Môn thần trong tín ngưỡng dân gian Trung Quốc

Nếu như cửa gỗ là loại cửa đã ăn sâu vào nếp sống văn hóa của người Trung Hoa thì Môn thần – thần giữ cửa là một phần không thể thiếu trong một ngôi nhà. Mặc dù, trong cuộc sống hiện đại, Môn thần đã không còn xuất hiện nhiều, nhưng nó vẫn là một nét đẹp văn hóa trong nếp sống của mỗi người dân Trung Hoa.

Môn Thần là một vị thần thường được người dân đặt ở 2 bên cổng vào một ngôi chùa, nhà ở hay tiệm kinh doanh… để cầu mong thần linh sẽ phù hộ cho gia đình quanh năm được bình an, không bị ma quỷ trêu chọc, và có cuộc sống tốt lành, của cải dồi dào, vận hội phơi phới.

Khởi nguyên của việc thờ Môn thần này xuất phát từ sự sùng bái tự nhiên cách đây hàng nghìn năm của Trung Hoa, lúc con người còn sợ sấm sét, mưa gió, thú dữ, kẻ ác vào nhà, và để ngăn ngừa những điều dữ tới, dân gian đã bài trí, treo dán trước cổng hình tượng của các linh thú, tôn thần có sức mạnh to lớn trấn áp ma tà, khi nhìn vào yêu ma quỷ quái, kẻ trộm đều phải sợ hãi tháo chạy.

Lúc đầu, họ trưng Chu Tước là loài chim giống như sư tử, con rồng song có cánh, phun ra lửa… với niềm tin nó có thể tiêu diệt mọi rắn rết, sói cầy, không cho chúng xâm hại ngôi nhà. Sau này, trong từng thời đại, nảy sinh các thiên thần, thổ thần, nhân thần, các danh tướng có công bảo vệ biên cương – triều đại thì họ lại chuyển sang thờ một người cụ thể được phong thần.

Về thiên thần, mọi nhà thường thờ Thần Đồ và Uất Lũy, hai vị thượng tiên đã xuất hiện từ thời Hoàng Đế. Truyền thuyết kể rằng, trên núi Độ Sóc ở Đông Hải có một cây đào lớn, cành nhánh uốn cong, lá tươi tốt um tùm, vươn dài đến 3.000 dặm. Trên cây có một con gà vàng, phía dưới có hai vị thần tiên, một người tên Thần Đồ, người kia tên Uất Luỹ. Họ đứng dưới gốc cây đào, quan sát hành tung của bách quỷ. Gặp phải ác quỷ nào vô cớ gây hoạ, gây hại cho nhân loại, hai vị thần liền dùng dây thừng trói quỷ lại đưa xuống dưới núi cho hổ ăn thịt. Về sau, mỗi khi gặp lúc trừ tịch năm cũ, mọi người liền đặt hình người được tạc bằng gỗ cây đào, còn vẽ thêm Thần Đồ, Uất Luỹ và hổ để xua đuổi tà ma ác quỷ.

Hai vị thần tiên này có thể hàng phục ma quỷ, hình tượng của họ đương nhiên cũng dữ dằn đáng sợ. Bức hoạ trong Tam giáo nguyên lưu sưu thần đại toàn là tôn dung của hai vị đại thần này. Họ phanh ngực, tay cầm kiếm, tóc dựng đứng như sừng trên đầu, chân mày nhô cao, đỉnh đầu như gò, mày ngang mắt dọc, trong nụ cười nhạt ẩn chứa sát cơ, đúng là hình tượng vị sát thần hung bạo. Có như thế, ác quỷ mới nhìn đã sợ, nghe hơi gió mà chạy. Về sau mọi người không treo hình tượng nữa mà chỉ treo trên cánh cửa một nhánh đào, hoặc dùng bút lông viết ra tôn danh của hai vị thần, hoặc giả viết lên nhành đào mấy câu thần chú. Như vậy, tà ma quỷ quái nhìn thấy liền dừng bước. Trừ tịch hàng năm đều như thế, đó gọi là “tân đào hoán cựu phù”.

Một lần, nhân hai vị đi dự hội Bàn đào trên thiên đình, một bầy quỷ đã thoát ra gây hại. Tiếng khóc của dân chúng vang trời, Thần Đồ – Uất Lũy liền hiện lên và thay vì cứ trừng phạt chúng mãi, các ngài đã cho dân gian một cành đào, dạy họ cách trồng trọt và treo những sợi dây hồng điều lên hoa đặt ở trước cửa, khiến ma quỷ nhìn thấy đã kinh hãi, tưởng thần giáng lâm. Hôm nay, tục này vẫn còn, khi nhà nhà đều trưng cành đào và dây đỏ sặc sỡ đính ba chữ Phúc, Lộc, Thọ. Từ màu đỏ của đào, người ta cũng mặc áo đỏ để lúc nào cũng may mắn, tươi đẹp.

Từ đời Hán, họ còn bắt đầu đặt tượng và dán hình ảnh của Thần Đồ – Uất Lũy lên hai bên cánh cửa bởi dùng hình ảnh tôn thần có lẽ sẽ hay hơn là chỉ dùng hình ảnh hoa đào. Thần Đồ – Uất Lũy hay được thấy cầm một cái roi, dây tiên, cũng thường bưng khay đào và có những đồng nhi để tóc trái đáo đứng cạnh, nhằm tăng thêm sự uy nghi cũng như hiền từ, nhân ái.

Về nhân thần, người ta thường thấy Tần Quỳnh (Tần Thúc Bảo) và Uất Trì Cung (Uất Trì Kính Đức), hai tướng quân oai dũng dưới thời Đường Thái Tông. Đây là hai nhân vật lừng lẫy đã giúp hoàng tử Lý Thế Dân dành được ngôi báu, dẹp loạn trong triều nên ai cũng kính sợ. Tương truyền, Đường Thái Tông (Lý Thế Dân) thường xuyên nằm mơ thấy ma quỷ kêu khóc ném đá vào mình, ngài ngủ không yên giấc. Ngài bèn sai hai vị tướng thân cận và trung thành nhất của mình là Tần Thúc Bảo và Uất Trì Kính Đức hàng đêm đứng canh cho ngài ngủ, cũng từ đó không mơ thấy có ma tà quấy nhiễu nữa. Việc hai ngài canh giữ cho giấc ngủ của vua cũng chính là canh giữ cho giang sơn Đại Đường. Cũng từ ấy, hai ngài được người dân tôn làm môn thần, trường treo dán hình hai ngài ở trước cửa với niềm tin rằng ma mị chẳng thể quấy rối. Tần Thúc Bảo chính là Tả Môn Thần đứng canh ở phía tay trái, Uất Trì Kính Đức là Hữu Môn Thần đứng phía bên tay phải, hai ngài luôn trong tư thế nghiêm nghị, mặt đối mặt, nhằm tập trung ánh nhìn vào người đang đi tới và đi vào giữa cổng, đảm bảo người này luôn được theo dõi. Hình ảnh hai vị thường mặc giáp trụ, cầm vũ khí như đao, kiếm, thương, kích, chùy,… đôi khi còn cưỡi ngựa, hùm báo khoe diễu đầy sự hùng dũng – mạnh mẽ, một vị có sắc mặt đen xì hoặc đỏ rực, một vị lại có mặt trắng toát/ xanh đậm, một vị để râu rậm một vòm, vị kia râu lưa thưa ba chùm, song cả hai đều có mày xếch lên, gương mặt cương nghị hoặc tức giận.

Cùng là tướng quân, song theo quan niệm, tính khí của mỗi vùng, mỗi nhà hay mỗi người khác nhau, hình ảnh của Tần Thúc Bảo và Uất Trì Kính Đức sẽ mang các diện mạo, trang phục, sắc màu riêng, mà thông thường còn thêm nhiều yếu tố thần thoại, tức là đưa thần tiên vào con người thật, như để trên vai hai vị có các dải lụa bay bay như trên thiên đình xuống, và đồng hóa hai vị với tứ đại thiên vương theo tín ngưỡng đạo Lão.

Cũng từ đây, sinh ra văn thần và võ thần cùng là môn thần song thể hiện khác biệt; văn thần luôn có dáng vẻ nho nhã, dịu dàng, mặc triều phục, cầm lệnh bài, thẻ ngọc còn võ thần thì phương phi, quắc thước, vận vũ trang, lăm lăm trên tay đả khí. Song dù là hình hài chi, hai vị này đều có thần thái rất trang nghiêm, uy phong, lộng lẫy với những sắc màu trang phục như đỏ, cam, hồng, vàng… đem tới sự ấm cúng, ấm no, vui vẻ, hoạt bát cùng nhiều năng lượng tích cực trong ngày xuân. Với dáng vẻ lồng lộng ấy, dân gian tin rằng các ngài vừa bảo vệ toàn gia trong tân niên được bình yên, còn chiêu tài, tiến bảo, kích thích bổng lộc, công danh, phú quý.

Cũng có nơi, do cửa cổng chỉ có một cánh nên người ta chỉ dán một vị thần, mà thường là thần Chung Quỳ và Ngụy Trưng. Trong tín ngưỡng bản địa Trung Quốc, Chung Quỳ cai quản thế giới âm ty, chuyên bắt ma, trừng quỷ, những con vật từ cõi u minh lai vãng nhân sinh. Vì thế, ngài được gọi là một trong Tứ đại phúc đức trấn trạch thánh quân hay Khu ma đế vương. Chuyện kể rằng Chung Quỳ vốn là một người rất thông minh, giỏi giang nên đỗ trạng nguyên, song vì dung mạo gớm ghiếc, khó coi nêm không được triều đình trưng dụng. Buồn giận, ngài đã đập đầu vào cổng thành tự vẫn.

Ở địa phủ, thấy ngài nhân hậu – trí dũng, giỏi cả văn lẫn võ, diêm vương đã phong ngài là vua của mọi ma quái và cho cai quản tới 80 nghìn quỷ binh, cùng đó là nhiệm vụ giáng ma trừ yêu tại nhân gian, cứ có một ma tà nào trốn khỏi địa ngục là ông sẽ đi lên trần đuổi bắt. Đến thời Đường Huyền Tông, có một con quỷ bỗng dưng lẻn vào hoàng cung ăn trộm một cây trâm. Trong giấc mơ của mình, vua Đường thấy hiện ra hai con quỷ, một con quỷ bé nhỏ đang đánh cắp một cây trâm ngọc của Dương Quý Phi và một cây sáo ngọc của chính đức vua và bị con quỷ to lớn hơn chộp lấy, nuốt chửng.

Vua khiếp đảm vấn hỏi thì quỷ vương tự xưng là Chung Quỳ, kể lại nguồn cơn như đã thi đỗ ra sao rồi quyên sinh… và giờ nguyện đi bắt ma để phá bỏ mọi ma tà, tai ách cho đời, nói xong biến mất. Tỉnh dậy, ông lập tức cho họa sĩ vẽ lại và làm nên bức tranh Xu điện Chung Quỷ đồ đem treo ở bất cứ đâu, nơi ấy không có tà tính, không có tiếng người than khóc, đau buồn. Dân gian vì vậy thường vẽ Chung Quỳ như một quan nhân, đầu đội mũ ô sa tay cầm kiếm – quạt, tướng mạo rất dữ dằn, trấn giữ tại cửa để ngăn cản mọi điều hắc ám.

Tại miền Nam Trung Quốc, Chung Quỳ cũng hay được thờ với hai vị Huyền Quan và Quan Vũ tạo thành bộ ba trấn địa thánh quân. Từ Tết Nguyên đán cho tới hết rằm tháng Giêng (Tết Nguyên tiêu), mọi nhà ở đây từ nhà dân tới cửa hàng, cửa hiệu đều dán hình ngài ở cửa vì họ tin rằng, đây là lúc ma đói thượng trần, nên ai nấy có đồ ngon, của ngọt đều mang ra dâng cúng tổ tiên, bố thí cô hồn, song để tránh cảnh chen lấn xô đẩy, dành giật… họ cũng nghĩ tới Chung Quỳ như một vị thần trung chính, công minh và sự hiển hiện của thần ngoài trừng ma còn mang đến sự no đủ, thôi đói rét.

Tựu trung, mỗi Môn thần đều được thể hiện rất sặc sỡ, đa dạng, phong phú ngoài cửa, có bao nhiêu lớp cửa thì sẽ dán từng ấy hình tượng thần khác lạ. Riêng với văn thần, còn thấy trong từng phòng, nơi học tập, văn nghệ của gia đình, nhằm đi sâu vào từng khía cạnh đời sống, phù hộ người dân an khang, thịnh vượng.

Văn hóa Trung Hoa có rất nhiều điều thú vị và hấp dẫn đang chờ đón du khách đến tìm hiểu và khám phá. Vậy còn chần chờ gì nữa mà du khách không book ngay cho mình một Tour Trung Quốc để có được những trải nghiệm tuyệt vời khi đặt chân đến vùng đất rộng lớn này!