ma giao 7

“Ma giáo” – Giáo phái có thật trong lịch sử Trung Quốc

Trong Ỷ Thiên Đồ Long ký của Kim Dung, Trương Vô Kỵ – một người trung nghĩa, võ công tuyệt đỉnh – được “quần ma” tôn lập giáo chủ Minh giáo. Chu Nguyên Chương, một giáo đồ Minh giáo, thuộc hạ của Trương Vô Kỵ, đã dựa vào lực lượng này tiêu diệt nhà Nguyên, lập nên nhà Minh. Những điều này không phải hoàn toàn do Kim Dung hư cấu.

Ma giáo (Minh giáo) trong kiếm hiệp Kim Dung

Trong kiếm hiệp Kim Dung, Ma giáo được miêu tả là môn phái lớn mạnh, đủ sức đối địch với toàn bộ võ lâm và hoạt động một cách rất bí ẩn.

Ma giáo xuất hiện nhiều và được miêu tả cụ thể nhất trong tác phẩm “Ỷ thiên đồ long ký” của Kim Dung. Trong “Ỷ thiên đồ long ký” viết: “Minh giáo xuất xứ từ nước Ba Tư, truyền vào Trung thổ thời Đường Võ Hậu (Võ Tắc Thiên). Thời đó có người Ba Tư tên Phí Đa Diên mang bộ Tam Tông kinh của Minh giáo đến Đường triều và bắt đầu truyền giáo. Tới năm Hội Xương thứ 3 (thời Đường Vũ Tông) thì triều đình ra lệnh giết giáo đồ. Minh giáo đi vào hoạt động bí mật”.

ma giao 5

Trương Vô Kỵ là giáo chủ nổi tiếng nhất của Ma giáo. Trong trận chiến trên đỉnh núi Quang Minh, Trương Vô Kỵ sử dụng bộ võ công Càn khôn đại na di, một mình đánh bại 6 đại môn phái. Sau khi giải cứu thành công các thủ lĩnh của Ma giáo, Trương Vô Kỵ được tôn làm giáo chủ đời thứ 34. Trương Vô Kỵ đã giúp Ma giáo từ một giáo phái bị vu là “ma quỷ” khôi phục danh tiếng, trở thành thủ lĩnh của các cuộc khởi nghĩa chống nhà Nguyên. Đặc biệt, theo “Ỷ thiên đồ long ký”, Chu Nguyên Chương – Hoàng đế sáng lập nhà Minh – cũng có xuất thân từ Ma giáo.

Theo kiếm hiệp Kim Dung, Ma giáo tập hợp nhiều cao thủ võ lâm có tính tình cổ quái, không hành động theo lễ giáo thông thường mà có vẻ mờ ám, bí mật nên bị giới võ lâm chính phái kỳ thị. Thù oán giữa Ma giáo với võ lâm chính phái rất sâu đậm, kéo dài hàng trăm năm, mỗi lần gặp nhau đều xảy ra chém giết.

Tuy nhiên, trong các tiểu thuyết của Kim Dung, các nhân vật danh môn chính phái không hẳn toàn người tốt và người trong Ma giáo cũng không hẳn là xấu. Có những nhân vật chính phái nhưng càng về sau càng lộ tâm địa xấu xa, và có những nhân vật thuộc về Ma giáo nhưng trọng tình nghĩa.

Trong tác phẩm “Tiếu ngạo giang hồ”, Ma giáo được gọi với một cái tên khác là Nhật nguyệt thần giáo (chữ “nhật” và chữ “nguyệt” trong Hán tự khi ghép lại với nhau sẽ tạo thành chữ “minh”). Dưới sự lãnh đạo của Đông Phương Bất Bại, thế lực của Ma giáo trở nên hùng mạnh nhưng không đi theo con đường chính nghĩa mà thường chèn ép các môn phái khác trong võ lâm. Lúc này, chỉ còn có Thiếu Lâm tự là được Ma giáo kiêng nể vài phần.

ma giao 6

Nhiều đời giáo chủ Ma giáo xuất hiện trong truyện Kim Dung như: Dương Đỉnh Thiên, Trương Vô Kỵ, Nhậm Ngã Hành, Đông Phương Bất Bại đều được miêu tả là sở hữu những tuyệt kỹ võ công cao cường, không hề “đụng hàng” với các môn phái khác. Các bộ võ công Ma giáo nổi tiếng nhất là Càn khôn đại na di, Quỳ hoa bảo điển và Hấp tinh đại pháp đều có xuất xứ từ bên ngoài Trung Hoa.

Người thường chỉ cần học được một môn tuyệt kỹ của Ma giáo là đã đủ xưng bá võ lâm. Tuy nhiên, điều này đồng nghĩa với việc họ đã gia nhập “bàng môn tả đạo” và sẽ bị “danh môn chính phái” trong giang hồ coi thường, truy sát. Dù hiếm khi hành hiệp trượng nghĩa, Ma giáo vẫn gây ấn tượng và được nhiều độc giả yêu thích vì sự bí ẩn, cách “hành tẩu giang hồ” không theo chuẩn mực, không quan tâm miệng lưỡi thế gian.

Tôn giáo có thật trong lịch sử Trung Quốc

Mani giáo hay còn gọi “Minh giáo”, “Mạt Ni giáo”, “Mâu Ni giáo”, là một tôn giáo cổ của Iran, do Mani (216-277), người Ba Tư sáng lập vào khoảng thế kỷ 3, được truyền bá theo hai hướng Đông – Tây, cực thịnh một thời, ảnh hưởng sâu rộng. Về sau, giáo phái này tàn lụi dần và ít nghe tiếng tăm.

Giáo chủ Mani sinh ra trong một gia đình quý tộc ở đế quốc Ba Tư (Iran ngày nay). Năm 14 tuổi, Mani tuyên bố mình được Chúa trời giác ngộ và thành lập Mani vào năm 240. Mani khi sáng lập Mani giáo từng phát lời thề là truyền bá giáo phái này đến mọi quốc gia, trở thành tôn giáo thế giới.

ma giao 3

Mani giáo chia làm 5 cấp bậc bao gồm: tông đồ, tín đồ, giám mục, trưởng lão giáo chủ. Họ thường ăn chay, mặc đồ trắng và phải cầu nguyện 7 lần mỗi ngày.

Giáo nghĩa chính thống của Mani giáo nằm trong bộ Nhị Tông kinh bằng chữ Ba Tư, truyền bá tư tưởng “Nhị tông, tam tế”. “Nhị tông” là hai thái cực sáng và tối, thiện và ác; “tam tế” là sơ tế, trung tế và hậu tế, tương ứng với quá khứ, hiện tại và tương lai. Tương truyền rằng tại hậu kỳ sơ tế và trung tế, Minh Vương cùng các vị thần của Quang Minh vương quốc liên tục chiến đấu với quần ma của vương quốc Bóng Tối do Ma Vương đứng đầu; đến hậu kỳ trung tế thì giành toàn thắng, thế giới bị hủy diệt, Minh Vương (Đại Minh Tôn) đưa nhân loại trở về Quang Minh vương quốc.

Xét từ giáo nghĩa, Mani giáo mang tư tưởng mãnh liệt về hậu kiếp và cứu độ chúng sinh. Chính điều này đã khiến Mani giáo dễ dàng dung hợp với tín ngưỡng dân gian Trung Quốc theo những tín điều cơ bản của Phật giáo, Đạo giáo…

Cựu Đường thư (chính sử nhà Đường, Trung Quốc) chép, năm 694, một thương gia người Ba Tư đã tới Trung Hoa thông qua Con đường Tơ lụa và bắt đầu truyền bá các giáo lý của Mani giáo. Mani giáo được Võ Tắc Thiên công nhận vào năm 694 và phát triển mạnh vào năm 806. Từ đó, Mani giáo truyền đi khắp các châu thuộc miền Nam Trung Hoa như: Kinh Châu, Dương Châu, Hồng Châu… Minh giáo có ảnh hưởng từ dân chúng đến đại sĩ phu. Đời Đường, thuyết Phật Di Lặc giáng sinh rất thịnh hành. Năm 695, Nữ hoàng Võ Tắc Thiên tự xưng là “Phật Di Lặc hóa thân”, lấy danh nghĩa này xây dựng và thống trị triều Võ Chu (690-705), ngụy tạo ra kinh điển có tên là “Đại Vân kinh”, ra chiếu lập những chùa Đại Vân ở khắp Trung Hoa. Nhiều nhân vật nổi tiếng đời Đường như cao tăng Huyền Trang, Khuy Căn, thi hào Bạch Cư Dị… đều là những người tin vào thuyết “Phật Di Lặc giáng sinh tịnh thổ” của Mani giáo.

ma giao 2

Năm 755, An Lộc Sơn dấy binh làm loạn, nhà Đường lâm nguy. Sau khi An Lộc Sơn chiếm thành Trường An, rồi cả Lạc Dương, Đường Huyền Tông phải nhờ tới sự giúp đỡ của nhiều bộ tộc thiểu số để chống đỡ, trong đó có Duy Ngô Nhĩ – những người rất sùng bái Mani giáo. Năm 763, biến loạn An Lộc Sơn bị dẹp tan, để trả ơn người Duy Ngô Nhĩ, nhà Đường cho phép Mani giáo được mở rộng hoạt động, thu nhận tín đồ. Năm 806, Đường Hiến Tông cho phép Mani giáo lập chùa ở kinh thành Trường An, gọi là “Đại Vân Quang Minh Tự”.

Để có thể thu nhận được nhiều tín đồ, thủ lĩnh của Mani giáo cố ý diễn giải các bộ kinh của Phật giáo, Đạo giáo – 2 tôn giáo lớn ở Trung Hoa theo hướng có lợi cho mình. Những tín đồ Mani giáo cho rằng Đức Phật, Lão tử và giáo chủ Mani của họ là 3 thể của một đấng sáng tạo duy nhất. Giáo chủ Mani được xưng tụng là “Quang Minh Mani Phật” và điều này khiến nhiều vị vua nhà Đường (vốn rất coi trọng Phật giáo, Đạo giáo) không hài lòng.

Đến năm 843, thế lực của người Duy Ngô Nhĩ đã suy giảm đáng kể, nhà Đường bắt đầu cấm truyền bá Mani giáo, gọi đây là “bàng môn tả đạo”. Nhiều đền chùa của Mani giáo bị phá hủy, kinh sách bị đốt và giáo đoàn bị bắt giữ, tàn sát. Để tránh tai vạ, những thủ lĩnh của Mani giáo quyết định đưa giáo phái vào hoạt động bí mật. Mani giáo sau đó cũng đổi tên thành “Minh giáo”, nhưng triều đình gọi là “Ma giáo”. Sự kiện này trong lịch sử gọi là “Hội Xương pháp nạn”.

Sau khi nhà Đường diệt vong (năm 907), Trung Quốc rơi vào thời kỳ Ngũ đại – Thập quốc cát cứ phân tranh đầy biến động. Minh giáo nhân cơ hội này mở rộng hoạt động, thành lập nhiều cơ sở thờ tự và đẩy mạnh thu nhận tín đồ. 

Giáo lý của Minh giáo chủ trương tuyên truyền việc “ánh sáng sẽ đánh bại bóng tối”, càng có nhiều tín đồ, thế lực ánh sáng sẽ càng mạnh, nên nhận được niềm tin của nhiều tầng lớp nhân dân – những người chịu hậu quả nặng nề nhất do chiến tranh, loạn lạc và luôn khao khát một thế giới mới tươi sáng hơn.

Đến thời nhà Tống, Minh giáo phát triển mạnh và có hàng vạn tín đồ. Tống sử chép, năm 1120, Phương Lạp người ở huyện Thanh Khê, Chiết Giang cùng thủ hạ nổi dậy chống triều đình. Phương Lạp tự xưng là “Thánh công” – thủ lĩnh của Minh giáo – và kêu gọi tín đồ khắp nơi vùng dậy khởi nghĩa. “Quân Phương Lạp không dùng cung tên, giáo mác, không mặc áo giáp, chỉ dùng chuyện quỷ thần để mê hoặc lòng dân. Lúc đông nhất có tới hàng vạn người đi theo”, Tống sử chép.

ma giao 1

Năm 1121, cuộc khởi nghĩa của Phương Lạp bị dẹp tan, Minh giáo bị nhà Tống đàn áp nhưng vẫn âm thầm hoạt động. Đến cuối thời Nguyên, Minh giáo trở thành một trong những lực lượng chính chống đối triều đình.

Tháng 1/1368, Chu Nguyên Chương đánh đuổi nhà Nguyên về Mông Cổ, lên ngôi Hoàng đế, lấy quốc hiệu là “Minh”. Lý do Chu Nguyên Chương gọi triều đại do mình sáng lập là “Minh” đến nay vẫn là điều bí ẩn trong lịch sử Trung Quốc, cũng có lý giải do Chu Nguyên Chương từng là tín đồ của Minh giáo (lấy từ “Minh” của Minh giáo đặt quốc hiệu cho triều đại).

Thực tế, “Minh” không phải vùng đất hay địa danh nào có liên quan đến Chu Nguyên Chương, không có nguồn gốc từ các triều đại trước, cũng không phải chức tước nào mà ông từng được phong.

Trong lịch sử Trung Quốc, chưa từng có ai lập căn cứ khởi nghĩa ở khu vực phía nam, đánh ngược ra bắc mà thành công như Chu Nguyên Chương. Thành công của Chu Nguyên Chương trong việc sáng lập nhà Minh là chưa từng có tiền lệ và tên gọi của triều đại này rất có thể liên quan tới một số đặc điểm riêng tư trong cuộc đời ông.

Nguyên sử chép, năm Chí Chính thứ 12 (1352), Chu Nguyên Chương gia nhập Hồng Cân quân (quân khăn đỏ) do Quách Tử Hưng lãnh đạo. Quân khăn đỏ vốn xuất phát từ sự liên minh giữa các tôn giáo chống nhà Nguyên thời bấy giờ như: Minh giáo, Bạch Liên giáo và Di Lặc giáo.

Được sự tín nhiệm của Quách Tử Hưng, Chu Nguyên Chương trở thành phó soái của quân khăn đỏ. Sau khi Quách Tử Hưng chết, Chu Nguyên Chương lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống nhà Nguyên. Những tình tiết trong lịch sử này khiến giới nghiên cứu lịch sử ngờ rằng Chu Nguyên Chương là tín đồ của Minh giáo và quốc hiệu “Minh” do ông đặt ra có liên quan mật thiết đến giáo phái này.

Minh sử không chép việc Chu Nguyên Chương từng là tín đồ của Minh giáo nhưng ghi nhận rằng, sau khi lên ngôi Hoàng đế, một trong những việc đầu tiên ông làm là tiêu diệt Minh giáo. Năm Hồng Vũ nguyên niên (1368), Chu Nguyên Chương ra lệnh cấm “dị giáo dân gian”, chủ trương công kích Minh giáo, đề cao Phật giáo và Nho giáo.

Chu Nguyên Chương rất có thể đã nhận ra sự nguy hiểm của một giáo phái lớn mạnh, hoạt động ngầm như Minh giáo nên quyết tâm thanh trừng. Khác với nhà Đường và Tống, cuộc đàn áp Minh giáo dưới sự chỉ huy của Chu Nguyên Chương diễn ra vô cùng gắt gao. Hàng nghìn tín đồ Minh giáo không chịu cải đạo đã bị giết hại. Đến cuối thời Minh, không còn ghi chép nào về sự xuất hiện của Minh giáo ở Trung Quốc.

Trong tiểu thuyết Ỷ thiên đồ long ký, Minh giáo cùng Thiếu Lâm, Cái Bang và Võ Đang là 4 môn phái mạnh nhất giang hồ. Tuy nhiên, khác với 3 môn phái còn lại, Minh giáo chủ trương khởi nghĩa chống nhà Nguyên. Chu Nguyên Chương vì vậy chọn gia nhập Minh giáo, trở thành thuộc hạ đắc lực của Trương Vô Kỵ. Chu Nguyên Chương nhờ vào lực lượng của Minh giáo mà đánh đổ nhà Nguyên, sáng lập nhà Minh.

ma giao 4

Theo Wenshigu, năm 1903, giáo sư A.Granweldel – chuyên gia thuộc Bảo tàng Nhân chủng học Berlin (Đức) đã khai quật được một số lượng lớn bản kinh của Mani giáo ở Tân Cương, Trung Quốc. Năm 1913, bức tượng “Quang Minh Mani Phật” được phát hiện ở tỉnh Phúc Kiến. Đây là bức tượng từng được các tín đồ Mani giáo thờ phụng duy nhất còn sót lại trên thế giới. Năm 2009, hàng loạt di tích thờ tự, kinh sách của Mani giáo được phát hiện ở thành phố Ninh Đức, tỉnh Phúc Kiến. Đây là những bằng chứng rõ ràng nhất về sự xuất hiện và hoạt động mạnh mẽ của Mani giáo tại Trung Quốc.

Di tục của Minh giáo đã ăn sâu từ ngàn năm trước

Hàng ngàn năm nay, tại miền duyên hải Viêm Đình – Quát Sơn, huyện Thương Nam, TP Ôn Châu, tỉnh Triết Giang – Trung Quốc, người dân vẫn duy trì một số phong tục kỳ lạ: Mặc áo choàng trắng tập trung tụng niệm siêu độ cho người qua đời; khi ăn thì nuốt 3 đũa cơm trắng trước rồi mới dùng thịt, cá; nhiều người già buổi sáng lạy mặt trời, buổi tối lạy mặt trăng…

Năm 1982, các nhà sử học đã tìm thấy bài ký Ghi chép ở Chùa Tuyển Chân của Khổng Khắc Biểu trong bộ Bình Dương huyện chí, trong đó có đoạn: “Chùa Tuyển Chân là nơi tụ chúng của giáo đồ nước Tô Lân”, địa điểm ở “núi Bằng Sơn, tại Quách Nam – Bình Dương”. Tô Lân là tên cổ của Ba Tư, tức Iran ngày nay, quốc giáo thuở xưa chính là Mani giáo, từ đời Tống về sau bị “Hoa hóa” trở thành Ma giáo rồi Minh giáo. Còn địa điểm của vùng Quách Nam – Bình Dương chính là vùng Viêm Đình – Quát Sơn ngày nay. Những phong tục kỳ lạ của người dân ở đây chính là di tục của Minh giáo đã ăn sâu từ ngàn năm trước.

Trên đây là thú vị về Ma giáo trong lịch sử Trung Quốc. Nếu du khách muốn khám phá nhiều điều thú vị hơn về xứ sở xinh đẹp này thì hãy Book Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! Chúc du khách có một chuyến đi vui vẻ và đầy ý nghĩa!

nap lan minh chau 6

Nạp Lan Minh Châu, cũng là gian thần nhưng không bị ban cho cái chết giống như Sách Ngạch Đồ

Vào triều đại Khang Ky, Nạp Lan Minh Châu có quyền thế khuynh đảo triều đình, thậm chí tuổi già nhận hối lộ đến 2.000 vạn lượng. Ông cả đời vì Khang Hy Đế mà lập được 3 kỳ công lớn, tuy nhiên khi về già bởi vì các loại tội trạng mà bị quần thần vạch tội, nhưng cuối cùng đã tránh được kết cục bi thảm.

Nạp Lan Minh Châu, nổi tiếng một thời ở Trung Quốc xưa, thâu tóm quyền lực, khuynh loát triều chính. Dân Trung Quốc thời đó thường tôn xưng ông ta là “tướng quốc”. Vị quan tham này thủ đoạn mưu mô được cho là còn hơn cả Hòa Thân. Ông ta là trọng thần triều Khang Hy.

Quan lộ thênh thang rộng mở

Nạp Lan Minh Châu (1635-1708), họ Nạp Lan hay còn gọi là “Diệp Hách Na Lạp thị” thuộc Mãn Châu Chính Hoàng kỳ, tự “Đoan Phạm”.

Nạp Lan Minh Châu có nền tảng gia tộc hiển hách, có quan hệ thân thích với hoàng gia. Bà cô của ông là Hiếu Từ Cao Hoàng hậu, một Đại phúc tấn của Thanh Thái Tổ Nỗ Nhĩ Cáp Xích và là thân mẫu của Thanh Thái Tông Hoàng Thái Cực.

Mặc dù tổ tiên là Diệp Hách Na Lạp thị thuộc Mãn Thanh Chính Hoàng Kỳ, nhưng đến thời ông thì đã sớm suy tàn. Vào thời Thuận Trị, ông muốn mượn quan hệ thông gia với Đa Nhĩ Cổn để một bước lên mây.

nap lan minh chau 4

Tuy nhiên, bởi vì nhạc phụ của ông – Anh thân vương A Tế Cách bị tố cáo mưu loạn, gia tộc cũng vì vậy mà gặp bất hạnh, Nạp Lan Minh Châu chỉ có thể từ thị vệ trong cung mà đi lên. Những năm Thuận Trị, ông nhậm Thị vệ, Loan Nghi vệ Trì nghi chính. 2 năm sau, dựa vào sự chăm chỉ và tài hoa mà ông được thăng tới chức Đại tổng quản phủ nội vụ, 1 năm sau lại đảm nhiệm chức học sĩ Hoằng Văn Quán, được tham dự quốc chính. Năm thứ 6 (1667), triều đình chính thức thiết lập Thực lục quán, ông đảm nhiệm vị trí Phó Tổng tài biên soạn Thế Tổ Chương Hoàng đế Thực lục. 1 năm sau, ông được thăng chức làm Hình bộ Thượng thư. Năm thứ 9 (1670), ông được chuyển sang làm Đô Sát viện Tả đô Ngự sử. Nhậm chức tại Đô Sát viện được gần 1 năm thì ông được điều kiêm nhiệm Kinh diên Giảng quan.

Năm thứ 11 (1672), ông được phong làm Binh bộ Thượng thư kiêm Văn Hoa điện Đại học sĩ. Cùng năm này, ông cùng với Mễ Tư Hàn, Mạc Lạc, Trần Đình Tính ủng hộ chủ trương triệt phiên nhưng bị Khang Hi Đế từ chối. Đến năm thứ 14 (1675), ông tiếp tục nhậm chức Lại bộ Thượng thư. 2 năm sau thì ông trở thành Võ Anh điện Đại học sĩ.

Năm thứ 21 (1682), ông đảm nhiệm Giám tu Tổng tài quan, chịu trách nhiệm toản tu Minh sử. Cùng năm, ông tiếp tục nhậm Tổng tài quan, chịu trách nhiệm trọng tu Thái Tổ Thái Tông thực lục và biên soạn “Thánh huấn” của ba triều (Thái Tổ, Thái Tông, Thế Tổ), nhậm Phương lược Tổng tài quan chịu trách nhiệm biên soạn “Bình định Tam nghịch”. Năm thứ 23 (1684), nhậm Tổng tài quan biên soạn Đại thanh Hội điển. Năm thứ 24 (1685), ông tiếp tục chịu trách nhiệm biên soạn “Chính trị Điển huấn”. Năm thứ 25 (1686), chịu trách nhiệm biên soạn “Nhất thống chí”, ông được ban hàm Thái tử Thái sư. Năm thứ 28 (1689), ông chủ trương thu phục Đài Loan và được Khang Hi giao trọng trách chiến lược bình Đài cùng với Diêu Khải Thánh, Thi Lang, Lý Quang Địa. Năm thứ 29 (1690), ông chịu trách nhiệm Tham tán Quân vụ.

Năm thứ 33 (1694), ông được phong hàm Thái tử Thái bảo, tập tước Nhất đẳng Công, uy vọng của ông lúc bấy giờ có thể nói là cao trong triều, ngang hàng với Sách Ngạch Đồ. 

Bị tống giam và cách hết chức tước

Trong khi Nạp Lan Minh Châu không ngừng thăng quan tiến chức thì thế lực của Ngao Bái trong triều đình đã bị diệt trừ gần như hết sạch. Khang Hy Đế bắt đầu an bài cho thân tín của mình tham gia triều chính. Nạp Lan Minh Châu nghe nói Khang Hy muốn đi tuần tra 8 kỳ binh Lượng Ưng Đài do ông phụ trách, để trình diễn tài năng của mình, ông đã ban bố giáo điều huấn luyện binh lính trước thời hạn. Lúc Khang Hy đến kiểm duyệt thì phát hiện, “Tác phong quân đội nghiêm chỉnh” nơi này chính là lực lượng quân sự mà ông đang cần, mắt rồng ánh lên niềm vui mừng.

Sau khi biết được người thống lĩnh nơi này là Nạp Lan Minh Châu, Khang Hy lập tức coi ông là một lực lượng trọng yếu trong trò chơi quyền lực của triều đình. Tuy lúc đó Khang Hy mới chỉ gần 20 tuổi, Nạp Lan Minh Châu thì đã hơn 40, nhưng tại vấn đề “tước phiên” thì rất hợp ý nhau (chính sách “tước phiên” đề cao tầng lớp văn nhân, đồng thời tước bỏ thế lực ngoại phiên để tập trung quyền lực về trung ương).

nap lan minh chau 5

Năm đầu Khang Hy, Ngô Tam Quế, Thượng Khả Hỉ và Cảnh Tinh Trung chia ra đóng ở Vân Nam, Quảng Châu và Phúc Kiến, vương của các phiên (Thuộc địa hoặc thuộc quốc phong cho chư hầu ngày xưa) này giữ lại một số lượng lớn tiền bạc tiến cống cho quốc khố, còn âm thầm câu kết thế lực khắp nơi, ngang nhiên phản kháng với thế lực triều đình. Lúc này Bình nam vương Thượng Khả Hỷ lại lấy lý do tuổi tác đã cao, giả vờ loại bỏ phiên mà đến dò xét thái độ của Khang Hy, Ngô Tam Quế và Cảnh Tinh Trung cũng hùa theo muốn loại bỏ phiên. Tuy nhiên, triều đình đã lấy một phái của Sách Ngạch Đồ dẫn đầu, cho rằng tam phiên vì Đại Thanh lập được công lớn, tùy tiện loại bỏ phiên sẽ làm biên giới phía Nam hỗn loạn, hi vọng có thể bàn bạc kỹ hơn.

Ý kiến của một phái Sách Ngạch Đồ khiến Khang Hy rất bất mãn, mà chủ trương loại bỏ phiên chỉ có 2 người. Nạp Lan Minh Châu sớm đã hiểu được tâm tư của Khang Hy, lập tức hùa theo 2 vị đại thần gắng sức loại bỏ phiên. Về sau, đám người Ngô Tam Quế thấy Khang Hy có ý muốn loại bỏ phiên, dứt khoát liên hợp xung quanh các khu vực Tứ Xuyên, Cam Túc… cùng nhau mưu phản.

nap lan minh chau 1

Mắt thấy các phần tử phản loạn chiếm cứ một nửa giang sơn Đại Thanh, đe dọa đến sự thống trị, các quan viên lấy Sách Ngạch Đồ làm đầu, lập tức hướng mũi nhọn vào đám người Nạp Lan Minh Châu, thỉnh cầu Hoàng đế xử tử những đại thần chủ trương loại bỏ phiên. Khang Hy Đế hùng tài đại lược, làm sao có thể sợ hãi mà né tránh khi gặp chuyện được, ông trực tiếp nói một câu: “Việc này là ý trẫm, người khác không có tội”. Từ đó về sau trong quá trình bình định phiên, Khang Hi còn để Nạp Lan Minh Châu tham gia vào nhiều công việc khác nữa. 5 năm sau, loạn tam phiên đã hoàn toàn được xử lý.

Khang Hy Đế ngay trước văn võ bá quan trong triều, mỉm cười nói rằng: “Lúc ấy có người kiến nghị giết, nếu trẫm làm theo thì hàm oan đã khắp đất trời rồi”. Khang Hy nói lời này chính là muốn chế giễu Sách Ngạch Đồ muốn ngăn cản những người loại bỏ phiên.

Nhờ công lao bình định tam phiên trong lần này, Nạp Lan Minh Châu đã trở thành trọng thần sánh ngang với Sách Ngạch Đồ, trở thành tâm phúc của Hoàng đế, cũng theo đó mà trừ đi mối họa của cuộc tranh giành cấu xé giữa “Sách đảng” và “Minh đảng”. Sau khi giải quyết xong vấn đề biên giới phía Nam, Nạp Lan Minh Châu tại vấn đề Đài Loan vẫn kiên trì thu phục vùng đất bị mất.

Khang Hy vốn muốn cho Tuần phủ và Tổng đốc Phúc Kiến cùng nhau xuất binh tấn công Đài Loan, nhưng Nạp Lan Minh Châu nói rằng 2 thống soái đó sẽ có những ý kiến bất đồng, nên mới đề cử Thi Lang thống lĩnh thủy quân đi trước, như vậy mới đảm bảo thắng lợi. Vì vậy, Khang Hy đã lệnh cho Thị Lang một mình xuất quân đi đánh chiếm Đài Loan.

sach ngach do toi do thien co cua trieu dai nha thanh 6

Sau khi thu phục được Đài Loan, Khang Hy đã thiết lập chính quyền ở Đài Loan trực thuộc tỉnh Phúc Kiến. Tam phiên ở Nam bộ và vấn đề Đài Loan đều đã giải quyết ổn thỏa, lần này Nạp Lan Minh Châu cũng có công lao không nhỏ. Đối diện với sự xâm phạm liên tục của Nga Hoàng (nước Nga) ở Bắc bộ, Nạp Lan Minh Châu lại tiến cử Bành Xuân và Tát Bố là tướng quân và phó đô thống. Sau khi liên tục đánh lui Nga Hoàng, chiếm cứ thành Albazino.

Đối mặt với thế tiến công mạnh mẽ của vương triều nhà Thanh, Nga Hoàng phái sứ giả đến cầu hòa, cuối cùng ký kết “Hiệp ước Nerchinsk”. Từ loạn tam phiên đến nay, đối tượng mà Sách Ngạch Đồ cực lực chèn ép đã trở thành đối tượng mà Nạp Lan Minh Châu lôi kéo. Hai thế lực liên tục đấu đá với nhau. Bởi vì gia tộc Sách Ngạch Đồ lúc ấy là mẫu tộc của Thái tử Dận Nhưng, “Sách đảng” phần lớn ủng hộ Thái tử. Ngược lại, Nạp Lan Minh Châu lại thu nạp tất cả những người không ủng hộ Thái tử.

Tuy nhiên, điều mà Khang Hy Đế ghét nhất đó là các đại thần làm ầm ĩ vấn đề ngôi vị Thái tử, cuối cùng đem Sách Ngạch Đồ bỏ tù ở Tông Nhân phủ, về sau được ban cho cái chết. Lúc bấy giờ, Nạp Lan Minh Châu mặc dù cũng bị các quan viên thượng thư vạch tội nhận hối lộ. Sau đó, ông bị bắt và tước hết mọi chức vụ tước vị.

Được miễn chết và phục chức

Như đã nói, Nạp Lan Minh Châu được Khang Hy Đế trọng dụng nhờ vào sự thông minh và năng lực thực sự. Ông cũng rất hiểu Hoàng đế. Trong các vấn đề loạn Tam phiên, thống nhất Đài Loan, thì ý kiến của Nạp Lan Minh Châu thường là câu trả lời mà Khang Hy muốn nghe nhất. Cho nên, quan lộ của Nạp Lan Minh Châu thênh thang rộng mở. Ngoài ra, còn một lý do khác là Hoàng đế Khang Hy muốn dùng Nạp Lan Minh Châu để cân bằng với một thế lực khác cũng rất lớn mạnh trong triều đình.

Vào thời điểm đó, Khang Hy Đế đặc biệt quan tâm và muốn kiềm chế quyền lực của Sách Ngạch Đồ. Đây cũng là nhân vật có xuất thân cao quý và có mối quan hệ thân thiết với hoàng tộc, tương tự như Nạp Lan Minh Châu.

nap lan minh chau 2

Sách Ngạch Đồ lập được nhiều công lao, từ sớm đã là thân tín bên cạnh Khang Hy. Tuy vây, ông ta đã gây bè kết cánh trong triều đình. Hoàng đế Khang Hi lo ngại điều này đe dọa đến quyền lực của mình. Đó là lý do tại sao Khang Hy cần thế lực đủ mạnh cân bằng với Sách Ngạch Đồ.

Biết được dụng ý của Khang Hy, Nạp Lan Minh Châu tìm mọi cách thu phục văn quan võ tướng bên cạnh mình. Nhưng điều này lại mang đến cho Khang Hy Đế một phiền phức mới.

Không lâu sau, Khang Hy nhận được mật tấu của Trực lệ tuần phủ ở Thành Long, trong đó có một câu: “Các quan đã bị Nạp Lan Minh Châu và Dư Quốc Trụ mua xong rồi”. Điều này có nghĩa là các quan triều Thanh khi đó về cơ bản đã bị hai người này mua chuộc lôi kéo về phe cánh của họ.

Lúc này Khang Hy mới nhận ra thế lực của Nạp Lan Minh Châu đã vượt quá tầm kiểm soát của ông, nếu không có biện pháp kịp thời, e rằng sẽ làm lung lay chính sự thống trị của mình. Để phòng trừ bạo loạn của cả phe cánh Nạp Lan Minh Châu, Khang Hy Đế chỉ cho bắt Nạp Lan Minh Châu, xem như không liên quan những người khác. Kết quả là Nạp Lan Minh Châu bị bắt giam với tội danh tham nhũng và nhận hối lộ.

Ngày bị bắt, Nạp Lan Minh Châu sợ rằng khó thoát khỏi cái chết, nhưng nhiều năm bên cạnh hoàng đế, ông cơ bản cũng hiểu được suy nghĩ của hoàng đế. Thế là trong những ngày chờ hành quyết, ông ta đã tập trung phân tích tình hình chính trị lúc bấy giờ, quyết định mạo hiểm dùng một cách để cứu lấy mạng sống của mình.

Một hôm, Nạp Lan Minh Châu ở trong ngục la lớn là muốn gặp Hoàng đế, còn nói là mình đã kéo bè kết cánh, mưu đồ tạo phản. Khang Hy nghe xong, hiểu ra ngay dụng ý của Nạp Lan Minh Châu là “thú nhận” sự thật. Đây cũng là điều mà Khang Hy đã nghĩ đến và lo ngại ngay ngay từ khi cho bắt Nạp Lan Minh Châu. Mưu phản là trọng tội, không phải việc mà một – hai người có thể làm được. Tội này điều tra ra, tất sẽ liên đới rất nhiều người. Trong khi phe cánh Nạp Lan Minh Châu chắc chắn sẽ bảo vệ ông ta. Như vậy khác nào ép toàn bộ họ vào thế đối đầu với hoàng đế. Mặt khác, nếu diệt trừ Minh Châu cùng phe cánh của ông ta, thì phe cánh của Sách Ngạch Đồ lại trở thành “độc chiếm đại cục”. Mà Khang Hy không hề muốn điều này.

nap lan minh chau 3

Trong khi đó, nhóm Sách Ngạch Đồ thì cho rằng Nạp Lan Minh Châu đang bị giam chịu tội là cơ hội vàng nghìn năm có một, để một lần xóa sổ Nạp Lan Minh Châu cùng phe cánh. Thế là lần lượt từng người một trình tấu tố cáo Nạp Lan Minh Châu. Có lẽ hoàng đế Khang Hy đã nhận ra điều này và thấy chỉ còn cách tha tội chết, trả tự do và phục chức cho Nạp Lan Minh Châu.

Nước cờ này quả là quá mạo hiểm, chỉ có người thân tín bên Khang Hy hơn 20 năm và quá hiểu vị hoàng đế này như Nạp Lan Minh Châu mới dám liều thực hiện.

Dù sao sau đó Nạp Lan Minh Châu cũng đã đánh mất sự tín nhiệm của Hoàng đế. Tuy sau đó có được phục chức nhưng ông ta cũng không còn được Khang Hy trọng dụng nữa.

Đối với Khang Hy mà nói, Nạp Lan Minh Châu cùng lắm là gian thần tham ô, bôi xấu triều cương, còn Sách Ngạch Đồ lại tham dự vào tranh đoạt chính quyền, có thể là nghịch thần đe dọa đến quyền lực của nhà vua. Nạp Lan Minh Châu cũng tốt, Sách Ngạch Đồ cũng được, kết cục của họ chẳng qua cũng chỉ là mấy hạt bụi trong dòng sông dài của lịch sử mà thôi, cuối cùng đều là hoa sóng cuốn hết anh hùng, thị phi thành bại cũng chỉ còn là chuyện đàm tiếu mà thôi.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về lịch sử triều đại của một quốc gia đông dân nhất thế giới này. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn thì hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc cùng chúng tôi nhé!

sach ngach do toi do thien co cua trieu dai nha thanh 7

Sách Ngạch Đồ – tội đồ thiên cổ của triều đại nhà Thanh trong lịch sử Trung Hoa

Sinh thời, Sách Ngạch Đồ từng là trọng thần của triều đình nhà Thanh nhưng sau cùng, trải qua nhiều biến cố, nhân vật này “vượt mặt” Ngao Bái để trở thành tội đồ thiên cổ của triều đại nhà Thanh.

Sách Ngạch Đồ (1636 – 1703), hiệu “Ngu Am”, là Đại học sĩ thời Khang Hy Đế triều Thanh, xuất thân từ bộ tộc Hešeri (Hách Xá Lý thị), thuộc Mãn Châu Chính Hoàng kỳ.

Sách Ngạch Đồ là con trai thứ ba của Sách Ni – một khai quốc công thần của triều Thanh, được thế tập tước “Nhất đẳng Công” (tước “công” đứng đầu trong ngũ đẳng là công, hầu, bá, tử, nam).

“Nhất đẳng công” của triều đình

sach ngach do toi do thien co cua trieu dai nha thanh 6

Không chỉ xuất thân trong gia tộc là đại công thần khai quốc, bản thân Sách Ngạch Đồ từng lập được 4 công trạng to lớn cho Thanh triều: diệt trừ Ngao Bái; bình định loạn Tam phiên; ký kết thành công điều ước Ni Bố Sở; dàn xếp vụ việc của Chuẩn Cát Nhĩ. Trong đó, công trạng được lưu truyền nhiều nhất của Sách Ngạch Đồ chính là tiêu diệt Ngao Bái.

Năm Thuận Trị thứ 15, Thuận Trị Đế băng hà, Tam a ca Ái Tân Giác La Huyền Diệp lên ngôi, lấy hiệu Khang Hy. 

Khi còn tại vị, Hoàng đế Thuận Trị giữ gìn đại cục quốc gia ổn định, còn đặc biệt tuyển ra 4 vị phụ chính đại thần, gồm có: Sách Ni, Át Tất Long, Tô Khắc Táp Cáp và Ngao Bái.

Vào thời điểm kế vị, tân đế (Khang Hy) mới vừa tròn 8 tuổi, chưa đủ khả năng để tự mình chấp chính. Quân chủ tuổi nhỏ, Ngao Bái dần dần chuyên quyền lộng hành, không đem Hoàng đế để vào mắt.

sach ngach do toi do thien co cua trieu dai nha thanh 2

Sách Ni là một trong “tứ trụ” đại thần, vốn có thể cùng Ngao Bái tranh đoạt quyền lực. Hiểu rõ điều này, Hiếu Trang đã ra tay trước để chiếm lợi thế, lập Hách Xá Lý thị (gọi Sách Ni là ông nội), cũng là cháu gái Sách Ngạch Đồ làm Hoàng hậu của Khang Hy Đế. Chiêu bài này đã biến Hoàng tộc Ái Tân Giác La trở thành thông gia với nhà họ Sách, loại bỏ nguy cơ Sách Ni tranh quyền, lại lôi kéo được một lực lượng vững chắc trong kế hoạch trừ khử Ngao Bái.

Tháng 6 năm Khang Hy thứ 6, Sách Ni qua đời vì bạo bệnh, Khang Hy bắt đầu tự mình chấp chính ở tuổi 14. Nhưng chưa đầy 10 ngày sau, Ngao Bái đã ra tay giết chết phụ chính Tô Khắc Táp Cáp, tự phong cho mình tước “nhất đẳng công”.

sach ngach do toi do thien co cua trieu dai nha thanh 1

Tháng 5 năm Khang Hy thứ 8, Khang Hy “lấy lý do thích đành cờ, triệu Sách Ngạch Đồ vào cung bàn kế”. Sau đó, vua truyền Ngao Bái yết kiến rồi bất ngờ ra lệnh cho đội thị vệ bất ngờ bắt giữ. Không lâu sau khi bị bắt giữ, Ngao Bái lâm bệnh chết trong ngục.

Từ đây, Khang Hy chính thức nắm quyền điều hành triều chính, khi đó ông 16 tuổi. Cũng từ đó, Sách Ngạch Đồ trở thành đại thần công lao cái thế của Thanh triều.

“Đệ nhất tội nhân Đại Thanh”

Cuốn “Khang Hy khởi cư trú” đánh giá: “Sách Ngạch Đồ sinh ra trong quý thịnh, tính ngạo mạn, tùy tiện”; “là thúc của Hoàng hậu, làm việc chuyên quyền, hành công hối lộ, có nhiều người oán”.

Tuy chưa đi vào vết xe đổ của Ngao Bái, nhưng nhiều biểu hiện của Sách Ngạch Đồ đã không ít lần khiến Khang Hy Đế không hài lòng.

sach ngach do toi do thien co cua trieu dai nha thanh 5

Năm thứ 18 (1679), tháng 7, Tả đô Ngự sử Ngụy Tượng Xu thượng tấu Sách Ngạch Đồ tội cậy quyền tham lam, Khang Hy Đế nghiêm trọng cảnh cáo Sách Ngạch Đồ, bắt ông phải sửa chữa sai lầm lúc trước.

Kỳ thực, Khang Hy Đế từng nhiều lần trách phạt Sách Ngạch Đồ, song sau lại trọng dụng, căn bản có ý dùng ông để chế ngự Nạp Lan Minh Châu – một quyền thần khác trong triều. Lúc bấy giờ, Sách Ngạch Đồ và Nạp Lan Minh Châu có vị thế ngang bằng nhau, chèn ép lẫn nhau, bách tính Bắc Kinh vì thế chế ra ca dao: “Trời muốn bình, giết Lão Minh; trời muốn an, giết Sách Tam”. Khang Hy Đế từng nhiều lần trách phạt Sách Ngạch Đồ song sau lại trọng dụng, rõ ràng có ý dùng ông để chế ngự Minh Châu, cũng như có suy xét đến vấn đề phế lập Thái tử. Vậy nhưng sau cùng, Sách Ngạch Đồ lại trở thành kẻ bị Hoàng đế trừ khử trước tiên.

sach ngach do toi do thien co cua trieu dai nha thanh 3

Sau này, cuộc tranh quyền đoạt vị giữa những người con của Khang Hy Đế ngày càng trở nên căng thẳng. Lúc đầu, các vị a ca chia làm hai phe là “Thái tử đảng” và “Hoàng tử đảng”. Phe của Thái tử do Sách Ngạch Đồ cầm đầu.

Năm Khang Hy thứ 41 (1702), Khang Hy nam tuần đến Đức Châu, Thái tử bất ngờ nhiễm bệnh, Sách Ngạch Đồ được triệu tới Đức Châu với lý do “thăm bệnh”. Kỳ thực, lần triệu tập này không phải có mục đích thăm hỏi Thái tử, mà thực chất Khang Hy muốn thăm dò Sách Ngạch Đồ. Khi ấy, Khang Hy cũng có nhiều bất mãn nảy sinh với Thái tử Dận Nhưng. Kể từ đó, Sách Ngạch Đồ cũng chịu liên lụy, trở thành kẻ “không vừa mắt” Hoàng đế.

sach ngach do toi do thien co cua trieu dai nha thanh 4

Do Sách Ngạch Đồ trợ giúp Thái tử tranh vị, cho nên Khang Hy Đế đối với những việc mà Sách Ngạch Đồ tham dự vào các đại sự quân – chính trọng yếu, ngoài cuộc đàm phán với Nga ở Ni Bố Sở ra, toàn bộ đều không tán thành. Sau này, vị Hoàng đế ấy còn khẳng định: “Sách Ngạch Đồ quả thật là đệ nhất tội nhân của bản triều”.

Năm 1703, Khang Hy kết tội Sách Ngạch Đồ “nghị luận quốc sự, ngông cuồng kết phe phái”, lệnh cho Tông nhân phủ bắt lại thẩm vấn, không lâu sau vong mạng trong ngục.

Đồng đảng của Sách Ngạch Đồ nhiều người bị giết, bị giam, bị lưu đày. Con cháu Sách gia toàn bộ đều bị cách chức. Hai người con là Cách Nhĩ Phân và A Nhĩ Cát Thiện đều bị xử tử.

Như vậy, từ một người đại thần thuộc hàng “nhất đẳng công”, Sách Ngạch Đồ trở thành kẻ tội nhân thiên cổ.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về lịch sử triều đại của một quốc gia đông dân nhất thế giới này. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn thì hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc cùng chúng tôi nhé!

van hoa va am thuc cat lam 8

Đến Cát Lâm Trung Quốc và khám phá nghệ thuật, ẩm thực đặc sắc

Cát Lâm, Trung Quốc – vùng đất lịch sử lâu đời với nhiều thắng cảnh tuyệt đẹp “hút hồn” du khách. Nơi đây được mệnh danh “thế giới thần tiên” với nhiều phong cảnh tuyệt đẹp. Bên cạnh đó, vùng đất này cũng có nền văn hóa và ẩm thực đặc sắc sẽ mang lại cho du khách một hành trình khám phá ấn tượng, khó quên.

Với lịch sử lâu đời, Cát Lâm có bề dày văn hóa độc đáo. Ở Cát Lâm, nghệ thuật kinh kịch vô cùng phát triển. Đoàn thể đại diện xứng đáng nhất của nghệ thuật Kinh kịch tỉnh Cát Lâm là Viện Kinh kịch tỉnh Cát Lâm, gồm kịch trường đại chúng và đại hí lâu Trường Xuân.

van hoa va am thuc cat lam 3 e1669984229431

Đoàn thể Cát kịch nổi tiếng nhất tỉnh Cát Lâm là đoàn Cát kịch tỉnh Cát Lâm, Cát kịch là một loại hình hí khúc địa phương. Từ hình thức biểu diễn hai người, Cát kịch đã phát triển thành một loại hình kịch nghệ mới. Các diễn viên Cát kịch nổi danh có Ổ Lị, Tùy Tinh Oánh, Vương Thanh Hà, Vương Quế Phân, Lý Chiêm Xuân, An Tĩnh Phương. Các vở diễn ưu tú của Cát kịch có: “Đào lý mai”, “Yên-Thanh mại tuyến”, “Bao công bồi tình”, “Nhất dạ hoàng phi”.

van hoa va am thuc cat lam 7

Nhị nhân chuyển là một loại hình nghệ thuật dựa trên các điệu ca dân gian ở vùng Đông Bắc Trung Quốc, hấp thụ nghệ thuật Liên hoa lạc của Hà Bắc, thêm vào vũ đạo, dáng bộ. Theo dòng lịch sử, Nhị nhân chuyển hình thành 4 phái: Đông, Tây, Nam, Bắc. Phái phía Đông có trọng điểm tại Cát Lâm, có cả màn vũ đả. Các đoàn thể Nhị nhân chuyển nổi tiếng tại tỉnh Cát Lâm là kịch đoàn Hí khúc thành phố Cát Lâm, Đại hí viện Hòa Bình, kịch trường Nhị nhân chuyển Đông Bắc, đại vũ đài Lưu Lão Căn.

van hoa va am thuc cat lam 5 e1669984716142

Hoàng Long hí là một thể loại hí kịch mới, hình thành từ năm 1959 và bắt nguồn từ huyện Nông An tại tỉnh Cát Lâm, song do Nông An vào thời nhà Liêu từng có tên là Hoàng Long phủ nên loại hình này mang tên là Hoàng Long hí. Lúc đầu, Hoàng Long hí chỉ có 3 hạng là: tiểu sinh (nhân vật nam), tiểu sửu (anh hề) và tiểu đán (nhân vật nữ), về sau bổ sung thêm đao mã đán (nhân vật nữ giỏi về võ công), lão sinh (nhân vật nam cao tuổi) và lão đán (nhân vật nữ lớn tuổi). Âm nhạc của Hoàng Long hí phân theo các hạng sinh, đán, sửu mà xướng, cách biểu diễn cùng hóa trang và phục trang về cơ bản phỏng theo Kinh kịch.

van hoa va am thuc cat lam 4 e1669984528137

Tân Thành hí là một loại hình hí kịch hình thành từ cuối thập niên 50 và đầu thập niên 1960, lưu truyền ở khu vực huyện Phù Dư và phát triển dựa trên cơ sở loại hình kịch nghệ Bát giác cổ của người Mãn, sở dĩ mang tên “Tân Thành” là do vào thời Thanh, Phù Dư trấn là trị sở của Tân Thành phủ. Các tiết mục Tân Thành hí tiêu biểu là: “Hồng la nữ”, “Tú hoa nữ hài tử”, “Tát Ngõa mã”, “thiết huyết Nữ Chân”, “hồng hạo”. Đoàn thể biểu diễn Tân Thành hí nổi tiếng là kịch viện nghệ thuật dân tộc Mãn thành phố Tùng Nguyên.

van hoa va am thuc cat lam 1

Đông Bắc đại cổ là một hình thức nghệ thuật vừa hát và vừa nói làm chính, đã có lịch sử hơn 200 năm, chủ yếu là các câu chuyện tiểu thuyết, truyền kỳ truyền thống của Trung Quốc. Khi biểu diễn, nghệ nhân một tay cầm mấy thanh tre làm nhịp phách, một tay cầm dùi gỗ đánh trống, bên cạnh có một người dùng nhạc cụ đàn dây đệm đàn. Đông Bắc đại cổ tại Cát Lâm thuộc “Đông Thành phái” có ảnh hưởng lớn tại khu vực Du Thụ. Năm 2006, Đông Bắc đại cổ được liệt vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia của Trung Quốc.

Ngoài ra, trên địa bàn Cát Lâm còn có sự hiện diện của Bình kịch, Thoại kịch.

Xưởng phim điện ảnh Trường Xuân là xưởng phim đầu tiên của nước nơi đây mới, là một trong các xưởng phim có tính tổng hợp lớn nhất Trong Quốc. Cùng với Bắc Ảnh, Thượng Ảnh và Bát Nhất tạo thành “tứ đại” xưởng phim điện ảnh của Trung Quốc. Xưởng phim bắt nguồn từ “Mãn Châu ánh họa chu thức hội xã” do người Nhật thành lập vào năm 1937 thời Mãn Châu Quốc. Liên hoan phim Trường Xuân là một trong những liên hoan phim lớn nhất tại mảnh đất này.

Về ẩm thực Cát Lâm, người ta sử dụng các nguyên liệu là đặc sản hoặc sản vật chính của tỉnh Cát Lâm, vận dụng cách nấu nướng đặc biệt của địa phương. Ẩm thực Cát Lâm tổng hợp các văn hóa ẩm thực và nông sản đặc sắc của các dân tộc thiểu số, đã phát triển sáng tạo và hình thành một hệ phái ẩm thực mới. Ẩm thực Cát Lâm chủ yếu bao gồm 4 thể loại lớn là: món ăn dân tộc, món ăn dân tục, món ăn cung đình và món ăn sơn trân (đồ ngon trên núi).

Sau đây là một số món ăn đặc sản của vùng đất Cát Lâm: 

Gà nhân sâm: Nhân sâm là một trong ba báu vật ở vùng Đông Bắc Trung Quốc, và cũng là một loại thuốc bổ rất nổi tiếng và quý giá của Cát Lâm. Gà của món ăn này được chọn từ gà già của địa phương. Món ăn này có vẻ ngoài rất đẹp cũng như mùi rất thơm.

van hoa va am thuc cat lam 6

Súp cá trắng hấp: Có hai cách nấu cho món ăn này: một là lấy nước sốt của cá và uống nước súp hoặc làm cho súp thấm vào cá và ăn thịt. Cá trắng là loại cá sống ở hồ Songhua, vì vậy, du khách có thể tìm thấy món ăn này xung quanh thành phố Cát Lâm.

San Tao Wan: Đây là món ăn cổ điển nhất của Man Man. Lễ Hoàng gia Manchu Han nổi tiếng được phát triển từ món ăn San Tao Wan. Nó có nhiều loại thịt làm nguyên liệu, bao gồm: thịt nai, cá, ếch,… và được nấu qua 15 quy trình (đốt, nướng, om, hầm, chiên,…).

Cát Lâm nền văn hóa nghệ thuật và ẩm thực đặc sắc là lý do thu hút khách du lịch từ khắp nơi trên thế giới. Nếu du khách có hứng thú với vùng đất tuyệt vời này, hãy thực hiện một chuyến du lịch Trung Quốc nhé!

hoang hau tai vi ngan nhat trong lich su phong kien trung hoa 6

Hoàng hậu tại vị ngắn nhất lịch sử phong kiến Trung Hoa

Khang Hy Đế đăng cơ năm 7 tuổi và nhiếp chính ở tuổi 13. Ông trị vì 62 năm – thời gian trị vì lâu nhất trong lịch sử Trung Quốc. Khang Hy có rất nhiều phi tần, nhưng chỉ có 4 Hoàng hậu. Trong số 4 vị Hoàng hậu của Khang Hy, người đặc biệt nhất có lẽ là Hiếu Ý Nhân Hoàng hậu. Bà làm Quý phi 5 năm, lên Hoàng Quý phi 8 năm, cuối cùng được phong Hoàng hậu nhưng chỉ tại vị 8 tiếng đồng hồ.

Cuộc đời của Hiếu Ý Nhân Hoàng hậu tuy ngắn ngủi nhưng tình cảm của Khang Hy dành cho bà không hề ít ỏi. Sau khi Hiếu Ý Nhân Hoàng hậu qua đời, Khang Hy Đế không lập Hậu nữa trong khi ông chỉ mới 35 tuổi, ngay cả Hoàng Quý phi cũng không.

Thân thế

Hiếu Ý Nhân Hoàng hậu (? – 24/8/1689) là người của dòng họ Đông Giai thị thuộc Hán Quân Tương Hoàng kỳ, sau cải về Mãn Châu Bát kỳ.

Từ thời Dân Quốc đến hiện đại, vẫn còn có nhiều hiểu lầm cho rằng Hiếu Ý Nhân Hoàng hậu cùng tộc nhân “Đông Giai thị” là người Hán, sau được ban đài kỳ mới trở thành quý tộc Mãn Châu như sách sử ghi chép. Thực tế thì dòng họ “Đông Giai thị” vốn là người Mãn, nhưng khi sơ kì nhập quan lại bị phân thành thuộc “Hán Quân Tương Hoàng kỳ”. Về sau do dòng họ của bà được nhập Mãn Châu bổn kỳ, tức “Mãn Châu Tương Hoàng kỳ”. Điều này phần nhiều do chế độ Bát Kỳ vốn không phân dân tộc tính, tuy rằng đa số người Mãn sẽ vào Mãn Châu Bát kỳ, nhưng cũng không ít vốn là Mãn mà lại phân vào Hán Quân, điển hình Đông Giai thị, thì còn có Thạch thị – Đích Phúc tấn của Phế Thái tử Dận Nhưng.

hoang hau tai vi ngan nhat trong lich su phong kien trung hoa 4

Tằng tổ phụ của bà là Đông Dưỡng Chân, xuất thân Hán Quân Tương Hoàng kỳ, có tổ tiên là người Nữ Chân tên Đạt Nhĩ Hán thế cư ở đất Đông Giai, nên lấy đó làm họ. Về sau, Đạt Nhĩ Hán đến cậy nhờ nhà Minh nên đổi qua họ “Đông thị” của người Hán, cùng em trai ở Lữ Thuận phát triển nghề buôn. Khi Thanh Thái Tổ Nỗ Nhĩ Cáp Xích tấn công Lữ Thuận, Đông Dưỡng Chân cùng em trai là Đông Dưỡng Tính quy phụ, được xếp vào Hán Quân Tương Hoàng kỳ. Do hi sinh trong cuộc chiến với nhà Minh, nên Đồng Dưỡng Chân được liệt công lớn, con cháu cũng được thiện đãi. Tổ phụ của Hiếu Ý Nhân Hoàng hậu là Quốc cữu Thái tử Thái bảo, tặng Thiếu bảo Đông Đồ Lại, qua đời vào năm Thuận Trị thứ 15, được tặng thụy hiệu “Cần Tương”. Ông có hậu duệ, là Hiếu Khang Chương Hoàng hậu, Đông Quốc Cương và Đông Quốc Duy. Phụ thân Hiếu Ý Nhân Hoàng hậu là Đông Quốc Duy, với thân phận là em trai của Hiếu Khang Chương Hoàng hậu, đảm đương chức vụ Nội đại thần, cưới chính thê là người bộ tộc Hách Xá Lý, sinh ra Hiếu Ý Nhân Hoàng hậu. Bà có một em trai là Long Khoa Đa, một em gái tức Khác Huệ Hoàng Quý phi của Khang Hy Đế.

Trong gia tộc, người chú Đông Quốc Cương của bà là người thừa kế lớn nhất, ngay thời đầu Khang Hi đã đảm nhiệm Nội đại thần, tham dự triều chính. Xuất thân gia tộc cao quý, lại là cháu gái của Hiếu Khang Chương Hoàng hậu – sinh mẫu của Khang Hy Đế, nên có thể suy đoán quan hệ thân thiết giữa Hiếu Ý Nhân Hoàng hậu và Khang Hy Đế tương đối phát triển từ sớm.

Vị phi tần không thích bon chen

Với tư cách là cháu gái của Hiếu Khang Chương Hoàng hậu – sinh mẫu của Khang Hy Đế, Hiếu Ý Nhân Hoàng hậu được chọn vào cung từ rất sớm. Năm Khang Hy thứ 15, tức năm 1676, Đông Giai thị (Hiếu Ý Nhân Hoàng hậu) tiến cung với thân phận cách cách. Thế nhưng, Khang Hy không hề ngó ngàng đến cô em họ này. Mặc dù không cho bà danh phận nhưng đãi ngộ không hề thua kém cấp bậc phi tần.

hoang hau tai vi ngan nhat trong lich su phong kien trung hoa 3

Năm Khang Hy thứ 16 (1677), Khang Hy Đế quyết định lập Phi Nữu Hỗ Lộc thị làm Hoàng hậu, tức Hiếu Chiêu Nhân Hoàng hậu. Cùng năm, ngày 14/5 (âm lịch), Khang Hy Đế thừa Chiêu Thánh Thái Hoàng Thái hậu ý chỉ mà ân phong hậu cung. Lúc này, Đông Giai thị được sách phong Quý phi. 

Một năm sau, Hiếu Chiêu Nhân Hoàng hậu qua đời. Mười mấy năm sau đó, Khang Hy không hề lập Hoàng hậu. Đông Giai thị lúc bấy giờ đang là Quý phi có quyền lực cao nhất trong hậu cung, quản lý lục cung.

Năm Khang Hy thứ 20 (1681), sau khi bình định Loạn Tam Phiên, Khang Hy Đế quyết định khao thưởng Công thần, ân phong Hậu phi. Ngày 25/10 (âm lịch) cùng năm, Khang Hy Đế ra chỉ dụ tấn phong Quý phi Đông Giai thị làm Hoàng Quý phi. 

Ngày 19/6/1683, bà hạ sinh Hoàng bát nữ. Tuy nhiên, 1 tháng sau Hoàng bát nữ chết non. Vào lúc Hoàng bát nữ sinh ra rồi mất, Khang Hy Đế đang ở bên ngoài, bèn ra chỉ dụ thiêu đi. Hoàng Quý phi Đông Giai thị rất thương con gái, khi để tang dường như đau buồn quá độ, từ đó sinh bệnh trong người. Và cũng kể từ đó về sau, bà không còn sinh cho Khang Hy Đế người con nào nữa.

hoang hau tai vi ngan nhat trong lich su phong kien trung hoa 2

Mặc dù không có con cái, nhưng Hiếu Ý Nhân Hoàng hậu vẫn có địa vị cực cao trong hậu cung. Nắm trong tay quyền lực gần như mẫu nghi thiên hạ, nhưng bà rất cô đơn. Thế là bà nuôi dưỡng Tứ A Ca Dận Chân (tức Ung Chính Đế sau này) như con ruột của mình.

Hoàng hậu tại vị ngắn nhất lịch sử Trung Hoa

Đầu tháng 7 năm Khang Hi thứ 28, Đông Giai thị lâm bệnh nặng, nguyên nhân đến từ việc nỗi đau mất con và cô đơn trống vắng. Hoàng Thái hậu biết chuyện thì vô cùng quan tâm vì Đông Giai thị đã nhiều năm dìu dắt Hoàng tử mà không tâm tư ý đồ riêng.

Hoàng Thái hậu nhận ra không khí trong hậu cung ảm đạm kể từ khi Hiếu Chiêu Nhân Hoàng hậu qua đời. Thế là bà đã hạ ý chỉ cho Hoàng đế Khang Hy rằng: “Hoàng Quý phi Đông Giai thị hiếu kính lễ nghĩa, hiền thục nết na, tận tâm dạy dỗ các a ca, không màng danh lợi. Nay Hoàng Quý phi bệnh nặng triền thân, sinh tử vô thường, lập tức phong Hậu”.

Căn cứ vào “Khang Hy khởi cư chú” ghi chép, Khang Hy tuân theo ý chỉ của Hoàng Thái hậu, ngày 9/7/1689 ra chỉ dụ chính thức sách lập Hoàng quý phi Đông Giai thị thành Hoàng hậu.

hoang hau tai vi ngan nhat trong lich su phong kien trung hoa 5

Ngày 10/7/1689, Hoàng cung cử hành nghi thức phong Hậu, công bố toàn quốc. Thế nhưng, trong ngày trọng đại đứng lên vị trí mẫu nghi thiên hạ mà phi tần nào cũng khát khao này, Đông Giai thị đã băng thệ tại Thừa Càn cung vì bệnh chuyển nặng đột ngột. Tang lễ của bà được tổ chức theo nghi thức của một Hoàng hậu. Thậm chí sự tôn trọng mà Khang Hy dành cho Đông Giai thị còn nhiều hơn cả hai vị Hoàng hậu trước. Mặc dù bà không có con cái, nhưng bà đã thay Khang Hy dạy dỗ nhiều vị Hoàng tử, trong đó có Ung Chính. Hiếu Ý Nhân Hoàng hậu còn là “người vợ” duy nhất khiến Khang Hy hoài niệm trong lòng nhiều nhất. Mặc dù bà chỉ sống vỏn vẹn 27 năm, trở thành Hoàng hậu trong 8 tiếng, nhưng đã trở thành một phần nổi bật trong lịch sử đầy màu sắc của nhà Thanh.

Sau khi Hiếu Ý Nhân Hoàng hậu qua đời, Khang Hy vô cùng đau khổ. Ông đã tạm ngưng thượng triều 5 ngày, mặc tang phục liên tục 10 ngày. Trong lễ tang, Khang Hy Đế đờ đẫn mà ở bên cạnh Tử cung (cách gọi của quan tài dành cho Hoàng tộc nhà Thanh) nhiều ngày, đau lòng không thôi.

hoang hau tai vi ngan nhat trong lich su phong kien trung hoa 1

Ngày 22/9, Hoàng cung tổ chức lễ phong ích hiệu Đông Giai thị là “Hiếu Ý Nhân Hoàng hậu”. Tử cung được đặt tại chính điện của Thừa Càn cung. Ngày 30/7, quan tài được đưa đến phòng mộ ngoài Triều Dương môn. Ngày 11/10, quan tài được đưa lên lăng mộ hoàng thất. Khang Hy Đế đích thân tiễn đưa.

Làm Hoàng hậu chỉ vỏn vẹn 8 tiếng, nhưng thật ra, Đông Giai thị đã cai quản lục cung 8 năm liền. Trong mắt hạ nhân và thậm chí Khang Hi cũng đều xem bà là chủ nhân của hậu cung. Nguyên nhân khiến Khang Hy mãi không phong Hậu cho bà là vì hai vị Hoàng hậu trước qua đời rất sớm. Điều này đã để lại vết thương lòng cho ông. Song tình cảm của Hoàng đế dành cho Đông Giai thị còn lớn hơn cả. Sau khi Đông Giai thị mất, Khang Hy đã làm rất nhiều bài thơ trác vong (thể loại thơ của người Hán được viết bởi người chồng dành tặng vợ đã khuất). Bài thơ “Vãn Đại Hành Hoàng hậu thi tứ thủ tịnh tự – 挽大行皇后诗四首并序” là một trong số đó.

“Đại Hành Hoàng hậu tú chung hoa phiệt, đức bị khổn nghi, tố ý thân vu vị dương, định gia tường vu quỳ nhuế. Cung vi dực tán, khắc hiếu khắc từ. Khoảnh giả chính vị địch du, phủ thừa sách mệnh, cự anh đốc tật, mạc vãn huy âm. Thời chúc tân thu, hầu đương lan thử, kinh toàn tiêu chi nguyệt trụy, thương bích lạc chi tinh thẩm. Vật tại nhân vong, đổ di khuê nhi tuyết thế; đình hư trú vĩnh, kinh thùy mạc dĩ sảng hoài. Bi tòng trung lai, bất năng tự dĩ, ác quản ngôn tình, liêu trừ thống điệu.

Đệ nhất thủ
Nguyệt yểm tiêu cung thán biệt ly, thương hoài thủy giác dạ trùng bi.
Lệ thiêm vũ điểm thiên hành hạ, tình cát thu quang bách lự tùy.
Nhạn đoạn hành dương thanh dĩ tuyệt, ngư trầm thương hải tín nan kỳ.
Phồn ưu mạc giải trung tràng mộng, trù trướng tiêu hồn ức tích thời.

Đệ nhị thủ
Giao di lệ sái tịch dương hồng, đồ bả sầu mi hướng kính trung.
Lộ lãnh dao giai tăng tịch mịch, yên hàn bích thụ hận tây đông.
Cựu thi vịnh tẫn nan hồi thủ, tân nguyệt thăng lai uổng chiếu không.
Loan ảnh thiên nhai vô tín tức, đoạn huyền thanh tại vị ương cung.

Đệ tam thủ
Âm dung bi tiệm viễn, thế lệ vi thùy lưu.
Nữ đức quang thiên tự, khôn trinh ứng cửu châu.
Lương phong tiêu dạ chúc, nhân ảnh tán quỳnh lâu.
Thán thử hồ sinh khổ, tần kinh vô hạn sầu.

Đệ tứ thủ
Tích lịch động thu thanh, trung tâm úc bất bình.
Ly sầu phùng diệp lạc, biệt hận oán cung minh.
Tịch tịch dao trai các, trầm trầm bích hải hoành.
Ngọc cầm ai hưởng xuyết, tiêu điện thống tàn canh.”

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về lịch sử triều đại của một quốc gia đông dân nhất thế giới này. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn thì hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc cùng chúng tôi nhé!

hoang hau da den ly lang dung 6

Lý Lăng Dung – vị Hoàng hậu da đen duy nhất trong lịch sử phong kiến Trung Hoa

Chưa nói đến bậc mẫu nghi thiên hạ, chỉ cần nói đến các cung tần trong cung người ta đã tưởng tượng ra những cô gái xinh đẹp nhất nước được tuyển chọn vào. Thế nhưng, lịch sử Trung Hoa đã ghi chép lại một người phụ nữ với làn da đen khác biệt đã trở thành Hoàng hậu và sau này là Hoàng Thái hậu, đó là Lý Lăng Dung.

Trong hoàn cảnh bình thường, có 2 lý do để trở thành Hoàng hậu cao quý, trở thành mẫu nghi thiên hạ của cả một triều đại. Nếu không có cả một thế lực gia tộc quyền quý sau lưng để làm bệ đỡ chính trị thì cũng là một nữ nhân cực kỳ xinh đẹp, dung nhan ngời sáng, khiến Hoàng đế say mê. Thế nhưng, lịch sử Trung Hoa vẫn ghi nhận một trường hợp hết sức đặc biệt. Nhân vật chính của câu chuyện đổi đời ngoạn mục này chính là Hoàng hậu Lý Lăng Dung mang gốc gác da màu duy nhất trong suốt mấy ngàn năm phong kiến Trung Hoa. 

hoang hau da den ly lang dung 4

Lý Lăng Dung (351-400) là vợ của Đông Tấn Giản Văn Đế Tư Mã Dục (320-372), vị vua thứ 8 của triều Đông Tấn (317-420). Theo sử sách chép lại, dáng người cao to, nước da đen khỏe khoắn, tóc lại xoăn của Lý Lăng Dung chứng minh bà không phải là người Trung Nguyên. Bà được cho là đến từ một vùng đất xa xôi của tộc người Lâm Ấp, một tộc người từng sống ở Ấn Độ, Trung Đông và miền Nam Châu Phi. Tuy nhiên, các tài liệu lịch sử khác cho rằng Lâm Ấp một nước cổ nằm ở vùng Champa. Tộc người này sinh sống ở Đông Nam Á, rải rác từ Indonesia cho tới cả miền Trung Việt Nam. Lâm Ấp chịu ảnh hưởng lớn văn hóa và tôn giáo Trung Quốc nhưng sau các cuộc chiến với quốc gia láng giềng Phù Nam, cũng như sự thôn tính lãnh thổ của quốc gia này vào thế kỷ 4, đã hòa trộn văn hóa Ấn Độ.

hoang hau da den ly lang dung 1

Từ nhỏ, Lý Lăng Dung bị bán vào Vương phủ của Cối Kê Vương Tư Mã Dục, làm cung nữ chuyên dệt vải. Tư Mã Dục từng có 3 người con trai nhưng đều yểu mệnh chết sớm. Các phi tần trong cung cũng không sinh được con trai. Cối Kê Vương Tư Mã Dục lo không có người nối dõi, bèn triệu thêm nữ giới vào cung nhưng vẫn vô vọng.

Thực ra từ lâu, Tư Mã Dục trong lòng sớm nghi kỵ khả năng “đàn ông” của mình bởi có nhiều vợ nhưng không có con. Đến khi con gái đầu lòng là Tân An Công chúa ra đời, ông mới có lại sự tự tin. Tư Mã Dục vô cùng cưng chiều con gái, tuy nhiên, điều đó không hoàn toàn xóa đi nỗi lo lắng về chuyện con trai nối dõi. Một năm sau, dù đã cố gắng tìm mọi cách nhưng Tư Mã Dục vẫn không có con trai.

Lúc này, Tư Mã Dục được giới thiệu một thầy tướng số, tương truyền người này nổi tiếng đức cao đao hạnh, chỉ xem tướng là có thể biết ai sinh được con trai hay con gái. Tư Mã Dục liền giao trọng trách cho người này. Sau khi xem qua một loạt cung nữ trong cung, thầy tướng số không thấy ai có thể sinh con trai. Tư Mã Dục bèn cho thầy mở rộng phạm vi tìm kiếm ngoài Vương phủ, cuối cùng tìm được Lý Lăng Dung. Sau khi thầy tướng số nhìn trúng Lý Lăng Dung, nô bộc trong Vương phủ nói với thầy rằng bà là người Côn Sơn. Theo “Tấn thư”, một trong Nhị thập tứ sử của Trung Quốc, ghi chép, “Lý Lăng Dung cao lớn, da đen, các cung nữ thường gọi bà là nô tì Côn Lôn”. Tương truyền, thầy tướng số mới gặp Lý Lăng Dung đã thốt lên: “Đây mới chính là người phụ nữ có thể làm mẹ của bậc đế vương”.

hoang hau da den ly lang dung 2

Tướng mạo của Lý Lăng Dung bấy giờ bị cho là khó coi. Việc thầy tướng số tìm cho mình một nô tì để sinh con khiến Tư Mã Dục tỏ ý không hài lòng. Tuy nhiên, vì muốn có con trai nối dõi nên đành nghe theo.

Câu chuyện này được đánh giá là chấn động nhà Đông Tấn, vì không ai nghĩ một nô tì da đen như Lý Lăng Dung lại có thể vượt qua hàng trăm nữ nhân xinh đẹp khác trong Vương phủ nhà Tư Mã Dục để được lập thiếp. Theo quan niệm thời đó, để làm thê thiếp của các đấng quân vương thì phải vừa xinh đẹp vừa biết chăm lo gia đình. Trong khi đó, Tư Mã Dục lại cao to tuấn tú, dũng mãnh kiêu hùng, là hình mẫu của biết bao nhiêu cô gái trẻ.

hoang hau da den ly lang dung 3

Không lâu sau, Lý Lăng Dung mang thai. Tương truyền rằng, bà mơ thấy hai con rồng quỳ lạy mình, cho là điềm lành. Tư Mã Dục nghe thấy liền thấy lạ, lòng khấp khởi mong chờ. Vài năm sau, quả thực Lý Lăng Dung đã lần lượt sinh hạ hai Vương tử và một Công chúa. Vào năm 362, Lý Lăng Dung sinh hạ Vương tử Tư Mã Diệu – được sinh ra vào lúc bình minh nên được đặt tên là Diệu, với tên chữ là Xương Minh, cả hai đều có nghĩa là “bình minh”. Một năm sau đó, Lý Lăng Dung lại hạ sinh Tư Mã Đạo Tử. Cuối cùng, bà sinh hạ Dương Công chúa. Từ đó vị thế của bà trong vương phủ mới được coi trọng.

Năm 371, Tư Mã Dục lên ngôi vua khi bước sang tuổi 51, hiệu là Giản Văn Đế, sắc phong Lý Lăng Dung làm Thục phi. Tư Mã Dục không lập ai làm Hoàng hậu nên Lý Lăng Dung làm chủ hậu cung. Đến năm 372, Giản Văn Đế mất, Tư Mã Diệu (362-396) mới 10 tuổi lên ngôi Hoàng đế, tức Tấn Hiếu Vũ Đế, tôn bà làm Thục phi, còn ngôi vị Thái hậu thuộc về Trử thị, Hoàng hậu của Tấn Khang Đế (gọi Giản Văn Đế là chú ruột). Mãi đến năm 378, Lý Lăng Dung mới được tôn làm Quý nhân và sang 384, thì được phong làm Phu nhân. Ba năm sau, bà được thăng làm Hoàng Thái phi và được ban nghi phục giống với Thái hậu. Tháng 8 Âm lịch năm 391, theo thỉnh cầu của Tư Mã Đạo Tử, Tấn Hiếu Vũ Đế chính thức lập bà làm Hoàng Thái hậu, xưng Sùng Huấn cung (崇训宫).

hoang hau da den ly lang dung 5

Năm 396, Hiếu Vũ Đế chết, Tấn An Đế kế vị, thăng bà làm Thái Hoàng Thái hậu. Do An Đế không biết nói, quyền hành trong triều rơi vào tay người con trai thứ của bà, Tư Mã Đạo Tử.

Đến năm 400, Lý Lăng Dung qua đời ở tuổi 51 được truy tôn là Văn Hoàng Thái hậu và được chôn cất tại Mục Bình Lăng, kết thúc cuộc đời của một vị hoàng hậu ngoại lai độc nhất lịch sử Trung Hoa phong kiến. Tuy nhiên, cho đến tận ngày nay, vị trí danh phận cũng như chức vụ của bà trong thời kỳ này vẫn còn gây nhiều tranh cãi trong giới sử học.

Bởi lẽ, nhiều giả thuyết được đặt ra rằng, Lý Lăng Dung không đơn giản chỉ là có màu da đặc biệt, số phận đặc biệt và may mắn, mà bà còn là một người mẹ, một mẫu nghi thiên hạ thực thụ. Có giả thiết cho rằng, dù xuất thân là nô tì dệt vải, nhưng bà lại có tư chất vô cùng thông minh. Sinh thời, hai người con trai của bà không mấy thuận hòa, và bằng trái tim người mẹ cũng như sự khôn khéo trong cách ứng xử, bà đã can thiệp vào chuyện tranh giành quyền lực của hai người con trai ruột, tránh cảnh “nồi da xáo thịt”, đưa nhà Đông Tấn vào thời kỳ hưng thịnh.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về lịch sử triều đại của một quốc gia đông dân nhất thế giới này. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn thì hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc nhé!

thoi quen ky la cua pho ngh 3

Thói quen kỳ lạ của vua Phổ Nghi khiến nhiều người e ngại

Phổ Nghi là vị Hoàng đế cuối cùng trong lịch sử phong kiến Trung Hoa. Ông bị đưa lên làm hoàng đế từ khi còn quá nhỏ nên vô tình đã hình thành nên một số thói quen xấu, trong đó có một sở thích kỳ quặc khiến ai trông thấy cũng đều cảm thấy ái ngại đó là: Tuy đã bước sang tuổi thứ 9 nhưng vị hoàng đế này vẫn chưa thể cai sữa vú nuôi.

Phổ Nghi khi mới 3 tuổi đã bị ép lên làm hoàng đế. Ở cái tuổi còn tập tễnh, Phổ Nghi lại phải trở thành con rối của Từ Hi Thái hậu. Cuộc đời của ông có thể hình dung bằng hai chữ bi thương. Bi kịch liên tiếp xảy đến từ khi ông trở thành đế vương.

thoi quen ky la cua pho ngh 2

Tuy nhiên thân là hoàng đế của một đất nước, ông vẫn được hưởng sự đãi ngộ xa hoa nhất. Hoàng đế đáng thương bị ép rời xa vòng tay của mẫu thân đến sống ở một nơi xa lạ từ khi còn rất nhỏ. Đối với Phổ Nghi, người thân duy nhất của ông trong thâm cung rộng lớn chỉ có vú nuôi.

Vì từ nhỏ đã được cung nữ và thái giám cung phụng nên Phổ Nghi khó tránh việc mắc phải những thói hư tật xấu, trong đó có một sở thích kỳ quặc khiến ai trông thấy cũng đều cảm thấy ái ngại đó là: Tuy đã bước sang tuổi thứ 9 những hoàng đế vẫn chưa thể cai sữa vú nuôi. Nếu không được chiều ý, tiểu hoàng đế sẽ không ngại gào khóc giận hờn ngay cả khi đang thượng triều. Những lúc đó vú nuôi chỉ có thể cười trừ đáp ứng. Cung nữ và thái giám mỗi khi trông thấy cảnh này đều xấu hổ mà quay mặt đi chỗ khác hoặc tự động lui xuống.

Thực tế là Phổ Nghi không phải vẫn bú sữa vú nuôi, mà chỉ là như thói quen từ nhỏ muốn ngậm khi thèm mà thôi. Việc này diễn ra trong một khoảng thời gian dài, mãi cho đến khi vua sắp nạp phi mới chấm dứt. Người sửa thói quen này của tiểu hoàng đế không ai khác ngoài Từ Hi Thái hậu. Bà lệnh cho tất cả vú nuôi đều phải xuất cung. Thời gian, đầu Phổ Nghi vì nhớ mà làm loạn trong cung; tuy nhiên, lâu dần hoàng đế buộc phải cai tật xấu này.

thoi quen ky la cua pho ngh 1

Về chuyện này, nhiều người bày tỏ sự đồng cảm với hoàng đế, vì từ nhỏ ông đã bị ép rời xa vòng tay của mẹ, một mình sống trong hoàng cung rộng lớn, xung quanh toàn người xa lạ. Điều đó khiến Phổ Nghi thiếu đi tình yêu thương thật sự một đứa trẻ nên nhận được nên tiểu hoàng đế mới có hành xử kỳ lạ như vậy.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất kỳ khách du lịch nước ngoài nào. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn thì hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc nhé!

pho ma thanh trieu phai song thu voi cung nu 3a

Phò mã Thanh triều phải “qua đêm” đầu tiên với cung nữ mới có thể lấy được công chúa làm vợ

Dưới thời nhà Thanh trong lịch sử phong kiến Trung Hoa, những người muốn trở thành Phò mã phải đạt nhiều tiêu chuẩn và thậm chí còn phải trải qua một thử thách khá quái gở, đó là phải “qua đêm” đầu tiên với một người khác không phải là công chúa. Công cuộc thử nghiệm này đạt yêu cầu, người đó mới có thể lấy được công chúa làm vợ.

Hoàng đế muốn kén rể cho con gái của mình, lẽ hiển nhiên không thể làm qua quýt. Thông thường, người được tuyển chọn đều do Hoàng hậu, Hoàng đế đích thân lựa chọn trong các quần thần. Các tiêu chí đầu tiên được quan tâm, đó chính là: xuất thân, ngoại hình, diện mạo, tài cán và cuối cùng là tuổi tác của các “ứng viên Phò mã”. 

Đặc biệt, ở triều đại nhà Thanh, vốn được biết đến với những quy tắc cung cấm vô cùng kỳ quái, hà khắc thì việc tuyển chọn Phò mã lại càng không phải chuyện đơn giản.

Hoàng đế nhà Thanh rất coi trọng huyết thống tôn quý và chính tông của mình vì thế luôn luôn để ý đến sức khỏe của các đời con, cháu. Chính vì thế, khi các công chúa chọn phò mã, ngoài các tiêu chí kể trên còn phải thỏa mãn yêu cầu về sức khỏe thể chất, sức khỏe tình dục.

pho ma thanh trieu phai song thu voi cung nu 2

Sức khỏe thể chất rất dễ kiểm tra nhưng sức khỏe tình dục thì lại khó phát hiện vấn đề. Lúc này, cung nữ “thử hôn” được sử dụng như một phép thử. Cụ thể, theo ghi chép, sau khi công chúa chọn và xác định hôn nhân với Phò mã thì Hoàng hậu hoặc Thái hậu sẽ chọn ra một cung nữ vào vai “công chúa sống thử”. Cung nữ này phải “chung đụng” với ứng viên Phò mã khoảng hơn 10 ngày, tối đa là 1 tháng.

Đây chính là thời điểm thử thách Phò mã. “Công chúa sống thử” sẽ liệt kê lại tất cả các biểu hiện của Phò mã, sau đó sẽ về bẩm báo với Hoàng hậu hoặc Thái hậu. Bằng cách này, những nhân vật điều hành hậu cung sẽ nắm được yếu tố sinh lý, tính cách… của người mà họ đã chọn cho con, cháu gái mình.

pho ma thanh trieu phai song thu voi cung nu 1

Nếu kết quả tốt, hôn sự sẽ được tiến thêm một bước. Nếu cung nữ bẩm báo trải nghiệm không mấy tốt đẹp, hôn sự sẽ bị hoãn lại. Sau 2 – 3 tháng, nếu “cung nữ thử hôn” mang thai chứng tỏ Phò mã không có vấn đề gì, hôn sự sẽ tiếp tục được tiến hành. Ngược lại, hôn sự sẽ bị hủy bỏ.

Mặc dù được Thái hậu hoặc Hoàng hậu đích thân tuyển chọn, những việc tuyển chọn cung nữ làm công việc này không hề đơn giản. Để kiểm tra được Phò mã, cung nữ đó ắt phải là người có kinh nghiệm dạn dày, thông minh, tinh tế và nhanh nhẹn. Tuy nhiên, chọn người để phục vụ Phò mã, tuyệt đối không được chọn những cô gái đã từng được Hoàng đế “ban ân”. Trong khi đó, nếu chọn một cô gái bình thường để “sống thử”, hẳn họ sẽ chẳng có đủ kinh nghiệm để hoàn thành nhiệm vụ, trừ khi được bề trên “chỉ điểm” hoặc mua sách về xem trước. Vì thế, thông qua việc chọn cung nữ “sống thử” với Phò mã, khó có thể có được kết quả đáng tin cậy. Những biểu hiện của Phò mã có tốt hay không, rất khó có thể đánh giá một cách chính xác.

pho ma thanh trieu phai song thu voi cung nu 4 e1660658519613

Thanh triều thực hiện chế độ “công chúa sống thử” thực ra là do lo sợ công chúa “lấy nhầm chồng”. Đây là việc đại sự nên không thể làm sơ sài cho phải đạo. Hình thức “sống thử” này có thể lý giải nhưng trên thực tế, hầu như nó vô tác dụng.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất kỳ khách du lịch nước ngoài nào. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn thì hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc nhé!

2 ong vua vong on boi nghia 10

2 ông vua “vong ơn bội nghĩa” nhất trong lịch sử phong kiến hàng ngàn năm của Trung Hoa

Trong lịch sử phong kiến hàng ngàn năm của Trung Hoa, Lưu Bang và Chu Nguyên Chương được đánh giá là hai ông vua “vong ơn bội nghĩa” nhất.

Lưu Bang quyết diệt trừ bằng được “chiến thần” Hàn Tín

Lưu Bang diệt trừ chư hầu, trở thành Hoàng đế khai quốc nhà Hán là nhờ công lớn của “chiến thần” Hàn Tín, nhưng đến cuối cùng, Hán Cao Tổ đã “vong ơn bội nghĩa” quyết diệt trừ Hàn Tín bằng được.

2 ong vua vong on boi nghia 1

Hàn Tín (229-196 TCN) nổi tiếng là “chiến thần” bách chiến bách thắng trong thời Hán – Sở tranh hùng sau khi Tần Thủy Hoàng qua đời. Theo sử sách, Hàn Tín mồ côi cha mẹ từ nhỏ. Ông sống cuộc đời cực khổ, có những hôm không câu được cá không có gì ăn. Khi mẹ mất, vì muốn xây cất cho mẹ ngôi mộ ở nơi đẹp đẽ trên núi cao mà bán cả nhà cửa, xách kiếm đi lang thang ngoài chợ.

2 ong vua vong on boi nghia 2

Năm 209 TCN, khởi nghĩa chống nhà Tần bùng nổ. Cuộc đời Hàn Tín bước sang một trang mới khi ông gia nhập nghĩa quân do Hạng Lương và cháu là Hạng Vũ đứng đầu. Nhưng không được Hạng Vũ trọng dụng, ông chuyển sang đầu quân cho Hán vương Lưu Bang, lúc bấy giờ cạnh tranh quyền lực quyết liệt với Sở Bá Vương Hạng Vũ. Nhờ mối quan hệ với Tướng quốc nhà Hán là Tiêu Hà, Hàn Tín cuối cùng cũng được trọng dụng và được Lưu Bang phong làm Tướng quân.

Hàn Tín lên đàn nhận phong tướng xong bèn phân tích cho Hán vương về những thế mạnh, yếu của Hạng Vũ và cách thức đánh bại Sở, đối thủ lớn nhất lúc bấy giờ của nhà Hán. Lưu Bang kể từ đó bắt đầu xem trọng Hàn Tín.

2 ong vua vong on boi nghia 3

Trong vòng 10 năm kể từ khi được Lưu Bang tin dùng, Hàn Tín đích thân đem quân chinh chiến, gặt hái hết thành công này đến thành công khác. Năm 206 TCN, ông dẫn quân bình định Tam Tần, do các vua chư hầu Chương Hàm (Ung vương), Tư Mã Hân (Tắc vương) và Đổng Ế (Địch vương) nắm quyền.

Đội quân do Hàn Tín chỉ huy đánh đâu thắng đó, ông chinh phạt nước Hàn, diệt Ngụy, lấy Triệu, thu phục nước Yên, chiếm nước Tề và tiến đến kẻ thù lớn nhất là Tây Sở Bá Vương Hạng Vũ.

Năm 202 TCN, Lưu Bang theo kế của Trương Lương, bội ước mang quân đánh úp Hạng Vũ nhưng đại bại. Lúc này, Lưu Bang mới nhờ cậy đến Hàn Tín và Bành Việt mang quân đến tiếp viện. Nhờ Hán Tín ra tay mà quân Hán mới vây chặt được Tây Sở Bá Vương Hạng Vũ ở Cai Hạ, Trung Quốc, kết liễu đối thủ lớn nhất đời Lưu Bang.

Sau những chiến tích vang dội lẫy lừng, Hàn Tín được Lưu Bang sắc phong làm Tề vương, sau lại được thăng làm Sở vương, nắm quyền bá chủ một vùng. Thế nhưng, việc phong vương cho Hàn Tín của Lưu Bang cũng nhằm chủ đích muốn đẩy Hàn Tín rời kinh đô và giảm tầm ảnh hưởng của “chiến thần” này trong triều.

Năm thứ hai Hàn Tín lên làm Sở vương, có người đã dâng tấu cáo buộc Hàn Tín mưu phản. Bản thân Lưu Bang cũng hiểu rõ đó là lời vu cáo vô căn cứ, nhưng vẫn nhân cơ hội này để hạ bệ Hàn Tín.

2 ong vua vong on boi nghia 4

Khi có người bẩm báo Hàn Tín mưu phản, các quan trên triều đều vô cùng phẫn nộ. Lưu Bang chưa tỏ thái độ ngay, kín đáo hỏi ý kiến Trần Bình. Trần Bình có hỏi: “Quân của bệ hạ có tinh nhuệ hơn quân của Hàn Tín không?”. Lưu Bang trả lời: “Không sánh kịp”. Trần Bình lại hỏi tiếp: “Tướng của bệ hạ có mạnh hơn tướng của Hàn Tín không?”. Lưu Bang lại trả lời: “Sao sánh bằng!”

Tới lúc này, Trần Bình mới nói: “Quân không tinh bằng quân hắn, tướng không giỏi hơn tướng hắn, lại muốn đem quân đi đánh, chẳng khác nào cố ép hắn phải làm phản”. Lưu Bang nghĩ cũng xuôi nên lên kế hoạch bắt Hàn Tín. Khi ấy, Lưu Bang lấy danh nghĩa thiên tử đi tuần, xuống gần nước Sở ở phía Nam. Hàn Tín không biết ứng phó như thế nào, bởi không biết Lưu Bang muốn bắt mình hay không.

Để tỏ lòng trung thành, Hàn Tín bèn lấy đầu người bạn cũ Chung Ly Muội nộp cho Lưu Bang. Bởi Lưu Bang thuở xưa rất căm ghét Chung Ly Muội khi người này còn là tướng dưới quyền Hạng Vũ. Nhưng ngay sau đó, Hàn Tín lập tức bị bắt, đem giải về kinh thành. Hàn Tín vì không phục, nhưng chỉ biết than trời: “Thỏ chết thì giết chó, chim hết thì bẻ cung, diệt xong địch thì công thần phải chết”.

2 ong vua vong on boi nghia 5

Nhưng, Lưu Bang cũng không vội vàng giết Hàn Tín ngay, Hán Cao Tổ chỉ nhân cơ hội này khiến Hàn Tín mất đi thanh danh “khai quốc công thần”. Sau này, mặc dù cũng được phóng thích, nhưng Hàn Tín bị giáng chức làm “Hoài Âm Hầu”. Theo tước vị, dưới Vương là Công và sau đó mới đến Hầu. Điều này khiến ông vô cùng căm phẫn.

Năm 200 TCN, viên tướng Trần Hy được cử đến trấn thủ Cự Lộc ở tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc. Trước khi lên đường, Trần Hy có tới chào từ biệt Hàn Tín. Hàn Tín nói: “Nếu ngươi đi đến đó, ắt sẽ có người cáo ngươi mưu phản, trước sau sẽ bị giáng họa”. Không rõ vì câu nói này của Hàn Tín hay không mà Trần Hy làm phản thật. Lúc này đích thân Hán Cao Tổ dẫn quân đi dẹp loạn, để Thái tử Lưu Doanh ở lại trấn thủ kinh thành.

Năm 196 TCN, Lưu Bang ngự giá thân chinh, Hàn Tín cáo bệnh không theo, còn cho người mang thư đến chỗ Trần Hy, hẹn sẽ làm nội ứng tại kinh thành, theo sử sách chép lại. Sự việc bại lộ, Lã hậu cùng Tiêu Hà nhân cớ này trừ khử Hàn Tín. Lã hậu phao tin biên ải đại thắng, Trần Hy bị diệt, mời quần thần vào cung mở tiệc ăn mừng. Hàn Tín vì chột dạ nên định cáo bệnh, nhưng không qua mắt được Lã hậu. Hàn Tín vừa vào cung đã bị bắt sống và bị xử tử ở cung Trường Lạc. Ba đời nhà họ Hàn cũng bị xử tội chu di.

2 ong vua vong on boi nghia 6

Tuy nhiên, cái chết của Hàn Tín được các nhà nghiên cứu lịch sử Trung Quốc ngày nay kết luận rằng, đây là một sự sắp xếp có chủ ý của vợ chồng Lưu Bang – Lữ Trĩ. Vì công lao, tài năng của Hàn Tín quá lớn khiến cho Lưu Bang không bao giờ yên tâm và buộc phải tìm cách trừ khử. Và việc ông bị kết tội câu kết với phản thần Trần Hy làm nội gián thực ra chỉ là sự vu cáo. Thực tế, Hàn Tín không hề có âm mưu làm phản. Nếu muốn làm phản, Hàn Tín có nhiều cơ hội kể từ khi còn là Sở Vương, cho đến lúc giết Chung Ly Muội để chứng tỏ lòng trung thành. Đến cuối cùng, Hàn Tín mà có ý làm phản thì chắc hẳn sẽ không dám theo Tiêu Hà vào cung để cho Lã hậu bắt chém.

Không phải một mình Hàn Tín là nạn nhân của Lưu Bang, mà hàng loạt các khai quốc công thân khác, những người được phong vương rồi cũng bị phế truất để thay bằng các hoàng tử nhà họ Lưu.

Thế mới thấy, Lưu Bang là một ông vua “vong ơn bội nghĩa” thế nào!

Chu Nguyên Chương giết bạn vào sinh ra tử

Sau Lưu Bang, Chu Nguyên Chương cũng được đánh giá là một điển hình trong số những Hoàng đế khai quốc giết công thần, dù công trạng của ông đối với xã tắc Minh triều khi đó là không thể phủ nhận. Trước khi truyền ngôi cho Thái tử, Chu Nguyên Chương đã ra tay “dọn đường”, “tắm máu” công thần – những người anh em đã đồng cam cộng khổ với mình như: Hồ Duy Dung, Lam Ngọc,…

2 ong vua vong on boi nghia 7

Vào năm Hồng Vũ thứ 5, khi vương triều Đại Minh về cơ bản đã thái bình, cả nước đón chờ một thời đại trị vì mới. Nhưng, theo cùng sự phát triển của đất nước, Chu Nguyên Chương đã nhanh chóng nhận ra được rằng, kẻ địch từ bên ngoài tuy đã bị tiêu diệt nhưng kẻ thù bên trong lại vẫn đang đe dọa đến chính quyền của ông.

Ông cho rằng, thù trong này không ai khác mà chính là những chiến hữu đã sát cánh bên ông, cùng ông đoạt thiên hạ, bởi vì những người này cậy vào việc bản thân có chiến công, có quan hệ nên đã lộng quyền, làm xằng bậy khắp nơi, phá vỡ luật pháp, thậm chí còn dám câu kết đảng phái, mưu đoạt lợi ích riêng. Chính vì thế, bắt đầu từ năm Hồng Vũ thứ 13, Chu Nguyên Chương đã lên kế hoạch để tiêu diệt công thần khai quốc. Cũng chính vào năm ấy, vụ án Hồ Duy Dung chấn động thiên hạ xảy ra, kéo theo hơn 15.000 quan viên có liên quan, phần lớn trong số đó đều bị xử tội chết.

2 ong vua vong on boi nghia 8

Đến năm Hồng Vũ thứ 23, Chu Nguyên Chương ra tay với Thái sư Lý Thiện Trường, những người từng một thời là rường cột quốc gia lần lượt bị ép chết.

Song sự việc vẫn chưa kết thúc tại đó, đến năm Hồng Vũ thứ 26 (1393), Cẩm Y Vệ báo cáo phát hiện Lam Ngọc tạo phản, cho nên vụ án Lam Ngọc đáng sợ lại tiếp diễn. Chu Nguyên Chương lên kế hoạch tiêu diệt Thống binh Đại tướng. Theo sách sử ghi chép, chỉ trong vòng 3 ngày ngắn ngủi, số người liên quan đến vụ án đã lên tới 25.000 người. Những người liên quan trong đó phần lớn là quan viên cao cấp cùng quý tộc, tất cả họ đều bị xử lưu đày hoặc chém đầu.

2 ong vua vong on boi nghia 9

Theo ghi chép, 3 năm sau khi xảy ra vụ án Lam Ngọc, sau khi Tống Quốc công Phùng Thắng bị xử tử, các thế lực quân sự của Đại Minh đều bị chặt đứt, đến khi nhìn lại, võ tướng đều đã là những gương mặt mới, còn các vị danh tướng hầu như đã chẳng còn lại một ai.

Từ hai trường hợp trừ khử công thần chấn động trong lịch sử Trung Hoa này, có thể dễ dàng nhận thấy, những người có công lao quá lớn, danh tiếng quá cao đa phần đều sẽ gặp nguy hiểm.

Khi Hoàng đế đăng cơ, thù trong giặc ngoài đều được dẹp yên cũng là lúc các ông hoàng tính đến chuyện đề phòng cảnh giác và mối họa sẽ được dịch chuyển sang những công thần có công lớn trong triều. Họ đều lo sợ rằng một ngày nào đó chính các công thần này sẽ uy hiếp đến ngai vàng của họ hoặc con cháu họ. Để ổn định giang sơn xã tắc, bảo vệ ngôi báu cho bản thân và dòng tộc, các công thần tự nhiên trở thành cái gai trong mắt vua. Có lẽ đây chính là lý do mà Lưu Bang đã giết Hàn Tín và Chu Nguyên Chương giết Hồ Duy Dung cùng vô số công thần khác.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất kỳ khách du lịch nước ngoài nào. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn thì hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc nhé!

cuoc noi loan cua 7 tong that nha han 6

Cuộc nổi loạn của 7 tông thất nhà Hán trong lịch sử Trung Hoa cổ đại

Trong lịch sử Trung Hoa cổ đại, Hán Cao Tổ Lưu Bang kể từ khi làm Hoàng đế chủ trương phong vương cho tông thất, quyền lực của các Hoàng tử lấn át cả Hoàng đế. Sau này đã dẫn đến cuộc nổi loạn của 7 tông thất nhà Hán. Cuộc nổi loạn ấy diễn ra vào năm 154 TCN, dưới triều đại của Hán Cảnh Đế Lưu Khải – vị Hoàng đế thứ 6 của nhà Hán.

Sau khi đoạt ngôi từ tay nhà Tần, Hán Cao Tổ Lưu Bang đã phong vương cho các công thần. Nhưng vài năm sau khi nắm vững ngôi vị, Lưu Bang lần lượt trừ khử hoặc phế truất các công thần làm Vương các nước chư hầu (loại bỏ những vương thất khác họ) và chỉ phong Vương cho các con cháu họ Lưu, đồng thời giao ước với các quan đại thần: “Ai không phải họ Lưu mà làm vương thì thiên hạ cùng đánh nó”. Giao ước này được những trung thần như: Trần Bình, Chu Bột thực hiện triệt để sau khi Lã hậu qua đời (180 TCN). Hai người đã khởi xướng việc diệt các chư hầu, phe cánh họ Lã mà Lã hậu dựng lên trong thời gian cầm quyền, tôn Đại vương Lưu Hằng làm Hán Văn Đế (Hoàng đế thứ 5 của nhà Hán). Lúc này, Hán Văn Đế chỉ trực tiếp nắm quyền cai quản 1/3 lãnh thổ Trung Hoa, tập trung quanh kinh đô Trường An, 2/3 còn lại do các vương thất với quân đội riêng nắm quyền.

cuoc noi loan cua 7 tong that nha han 4

Hán Văn Đế soạn chiếu trao ngôi Vương nước Tề, Triệu, Sở cho người trong họ để đền đáp công lao trong cuộc chiến chống họ Lã. Tuy nhiên, Tế Bắc vương Lưu Hưng Cư và Hoài Nam vương Lưu Trường lần lượt bộc lộ ý định làm phản năm 177 TCN và 174 TCN và bị tiêu diệt.

Để giảm thế lực các chư hầu, Hán Văn Đế nghe theo kiến nghị của đại thần là Giả Nghị, nhân lúc Tề vương qua đời bèn chia nhỏ nước Tề làm 6 nước: Tề, Tế Bắc, Tế Nam, Giao Tây, Giao Đông, Tri Xuyên; với nước Hoài Nam, ông điều Hoài Nam Vương Lưu Hỷ làm Thành Dương Vương, chia Hoài Nam làm 3: Hoài Nam, Hành Sơn, Lư Giang.

Chính sách chia nhỏ chư hầu của Hán Văn Đế mới thực hiện được bước đầu. Các đại thần lại khuyên Hán Văn Đế nên tiếp tục làm yếu nước Ngô nhưng Hán Văn Đế ngại thế lực của Ngô vương Tỵ (con Lưu Trọng – anh Cao Tổ, tức anh họ của Văn Đế) rất lớn, nước Ngô lại giàu mạnh nên không nghe theo.

Một ván cờ “không chịu thua” rước đại họa “Thất quốc chi loạn”

Theo Sử ký của sử gia Tư Mã Thiên, một lần nọ, con trai của Ngô vương Lưu Tỵ là Lưu Hiền đến thăm con trai Hán Văn Đế là Thái tử Lưu Khải. Hai hoàng tử cùng nhau vui chơi trong vài ngày, tận hưởng giàu sang. Trong một ván cờ, Thái tử Lưu Khải đi nhầm nước cờ, biết mình sắp thua nên muốn rút lại nước cờ đã đi. Lưu Hiền không chấp nhận. Hai bên lời qua tiếng lại dẫn đến ẩu đả. Lưu Khải vì nhất thời tức giận, đã cầm bàn cờ đánh vào đầu Lưu Hiền, đến khi dừng tay thì Hoàng tử nước Ngô đã nằm bất động.

cuoc noi loan cua 7 tong that nha han 1

Hán Văn Đế một mặt cảnh cáo Lưu Khải, mặt khác cho người đưa thi hài Lưu Hiền về nước Ngô an táng, gửi lời thương tiếc sâu sắc. Ngô vương Lưu Tỵ đứng bên quan tài con trai mà hết sức tức giận, yêu cầu sứ giả đem Lưu Hiền về kinh đô Trường An chôn cất. “Thiên hạ đều là của Lưu gia, con của ta chết tại Trường An, thì chôn cất tại Trường An, đưa về nước Ngô làm gì”, Ngô vương Lưu Tỵ uất ức nói. Kể từ đó, Lưu Tỵ đem lòng căm ghét triều đình, thường xuyên cáo ốm, không một lần đặt chân tới Trường An. Sứ giả triều đình diện kiến, Lưu Tỵ tuyên bố không gặp. Hán Văn Đế nể tình anh em họ, không truy cứu những hành động này của Lưu Tỵ.

Cuộc nổi loạn của vương thất nhà Hán

Năm 157 TCN, Hán Văn Đế qua đời, Thái tử Lưu Khải lên nối ngôi, tự là Hán Cảnh Đế. Cảnh Đế nghe theo lời đại thần, tiếp tục làm giảm thế lực chư hầu, theo đó sẽ tước bớt quận Đông Hải của Sở Vương Mậu, tước bớt quận Dự Chương và quận Cối Kê của Ngô Vương Lưu Tỵ, tước bớt quận Thường Sơn của Triệu Vương Toại và 6 huyện của Giao Tây Vương Ngang.

Trong lúc triều đình đang bàn bạc, Ngô Vương Lưu Tỵ nghe tin mình bị cắt đất, sợ sau này sẽ bị mất hết đất đai quyền hành nên quyết định khởi sự. Nghe tiếng Giao Tây Vương dũng mãnh thiện chiến, chư hầu thường nể sợ, Ngô Vương Lưu Tỵ sai đại phu Ứng Cao đến kêu gọi Lưu Ngang cùng làm phản. Sau đó Lưu Tỵ đích thân đến gặp Lưu Ngang ước hẹn kế hoạch tây tiến.

Quần thần Giao Tây biết ý đồ của Lưu Ngang, khuyên không nên làm phản, vì thế lực chư hầu yếu hơn thiên tử; giả sử thành công lại dễ dẫn đến tranh chấp thiên hạ giữa Ngô và Giao Tây. Lưu Ngang không nghe, sai sứ sang kêu gọi các nước Tề, Tri Xuyên, Giao Đông, Tế Nam, Tế Bắc ước hẹn cùng làm phản. Ngô Vương Lưu Tỵ cũng ước hẹn với nước Triệu, Sở cùng khởi binh.

cuoc noi loan cua 7 tong that nha han 5

Không lâu sau, lệnh tước đất các chư hầu từ Trường An ban ra. 7 nước chư hầu do Ngô Vương Lưu Tỵ khởi binh. Liên quân 7 nước chủ trương đánh mạnh về phía Tây, chiếm trọn các khu vực trung tâm ở Trung Hoa, vây hãm kinh đô Trường An. Ngô Vương ra lệnh tổng động viên, huy động được hơn 20 vạn người. Tế Bắc vương Lưu Chí lúc đầu đồng ý hưởng ứng nổi loạn nhưng đến phút cuối đổi ý, quyết định không tham gia. Hai vương thất khác không kịp điều binh mã theo liên quân tây tiến.

Để đối phó lực lượng phản loạn, triều đình nhà Hán chia quân làm 3 đạo. Đạo quân chủ lực do Chu Á Phu thống lĩnh, tấn công phe nổi loạn ở vùng Đông Nam. Hai đạo quân còn lại đối phó quân Triệu ở phía Bắc và quân phản loạn ở bán đảo Liêu Đông.

Ở Trường An, đại thần Viên Áng đòi Hán Cảnh Đế xử tử Tiều Thổ, là người đề ra chủ trương cắt đất của các phiên vương. Nhưng cái chết của Tiều Thổ vẫn không ngăn Ngô vương Lưu Tỵ lui quân. Viên Áng được giao làm sứ giả truyền tin triều đình đồng ý ngừng tước đất của các vương thất. Nhưng Ngô Vương hay tin cười lớn nói: “Ta bây giờ đã là Hoàng đế phía Đông, chẳng lẽ còn phải lạy người khác hay sao?”

cuoc noi loan cua 7 tong that nha han 2

Đến lúc này, quân chủ lực của Ngô Vương đang vây đánh nước Lương của Lương Vương Lưu Vũ. Chu Á Phu không đem quân ứng cứu ngay lập tức mà chỉ huy kỵ binh cắt đứt tuyến đường vận lương của quân Ngô. Lưu Tỵ liền quay sang đánh quân triều đình nhưng bị Chu Á Phu phản kích đánh tan tác. Sau thất bại ở An Huy, quân Ngô gần như tan rã. Lưu Tỵ rút tàn quân trở về Trấn Giang, tỉnh Giang tô ngày nay. Lưu Tỵ bị quân địa phương giết chết, đem đầu về Trường An dâng Hán Cảnh Đế. 6 Hoàng tử khác tham gia nổi loạn lần lượt bỏ mạng trên chiến trường, hoặc chọn cách tự sát. Tế Bắc vương Lưu Chí vì bị bức bách làm phản, đến cuối cùng không xuất quân hưởng ứng nên được miễn tội chết, cải phong làm Tri Xuyên Vương.

Loạn 7 nước kéo dài từ tháng 1 đến tháng 3 âm lịch năm 154 TCN thì bị dẹp. Quân làm phản thất bại hoàn toàn, các vua chư hầu làm phản đều mất mạng. Hòa bình nhanh chóng được lập lại trên lãnh thổ Trung Quốc.

Tập trung quyền lực về tay Hoàng đế

Dẹp xong loạn 7 nước, Hán Cảnh Đế ra lệnh xóa bỏ nước phong của các chư hầu này, đưa đất đai về dưới quyền quản lý trực tiếp của Hoàng đế. Ngoài ra, ông còn tiến hành chỉnh lý địa giới một số nước chư hầu, thu nhỏ quyền lực của họ. Đặc ân phong con Sở Vương là Lưu Lễ làm Sở Vương, nhưng nước bị thu nhỏ chỉ có quận Bành Thành; nước Đại cũng bị thu hẹp chỉ có quận Thái Nguyên.

cuoc noi loan cua 7 tong that nha han 3

Sau này, Hán Cảnh Đế tiếp tục chính sách làm yếu các chư hầu. Sau khi Lương Vương Lưu Vũ em ông qua đời, ông chia nước Lương làm 5 nước nhỏ, khiến số lượng chư hầu nhà Tây Hán lên tới 25 nước, nhiều nhất kể từ khi nhà Hán thành lập. Thế lực chư hầu yếu hơn nhiều so với trước. Sau đó đến thời Hán Vũ Đế còn tiếp tục theo đuổi chính sách này, loại bỏ hoàn toàn việc cắt đất phong hầu khiến cho chế độ quân chủ trung ương tập quyền ngày càng được củng cố.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất kỳ khách du lịch nước ngoài nào. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn thì hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc nhé!