Nét tinh tế trong văn hoá trà đạo của người Trung Hoa

Trà vốn có ảnh hưởng lớn trong lịch sử văn hóa Trung Hoa, và nhiều người cũng nhận định Trung Quốc là một trong những cố hương của trà. Nơi này có một nền văn hóa trà đạo cực kỳ đặc sắc.

Trung Quốc là cái nôi của trà đạo, bởi đây là quốc gia đầu tiên phát hiện ra trà và sử dụng trà như một đồ uống. Trà không chỉ là thức uống thanh nhiệt mà còn chữa được bệnh. Đối với người Trung Hoa, thưởng trà đã trở thành nét văn hóa ngàn năm lịch sử. Việc thưởng trà cũng là một nghệ thuật. Nghệ thuật ấy bao gồm hai mặt: một mặt là nghi lễ gồm các khâu chuẩn bị để thưởng thức trà cũng như phương pháp thưởng thức; mặt khác là tư tưởng tu dưỡng, tức là phải thông qua uống trà tu thân, nuôi dưỡng tinh thần, nâng cao tư tưởng cá nhân lên trình độ hiểu biết triết lý.

Thưởng trà là một thói quen có từ ngàn đời

Người Trung Quốc uống trà đã có hơn 4.000 năm lịch sử. Trong sinh hoạt hằng ngày của người Trung Quốc không thể thiếu một loại nước giải khát đó là trà, tục ngữ có câu: “Củi đóm, gạo dầu, muối, tương, dấm và trà”. Trà được liệt vào một trong 7 thứ quan trọng trong cuộc sống, có thể thấy được uống trà là điều rất quan trọng. Dùng trà để tiếp khách là thói quen của người Trung Quốc. Khi có khách đến nhà, chủ nhà liền bưng một chén trà thơm ngào ngạt cho khách, vừa uống vừa chuyện trò, bầu không khí rất thoải mái.

Tương truyền, trước năm 280, ở miền Nam Trung Quốc có một nước nhỏ gọi là nước Ngô, mỗi khi nhà vua thết tiệc các đại thần, thường ép các đại thần uống rượu cho say mềm. Trong số các đại thần có một đại thần tên là Vĩ Siêu không uống được nhiều rượu, nhà vua cho phép ông ta uống trà thay rượu. Từ đó về sau, các quan văn bắt đầu dùng trà để tiếp khách. Đến đời nhà Đường, uống trà đã trở thành thói quen của mọi người.

Cũng có ghi chép rằng, thói quen này còn có liên quan đến Phật giáo. Vào khoảng năm 713 đến năm 741, lúc đó các sư sãi và các tín đồ trong nhà chùa do ngồi tụng kinh trong thời gian dài, thường hay ngủ ngật và ăn vặt, nhà sư liền nghĩ ra cách cho họ uống trà cho tỉnh táo, từ đó, biện pháp này được lưu truyền đi khắp nơi.

Trong khi đó, những gia đình giàu có của nhà Đường, còn mở phòng chuyên pha trà, thưởng thức trà và đọc sách, gọi là phòng trà. Năm 780, ông Lục Vũ chuyên gia về trà của nhà Đường đã tổng kết kinh nghiệp trồng trà, làm trà và uống trà, viết cuốn sách về trà đầu tiên của Trung Quốc với tựa đề: “Kinh nghiệm về trà”. Ông được người đời tôn là Thánh trà.

Trong đời nhà Tống, nhà vua Tống Huy Tôn dùng tiệc trà để thết các đại thần, tự tay pha trà. Trong Hoàng cung đời nhà Thanh, không những uống trà, mà còn dùng trà tiếp khách nước ngoài.

Ngày nay, hàng năm vào những ngày tết quan trọng như: tết dương lịch hoặc tết xuân…, có một số cơ quan, đoàn thể thường tổ chức liên hoan tiệc trà.

Nghệ thuật pha và rót trà

Không chỉ đơn giản là một thói quen, thưởng trà còn được nâng lên thành một nét nghệ thuật từ cách pha trà cho đến uống trà. Có nhiều cách để pha một ấm trà. Đơn giản thì cho trà vào tách sau đó đổ nước sôi vào chờ vài giây rồi có thể mang ra thưởng thức.

Để có một ấm trà ngon, thì việc chuẩn bị nguyên liệu trà, nước, ấm pha trà, và chén dùng trà cũng phải tuân theo một yêu cầu nhất định.

Trước tiên, lá trà phải lựa để phơi khô phải là lá trà khỏe, tươi không bị dập nát, trải qua quá trình sơ chế, sao khô hạ thổ. Theo lý giải của người Trung Hoa xưa thì ngọn trà khi được hái xuống đã tiếp nhận dương khí của trời, để cân bằng âm dương, thì trà xao khô phải được hạ thổ để nhận tinh khí từ đất. Đồng nghĩa đất trời giao hòa, âm dương cân bằng.

Nước pha trà có thể là là nước giếng, nước mưa hay nước suối… Người xưa thường dùng một mạch nước nhỏ từ trong lòng núi chảy ra, hay nước từ băng tuyết tan từ những cành hoa, ngọn cây nên trà pha lên có hương vị đặc biệt khác lạ.

Ấm và chén dùng để pha trà thường được dùng là gốm sứ, có tính giữ nhiệt và đảm bảo vị tươi ngon và lưu giữ tốt nhất hương thơm của trà.Chén uống trà nên để chén loại nhỏ, chỉ vừa đủ 1-2 ngụm trà, uống trà nhâm nhi để cảm nhận hương vị của nó từ đầu lưỡi đồng thời chén trà nhỏ đủ uống để người uống được uống trà nóng.

Điều cần lưu ý, trước khi pha trà, nhất định phải rửa sạch sẽ dụng cụ pha trà, đặc biệt với những món đã lâu không dùng, bám đầy bụi bẩn thì càng phải dùng nước sạch rửa kỹ càng. Khi pha trà, trước khi rót trà tốt nhất nên dùng nước nóng tráng ấm và chén trà, để hương thơm của trà tỏa ra ngào ngạt. Làm như vậy vừa đảm bảo vệ sinh, lại vừa đúng lễ nghĩa. Ngoài ra, trước khi rót trà phải chuẩn bị lót chén, tránh phỏng tay và cũng tránh việc khiến khách nhất thời không thể bưng lên uống.

Lá trà không được bỏ quá nhiều, cũng không được bỏ quá ít. Nếu quá nhiều, vị trà sẽ rất đậm; nếu quá ít, trà pha ra cũng không có vị gì. Giả dụ khách chủ động giới thiệu thói quen bản thân thích uống trà đậm hay nhạt, vậy thì gia chủ sẽ dựa trên khẩu vị của khách mà pha. Lúc rót trà, dù là ly lớn hay nhỏ, đều không được đổ quá đầy, nếu đầy quá sẽ khiến nước tràn ra làm ướt cả bàn, ghế và sàn. Nếu bất cẩn còn có thể gây bỏng bản thân hay khách, khiến đôi bên đều khó xử. Đương nhiên, cũng không được rót quá ít.

Khi đã rót trà vào ly, gia chủ sẽ bưng ly trà mời khách. Dựa theo thói quen truyền thống của người dân Trung Hoa, gia chủ sẽ dùng hai tay bưng trà cho khách. 

Lễ nghi cơ bản trước và trong khi thưởng trà

Chỗ ngồi: Khi thưởng trà, việc khách ngồi ở đâu thường tùy theo ý gia chủ, nhưng vẫn nên tuân theo nguyên tắc: lấy gia chủ làm tâm, bên tay trái gia chủ là chỗ ngồi dành cho những vị khách có thứ bậc cao, thứ bậc càng cao thì ngồi càng gần chủ. Theo chiều kim đồng hồ từ trái qua phải, các chỗ ngồi lần lượt chia cho những người có thứ bậc từ cao đến thấp. Bất luận hình thức bàn trà thế nào thì đây cũng là quy tắc bất di bất dịch.

Về phương diện chỗ ngồi cũng cần tuân thủ theo tôn ti thứ bậc lần lượt: Người già, người trung niên, người lớn tuổi hơn gia chủ. Trong đó những ai là thầy, là trưởng thì sẽ xếp cao hơn. Nếu như tuổi tác cách nhau không quá lớn, nữ giới sẽ được ưu tiên ngồi ở những vị trí thứ bậc cao.

Còn có một quy định đặc biệt: kiêng kị ngồi đối diện nhau, chính là mặt đối mặt, ngồi trực diện với gia chủ. Dù cho chỉ có một vị khách và gia chủ thì cũng không thể ngồi đối diện nhau. Những vị khách hiểu lễ nghi nên ngồi ở chỗ thứ bậc thấp bên tay phải của gia chủ. Và khi số lượng khách quá nhiều, không tránh được chuyện phải có người ngồi đối diện gia chủ, thì nên để trẻ em ngồi vào vị trí này.

Đạo lễ tiết thứ nhất: Lễ tiết quan trọng nhất của khách là đáp lễ, còn gọi là hồi lễ. Cái gọi là đạo lễ tiết thứ nhất chính là chỉ việc gia chủ pha bình trà đầu tiên, đồng thời mời khách thưởng trà, xem như đây lần hồi lễ đầu đầu tiên của khách.

Lần hồi lễ đầu tiên một cách chính quy, chính thức của khách sẽ như sau: đứng dậy, nếu là nam thì chắp hai tay lại, tay cuộn tay thẳng; nếu là nữ thì hai tay chữ thập, cúi người, ngồi xuống, hai tay nhận (hoặc bưng) ly trà qua. Trước tiên là ngửi, sau đó nếm một ngụm nhỏ trà, đặt ly trà xuống, gửi lời khen gia chủ. Lưu ý: đối với nam nhân, tay cuộn là tay phải, tay trái bao bên ngoài, khi cúi người thì phải hành lễ, cúi càng thấp, thể hiện càng tôn kính gia chủ, nếu gia chủ là bề trên, khách là bề dưới, thì cúi người nên cúi ít nhất góc 45 độ.

Khấu chỉ lễ: Trong quá trình uống trà, lễ tiết hồi lễ quan trọng nhất của khách là “khấu chỉ lễ” (nắm tay lại để hồi lễ, dù thuận tay trái cũng phải dùng tay phải, đầu ngón cái hướng về đốt thứ 2 ngón trỏ, quặp thẳng vào ngón trỏ và ngón giữa, dùng mặt ngoài đốt thứ 2 của ngón trỏ và ngón giữa, gõ nhẹ 3 cái xuống mặt bàn trà; nhìn từ bên hông, sẽ thấy ngón trỏ và ngón giữa khi làm hành động này giống như đôi chân con người đang quỳ).

Ngoài ra, trên bàn trà còn kiêng kỵ nói chuyện tình dục, nếu cứ nói thì khi thưởng trà sẽ cảm nhận được vị chua trong đó. Thưởng trà còn kỵ một hơi uống cạn.

Thưởng trà còn cấm kỵ hút thuốc. Nếu thực sự nhịn không được, thì sau khi mọi người đã thưởng qua 5 bình trà, hãy hỏi ý kiến gia chủ. Sau khi nhận được sự đồng ý thì có thể hút. Nếu mới ngồi xuống đã hút thuốc sẽ bị xem là vô lễ.

Tuyệt đối không được đối mặt với gia chủ phun ngụm trà đầu tiên của bình trà đầu tiên. Hành động này bị xem là cực kỳ vô lễ, thậm chí bị xem là bắt đầu gây hấn. 

Không gian thưởng trà

Theo người Trung Hoa cổ xưa, không gian thưởng trà thường là phòng kín hoặc hoa viên.

Nếu là phòng kín thì trong phòng thường được treo tranh, thơ, câu đối, những bức họa thư pháp, hay những lời dạy của cổ nhân, và thường không thể thiếu là một bức họa phong cảnh lớn. Phòng trà này thường được trang trí rất tinh tế và trang nhã. Mang lại cảm giác hòa mình vào thiên nhiên nhưng không kém phần ấm cúng. Đặc biệt hơn trong phòng thường được bày một lư trầm, hương thơm lan tỏa khắp phòng, cùng với phong thái thưởng một chén trà ngon, giúp cho con người cân bằng thân thể, thư thái và buông bỏ phần mệt nhọc.

Nhưng nếu không gian thưởng trà là hoa viên, hay còn gọi là viên trà, thì lại hoàn toàn khác, người thưởng trà được ngồi giữa một hoa viên có nước có hoa, phong cảnh hữu tình, trà lúc này không thể dịu nhẹ như trà dùng nơi thư phòng, ấm trà ở đây thường là đặc hơn, giữ nhiệt tốt hơn.

Tâm tĩnh lặng là nét đẹp trong trà đạo

Để pha được ấm trà ngon, người pha trà phải để tâm vào từng việc làm nhỏ, người xưa thường nói: dụng tâm chế trà. Hàm ý nhắc nhở từ việc nhỏ nhất cũng cần dùng tâm ý để làm. Khi người ta tâm huyết làm nên một điều gì đó, người thưởng ngoạn cũng cảm nhận được sự tinh tế và khéo léo của người làm ra nó. Bởi vậy mà người xưa thường dùng tâm mà làm mọi việc. Tâm càng tĩnh thì làm việc hiệu quả càng tốt đẹp. 

Trà đạo nghiên cứu “Hòa tĩnh di chân”, tức tâm tĩnh lặng không suy tư, toan tính, nghĩ suy, đạt trạng thái tĩnh như mặt hồ, gột sạch những kiến giải sai lầm, sáng tỏ con đường phải đi để đạt Đạo.

Nói đến cái “Tĩnh Hư”, một số thiền sư cho rằng, đó là trạng thái nhập tĩnh tới mức coi thảy mọi việc đều là hư không. Trong nghệ thuật trà đạo Trung Hoa thực chất là nói về sự tĩnh lặng của thế giới tâm hồn, đến mức tĩnh lặng với mọi hoàn cảnh bên ngoài. Lấy tĩnh chế động. Chỉ cần tâm hồn của bản thân không mất đi “Hư tĩnh”, thì uống trà cũng được, nói cười cũng được, nghe nhạc cũng được, xem kịch cũng được, không có gì là không thể được.

Trước khi nếm trà, cần buông bỏ những phiền muộn, những điều cố chấp trong lòng, tĩnh tâm lại, bắt đầu tiến vào cảnh giới thẩm mỹ nếm trà, lặng lẽ lĩnh hội sắc của trà, hương của trà, vị của trà, hình tượng của trà… từ đó mà tĩnh lặng quan sát, nghĩ lại về cuộc sống nhân sinh, bồi dưỡng tâm tính, đạt tới cảnh giới “Tĩnh Không động” trong tâm hồn, nhận thức được cái đẹp của “Tĩnh Hư”.

Trà đạo là một nét văn hóa truyền thống được lưu truyền bao đời của người dân Trung Hoa. Chính vì vậy, khi đi du lịch Trung Quốc, du khách đừng bỏ lỡ cơ hội trải nghiệm tinh hoa nghệ thuật trà đạo độc đáo này nhé! Chúc du khách có một hành trình vui vẻ và đầy thú vị!