu thế phải bật thốt lên vì cái chết hoang đường của mình. Năm 1627, Minh Hy Tông ngự giá xem phu đào hồ cùng các cận thần. Khi đến vùng nước sâu, gió bất ngờ to lên khiến thuyền bị lật úp, Minh Hy Tông không may bị ngã xuống nước. Dù đã được cứu sống nhưng ông luôn mang tâm lý sợ hãi quá độ, cộng thêm thể chất vốn đã không tốt nên sau đó đã lâm trọng bệnh. Khoảng 1 tháng sau, Minh Hy Tông qua đời khi chỉ vừa 21 tuổi, trị vì Đại Minh được 7 năm.

Trên đây là 8 cái chết kỳ lạ và không “đỡ” được của các Hoàng đế Trung Hoa xưa. Vẫn biết sinh lão bệnh tử là quy luật hiển nhiên, nhưng những cái chết “hỡi ơi” thế này cũng thật khiến hậu thế phải dở khóc dở cười.

Nếu du khách là người có niềm đam mê với văn hóa, lịch sử của đất nước Trung Hoa thì hãy Book Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! Chắc chắn du khách sẽ có được những sự hiểu biết thú vị khi đặt chân đến vùng đất rộng lớn này.

le hoi Shoton 5

Trải nghiệm Lễ hội Shoton ở Tây Tạng, Trung Quốc

Lễ hội Shoton là một trong những lễ hội truyền thống lớn nhất ở Tây Tạng, Trung Quốc. Trong tiếng Tây Tạng, “Shoton” có nghĩa là “Sữa chua”, vì vậy mà lễ hội này còn được gọi là “Lễ hội Sữa chua”. Lễ hội này đã hơn 1.000 năm, được tổ chức xuyên suốt 1 tuần lễ nhằm tỏ lòng tôn kính đức Phật. 

Đi ngược dòng lịch sử, Lễ hội Shoton bắt đầu từ giữa thế kỷ 11 là một sự kiện mang nặng màu sắc tôn giáo. Tại thời điểm đó, người dân Tây Tạng thường cúng dường sữa chua cho các nhà sư trải qua các khóa tu thiền tại các Tu viện Phật giáo. Từ cuối thế kỷ 17, Lễ hội Shoton đã trở thành một lễ hội quan trọng của Tây Tạng, đi kèm với âm nhạc, vũ điệu truyền thống, trình diễn bức Thangka khổng lồ, và các hoạt động vui chơi giải trí.

Vào khoảng 29/6 đến 1/7 (theo lịch Tây Tạng), lễ khai mạc của Lễ hội Shoton sẽ được diễn ra. Cung điện Norbulingka, nơi đã từng là cung điện mùa hè của Đức Đạt Lai Lạt Ma ở ngoại thành phía Tây của Lhasa là địa điểm trung tâm cho diễn ra lễ hội độc đáo này, cũng như các lễ kỷ niệm khác của thành phố Lhasa.

le hoi Shoton 2

Tại ngày khai hội, người dân Tây Tạng sẽ cùng nhau trải bức tranh Thangka thể hiện chân dung đức Phật với tấm lòng thành tôn kính vô hạn. Bức tranh khổng lồ này rộng khoảng 500m2 đang dần mở trên lưng đồi của Tu viện Drepung để đón những tia sáng mặt trời đầu tiên chiếu vào bức Thangka vào khoảng 8 giờ sáng. Nghi lễ này được gọi là “Tắm Phật trong ánh mặt trời”.

le hoi Shoton 4

Bên cạnh đó, âm nhạc Tây Tạng cũng là một hoạt động hấp dẫn của lễ hội. Âm nhạc và các vũ điệu được biểu diễn kể từ ngày thứ hai của lễ hội từ 11:00 trưa cho đến tối. Các buổi trình diễn thường được diễn ra ở Norbulingka và Longwangtan (Dragon King Pond, công viên đối diện với cung điện Potala). Những người dân dịa phương ngồi trên thảm với gia đình và bạn bè, uống trà bơ, thưởng thức các món ăn và xem biểu diễn, trong khi vẫn cầu nguyện với tràng hạt trong tay.

Trong lễ hội này, các trường phái âm nhạc khác nhau của Tây Tạng sẽ cạnh tranh với nhau, các đội từ Thanh Hải, Cam Túc, Tứ Xuyên và Vân Nam đến Lhasa để cải thiện kỹ năng của họ thông qua trao đổi. Mặc dù Lễ hội Shoton được tổ chức ở mỗi cuối tháng 6 hoặc đầu tháng 7 theo lịch Tây Tạng nhưng âm nhạc và các tiết mục đã được các nhạc công Tây Tạng chuẩn bị sẵn sàng từ hơn một tháng trước đó. Khoảng ngày 15/6 theo lịch Tây Tạng, các nhạc công từ khắp các miền, đi xe hay đi bộ ngày và đêm tập họp về Lhasa để tổng dợt và chuẩn bị.

le hoi Shoton 3

Trong các ngày 8 đến ngày thứ 15/7, các buổi biểu diễn âm nhạc sẽ thực hiện trong mọi ngõ ngách của thành phố Lhasa. Đó được gọi là “Lhasa Shoton”. Sau ngày 16, một số đội biểu diễn có thể đi ra ngoài trung tâm của thành phố Lhasa để thực hiện. Những phần lễ hội ở Tu viện Sera, gọi là “Sera Shoton”. Bên cạnh đó, các hoạt động như: đua trâu Yak, đua ngựa, biểu diễn những bài hát địa phương và các điệu nhảy truyền thống vẫn được thực hiện luân phiên.

Trong thời gian diễn ra lễ hội, người dân và khách du lịch có thể thưởng thức đặc sản sữa chua trâu lùn Tây Tạng có 1 không 2 trên thế giới và cùng hòa mình cùng với những người dân bản địa để tham gia những hoạt động tập thể như: nhảy múa, nhạc kịch dân gian, thưởng thức món ăn vùng, xem đua trâu, đua ngựa,… và nhất là hoạt động ném sữa chua vô cùng vui nhộn và độc đáo.

Có lẽ vì những hoạt động thú vị và hấp dẫn như thế mà Lễ hội Shoton được rất nhiều người thích thú và hưởng ứng. Hàng năm có rất nhiều người đến Tây Tạng tham gia lễ hội. Du khách hãy book Tour Trung Quốc của chúng tôi và tham gia lễ hội độc đáo này để có được sự trải nghiệm tuyệt vời nhé!