“Bật mí” những điều thú vị về Long bào của các vị Hoàng đế Trung Hoa xưa

Trong triều đại phong kiến, Hoàng đế được xem là bậc chí tôn, cao cao tại thượng. Mọi đồ dùng mà nhà vua sử dụng đều là những đồ quý giá, độc đáo, được thiết kế riêng từ chất liệu, màu sắc đến họa tiết và bất cứ ai cũng không được phép dùng những màu sắc, chất liệu họa tiết đó. Biểu hiện rõ nhất của sự phân biệt này phải kể đến trang phục của hoàng đế Trung Hoa hay còn được gọi là Long bào.

“Long” có nghĩa là rồng. “Bào” có nghĩa là y phục, quần áo. Trong xã hội phong kiến thì rồng biểu tượng cho chân mệnh thiên tử, nên dùng để chỉ nhà vua hay còn gọi là Thiên tử (con trời). Thời phong kiến những đồ vật có hình rồng chỉ có vua mới được dùng. Như vậy, long bào là từ dùng để chỉ quần áo có thêu hình rồng cho hoàng đế mặc.

Trên chiếc long bào có những chi tiết cần phải chú ý như hoa văn 9 con rồng trên cả vạt trước và vạt sau áo. Trước thời nhà Đường, nhiều người có thể mặc áo có dạng tương tự long bào nhưng không được thêu hình rồng. Nhưng sau thời nhà Đường, người bình thường không chỉ không được phép thêu hình rồng lên quần áo mà ngay cả áo kiểu dáng long bào cũng không được mặc. Đường Cao Tổ còn quy định, màu vàng là màu của đế vương, chỉ được dùng bởi vương thất. Từ đó về sau, màu vàng đã trở thành màu sắc đặc trưng dùng riêng cho hoàng tộc. Hầu như long bào của các thế hệ sau đó đều lấy màu vàng sáng làm chủ đạo.

Long bào của Tần Thủy Hoàng có màu đen

Chúng ta vẫn thường thấy rằng những bộ quần áo mà vua Tần Thủy Hoàng mặc thường có màu đen, đến thời Hán Văn Đế áo long bào chuyển sang màu vàng; áo long bào thời Tấn, Tống, Minh thì có màu đỏ… Du khách có biết tại sao lại có chuyện như vậy không?

Dưới thời nhà Tần, các học thuyết về ngũ hành rất phát triển, vua Tần cho rằng cơ nghiệp của nhà Tần gắn liền với yếu tố nước trong ngũ hành. Nước sau khi dập lửa sẽ để lại những vết tro tàn màu đen, chính vì vậy mà Tần Thủy Hoàng chọn màu đen nhằm ngụ ý, cơ nghiệp nhà Tần mệnh nước sẽ dập tắt được ngọn lửa thôn tính của các nước, không cho họ cơ hội bùng cháy. Sau khi Tần Thủy Hoàng qua đời, nhà Tần nhanh chóng bị lật đổ, nhà Hán được thành lập thay thế vị trí của nhà Tần. Chính vì vậy mà các vua triều đại sau cho rằng không nên chọn màu đen, sẽ không may mắn đi theo vết xe đổ của nhà Tần. Sau này, các vua phong kiến đều chọn màu vàng, là màu của kim loại quý. Chọn màu vàng ngụ ý mong đất nước của mình sẽ được phồn thịnh, nhiều vàng, nhiều của.

Long bào với chất liệu, hình vẽ hoa mỹ, cầu kì và tinh tế

Long bào là trang phục của bậc đế vương thời cổ đại, hoa văn thêu trên long bào nằm ở vị trí nào đều có quy định rõ ràng, thậm chí có những hoa văn hoặc màu sắc chỉ được phép sử dụng trên trang phục của đế vương, vì đây là biểu tượng vương quyền tối cao.

Những chất liệu làm long bào đều phải lựa chọn chất liệu tốt nhất, mềm mại, thoải mái như lụa, tơ, gấm… thường sẽ là những vải thượng hạng chọn từ những cống phẩm của các nước tiến cống. Hầu hết long bào sẽ có màu vàng, thêu hoạt tiết hình rồng bằng chỉ vàng, chỉ bạc – loại chỉ quý hiếm ở thời phong kiến.

Hoa văn chủ yếu trên long bào là văn rồng, ngoài ra còn có văn phụng, văn mẫu đơn phú quý, văn ngọc tỉ, ở quanh văn rồng còn có văn mây ngũ sắc, văn dơi đỏ, văn thập nhị chương (nhật, nguyệt, tinh thần, sơn, long, hoa trùng, tông di, tảo, hỏa, phấn mễ, phủ, phất) tượng trưng cho điều lành. Dĩ nhiên những hoa văn này có ý nghĩa sâu xa, mây ngũ sắc là hoa văn trang trí thường thấy, tượng trưng cho may mắn; văn dơi màu đỏ là tượng trưng cho “phúc lớn”, cũng là hoa văn trang trí không thể thiếu trên long bào.

Nói riêng về văn rồng, thì trong một số tài liệu có mô tả như thế này: chín con rồng trên long bào có bốn con chính long thêu ở trước, lưng và hai vai. Vạt trước và sau long bào thì mỗi vạt có hai con hành long, như vậy nhìn từ trước hay sau đều thấy năm con rồng, hàm ý sự tôn quý (cửu ngũ). Nhưng tính ra tổng cộng mới chỉ có tám con rồng, còn một con ở đâu? Thật ra con rồng cuối cùng này thêu bên trong vạt trước, muốn trông thấy phải vén vạt áo lên mới được. Tất nhiên, việc thiết kế văn rồng trong mỗi triều đại cũng có sự đổi khác.

Ngoài chín con rồng ở trên thì văn rồng còn thể hiện trong những hình rồng nhỏ ở cổ áo, eo và cổ tay áo. Còn vô số đường uốn lượn dưới long bào gọi là “chân nước”. Trên chân nước thêu rất nhiều gợn sóng cuồn cuộn, còn báu vật đá dựng đứng gọi là “hải thủy giang nhai”, không chỉ tượng trưng cho may mắn bất tận mà còn hàm nghĩa “thống nhất giang sơn”, “mãi mãi thái bình”.

Người xưa gọi ngôi vị hoàng đế là “Cửu ngũ chí tôn”. Trong “Dịch kinh – Càn Long – Cửu ngũ” có ghi: “Rồng bay trên trời, phúc cho bậc đại nhân khi nhìn thấy”. Số chín là số dương, trong Dịch kinh biểu thị bằng một vạch liền (─); số năm là hào vị thứ năm trong quái tượng tính từ dưới lên. Khổng Dĩnh Đạt ghi trong “Ngũ kinh chính nghĩa” rằng: “Lời cửu ngũ, dương khí mạnh ngút trời, vì rồng ở trên trời. Hiện tượng này ví như thánh nhân có đức rồng, bay cao ở ngôi vị trên trời”. Chính vì thế, sau này “cửu ngũ” dùng để ví ngôi vua. Cũng từ văn hóa Đạo gia như vậy mà long bào có thêu chín con rồng, tượng trưng cho hoàng đế.

Ngoài ra, một biểu tượng khác trên chiếc áo long bào là hình ảnh một con dơi đỏ – từ đồng âm của một nhân vật mang ý nghĩa là “ngập trong trận đại hồng thuỷ của sự may mắn”.

Áo lót bên trong cũng có hình ảnh của đại dương và núi non, vì theo quan niệm của người Trung Hoa, hoàng đế là thiên tử, là người có quyền lớn nhất thế gian.

Tay áo dài và cổ áo rời, nặng

Mặc dù người Mãn Châu từ vùng Đông Bắc tái chiếm và đóng đô ở Bắc Kinh từ tay nhà Minh vào năm 1644 nhưng nếu xét về các khía cạnh văn hoá, phong tục tập quán và lễ nghi, người Mãn Châu phải học rất nhiều từ đất nước phát triển như Trung Hoa. Họ không những nể phục Trung Hoa bởi thể chế chính trị mà còn khâm phục bởi những lễ nghi, văn hoá, phong tục tập quán và thậm chí tôn giáo của người dân nơi đây. Sau khi xâm chiếm, dù người Mãn Châu rất khâm phục văn hoá Trung Hoa, nhưng họ vẫn luôn tự hào về cội nguồn của chính mình. Do đó, việc du nhập những bộ y phục là một trong những yếu tố quan trọng nhất khi người Mãn Châu chuyển đến vùng đất này. Chúng được làm từ da động vật và có hình dạng của con thú ấy để tận dụng tối đa việc sử dụng nguyên liệu thô.

Y phục hoàng tộc của người Trung Hoa với tay áo hình móng ngựa cùng cổ áo rời và nặng được bắt nguồn từ truyền thống của người Mãn Châu. Kể từ khi người Mãn Châu sinh sống bằng việc săn bắn ở vùng Đông Bắc, họ phải tìm cách để chống chọi với cái lạnh thấu xương ở vùng đất này. Do đó, họ mặc những bộ y phục có tay áo dài để che hết phần tay, và cổ áo rời, nặng được dùng để tránh rét trong những chuyến đi dài.

Nhưng sau này, tay áo dài trở nên vướng víu trong cuộc sống thường nhật. Vì thế, triều đình đã quyết định cuốn tay áo lên, và chỉ thả tay áo xuống khi giao thiệp với một người lạ nào đó. Truyền thống này xuất phát từ hoàng tộc triều đình và dần dần trở thành nếp sống của tất cả mọi người.

Mỗi chiếc long bào được dùng cho từng dịp khác nhau

Các tủ quần áo hoàng gia trong thời nhà Thanh đều là những chiếc áo choàng và áo long bào. Nhiều long bào được dùng cho những dịp lễ lớn trong triều đình, y phục đi du ngoạn, y phục vào những ngày thời tiết xấu và thậm chí những bộ y phục dùng khi ăn và ra ngoài trời.

Tuỳ vào tình hình thời tiết mà sẽ có áo lót bên trong hay không và sẽ làm bằng những chất liệu khác nhau như lụa, da thuộc hay vải sợi. Màu sắc được chọn phải phù hợp với màu sắc hoàng gia. Một trong những màu sắc dành riêng cho hoàng đế là vàng tươi, đỏ, xanh và xanh sáng.

Màu vàng thường được sử dụng trong các buổi lễ. Những màu sắc còn lại được dùng trong những ngày lễ ở ba ngôi đền lớn: Long bào xanh ở Đền Cung đình, long bào đỏ ở Đền Mặt trời và long bào xanh sáng ở Đền Mặt trăng. Với mỗi chiếc áo long bào, hoàng đế cũng sẽ đeo đai và mũ phù hợp.

Những chiếc áo long bào được dùng trong những dịp hết sức đặc biệt thường có hoạ tiết con rồng vàng. Thông thường, hoàng đế chỉ mặc bộ y phục này vào những ngày lễ trọng đại.

Quá trình làm long bào rất phức tạp, rất nhiều thủ pháp

Trang phục của Hoàng đế ngày xưa đều do những người thợ có chuyên môn cao phụ trách, triều đình cũng sẽ phái người đến theo dõi và đốc thúc. Ngay cả khi có rất nhiều người cùng làm thì cũng cần đến vài năm để hoàn thiện một chiếc long bào. Thời nhà Thanh, có hơn 2.000 người chịu trách nhiệm làm long bào cho Hoàng đế, họ phải làm cả ngày lẫn đêm, có khi mất đến hơn 2,5 năm để hoàn thành. 

Kiểu mẫu và đường nếp phải nhận được sự chấp thuận của hoàng đế và các vị đại thần trong triều đình trước khi được phép hoàn thành. Sau đó, kiểu mẫu sẽ được chuyển giao đến các thợ làm lụa. Sau khi vải đã hoàn tất, một thợ thủ công sẽ cắt vải và sẽ chuyển đến một thợ may tiếp theo để hoàn tất phần thô của chiếc áo long bào. Sau cùng, chiếc áo sẽ được thêu thêm nhiều hoạ tiết cầu kì.

Chỉ những loại chỉ thượng hạng mới được sử dụng để thêu long bào và thậm chí còn phải làm từ vàng thật. Hoàng đế sẽ thuê 500 thợ thủ công và thợ thêu để khâu áo và 40 thợ khác để thêu chỉ vàng lên áo.

Chế tác long bào là một công việc đầy rủi ro nhưng lại có thu nhập cao. Và vì được trả công rất cao nên nếu xuất hiện một lỗi nhỏ trên long bào thì sẽ bị xử phạt nghiêm trọng. Nếu sai sót tương đối lớn, dẫn đến long bào bị hỏng thì có khả năng sẽ bị xử tội chết. Vì thế, người phụ trách chế tác long bào luôn phải cẩn thận, dồn hết sức vào trang phục trân quý trước mặt.

Một điều đặc biệt nữa là gần như tất cả long bào thời cổ đại đều không được giặt giũ. Một phần là vì người xưa ít chú ý đến vấn đề vệ sinh. Mặt khác, vì trên long bào có những họa tiết thêu rồng dễ bị biến dạng sau khi giặt. Hơn nữa, ngay cả khi trang phục bị bẩn hoặc có mùi lạ thì hầu hết người thời đấy sẽ sử dụng hương huân (xông hương) để khử. Dùng nước để giặt quần áo chỉ là hành động mà người nghèo mới làm.

Vậy thì câu hỏi được đặt ra là, nếu long bào thời cổ đại về cơ bản không bao giờ được giặt giũ thì làm sao Hoàng đế có thể chịu được mùi lạ khi mặc? Câu trả lời sẽ tiết lộ khả năng tài chính của hoàng gia.

Bởi vì phải mất nhiều năm mới sản xuất ra được một chiếc long bào nên nhiều người đã nghĩ Hoàng đế không có bao nhiêu long bào cả, họ sẽ mặc một chiếc long bào nhiều lần. Nhưng trên thực tế, với nỗ lực của hàng nghìn người tham gia quá trình chế tác ngày đêm, số lượng long bào chuyển đến hoàng cung mỗi năm rất lớn. Hoàng đế hoàn toàn có thể thay đổi long bào liên tục, thậm chí có người chỉ mặc long bào một lần duy nhất.

Vả lại, không phải lúc nào các Hoàng đế đều mặc long bào, họ chỉ mặc vào những dịp đặc biệt đã định. Những ngày bình thường, họ sẽ mặc thường phục. Nhưng trong lịch sử cũng có một số vị Hoàng đế tiết kiệm, khi trên long bào xuất hiện mùi lạ, cung nữ sẽ sử dụng hương để xông chiếc long bào đấy.

Lịch sử – đất nước – con người Trung Hoa quả thật có rất nhiều điều thú vị đáng để quan tâm phải không du khách? Hãy đặt tour Trung Quốc của chúng tôi để tự mình khám phá nhiều hơn về vùng đất rộng lớn này nhé!