Đạo Quang Đế – người vô địch về khoản “vắt cổ chày ra nước” trong lịch sử Trung Hoa

Nói về chuyện chi tiêu, các vị Hoàng đế thường bị kêu ca, lên án, thậm chí nguyền rủa vì thói xa hoa, phung phí, nhưng cũng có một số đấng quân vương cực kỳ tiết kiệm, đến mức bủn xỉn. Trong đó, Đạo Quang Đế của nhà Thanh Trung Hoa là một ví dụ điển hình cho sự vô địch về khoản “vắt cổ chày ra nước”.

Từ xưa tới nay, Hoàng đế được mệnh danh là người “phú hữu tứ hải” (giàu khắp bốn biển), ngồi trên vinh hoa phú quý của thiên hạ. Nhưng Đạo Quang Đế lại là một vị vua vô cùng tiết kiệm, thậm chí đến mức keo kiệt. Vị Hoàng đế này đã đưa tiết kiệm trở thành mục tiêu, mà còn lấy đó làm chỉ tiêu để đánh giá năng lực và phẩm chất của các vị đại thần. Tuy nhiên, khi bình phẩm về phong cách tiết kiệm của Đạo Quang Đế, các sử gia phần lớn đều mỉa mai, chế nhạo.

Đạo Quang Đế có tên thật là Miên Ninh, sinh ngày 10 tháng 8 năm Càn Long 47 (tức ngày 16 tháng 9 năm 1782) ở trong Tử Cấm Thành, Bắc Kinh. Ông là Hoàng đế thứ 8 của triều đại nhà Thanh. Năm 1820, ông lên ngôi Hoàng đế, đổi tên là Mân Ninh, lấy niên hiệu là Đạo Quang.

Ông là con trai thứ hai của Thanh Nhân Tông Gia Khánh Đế, mẹ là Hiếu Thục Duệ Hoàng hậu Hỉ Tháp Lạp thị. Khi Miên Ninh ra đời, Gia Khánh Đế vẫn còn là Gia Thân vương, Hoàng thập ngũ tử của Càn Long Đế, còn Hỉ Tháp Lạp thị là Đích Phúc tấn. Trước ông, Gia Thân vương đã có con trai trưởng do Hoà Dụ Hoàng quý phi sinh, được 10 tháng thì chết yểu (sau truy phong Mục Quận vương). Miên Ninh là con của chính thê, người anh thứ xuất lại mất sớm nên không được liệt vào hàng đếm chính thức, do đó Miên Ninh có thân phận cao quý hơn cả, vừa là con cả lại vừa là đích tử. Ông thông minh hoạt bát từ nhỏ, lại là cháu đích tôn nên rất được lòng Càn Long Đế.

Năm Càn Long thứ 60 (1796), Càn Long Đế thoái vị trở thành Thái thượng hoàng, Gia Thân vương nối ngôi, lấy hiệu Gia Khánh, phong Hỉ Tháp Lạp thị làm Hoàng hậu. Năm Gia Khánh 2 (1797), Hoàng hậu bạo băng, Miên Ninh được giao Hoàng Quý phi Nữu Hỗ Lộc thị nuôi dưỡng. Miên Ninh là người giỏi võ công, tiếng tăm vượt trội trong số các Hoàng tử.

Tháng 4 năm Gia Khánh 4 (1799), Nữu Hỗ Lộc thị được lập làm Kế hậu. Thời điểm đó Hoàng hậu đã sinh 2 đích tử là Hoàng tam tử Miên Khải và Hoàng tứ tử Miên Hân, nhưng Gia Khánh vẫn bí mật lập Hoàng nhị tử Miên Ninh làm Trữ quân vì Miên Ninh thông minh và có chí hơn người, lại mất mẹ từ sớm nên được vua cha thập phần thương yêu. Năm thứ 13 (1808), con trai trưởng của Miên Ninh là Dịch Vĩ ra đời. Sự kiện Thiên Lý giáo vào năm Gia Khánh thứ 18 (1813) diễn ra, ông đích thân đánh giặc, do đó vào tháng 9 được tấn phong tước vị Trí Thân vương.

Vào năm Gia Khánh thứ 23 (1818), Trí Thân vương Miên Ninh theo Gia Khánh Đế đi Thịnh Kinh (tên gọi khác của Thẩm Dương) để tế lễ tưởng nhớ tổ tiên. Tối đó hai cha con nghỉ tại Cố cung Thẩm Dương. Tuy nói nơi là cung điện, nhưng thực tế lại khá tồi tàn, chật hẹp, thậm chí còn không bằng với thương phủ Sơn Tây hay phủ đệ của Vương gia. Gia Khánh Đế đưa Miên Ninh tới phòng lò sưởi phía đông của Thanh Ninh cung, lại sai người lấy di vật của Thái Tổ Nỗ Nhĩ Cáp Xích và Thái Tông Hoàng Thái Cực cho Trí Thân vương xem qua. Nhìn những vật phẩm đơn sơ, lại nghe phụ hoàng hồi tưởng lại những năm tháng gian nan lập nghiệp của tổ tiên, Miên Ninh từ đó quyết chí rèn luyện tính tiết kiệm.

Ngày 18 tháng 7 năm Gia Khánh thứ 25 (1820), Gia Khánh Đế đến Nhiệt Hà, mệnh Trí Thân vương Miên Ninh và Thụy Thân vương Miên Hân phò giá. Khi đó Gia Khánh Đế đã 60 tuổi, thân thể đẫy đà mập mạp. Ngày thứ 24, tùy giá đến Nhiệt Hà, sử sách ghi chép là: “Thánh cung không vui”. Tối hôm đó, Gia Khánh Đế đến Thành Hoàng miếu thắp lễ thì đột ngột bạo băng. Nguyên nhân cái chết có lẽ do thân thể ông phì nộn, tiết trời lại nắng nóng, lữ đồ mệt nhọc, dụ phát não, tâm huyết quản bệnh mà chết đột ngột. Cơ Mật viện đại thần họp khẩn, mở ra chiếu đạo bí mật, tuyên bố Trí Thân vương Miên Ninh kế vị. Năm đó, tháng 8 (âm lịch), tức vào ngày 3 tháng 10 dương lịch, Miên Ninh chính thức đăng cơ ở Thái Hòa điện, niên hiệu là Đạo Quang.

Có thể khẳng định rằng, trong lịch sử Trung Hoa, Đạo Quang Đế là người vô địch về khoản “vắt cổ chày ra nước”. Vị vua này ki bo đến mức bệnh hoạn. Mặc dù ngân khố trở nên dồi dào kể từ khi vua cha tịch thu gia sản của gian thần Hòa Khôn nhưng Đạo Quang luôn miệng kêu khánh kiệt để bắt quần thần tiết kiệm.

Sử sách ghi lại, vào khoảng 16h chiều hàng ngày, các cung được phân phát bánh. Tuy nhiên, bánh vừa cứng vừa lạnh khiến ai ai cũng kêu ca. Tuy nhiên, có kêu cũng chẳng ích gì nên họ chỉ đành pha thêm ấm trà nóng để ăn cùng. Sau khi ăn, mọi người phải đi ngủ để tiết kiệm dầu đốt, than củi thường được sử dụng để thắp sáng vào ban đêm.

Thế nhưng, tất cả những sự cắt giảm chi tiêu này vẫn chưa thấm tháp vào đâu. Điều khiến hậu thế không khỏi “ngã mũ bái phục” trước sự hà tiện của Đạo Quang chính là ông vua này sẵn sàng mặc áo vá. Những bộ áo cũ và rách, Đạo Quang không vứt đi mà sai người vá lại và tiếp tục mặc như không có việc gì. Thấy vua toàn mặc quần áo cũ rách, các quan viên cũng không ai dám mặc quần áo lành lặn. Thậm chí, chiếc áo đang mới, các quan cũng phải cố tình đắp thêm vài mụn vá. Với cảnh tượng này, triều thần văn võ nhà Thanh dưới thời trị vì của Đạo Quang chẳng khác gì hai hàng ăn mày đứng chực xin cháo thí. Có điều Đạo Quang không biết, là những ông quan rách rưới kia khi về phủ lại diện gấm vóc, sống xa hoa vô độ bằng tiền bóp nặn của nhân dân.

Trong triều có đại học sĩ Tào Chấn Dung, do bản tính bủn xỉn vô song nên cùng với Hoàng đế tạo thành một đôi tri kỷ, hằng ngày nói chuyện vô cùng tương đắc. Một hôm, nhìn hai miếng vá bự tổ chảng trên cái quần rách của Tào học sĩ, Đạo Quang hỏi tiền vá hết bao nhiêu. Họ Tào bảo ba đồng, khiến Hoàng đế giật nảy mình: “Trời ơi, cũng hai miếng vá y như vậy, sao phủ nội vụ tính của trẫm những 5 lạng bạc?”. Xót quá, Hoàng đế liền hạ lệnh cho Hoàng hậu đến cung nhân đều phải học may vá, để mỗi khi áo ngài bị rách thì có thể xử lý mà không mất tiền. Mãn Thanh ngoại sử ghi chép: “Đạo Quang Hoàng đế “y phi tam hoán bất dịch”. Thượng tuần, trung tuần, hạ tuần của mỗi tháng lần lượt sẽ gọi là thượng hoán, trung hoán, hạ hoán, hợp lại làm một tháng. Đạo Quang “một hoán” mới đổi một bộ quần áo”.

Ngày ngày vắt óc nghĩ cách giảm chi phí cho hậu cung, cuối cùng Đạo Quang cũng nghĩ ra một giải pháp: bắt cả cung nữ lẫn thái giám ra ngoài kiếm tiền tự nuôi thân, khiến tam cung lục viện vắng như chùa bà đanh. Hoàng đế cũng chẳng buồn vui chơi giải trí, suốt ngày quanh quẩn ở nhà cho đỡ tốn.

Cắt hết các khoản vẫn cảm thấy chưa đủ tiết kiệm, Đạo Quang cắt xén luôn cả bữa ăn của mình. Nhà bếp khốn khổ vì làm cho Hoàng đế món gì, ngài cũng nhờ Tào học sĩ hỏi giá ở hàng quán bên ngoài rồi ỏng eo chê sao trong cung nấu đắt thế. Theo lệ thường, mỗi bữa ăn của Hoàng đế chi hết 800 lạng bạc, Đạo Quang thấy như thế quá tốn nên bắt giảm hết trân tu mỹ vị, chỉ còn rau dưa. Mặc dù vậy, mỗi bữa ăn của ngài vẫn hết 140 lạng. Đây là điều khiến Hoàng đế đau lòng nhưng không làm gì được. Ngài phải chấp nhận một sự thật là, cùng một thứ đồ ăn, nhưng ở trong cung giá “chát” hơn bên ngoài rất nhiều, nên ngài chẳng dám ăn gì cả vì tiếc tiền. Thậm chí thèm một quả trứng gà, ngài cũng phải kiềm chế vì mỗi quả giá đến 5 lạng bạc. Có lần thèm quá, Đạo Quang hỏi Tào học sĩ có thích trứng gà không, họ Tào hồ hởi nói ngay: “Dạ có, trứng gà bổ lắm, sáng nào thần cũng phải ăn 4 quả trứng chần”. Hoàng đế kinh ngạc: “Mỗi ngày khanh ăn đến hai chục lạng bạc tiền trứng sao?”. Họ Tào giải thích là không tốn đến thế, vì trứng do gà nhà ông ta đẻ, không phải mua. Đạo Quang nghe vậy mừng quá, bèn sai nội thị ra ngoài mua gà mái đem về nuôi để chúng đẻ trứng cho ngài ăn. Nhưng khi nghe nói mỗi con gà giá 24 lạng bạc, ngài đành chịu nhịn vậy.

Ông còn ban hành quy định: trong cung ngoại trừ Hoàng Thái hậu, Hoàng đế và Hoàng hậu, những người khác trong Hoàng thất nếu không phải dịp lễ tết thì không được ăn thịt. Phi tần bình thường cũng không được dùng đồ trang điểm, không được mặc y phục gấm vóc. Trong lần tổ chức sinh thần cho Hoàng hậu, trong bữa tiệc mỗi người chỉ được một bát mì. Sau đó, Hoàng đế đã “đặc biệt” sai ngự thiện phòng làm hai chiếc thủ lợn để chiêu đãi.

Khi Đạo Quang còn tại vị, việc tổ chức hôn lễ cho các Hoàng tử được tiến hành vô cùng giản lược. Hoàng đế khi đó còn yêu cầu nhà gái không được dùng của hồi môn xa hoa, nếu cố tình thì không những không được đáp lễ mà còn bị xử phạt. Các loại lễ vật con dâu phải dâng lên cha mẹ chồng cũng đều được miễn. Về phần Công chúa xuất giá, chi phí không được vượt quá 2.000 lượng bạc trắng. Sính lễ của Phò mã đối với Hoàng gia cũng được giảm, ngay cả lễ vật thiết yếu là “cửu cửu lễ” cũng được miễn. Sau này, Đạo Quang lại thấy làm như vậy chẳng khác nào đem con mình đi tặng không thiên hạ, nên đã khôi phục “cửu cửu lễ”, nhưng đổi thành “dê chín con” để tượng trưng. Tuy nhiên, Đạo Quang Đế vẫn không làm yến tiệc, thịt dê của Phò mã sẽ đưa đến Ngự Thiện phòng, các khách mời chỉ hàn huyên uống trà vài câu liền được tiễn.

Bởi Đạo Quang chi li và bủn xỉn như vậy nên những người phục vụ ông mất bao nhiêu tiền của mới chạy được chân hầu cận bên Hoàng đế, tưởng có thể kiếm chác để bù lại, ai ngờ lỗ chỏng gọng, chẳng xơ múi được gì.

Trên phương diện giữ nước, Đạo Quang Đế cũng tìm mọi cách để hà tiện. Vào năm Đạo Quang thứ nhất, ở Tân Cương có Trương Cách Nhĩ tạo phản, mấy vạn quân được cử đi chinh chiến nhiều năm, cuối cùng thắng lợi trở về. Năm 1828, Ngọ Môn tiến hành lễ “hiến phu” (dâng tù binh), Đạo Quang khi ấy trong lòng vui mừng, lập tức làm ra một “hành động vĩ đại”: mở tiệc chiêu đãi tướng sĩ có công dẹp giặc. Vài ngày sau, yến hội được tổ chức ở Thanh Y Viên (Di Hòa Viên sau này). Trong bữa tiệc, các tướng sĩ chỉ được chiêu đãi một bát mì không thịt cùng vài cọng rau dưa, không có nổi một miếng thịt, một hớp rượu. Số thức ăn ít ỏi ấy chẳng mấy mà hết, tướng sĩ lại không dám ra về trước khi yến tiệc kết thúc, chỉ còn biết ngây người nhìn nhau.

Khi bố trí phương án phòng vệ ở Tân Cương, các tướng quân vốn biết tính Hoàng đế, chỉ dám đề cử 1 vạn 8.000 lính trấn thủ. Nhưng Đạo Quang “mặc cả” xuống còn 1/3, chỉ cho 6.000 người. Các tướng quân thấy vậy liền cho đề xuất phương án chỉ phòng thủ phía Đông. Ai ngờ Đạo Quang nghe xong lại giận dữ, cho rằng tướng lĩnh vì có ý đồ riêng nên mới bỏ bê Tân Cương.

Bên cạnh đó, khi chiến tranh thuốc phiện nổ ra, có quan viên từng dâng tấu xin Đạo Quang Đế tăng thêm kinh phí xây dựng đội phòng thủ trên biển. Vừa nghe tới số tiền phải bỏ ra, Đạo Quang đã sây sẩm mặt mày, nhất quyết không đồng ý. Cuối cùng, do tuyến phòng bị hải quân lỏng lẻo, không được tu bổ, Anh quốc đã lợi dụng cơ hội tấn công vào, khiến lãnh thổ Thanh triều liên tiếp bị chiếm đoạt, thậm chí bị đánh đuổi tới tận Nam Kinh. Triều đình nhà Thanh khi đó bị buộc phải ký kết “Điều ước Nam Kinh”, còn phải bồi thường 2.100 vạn cho Anh quốc.

Mặc dù bề ngoài Đạo Quang chủ trương chính sách tiết kiệm nhưng thực chất ông chỉ cắt xén được cọng rau, bát cơm mỗi ngày, không hề giúp ích được gì cho quốc gia. Vì vậy, thói quen hà tiện của vị Hoàng đế này không những không được ca ngợi mà còn trở thành cho thiên hạ, bị hậu thế cười chê.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất kỳ khách du lịch nước ngoài nào. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn thì hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc nhé!