Người Choang – dân tộc thiểu số đông nhất ở Trung Quốc

Dân tộc Choang là một nhóm dân tộc sống chủ yếu ở khu tự trị Quảng Tây phía nam Trung Quốc. Ngoài ra, một số sống ở các tỉnh Vân Nam, Quảng Đông, Quý Châu và Hồ Nam. Họ được xếp vào một trong số 55 dân tộc thiểu số được Cộng hòa nhân dân Trung Hoa chính thức công nhận.

Dân tộc Choang còn có hơn 20 tên gọi khác nhau như: Bố Tráng, Bố Nùng, Bố Liêu, Bố Thổ, Bố Việt, Bố Mạn, Bố Tày,… Dân tộc thiểu số này đã có lịch sử phát triển lâu đời với nguồn gốc từ cộng đồng dân cư Bách Việt thời cổ đại.

Theo số liệu thống kê năm 2006, dân số Choang ước tính khoảng 18.000.000 người, xếp thứ hai sau người Hán. 94% dân số Choang sống tại tỉnh Quảng Tây, tập trung ở phía tây và tây nam tỉnh. Theo Cục thống kê Quảng Tây 61,5% dân số toàn tỉnh là người Hán, người Tráng chiếm 32,6%, 6% còn lại là các sắc tộc thiểu số khác. 

Theo phát hiện của các nhà khảo cổ học, cách đây mấy chục vạn năm, trên khắp vùng Quảng Tây đã có những hoạt động của người cổ đại. Lưu vực thung lũng sông Hữu nơi dân tộc Choang sinh sống đã phát hiện nhiều di chỉ thời đại đồ đá cũ cách đây 6-7 vạn năm của người cổ đại, trong đó có không ít di vật văn hóa. Đặc trưng thể chất của người cổ đại là đầu to, lưỡng quyền nhô cao, xương mũi thấp, sống mũi hơi lõm, hàm răng trên hình lưỡi cày… Những đặc trưng này thuộc về chủng người Mongoloit, giống với đặc trưng thể chất người Choang hiện nay.

Tổ tiên của người Choang đã sống ở Quảng Tây trải qua các triều đại Thương, Chu, thời kỳ Xuân Thu, Chiến Quốc, các triều đại Tần, Hán, Đường, Tống, với nhiều tên gọi khác nhau như Tây Âu, Lạc Việt, Ô Hử, Lý, Liêu, Lương, Thổ… Thời kỳ này, ảnh hưởng của người Hán còn rất hạn chế. Thời Nam Tống (1127-1279), mới bắt đầu có tên gọi Choang. Về sau, Choang dần trở thành danh xưng dân tộc thống nhất, cùng với những cư dân người Hán từ Trung nguyên đến sinh sống ở Quảng Tây ngày một nhiều.

Dân tộc Choang sử dụng ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Hán Tạng, nhóm ngôn ngữ Choang Động, chi tiếng Choang Thái, rất giống với tiếng dân tộc Tày, Nùng ở vùng núi phía Bắc Việt Nam, tiếng Thái Lan, tiếng Lào và tiếng Shan ở Myanmar. Dân tộc Choang có chữ viết riêng của mình. Từ thời Nam Tống đã xuất hiện một loại chữ được cấu thành trên cơ sở chữ Hán, gọi là “Thổ tục”, nhưng được sử dụng phố biến. Năm 1955, dân tộc Choang tạo ra chữ viết phiên âm dùng chữ cái Latinh là cơ sở, đến tháng 11/1957 được Quốc vụ viện Trung Quốc phê chuẩn và lưu hành rộng rãi cho đến ngày nay.

Hình thức nhà ở của người Choang đa dạng với 3 loại: nhà sàn, nhà trệt và nửa nhà sàn, nửa nhà trệt. Hình thức an táng của người Choang là chôn, thiêu hay để quan tài ngoài trời.

Trang phục truyền thống của người Choang cách đây 100 năm về trước: nam giới mặc áo ngắn không cổ, cài khuy giữa, quần ống rộng, đầu quấn khăn; còn nữ giới thì mặc váy gấp nếp, áo ngắn không cổ có viền hoa, đầu quấn khăn hoa. Ngày nay, họ mặc áo dài hoặc ngắn có cổ, may bằng vải tự dệt màu xanh dương đậm, đen hoặc đỏ, hay mặc trang phục hiện đại.

Người Choang thực hiện chế độ hôn nhân một vợ một chồng, lưu truyền tập tục phụ nữ không về nhà chồng, vẫn ở nhà cha mẹ đẻ, chỉ những ngày lễ tết hay ngày mùa mới về nhà chồng ở một thời gian. Ngày xưa chồng phải theo họ vợ, ngày này có thể không cần đổi nữa nhưng vẫn phải theo tập tục ở rể. Đây được xem là tàn tích của chế độ mẫu hệ trong lịch sử dân tộc.

Người Choang chủ yếu sinh sống bằng nông nghiệp trồng lúa nước. Nền nông nghiệp của họ đã có từ lâu đời và ngày càng phát triển. Thủ công nghiệp của họ cũng rất phát triển, thông qua các nghề dệt, nhuộm vải; làm đồ gốm sứ, đúc trống đồng. Kỹ thuật đóng thuyền của họ cũng được đánh giá cao.

Chợ (tiếng Choang gọi là “khư”) là hình thức giao thương buôn bán phổ biến nhất của người Choang. Người Choang trao đổi, mua bán vật dụng, hàng hóa ở chợ và thậm chí chợ còn biến thành nơi giao lưu văn hóa nghệ thuật thông qua các hình thức sinh hoạt ca hát.

Người Choang có một nền văn hóa nghệ thuật phong phú, nhiều màu sắc. Văn học dân gian, hội họa, âm nhạc,… đều có những thành tựu to lớn. Người Choang nổi tiếng thích ca hát nhảy múa, dùng lời ca tiếng hát miêu tả cuộc sống và biểu đạt tư tưởng, tình cảm của mình.

Mỹ thuật của người Choang có những biểu hiện đa dạng. Tranh vẽ trên vách ở Hoa Sơn, lưu vực sông Tả là di sản văn hóa quý báu do tổ tiên người Choang sáng tạo ra cách đây hơn 2.000 năm. Phạm vi tranh vẽ cao 40m, dài hơn 220 mét, có 1.800 hình vẽ khác nhau.

Trống đồng là vật phẩm nghệ thuật quý báu của dân tộc Choang, vừa là nhạc cụ, vừa là vật tượng trưng cho quyền lực và sự giàu có. Những hoa văn đúc trên mặt trống đồng thể hiện trình độ nghệ thuật cao của người Choang từ mấy ngàn năm trước. Ở Bảo tàng Dân tộc Quảng Tây hiện đang bảo quản hơn 500 trống đồng.

Văn học dân gian của dân tộc Choang rất phong phú, đa dạng, đặc biệt là có những truyện kể dân gian được lưu truyền sâu rộng như câu chuyện thần thoại “Muliujia”, “Buluotuo” kể về các vị thần sáng thế tạo ra trời đất, vạn vật, sắp đặt lại trận tự của giới tự nhiên…; truyện anh hùng “Mạc Nhất đại vương”…

Người Choang có hình thức sinh hoạt chợ phiên. Năm 1983, khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây định hội hát chợ phiên vào ngày 3 tháng 3 âm lịch hàng năm, từ đó còn gọi là “Tết 3 tháng 3”. Trong chợ phiên, thường có ca hát đối đáp và các cuộc vui dân gian như ném tú cầu, bắn pháo bông, múa lân, thi kéo co, bắn nỏ,… Đặc biệt, dân ca của dân tộc Choang có nội dung phong phú, được đánh giá là viên ngọc quý trong kho tàng văn nghệ dân gian của người Choang.

Hình thức nghệ thuật sân khấu dân tộc của người Choang là kịch Choang, bắt nguồn từ hình thức ca múa dân gian, ngày nay phát triển rất mạnh mẽ với nhiều đoàn kịch chuyên nghiệp.

Vải gấm Choang là sản phẩm thủ công mỹ nghệ nổi tiếng của người Choang, chất liệu bền chắc, hoa văn tinh xảo, sinh động, nhiều màu sắc, được người Choang tự hào và khách du lịch ưa chuộng.

Người Choang là dân tộc có phong vị ẩm thực phong phú. Những món ăn nổi tiếng là cơm nếp năm màu, cơm nếp bí đỏ, cơm nếp khoai lang, bánh tét, bánh dày, đậu hũ viên nhồi thịt, thịt heo quay,… Nhìn chung, những món ăn của người Choang thường chế biến theo kiểu chiên xào. Hương vị đặc trưng là vị ngọt, các món xào hơi nhiều mỡ một chút để tạo độ béo ngậy. 

Những lễ hội quan trọng nhất của người Choang là “Tết 3 tháng 3”, “Trung nguyên”, “Hồn trâu bò”. Người Choang theo tín ngưỡng đa thần, họ thờ quỷ thần và tổ tiên. Hầu hết người Choang theo một tín ngưỡng vật linh truyền thống gọi là Sư Công giáo hay Mo Giáo, bao gồm nghi thức thờ cúng tổ tiên. Mo Giáo có các bài tế riêng và các thầy tế được gọi là Bu Mo. Trong các nghi thức Mo truyền thống, thầy Mo dùng xương gà để xem quẻ. Trong Mo Giáo, đấng tạo hóa là Bu Luotuo và vũ trụ gồm ba yếu tố với tất cả mọi vật được hình thành từ ba yếu tố này, gồm: trời, đất và nước. Người Choang cũng có một số theo Phật Giáo, Đạo Giáo và Thiên Chúa Giáo.

Người Choang có quan niệm đạo đức thuần hậu. Hiếu kính cha mẹ, kính già yêu trẻ là quan niệm đạo đức cơ bản của người Choang. Họ trọng danh dự, đề cao tình đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, nhiệt tình hiếu khách. Họ cũng rất xem trọng tinh thần lao động cần cù, chăm chỉ. Đối với họ, trộm cắp là đáng căm giận, lười biếng là đáng sỉ nhục.

Và khi nhắc tới dân tộc Choang, không thể không nói đến trình độ võ thuật của họ. Tranh vẽ trên vách đá Hoa Sơn là tư liệu vô cùng quý báu về nguồn gốc võ thuật người Choang. Tranh vẽ trên vách đá Hoa Sơn vẽ người với đường nét đơn giản, chắc khỏe, động tác chiêu thức rõ ràng, phát lực mạnh mẽ, thần thái oai phong. Phần lớn các hình người đứng tấn kiểu mã bộ và nửa mã bộ, linh hoạt ẩn hiện, sinh động phong phú.

Vật phẩm trong tranh vẽ trên vách Hoa Sơn cũng được tạo hình sống động, có trống đồng, đao, trường thương, thủ phiêu (phiêu ném), kiếm, mã tấu, nỏ núi (sơn nỗ), tên tre… đủ nói lên sự phát triển đa dạng trong văn hóa cũng như vũ khí của dân tộc Choang đã được hình thành với khí thế hừng hực từ ngàn năm trước.

Ngoài những thứ kể trên, trong nhóm tượng ở Ninh Minh Hoa Sơn có con vật 4 chân, tướng mạo như chó sói, một tay cầm phi đà (quả cân ném – một biến thể của chùy lưu tinh), lưng đeo bảo kiếm, hai chân gập gối dạng ra khuỵu xuống, ưỡn ngực, đè hông thành tấn mã bộ vững vàng trầm chắc. Đây được coi là vật tổ của dân tộc Choang có võ công phi phàm.

Trong lịch sử, võ thuật dân tộc Choang đã phát huy uy lực cực lớn trong các cuộc chiến chống lại giặc lùn (Nụy khấu – cách gọi miệt thị người Nhật Bản) vượt biển sang cướp phá vùng Lưỡng Quảng. Theo sách “Quy thuận châu chí” viết: Năm Minh Gia Tĩnh thứ 34 (năm 1555), có một phụ nữ người Choang quen sử dụng song đao tên là Ngõa Thị phu nhân chỉ huy trai tráng người Choang dùng mộc chắn và mã tấu, trường thương phát huy tác dụng che chắn và sức tấn công dài của thương đã đại phá đội quân chủ lực dùng súng hỏa mai của Nụy khấu, chặt đầu thủ lĩnh và tiêu diệt hơn 300 kẻ địch.

Đời Thanh, năm 1851 Hồng Tú Toàn, Dương Tú Thanh thống lĩnh giáo dân làm cuộc khởi nghĩa từ thôn Kim Điền, huyện Quế Bì, tỉnh Quảng Tây nổi danh với tên gọi Thái Bình Thiên Quốc, thế lực lan ra 17/18 tỉnh của Trung Quốc, sau đó thành lập Thiên Quốc, đóng đô ở Thiên Kinh (tức Nam Kinh), đến năm 1854 bị nhà Thanh dựa vào các thế lực đế quốc dẹp tan. Trong các tướng sĩ Thái Bình Thiên Quốc có rất nhiều cao thủ người dân tộc Choang tham gia vào các cuộc chinh chiến như Tiêu Triều Quý, Đàm Thiệu Quang đã mang hết tài ba võ nghệ để cống hiến cho cuộc khởi nghĩa. Sau khi thất bại, hầu hết các cao thủ võ thuật người Choang lánh nạn vào những nơi hẻo lánh, hoang vu, tiếp tục truyền lại võ công ngàn đời cho hậu thế.

Còn rất nhiều điều thú vị về dân tộc Choang mà với giới hạn ở bài viết này không thể trình bày hết được. Du khách hãy thực hiện một chuyến du lịch Trung Quốc để tự mình khám phá nhiều hơn nhé! Chúc các du khách có một chuyến đi với nhiều trải nghiệm thú vị!