Giai thoại về mối quan hệ “đặc biệt” giữa Càn Long Đế và đại tham quan Hòa Thân

Hòa Thân được biết tới là một đại tham quan khét tiếng trong lịch sử Thanh triều, và có mối quan hệ “đặc biệt” với vua Càn Long. Đối với Càn Long, Hòa Thân quan trọng đến mức ngày nào không được gặp là không chịu được. Sự sủng ái thậm chí còn hơn cả Hán Ai Đế đối với Đổng Hiền xưa.

Hòa Thân (1750-1799) tự Trí Trai, hiệu Gia Nhạc Đường, là người tộc Nữu Hỗ Lộc thuộc Chính Hồng kỳ Mãn Châu. Xuất thân là một công tử Mãn Châu, Gia thế nhà Hòa Thân tuy không hiển hách song cũng là gia tộc quân công. Ông tổ 5 đời Ni Nha Cáp Nạp Ba Đồ Lỗ đã lập chiến công khi nhà Thanh tiến vào Trung Nguyên và được phong Tam đẳng Khinh xa đô úy.

Năm lên 3 tuổi, mẹ ruột của ông qua đời sau khi sinh hạ em trai Hòa Lâm. 6 năm sau, Hòa Thân lại phải chịu cảnh mồ côi cha. Thuở nhỏ, do quan hệ bất hòa với mẹ kế nên phải chịu nhiều vất vả. May mắn khi đó ông được một người hầu lâu năm trong gia đình nuôi dưỡng.

Hòa Thân được theo học tại Hàm An cung. Khi còn đi học, Hòa Thân đã bộc lộ sự vượt trội hơn hẳn so với các bạn học cùng xuất thân Bát kỳ khác. Năm lên 10 tuổi, ông đã bắt đầu học cách bắt chước kiểu chữ của Càn Long để sau này khi viết tấu chương có thể lấy được thiện cảm từ Hoàng đế.

Nhờ tinh thông bốn thứ tiếng là Mãn, Hán, Mông Cổ, Tây Tạng, lại nằm lòng Tứ thư, Ngũ kinh, nên ông được hai thầy giáo là Ngô Tỉnh Khâm và Ngô Tỉnh Lang rất mực yêu mến. Khi mới gia nhập triều đình, năm 22 tuổi, Hòa Thân giữ chức vị Tam đẳng Thị vệ. Tuy còn trẻ nhưng Hòa Thân đã sớm có năng lực làm việc cũng như lập được nhiều công trạng cho triều đình. Có lần, Càn Long thuận miệng dẫn một câu trong Luận Ngữ để biểu đạt ý trách cứ với quần thần. Khi đó, một thị vệ tuấn tú đã tiếp lời ông. Không chỉ hiểu ý Càn Long, thị vệ kia còn đưa ra một câu trả lời khiến Hoàng đế vô cùng hài lòng. Đó không ai khác chính là Hòa Thân.

Lần khác, Càn Long ngồi ở Viên Minh Viên xem chú giải của Chu Hi về “Mạnh Tử”, nhưng vì chữ quá nhỏ nên Hoàng đế cảm thấy khó nhìn. Ngay lúc ấy, Hòa Thân đã nhanh chí học thuộc toàn bộ chú giải và đọc lại cho Hoàng đế nghe. Nhờ vậy, Hoàng đế khen ngợi ông có tài học, ban chỉ phong cho chức tước.

Nhờ sự khôn khéo và hiểu biết của mình, Hòa Thân được Càn Long rất tín nhiệm, trọng dụng. Bởi vậy, tới năm Càn Long thứ 38 (năm 1773), Hòa Thân được giữ chức Đại thần Quản khố, chuyên lo việc quản lý tiền bạc. Từ đây, ông bắt đầu rèn luyện quản lý tài chính. Năng khiếu về chuyện tiền bạc của Hòa Thân từng nhiều lần khiến Hoàng đế trầm trồ khen ngợi.

Tháng Giêng năm 1776, Hòa Thân nhậm chức Thị lang Bộ Hộ. Tới tháng 3 năm đó, ông lại được bổ nhiệm làm Quân cơ đại thần, một tháng sau được phong làm đại thần Tổng quản phủ Nội Vụ.

Khi cảm nhận được sự vững chắc của địa vị cũng là lúc Hòa Thân thấu hiểu chân lý “gần vua như gần cọp”. Ông lo lắng nếu một ngày bị bãi quan sẽ không thể sống nổi nếu chỉ dựa vào tích cóp bổng lộc ít ỏi của triều đình. Cũng từ đây, ông ta dấn thân vào con đường tham ô. Cái “nghiệp” làm tham quan này cũng gắn chặt với ông cho tới tận lúc qua đời.

Vào năm Càn Long thứ 45 (năm 1780), Đại học sỹ kiêm Tổng đốc Vân Quý là Lý Thị Nghiêu bị tố giác tham nhũng. Càn Long liền hạ lệnh cho Thị lang Bộ Hình là Khách Ninh và Hòa Thân điều tra vụ việc. Vụ án nhiều ngày không tiến triển, chỉ đến khi Hòa Thân dùng hình bức cung quản gia Triệu Nhất Hằng, việc tham ô của Lý Thị Nghiêu mới lộ ra chân tướng. Sự việc bê bối của họ Lý gác lại, Hòa Thân cũng lén lút “bỏ túi” được phân nửa tài sản của tên tham quan này. Sau đó, Càn Long lại càng trọng dụng ông ta. Hòa Thân lúc này lại thêm say mê tiền tài, quyền lực.

Theo quy định của triều đình nhà Thanh, các quan lại không được tham gia vào việc kinh doanh và thu lợi nhuận từ những dịch vụ như cầm đồ, buôn bán… Tuy nhiên, điều này đã không làm khó được kẻ ham tiền và ưa lũng đoạn như Hòa Thân. Trong khi đương chức, Hòa Thân đã tự mình mở hàng loạt những ngành nghề kinh doanh hái ra tiền như cửa hàng lương thực, cửa hàng buôn bán vũ khí, nhà hàng, quán rượu, ngân hàng… Trong chốn thương trường, Hòa Thân luôn tỏ ra là một người ngang ngược, trắng trợn chụp giật, dựa vào thân thế cùng với quyền lực của mình, Hòa Thân đã thâu tóm hầu hết những cửa hàng buôn bán cùng nhiều mặt hàng tại kinh thành và nhiều tỉnh lớn khác tại Trung Quốc vào thời điểm đó. Tất cả chuỗi cửa hàng của Hòa Thân tại kinh thành đều có những kẻ có máu mặt cầm đầu và sẵn sàng trừ khử những đối thủ không chịu về dưới trướng của đại thần họ Hòa.

Vào năm 1788, trong 3.000 vạn lạng bạc tiền thu thuế, Càn Long đã để Hòa Thân tự do chi phí cho mọi hoạt động của triều đình. Trong lần này, với tài biến hóa sổ sách, Hòa Thân đã đút túi không dưới vài vạn lạng. Sử sách Trung Quốc còn ghi lại rằng vào cuối đời Càn Long, trong các cống phẩm và vật dụng các tỉnh cống nạp triều đình thì chỉ có 12% được đưa vào ngân khố, 88% còn lại “bị hút” về phủ Hòa Thân.

Vậy thì với một người túc trí đa mưu như Càn Long cộng với việc đối xử với các quan lại dưới quyền rất nghiêm khắc, thì hà cớ gì lại để cho Hòa Thân “một tay che trời” như vậy? Điều này có thể nằm ở những nguyên nhân sau đây:

Thứ nhất, Hòa Thân thực chất chính là một chiếc túi tiền không đáy để nhà vua mặc sức bòn rút. Càn Long khi về già càng thích hưởng lạc, xa hoa. Mỗi lần vi hành của Hoàng đế đều tiêu tốn một số lượng tiền khổng lồ. Trong khi đó, quốc khố vốn chỉ đủ tiêu, vì vậy, một vị quan tham với túi tiền lớn như Hòa Thân nghiễm nhiên trở thành “két sắt” của Càn Long.

Thứ hai, Hòa Thân được xem là một bề tôi sở hữu thiên phú lấy lòng Hoàng đế. Chỉ cần nhìn qua một cử chỉ hay ánh mắt của Càn Long, tham quan này đã biết phải làm gì, nên nói gì. Nhờ tài nịnh bợ hơn người, Hòa Thân luôn thấu hiểu thánh ý và đem lại sự hài lòng cho Càn Long.

Thứ ba, Hòa Thân thực sự là một nhân tài. Mặc dù bị coi là một đại tham quan, nhưng ông ta luôn duy trì những nguyên tắc, phàm là những chỗ không nên tham ô thì cương quyết không lấy dù chỉ một đồng.

Thứ tư, Càn Long muốn để cho Hòa Thân lấp đầy túi tham, đạt đến đỉnh cao quyền lực. Sau đó, để cho Gia Khánh trừng trị ông ta, như một “món quà” cho người kế vị. Tuy nhiên, không có căn cứ lịch sử nào xác thực cho điều này, và Càn Long không có lý do để làm vậy. Bởi lẽ, tiền mà Hòa Thân tham ô được cũng chính là từ ngân khố của Càn Long. Hòa Thân cũng đã tiêu xài, sống xa xỉ không hề ít, Càn Long không khác gì tự đào hố chôn mình. Mặt khác, nếu cứ để mặc cho Hòa Thân thâu tóm quyền lực, hoàng đế non trẻ Gia Khánh rất có thể bị lật đổ. Chưa kể, có rất nhiều chi tiết thể hiện vào những năm cuối đời, Càn Long vẫn thể hiện sự tín nhiệm tuyệt đối với Hòa Thân.

Ngoài ra, theo như lời đồn đại, giữa Càn Long và Hòa Thân có tình cảm đồng tính. Nhưng tài liệu được ghi lại nhiều nhất là việc Hoà Thân chính là truyền kiếp của phi tử đã chết vì Càn Long hoá thành.

Theo giai thoại, vì vô tình vung lược đập trúng mặt Càn Long (lúc này đang là Thái tử) khiến Càn Long bị một vết đỏ ở mặt nên phi tử của Ung Chính (cha Càn Long) đã bị thái hậu ban cho cái chết. Sau cái chết đó, Càn Long vô cùng đau khổ. Vị vua này đã quyết định dùng ngón tay của mình chấm một vết lên cổ vị phi tử này và hẹn kiếp sau sẽ lại cùng nhau gặp gỡ.

Sau khi trở thành vị vua anh minh của nhà Thanh, Càn Long lại vô tình bắt gặp Hoà Thân có mang theo một vết bớt đỏ hình ngón tay trên cổ và cho rằng đây chính là vị phi tử đầu thai.

Theo rất nhiều tài liệu đã ghi chép, Hoà Thân sở hữu dung mạo rất đẹp, trắng trẻo, môi đỏ, khuôn mặt sắc nét rất quyến rũ. Sử sách cũng ghi lại “Hòa Thân có dung mạo trắng trẻo, da trắng môi đỏ, cử chỉ trang nhã xinh đẹp chẳng khác gì nữ nhân”. Khi gặp Càn Long, Hòa Thân đang ở độ tuổi 20, Sử Trung Quốc là: diễm lệ hơn cả phi tần của Càn Long.

Ngoài sở hữu vẻ ngoài đầy kiều diễm giống với người phi tần quá cố của mình, Hoà Thân còn tinh thông vạn việc khiến Càn Long càng ngày sủng hạnh. Theo nhiều ghi chép, hằng ngày vị vua này cứ quấn quít lấy Hoà Thân bất kể có bao cung tần mỹ nữ vây quanh, thậm chí nếu một ngày Càn Long không thể gặp được Hoà Thân thì sẽ không chịu được nên vị đại thần này phải luôn ở bên cạnh ngày đêm hầu hạ và chăm nom. Trước sự sủng hạnh của Càn Long, Hoà Thân không hề tỏ ra chán ghét mà ngược lại còn rất thích thú, thậm chí Hoà Thân còn dành cho Càn Long một tình cảm rất đặc biệt và xem như “người yêu” của mình.

Để chứng minh cho “tình yêu” của mình, Càn Long thậm chí đã gả đệ nhất công chúa mà ông nhất mực yêu thương cho con trai Hòa Thân và phong hiệu “Phong Thân Ân Đức”. Một số tài liệu còn ghi rằng Càn Long từng có ý định nhường ngôi cho Hòa Thân và việc này đã khiến vị vua Gia Khánh sau này vô cùng tức giận.

Do nhiều biến cố đã xảy ra mà sau này Hoà Thân đã bị xử chết tại pháp trường, trước giây phút sinh tử của cuộc đời thì Hoà Thân chỉ nghĩ đến “người yêu” Càn Long của mình. Hoà Thân đã sáng tác một bài thơ ngay tại lúc ấy với nội dung: nếu có kiếp sau ông cùng xin được làm thần tử hầu hạ cho Càn Long.

Lịch sử vẫn luôn tồn tại nhiều uẩn khúc mà người đời không thể biết hết được, cũng chẳng ai có thể khẳng định những ghi chép trên là đúng hay sai. Nhưng những nghi án ấy cũng không phải là vô căn cứ vì không phải tự nhiên mà Càn Long lại dành cho Hoà Thân một sự ưu ái quá đỗi đặc biệt như vậy. Và còn một điều mà ít ai nghĩ tới chính là việc Hòa Thân lại sở hữu dung mạo mỹ miều như những nữ nhân để khiến Càn Long mê mẩn cả đời.

Mối quan hệ “đặc biệt” giữa Hoà Thân và Vua Càn Long cũng như những giai thoại về “đại tham quan” khét tiếng này có lẽ không thể nào kể hết được. Trong hành trình du lịch Trung Quốc, du khách hãy một lần tự mình đến với Cung Vương Phủ của ông, để biết thêm nhiều chi tiết thú vị cũng như vô số những điều bí ẩn xoay quanh cuộc sống lúc sinh thời của vị quan tai tiếng nhất triều đại nhà Thanh này nhé! Chúc các du khách có một chuyến đi thú vị và vui vẻ!

Minh hôn (Đám cưới ma) – hủ tục ghê rợn của Trung Hoa xưa

Tập tục “minh hôn” hay còn gọi là Âm hôn (đám cưới ma) xuất phát từ việc có những người chết yểu sau khi đã đính hôn, khi đó mọi người nghĩ rằng phải hoàn thành hôn sự cho họ nếu không gia đình trên cõi trần sẽ lục đục không yên. Khi tiến hành nghi thức minh hôn, cần tìm những đối tượng khác giới (đã chết) để hợp táng.

Tập tục này được cho là xuất hiện từ thế kỷ 17 trước công nguyên. Theo sách “Tam Quốc chí – Ngụy chí – Bỉnh Nguyên chí”, năm Kiến An thứ 13, ghi lại điển tích Tào Xung, con trai Tào Tháo không may chết sớm. Tào Tháo đau khổ, day dứt vì chưa cưới được vợ cho con khi còn sống nên muốn tìm một tiểu thư gia đình quyền quý đã chết để làm lễ cưới với Tào Xung. Một thời gian sau, nghe nói nhà họ Chân có con gái chết yểu, Tào Tháo liền đến nói chuyện. Hai gia đình chọn ngày lành tháng tốt tổ chức “đám cưới ma” như thật, sau đó hợp táng cho “đôi vợ chồng mới cưới”.

Minh hôn phát triển mạnh nhất vào thời nhà Tống. Theo ghi chép trong “Tạc mộng lục”, những nam nữ thanh niên chưa kết hôn không may chết sớm thì cha mẹ bắt buộc phải tổ chức minh hôn cho họ. Một số lý do được đưa ra cho việc tổ chức minh hôn là người xưa tin vào phong thủy mồ mả. Họ cho rằng những ngôi mộ cô độc sẽ ảnh hưởng đến sự hưng thịnh của đời sau. Đối với người xưa, minh hôn là cách hóa giải vận hạn cho đời sau. Tuy nhiên, phong tục này đã chính thức bị cấm từ sau năm 1949. Song tập tục cổ hủ này dường như vẫn còn tồn tại chui lủi ở một số vùng quê hẻo lánh. Chủ yếu là vùng nông thôn các tỉnh Thiểm Tây, Sơn Tây, Hồ Nam, Hồ Bắc và Quảng Đông vẫn thường diễn ra.

Hủ tục này đối với phụ nữ, người Trung Quốc quan niệm con gái không phải con mình, thế nên khi con gái của họ chết đi mà vẫn còn độc thân thì sẽ không có ai thờ phụng, thương con nên gia đình đó sẽ tìm đến người đã khuất khác cùng trường hợp để làm minh hôn và sau đó nhà trai sẽ lo việc nhang khói cho con gái mình. Cũng có trường hợp những cô gái đã qua tuổi kết hôn nhưng vẫn chưa ai rước, gia đình sợ người ta cười chê nên các cô gái như vậy phải chịu cưới một người đã khuất, rồi dọn qua bên nhà trai ở và đảm nhận vai trò như một người con dâu thực sự. Còn đối với đàn ông, minh hôn là khi họ chết đi mà vẫn độc thân, sang thế giới bên kia họ vẫn cô đơn vì vậy họ sẽ “bắt” một thành viên trong gia đình mình cùng sang cõi âm để bầu bạn. Phong tục xưa cũng cho rằng những thanh niên trẻ qua đời đột ngột khi đã có hôn ước trước đó, thì gia đình phải tổ chức đám cưới ma, nếu không vong hồn của họ sẽ quấy phá gia đình. Đặc biệt, những thanh niên trẻ đã có hôn ước nhưng không may đột ngột qua đời thì người nhà phải tổ chức “đám cưới ma”, nếu không linh hồn của họ sẽ quấy nhiễu khiến gia đình gặp nhiều xui xẻo.

Trong văn hóa Trung Quốc, em trai không thể kết hôn trước khi anh trai. Trong trường hợp người anh trai đã qua đời thì gia đình phải làm “đám cưới ma” cho anh trai trước rồi mới tổ chức lễ cưới cho người em để tránh vong linh của người anh không hài lòng, khiến gia đình lục đục.

Một số nhà khác vì lý do muốn sở hữu tài sản nên cưới vợ cho con trai đã chết, khi cưới được vợ trên danh nghĩa, nhà chồng tìm một người cháu trai nhỏ tuổi để làm con nuôi của người đã chết nhằm kế thừa tài sản và lo hương khói tổ tiên.

Để tổ chức minh hôn, đầu tiên, cha mẹ bắt buộc phải nhờ “quỷ mai mối” đi dạm hỏi cưới xin, sau đó tiến hành xem quẻ. Nếu quẻ đồng ý cho cưới thì hồn ma của đôi nam nữ sẽ được may áo cưới rồi cử hành hôn lễ, sau đó chôn cất hai người cùng một mộ.

Các nghi thức tổ chức minh hôn tương tự như một đám cưới bình thường. Trong minh hôn, nhà trai cũng phải tặng lễ vật cho nhà gái, mọi đồ ăn thức uống đều là thật, chỉ có duy nhất quần áo và trang sức là đồ vàng mã được đốt sau lễ âm hôn để cô dâu hưởng dưới suối vàng. Trong khi đốt vàng mã, nhà trai sẽ đứng quây xung quanh, đánh trống thổi kèn.

Trong nghi thức minh hôn, nếu cả cô dâu và chú rể đã qua đời thì họ sẽ được đại diện bằng hình nhân, đặt trên bàn thờ. Nếu chú rể còn sống kết hôn với một cô dâu “ma”, thì thay vì để 2 hình nhân người ta chỉ để một bức ảnh cô dâu. Chú rể sẽ đeo găng tay màu đen thay vì màu trắng trong đám cưới thông thường. 

Nhiều gia đình đã dùng hình nhân cô dâu y như thật tổ chức đám cưới. Tuy nhiên, một số nơi lại cho rằng “minh hôn” nhất định phải là người thật. Thi thể nữ đào lên từ mộ đã chôn cất, được tắm rửa, cho mặc quần áo cô dâu và tổ chức đám cưới. Sau đó cả hai được chôn cất cùng nhau.

Một đám cưới bình thường, những người thân trong gia đình thường tặng quà cho cặp vợ chồng mới cưới như đồ trang sức, tủ lạnh, bàn trang điểm, tiền mặt… Trong đám cưới ma những đồ vật này sẽ được thay bằng vàng mã sau đó sẽ được đốt cùng hình nhân cô dâu chú rể để đảm bảo họ có thể sống thoải mái ở thế giới bên kia.

Trong thời gian làm lễ, các hình nhân sẽ được đối xử, trò chuyện như với người còn sống. Sau này, hai gia đình sẽ chọn ngày lành tháng tốt để tiến hành bốc mộ. Cô gái sẽ được chôn cạnh chàng trai mà mình được gả cưới.

Sau nghi lễ minh hôn, hai bên gia đình thông gia với “cô dâu, chú rể” sẽ trở nên gắn bó với nhau hơn, đặc biệt là trong các dịp lễ Tết, hội hè.

Trung Quốc thời xa xưa có khá nhiều hủ tục đáng sợ khiến nhiều người tò mò như tục lệ bó chân gót sen, tục lệ một vợ nhiều chồng… Thực hiện một chuyến du lịch Trung Quốc, du khách sẽ có cơ hội khám phá về những phong tục kỳ lạ này.

Tục bó chân – nét truyền thống của phụ nữ Trung Hoa xưa

Từng là biểu tượng của sắc đẹp và sự quyền quý, những bàn chân nhỏ xíu do bị bó chặt của phụ nữ Trung Quốc xưa được gọi bằng những cái tên mỹ miều như “gót hoa” hay “gót huệ”. Họ quan niệm rằng, việc bị bó chân sẽ khiến họ đi không vững vàng, giống như những cành sen đong đưa trong gió.

Tục bó chân xuất hiện vào thời nhà Tống do nền Nho giáo Trung Quốc bị nghiêm khắc và khô khan hóa nhưng phổ biến nhất vào thời nhà Thanh. Có nhiều giả thuyết về xuất xứ của tục bó chân. Một trong những giả thuyết được nhắc đến nhiều là câu chuyện về một cung phi của Hán Thành Đế tên là Triệu Phi Yến. Nàng đã quấn những dải lụa quanh bàn chân và nhảy múa. Hán Thành Đế vì rất ấn tượng với dáng điệu của Triệu Phi Yến khi nhảy múa trên đôi chân bó gọn nên gọi nó là “Kim Liên Tam Thốn” (Gót Sen Ba Tấc) và ra lệnh cho những cung phi khác cũng bắt chước theo. Một câu chuyện tương tự cũng được nhắc đến trong các tài liệu không chính thức, nhân vật chính lại là nàng Giáng Phi sống ở thời Nam Bắc Triều. Tuy rất khác nhau về tên nhân vật nhưng các câu chuyện trên cho thấy một điểm chung, tục bó chân bắt nguồn trong giới thượng lưu. Việc bó chân sau đó đã trở nên thịnh hành trong giới nữ thuộc mọi tầng lớp của xã hội Trung Quốc và dần trở thành một tập tục.

Tục bó chân vẫn tồn tại ở Trung Quốc cho đến tận thế kỷ 20. Những người cai trị thuộc tộc Mãn châu triều đại nhà Thanh (1644-1912) không chấp nhận tập tục này vì nó quá hủ tục lạc hậu nhưng mà không mấy thành công trong việc ngăn chặn nó. Trong những năm cuối của thế kỷ 19, những học giả cải cách và các nhà truyền giáo Tây phương bắt đầu lên tiếng phản đối tập tục gây đau đớn thể xác này, tuy nhiên phải đợi đến những năm 1920 thì mới bắt đầu có sự thay đổi về phía nhận thức của dân chúng khi một số trí thức tân tiến tách tục này ra khỏi giá trị thẩm mỹ và đạo đức. Năm 1928, Quốc dân đảng người Hán tuyên bố kế hoạch xóa bỏ tập tục bó chân, yêu cầu tất cả thiếu nữ dưới 15 tuổi phải để bàn chân phát triển tự nhiên, song cũng không thu được hiệu quả đáng kể.

Sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập năm 1949, tục bó chân bị nghiêm cấm, và đến cuối thập niên 1960 thì tục này về cơ bản đã chấm dứt. Ngày nay, người ta chỉ còn thấy những chứng tích ít ỏi của tập tục này trên bàn chân của một số bà cụ già.

Để có được đôi “gót sen” hoàn hảo, người mẹ hoặc người bà trong gia đình sẽ bắt đầu bó chân con gái, cháu gái họ khi đứa trẻ 2-5 tuổi – khoảng thời gian xương bàn chân chưa phát triển hoàn thiện. Đầu tiên, chân của các bé gái được ngâm trong nước ấm pha thảo dược và máu động vật ấm. Nó có tác dụng nhằm ngăn ngừa sự hoại tử. Sau đó tất cả móng chân sẽ bị cắt càng sâu càng tốt để ngăn chặn sự phát triển của chân và sự nhiễm trùng sau đó. Để chuẩn bị tinh thần cho cô gái những gì sẽ xảy đến tiếp theo, bàn chân sẽ được xoa bóp nhẹ nhàng. Những dải băng bằng lụa hoặc cotton dài khoảng 3m và rộng 5cm đã được chuẩn bị sẵn và cũng được ngâm vào hỗn hợp dược thảo và máu động vật tương tự. Từng ngón chân sau đó sẽ bị bẻ quặp, ép vào lòng bàn chân và cuốn gọn vào trong những dải băng ướt này, nén thật chặt đến kiệt nước, kéo giật mạnh về phía gót chân. Đôi khi người ta còn tạo ra những vết cắt sâu ở lòng bàn chân để công việc này được dễ dàng.

Trình tự này sẽ được lặp lại 2 ngày một lần, với một lần bó chân mới. Mỗi lần bó lại, dải băng lại được thắt chặt hơn nữa làm cho quá trình bó chân càng ngày càng đau đớn. Không những thế, người xưa còn đánh thật mạnh vào lòng bàn chân của các bé gái, làm vỡ nát các xương. Khi vải được quấn lại, cô gái còn bị buộc phải đi lại trên nền nhà để bàn chân biến dạng hơn nữa.

Quá trình bó chân thường kéo dài trong 2 năm và nó đau đớn đến mức có người đã nói rằng: “Người con gái bó chân phải khóc hàng xô nước mắt”. Sau 2 năm, bàn chân sẽ giữ nguyên hình dạng trong suốt cuộc đời sau đó. Những biến chứng thường gặp là bàn chân bị sưng, chảy mủ và thậm chí còn bị hoại tử do nhiễm trùng. Móng chân sẽ mọc dài ra, đâm vào thịt làm rữa thịt, đôi khi làm rụng cả ngón chân. Và đôi khi xương bàn chân mọc theo hướng đâm thẳng về phía gót chân. Khi trưởng thành, người bó chân có thể gặp nguy hiểm với những vấn đề về sức khỏe. Những phụ nữ lớn tuổi thì có nguy cơ cao bị gãy xương chậu và các xương khác khi ngã, họ cũng khó mà đứng dậy được khi đang ngồi.

Như đã nói, bó chân là một quá trình đau đớn tột cùng lẫn thể chất và tinh thần, thế nhưng nó như một nghĩa vụ mà xã hội phong kiến quy định đối với người phụ nữ để trở thành mẹ cũng như tiếp tục duy trì nòi giống. Hủ tục này cũng nhằm ràng buộc phụ nữ trở nên lệ thuộc vào người đàn ông. Điều này nghe có vẻ vô lý nhưng có một sự thật khoa học ẩn sau đó không phải ai cũng biết. Với bàn chân bị bó chặt, khi bước đi người phụ nữ phải nhón từng bước rất nhỏ, dịch chuyển phần lớn lực bước chân lên những bó cơ ở đùi để tránh bị ngã. Hậu quả là các cơ đùi và cơ ở vùng hông sẽ trở nên co chặt một cách khác thường. Cứ như thế, theo thời gian, các cơ xung quanh cơ quan sinh dục nữ cũng ngày càng trở nên săn chắc. Điều này mang đến nhiều khoái cảm hơn cho người chồng trong sinh hoạt vợ chồng. Ngoài ra, việc dồn lực vào bắp đùi và vùng hông còn tạo cho người phụ nữ vóc dáng hấp dẫn hơn nhiều trong mắt người chồng.

Bên cạnh đó, người xưa tin bó chân còn là phương pháp để gắn kết phụ nữ với gia đình. Lý do là bởi với bàn chân bó chặt đau đớn, phụ nữ sẽ ít đi lại hơn, từ đó sẽ ở nhà chăm sóc chồng con một cách chu toàn.

Những bàn chân nhỏ xíu khi trải qua quá trình bó chân còn là một tiêu chuẩn về cái đẹp để kiếm được tấm chồng. Trong xã hội phong kiến Trung Hoa, những cô gái trẻ thường được nói rằng họ sẽ không tìm được chồng trừ khi chân phải được bó, vì không ai muốn một cô dâu với đôi bàn chân to và thô kệch. Những phụ nữ có bàn chân tự nhiên thường bị chế giễu trong các câu hát dân gian.

Cho đến ngày nay, có rất nhiều người đã tranh cãi về tập tục bó chân của người phụ nữ Trung Hoa xưa. Nhưng dù thế nào đi nữa, xét về phương diện xã hội học, tục lệ này cũng phản ánh rõ rệt quyền lực của người đàn ông trong xã hội phong kiến cùng với tư tưởng trọng nam khinh nữ nặng nề của Trung Quốc thời xưa, nó kéo dài cả hàng thế kỉ và thậm chí còn có ảnh hưởng rất lớn đến tận ngày nay.

Ngoài tục lệ bó chân, Trung Quốc thời xa xưa có khá nhiều hủ tục đáng sợ khiến nhiều người tò mò như tục lệ một vợ nhiều chồng, minh hôn… Thực hiện chuyến du lịch Trung Quốc, du khách sẽ có cơ hội khám phá về những phong tục kỳ lạ này.

Quyền lực thật sự của các vị Hoàng hậu Trung Hoa cổ đại

Khi xem qua các bộ phim về cuộc sống hậu cung Trung Hoa, hẳn nhiều người tin rằng Hoàng hậu không có nhiều quyền lực và dễ dàng bị các phi tần khác lật đổ. Tuy nhiên, trong thực tế, dù ở triều đại nào, Hoàng hậu đều có một quyền lực rất lớn, không một phi tần nào dám đối đầu.

Hoàng hậu là danh hiệu dành cho chính thê của Hoàng đế, do Hoàng đế sắc phong. Hoàng hậu nắm giữ địa vị cao quý nhất trong số tất cả những người vợ của Hoàng đế, là người duy nhất được cử hành nghi thức đại hôn với Hoàng đế và được tất cả triều thần công nhận, được lão bá tánh biết đến. Chỉ xét như thế thì các phi tần không thể so sánh được.

Về phục sức, Hoàng hậu có thể mặc quần áo và sử dụng trang sức có màu vàng sáng như Hoàng đế. Những đãi ngộ cũng cao hơn các phi tần trong hậu cung. Chẳng hạn như trong lịch sử Thanh triều, Hoàng hậu mỗi năm được hưởng 1.000 lượng bạc; trong khi đó, Hoàng Quý phi được hưởng 800 lượng bạc mỗi năm; Quý phi thì được cấp phát 600 lượng bạc làm bổng lộc; Phi được nhận 300 lượng bạc/năm; Những phi tử mang Tần vị thường được cấp phát 200 lượng bạc mỗi năm;… Chưa kể, các nhu yếu phẩm phục vụ cho cuộc sống hàng ngày của Hoàng hậu cũng hơn hẳn so với các phi tần khác.

Trong các triều đại, Hoàng hậu chính là mẫu nghi thiên hạ, đóng vai trò quan trọng trong các nghi lễ. Do đó, trong nhiều dịp trọng đại, Hoàng hậu buộc phải xuất hiện bên cạnh Hoàng đế. Được tham dự điển lễ cúng tế là một sự vinh dự của Hoàng hậu mà không có phi tử nào được thay thế.

Trong hậu cung nhà Thanh, cũng chỉ có mỗi Hoàng hậu mới có đặc quyền ngủ qua đêm với Hoàng đế. Theo quy định, từ 30 Tết đến mùng 2 tháng Giêng, Hoàng hậu có thể ngủ cùng giường với Hoàng đế và đặc quyền này không một vị phi tần nào có thể cướp đi được. Và chính vì thế, xác suất Hoàng hậu mang thai rất cao, đây cũng là một lợi thế rất lớn mà vị phi tần nào cũng mong muốn.

Trong nội bộ hậu cung, Hoàng hậu luôn có một quyền lực rất lớn. Hoàng hậu phụ trách các phần thưởng phạt ở hậu cung. Lời nói của Hoàng hậu ở hậu cung giống như mệnh lệnh của Hoàng đế. Một khi các phi tần hậu cung phạm lỗi, Hoàng hậu sẽ dựa vào quy định của tổ tiên để lại mà thẳng tay trừng phạt nữ nhân đó.

Mọi chi tiêu của từng phi tần đều được Hoàng hậu nắm rõ. Thậm chí đến chuyện thăng chức, giáng chức của một người cũng nằm trong tầm kiểm soát của Hoàng hậu. Có một câu chuyện thế này để thấy rõ rằng quyền lực của Hoàng hậu cũng có những quyền hạn mà ngay cả đến Hoàng đế cũng có quyền can thiệp: có một vị phi tần được Hoàng đế cực kỳ sủng ái, và cũng chính vì lưu luyến vị phi tần đó mà Hoàng đế đã bỏ lỡ buổi thượng triều. Sau khi Hoàng hậu biết chuyện đã ngay lập tức cho người xử tử phi tần kia. Lúc đấy, Hoàng đế dù đau lòng cũng không có quyền can thiệp.

Trong lịch sử Trung Hoa cổ đại, Hoàng hậu không chỉ phụ trách các vấn đề ở hậu cung mà còn có thể ảnh hưởng đến tình hình chính trị và các chính sách lớn nhỏ của đất nước. 

Trên tiền triều, không một triều thần nào dám đắc tội với Hoàng hậu. Bởi Hoàng hậu cũng có thể ảnh hưởng đến những thay đổi chính trị, thậm chí là bổ nhiệm các chức quan trong triều.

Hoàng hậu cũng có thể thay mặt Hoàng đế để quản lý triều chính. Chẳng hạn như Võ Tắc Thiên, khi còn là Hoàng hậu đã giúp Hoàng đế phê duyệt tấu chương.

Ngoài ra, Hoàng hậu còn có thể tự thăng chức cho bản thân mình. Khi Hoàng đế qua đời, các phi tần sẽ không còn được sống an yên trong hậu cung nữa: Sẽ bị bồi táng (chôn cùng) Hoàng đế, tống vào lãnh cung hoặc đưa khỏi hoàng cung. Tuy nhiên, với tư cách là Hoàng hậu, họ sẽ có được may mắn hơn những nữ nhân hậu cung khác, có thể thăng chức cho bản thân và tiếp tục cuộc sống vinh hoa phú quý trong hoàng cung. Ví dụ như trong triều đại nhà Thanh, sau khi Hoàng đế Hàm Phong mất, một vị hoàng hậu tự thăng cấp cho mình và một vị phi tần khác thành Thái hậu, đó là Từ An Thái hậu và Từ Hi Thái hậu. Trong các nghi thức triều đình, Từ An Thái hậu cao hơn Từ Hi Thái hậu 1 bậc.

Từ đó có thể thấy rằng, địa vị của Hoàng hậu hoàn toàn cách xa với phi tần trong hậu cung, quyền lực chỉ đứng sau Hoàng đế, không phi tần nào dám khiêu khích và tất cả hậu cung luôn phải dè chừng.

Hậu cung Trung Hoa cổ đại luôn có những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện ấy lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về vùng đất “đặc biệt” này. Hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc để tự mình khám phá được nhiều điều thú vị hơn nhé!

Tết Thanh Minh – ngày lễ quan trọng của người Trung Quốc

Trung Quốc được biết đến là một trong những đất nước có nền văn hóa lịch sử lâu đời và có nhiều di tích lịch sử nổi tiếng. Không chỉ vậy đất nước này còn có những lễ hội truyền thống rất đặc sắc thu hút khách du lịch gần xa, trong đó nổi bật là Tết Thanh Minh.

“Thanh Minh” (清明) có nghĩa là trong sáng. Trong năm, Thanh Minh chính là 1 trong 24 tiết khí trong năm thường rơi vào khoảng trước hoặc sau ngày 5/4 dương lịch, sau Đông chí 108 ngày. Tên gọi “Tiết Thanh Minh” có lẽ xuất phát từ thời điểm vào mùa đông đã kết thúc, lúc này tiết trời đã bắt đầu ấm áp, bầu trời trong xanh, khí hậu ấm áp, cỏ non xanh rờn, tràn đầy hương sắc mùa xuân. Đồng thời, đến Tiết Thanh Minh lại đúng vào thời điểm mùa cấy vụ xuân.

Người Trung Hoa quan niệm rằng, nguồn gốc Tết Thanh Minh bắt nguồn ngày tế lễ của vua chúa thời cổ. Say này dân gan học theo và từ đó xuất hiện tập tục tảo mộ để tưởng nhớ công ơn tổ tiên. Theo truyền thuyết, vua Đại Vũ trị thủy thành công vào đúng vào dịp mùa xuân tới, trời đất trong lành, không khí ấm áp, trăm hoa đua nở, nhân dân liền tổ chức hoạt động chúc mừng và gọi là Tết Thanh Minh.

Từ xa xưa, Tết Thanh Minh đã trở thành ngày lễ ý nghĩa thiêng liêng đi sâu tiềm thức người dân Trung Quốc. Đây không chỉ là thời điểm phù hợp cho vụ mùa mới mà còn là tập tục đầu xuân quan trọng, là sự kết hợp nỗi buồn và hi vọng.

Tại Trung Quốc, trong những ngày lễ tâm linh này, hoạt động chính là tảo mộ. Công việc chính của tảo mộ là sửa sang các ngôi mộ của tổ tiên cho được sạch sẽ. Nhân ngày Thanh minh, người ta mang theo xẻng, cuốc để đắp lại nấm mồ cho đầy đặn, rẫy hết cỏ dại và những cây hoang mọc trùm lên mộ cũng như tránh không để cho các loài động vật hoang dã như rắn, chuột đào hang, làm tổ mà theo suy nghĩ của họ là có thể phạm tới linh hồn người đã khuất. Sau đó, người tảo mộ bày thức ăn, hoa quả ra cúng, thắp vài nén hương, đốt vàng mã hoặc đặt thêm bó hoa cho linh hồn người đã khuất.

Trong ngày Thanh Minh, khu nghĩa địa trở nên đông đúc và nhộn nhịp. Các cụ già thì lo khấn vái tổ tiên nơi phần mộ. Trẻ em cũng được theo cha mẹ hay ông bà đi tảo mộ, trước là để biết dần những ngôi mộ của gia tiên, sau là để tập cho chúng sự kính trọng tổ tiên qua tục viếng mộ. Những người quanh năm đi làm ăn xa cũng thường trở về vào dịp này (có thể sớm hơn một, hai ngày vì nhiều lý do khác nhau) để tảo mộ gia tiên và sum họp với gia đình. Bên cạnh những ngôi mộ được trông nom, chăm sóc cẩn thận, còn có những ngôi mộ vô chủ, không người thăm viếng. Những người đi viếng mộ thường cũng cắm cho các ngôi mộ này một nén hương.

Với những cơ quan, đoàn thể sẽ đi tảo mộ cho các liệt sĩ tại nghĩa trang. Đó chính là lý do những ngày Thanh Minh thì các nghĩa trang lại có rất nhiều những vòng hoa, bó hoa hay cành tùng, cành bách. Điều này thể hiện lòng biết ơn, tôn kính đến các vị liệt sĩ đã hi sinh thân mình bảo vệ tổ quốc.

Tết Thanh Minh người dân Trung Quốc còn có tập tục cắm một cành liễu trước nhà, cành liễu sống rất khỏe, khi cành liễu xanh tức là trời sẽ mưa bụi, khi cành liễu khô tức là trời nắng, nên người dân dùng liễu để dự báo thời tiết. Ngoài ra, tương truyền Tết Thanh Minh cũng có ma quỷ ra nhiều, nên dùng cành liễu để trừ tà.

Tết Thanh Minh không chỉ có ý nghĩa tảo mộ ông bà tổ tiên, những người đã khuất, hướng về cội nguồn, đây đồng thời cũng là ngày hội du xuân. Những ngày này nhiều gia đình lại hân hoan, háo hức tham gia các hoạt động văn hóa, để kết nối tình yêu thương giữa những người với nhau, tăng thêm tình yêu thương đối với những người trong cuộc sống.

Người Trung Quốc thường hay có thói quen tham dự các trò chơi thể thao như đá banh da – một hoạt động vui chơi được ưa chuộng thời kỳ Trung Quốc cổ đại. Ai nấy cũng có thể chơi được, không phân biệt giới tính nam nữ, thường dân hay vua chúa. 

Song hành với bộ môn đá banh da, người Trung Hoa còn hưởng ứng nhiệt tình với loại hình thả diều. Không kể ngày hay đêm, người dân tha hồ thả những chiếc diều trên bầu trời, mang tới sự cảm nhận thật tuyệt vời và dễ chịu biết bao. Những chiếc lồng đèn nhỏ được gắn vào dây diều, đem thả trên bầu trời tựa xa xa như những ngôi sao sáng lấp lánh, tỏa ra một sức hút hấp dẫn làm xao xuyến bao con tim lữ khách và người dân.

Trước đây, nam nữ thanh niên cũng nhân dịp này để du xuân nên mới có tên gọi “hội đạp thanh”. “Đạp” là dẫm lên, “thanh” là màu xanh, ý nói cỏ. “Đạp thanh” còn gọi là “xuân du”, là khi mùa xuân đã về, cây cối đâm chồi nảy lộc, người người rủ nhau đi ngắm cảnh sắc mùa xuân. Trong thời cổ còn có tập tục đi chơi xuân hái rau dại, tập tục này đến nay không còn nữa. Trong thời gian trước và sau Thanh Minh là các cô gái, phụ nữ đi chơi xuân, hái rau dại tươi và non về gói sủi cảo, gói bánh rất thơm ngon với mùi vị khác thường. Có một số phụ nữ còn thích gài bông hoa rau khúc màu trắng trên đầu.

Tết Thanh minh cũng là thời gian để trồng cây, vì tỷ lệ sống sót của những cây non vào thời gian này rất cao và lớn nhanh sau đó. Trước kia, Tết thanh Minh có tên “ngày hội trồng cây mùa xuân”, nhưng từ năm 1979, đã được đặt vào ngày 12/3 dương lịch.

Ngoài lễ viếng mộ tổ tiên và các hoạt động vui chơi giả trí, thưởng thức những món ăn truyền thống cũng là một phần không thể thiếu trong Tết Thanh Minh. Vào dịp này, người Trung Hoa nói chung, người Giang Nam nói riêng thường có tục ăn bánh Thanh Đoàn Tử. Để làm được loại bánh này, người ta ép lấy nước một lại cỏ mọng có tên là “Tương mạch thảo”, sau đó trộn với bột nếp đã xay nhuyễn thành một thứ bột ướt mịn. Nhân bánh là bột đậu xanh trộn đường. Đặt một viên nhân bánh và một miếng mỡ lợn nhỏ vào vỏ bột, vê tròn rồi xếp vào lồng hấp, hấp cách thủy đến chín. Khi lấy bánh ra khỏi lồng hấp, người ta lấy dầu thực vật quét đều lên khắp bề mặt bánh, khi đó bánh mới hoàn thành. Thanh đoàn tử có màu xanh bóng như ngọc, vị mềm, thơm, ăn vào thấy ngọt mà bùi, béo mà không ngấy. Người Giang Nam dùng thứ bánh này để cúng tổ tiên nên Thanh Đoàn Tử không chỉ là một món ăn mà đã trở thành phong tục ẩm thực của vùng đất này.

Ăn bánh Cuộn Thừng cũng là phong tục truyền thống vào Tết Thanh Minh của người Trung Quốc. Thứ bánh này được chiên trong mỡ, vị giòn, thơm. Thời xưa tục cấm lửa vào tết Hàn thực không được phổ biến rộng rãi tại Trung Quốc nhưng tục ăn bánh cuộn thừng lại được người dân rất ưa chuộng. Ngày nay bánh cuộn thừng có sự khác biệt giữa hai miền nam bắc. Bánh miền bắc thường to, dùng bột mì làm nguyên liệu chính. Bánh miền nam nhỏ và tinh xảo hơn, đa phần dùng bột gạo để làm. Bánh cuộn thừng cũng xuất hiện trong các vùng dân tộc thiểu số, vị ngon khác lạ, trong đó bánh cuộn thừng của tộc Duy Ngô Nhĩ, Đông Hương và dân tộc Hồi ở Ninh Hạ là nổi tiếng nhất.

Dịp Tết Thanh minh cũng trùng với mùa ốc nên người Trung Quốc có câu nói: “Thanh minh ăn ốc, không cần ăn ngỗng”. Chưa vào mùa sinh sản nên ốc dịp này béo, ăn rất ngọt. Ốc có nhiều cách chế biến, có thể xào với hành, gừng, rượu nấu, xì dầu và đường trắng hoặc khêu lấy thịt để hấp, trộn hay chần tái đều rất ngon.

Ngoài các món ăn trên, vào dịp Tết Thanh Minh, người Trung Quốc còn có tục ăn trứng gà, bánh bông lan, bánh kẹp, bánh chưng, bánh dày… Các món ăn muôn hình muôn vẻ mà giàu chất dinh dưỡng.

Tiết Thanh Minh được người dân Trung Quốc xem rất quan trọng trong các ngày lễ của năm. Du lịch Trung Quốc vào dịp Tiết Thanh Minh, du khách có cơ hội chiêm ngưỡng, trải nghiệm và tận hưởng những điều khác biệt tạo nên nét văn hóa đặc trưng cho miền đất này.

Mức thu nhập của các thái giám Trung Hoa xưa

Thái giám là một nhóm người tương đối đặc biệt nhưng cũng là một bộ phận vô cùng quan trọng trong hoàng cung. Thái giám phải hầu hạ tất cả các thành viên hoàng tộc mỗi ngày. Vậy thì họ sẽ có mức thu nhập như thế nào? Mời du khách cùng chúng tôi tìm hiểu nhé!

Trong lịch sử Trung Quốc, thái giám đã có từ thời Tây Chu, đường thời gọi là “tử nhân” hoặc “hạng nhân”, “yêm doãn”, “nội tiểu thần”. Họ được tuyển vào cung để làm một số công việc như: truyền lệnh của nhà vua đến các quan, canh gác hậu cung, quét dọn phòng ốc, liên lạc giữa các vua và phi tần…

Đến thời nhà Tùy, nhà Đường, nhà Tống đặt ra cơ cấu Nội thị tỉnh do hoạn quan đảm nhiệm, trông coi các việc nội bộ ở trong cung đình. Hoạn quan ở hai triều Đường, Tống có người trực tiếp thống lĩnh quân đội. Vào thời nhà Minh, đặt ra Thập nhị giám, Tứ ty, Bát cục gọi là Nhị thập tứ nha môn, trông coi về việc phục dịch trong cung đình, mỗi cơ cấu có thái giám trông coi. Đến đời nhà Thanh có Tổng quản thái giám, người đứng đầu thái giám, trực thuộc Nội vụ phủ.

Để bước chân vào “nghề” thái giám, những người đàn ông đều phải trải qua quá trình tịnh thân (thiến) đầy đau đớn và nguy hiểm. Cũng bởi vậy mà con đường của các hoạn quan, thái giám tại Trung Hoa xưa không phải là lối đi mà nhiều người sẽ lựa chọn nếu như không bị đẩy vào tình cảnh khốn cùng.

Thế nhưng, trái ngược lại với suy nghĩ cho rằng đây là một nghề nghiệp thấp kém, trên thực tế, các thái giám thời xưa lại sở hữu tiền đồ được cho là rộng mở với mức lương bổng và những nguồn thu ngoài luồng khác mà ít ai có thể tưởng tượng tới.

Về thu nhập của tầng lớp thái giám bình thường, ta có thể lấy quy định của Thanh triều nói riêng để làm ví dụ. Bấy giờ, các thái giám trong hoàng cung nhà Thanh được chia làm 20 cấp bậc. Dù có lên được phẩm cấp cao nhất thì quyền lợi của họ cũng chỉ tương đương với chức quan tứ phẩm thời ấy.

Phạm vi công việc của thái giám rất rộng nhưng có thể tạm chia thành 2 nhóm. Một nhóm là thái giám hầu hạ bên cạnh Thái hậu, Hoàng đế, Hoàng hậu và các phi tần. Nhóm còn lại sẽ đảm nhận các công việc nặng nhọc hơn trong hoàng cung. Tuy nhiên, dù thuộc nhóm nào thì thái giám cũng đều có phân bậc rõ ràng, tạm chia thành 3 loại: Tổng quản, Thủ lĩnh, thái giám thông thường. Nhóm thái giám bên cạnh Thái hậu, Hoàng đế và Hoàng hậu đều là Tổng quản thái giám và Thủ lĩnh thái giám.

Thái giám với cấp bậc càng cao thì thu nhập càng nhiều. Thái giám tổng quản lương tháng là 8 lượng bạc, 8 đấu gạo, 1 quan 300 văn tiền (Văn tiền: Trên đồng tiền có văn tự nên gọi là “Văn”). Còn đối với thái giám thông thường thì con số này ở mức 2 lượng bạc, 2 đấu gạo và 600 văn tiền.

Vào thời nhà Thanh, 1 lượng bạc tương đương khoảng 500 NDT ngày nay, mỗi đấu gạo xấp xỉ 15 tệ. Nếu quy đổi dựa trên con số này, thì thu nhập của thái giám tổng quản Thanh triều sẽ là 4.000 NDT (xấp xỉ khoảng 13.600.000 VNĐ) cho mỗi tháng. Tương tự như vậy, thu nhập của thái giám bình thường sẽ vào khoảng hơn 1.000 NDT/tháng, tức là xấp xỉ khoảng hơn 3.400.000 VNĐ.

Thế nhưng, nguồn thu của các thái giám không chỉ dừng lại ở lương bổng chính thức, mà họ còn nhận được nhiều khoản khác như thưởng Tết, thưởng sinh nhật,… Đặc biệt nhất là đến lúc đại hôn của Hoàng đế hoặc Hoàng tử, ban thưởng sẽ càng nhiều hơn. Ngoài tiền và bạc, thái giám còn có thể nhận được tơ lụa, lông thú, châu báu, ngọc bích và nhiều bức tranh thư pháp có giá trị.

Trên thực tế, thái giám còn được xem là cầu nối giữa các nhân vật trong bộ máy thống trị. Do đó, cơ hội để có các khoản thu ngoài luồng cũng là không hề ít.

Nếu có thể hoàn thành nhiệm vụ mà chủ tử giao cho, những thái giám này sẽ còn có cơ hội được thưởng tiền hoặc tài vật.

Đặc biệt, thái giám còn được biết tới là người truyền tin của hoàng đế đến với các đại thần. Vì vậy mỗi lần đi truyền thánh chỉ, tầng lớp này cũng sẽ có nguồn thu nhập không công khai nhưng vô cùng hậu hĩnh. Ví dụ như ở thời nhà Thanh, khi các quan đại thần phạm sai lầm, nhà vua sẽ phái thái giám tới phủ đệ của họ để tuyên đọc thánh chỉ trách phạt. Mỗi lần như vậy, các quan viên này đều sẽ biếu thái giám tiền trà nước để duy trì mối quan hệ, dò hỏi thông tin hoặc nhờ họ nói đỡ dăm ba câu với nhà vua. Số tiền trà nước này có khi lên tới 400-500 lượng bạc, hoặc ít thì cũng khoảng 40-50 lượng. Từ đó không khó để nhận thấy, chỉ nhờ vào tuyên đọc một đạo thánh chỉ, các hoạn quan thời xưa đã có thể thu về tới 20 vạn NDT, bằng với mức thu nhập cả năm của một trí thức bình thường tại Trung Quốc ngày nay.

Có lẽ đúng như câu nói bỏ ra càng nhiều thì thu về càng lớn, các hoạn quan, thái giám thời xưa tuy phải trải qua tịnh thân mới có thể bước đi trên con đường này, thế nhưng nếu khôn khéo thì họ có thể kiếm được khối gia tài mà thường dân bách tính thời ấy cả đời cũng không dám mơ tới.

Vậy là qua bài viết này, du khách đã hiểu thêm được phần nào về cuộc sống sinh hoạt của tầng lớp thái giám trong lịch sử Trung Hoa. Nếu du khách là người có niềm đam mê với văn hóa, lịch sử của đất nước này thì hãy thực hiện một chuyến du lịch Trung Quốc nhé! Chắc chắn du khách sẽ có được nhiều khám phá và trải nghiệm thú vị khi đặt chân đến vùng đất rộng lớn này!

3 vật bất ly thân của thái giám Trung Hoa xưa

Trong phim ảnh Hoa ngữ, thái giám cũng là một đề tài được khai thác khá nhiều. Họ thường có tạo hình là những người ái nam ái nữ, mặc trang phục chỉnh tề và tay luôn phải cầm một cây phất trần. Ngoài ra, các thái giám còn luôn mang theo hai thứ khác bên cạnh mà không phải ai cũng biết.

Thái giám (còn gọi là hoạn quan, công công, nội quan, nội thần, nội giám) là những người đàn ông đã trải qua quá trình “tịnh thân” (cắt bỏ bộ phận sinh dục) để phục vụ trong cung đình Trung Hoa. Nhiệm vụ của thái giám là hầu hạ hoàng đế và hoàng tộc trong cung nhưng quan trọng nhất là canh giữ không để bất kỳ người đàn ông nào khác “chạm” vào cung tần mỹ nữ của vua.

Theo ghi chép, những nam nhân phục dịch hoàng đế đã có từ thời Tây Chu (440 TCN) nhưng lúc này họ chưa bắt buộc phải tịnh thân. Cho đến đầu đời Đông Hán mới yêu cầu toàn bộ nam giới hầu hạ trong cung đều phải trở thành thái giám để tránh rắc rối trong các mối quan hệ với số lượng lớn phụ nữ trong cung. Có nhiều nguyên nhân khiến đàn ông Trung Quốc thời xưa trở thành thái giám. Có thể là do bị cha mẹ bán vào cung từ lúc nhỏ, do gia đình quá nghèo không còn sự lựa chọn, là tội nhân bị phạt hoặc tự nguyện xin làm hoạn quan để mưu cầu phú quý.

Tuy không được tham gia vào chính sự nhưng các thái giám lại có uy quyền mạnh mẽ. Họ là người kề cận vua nên nắm được nhiều thông tin bí mật thậm chí còn có thể can thiệp vào chuyện lập hoàng đế. Do vậy, hình ảnh thái giám cũng được khai thác khá nhiều trong phim ảnh Trung Quốc.

Ngoài trang phục chỉnh tề, mũ đội đầu thì trên tay các thái giám thân cận bên Hoàng đế Trung Hoa xưa luôn có cây phất trần. Chúng dài khoảng 50cm, một đầu làm bằng gỗ được trang trí đẹp và một đầu là những chiếc lông vũ nhỏ màu trắng hoặc các sợi gai được bó với nhau. Khi đi lại, các thái giám luôn đặt cây phất trần trên cánh tay. Trước khi thông báo điều gì, họ sẽ phất chúng một lần.

Phất trần nguyên là cây chổi quét bụi, đuổi muỗi mòng, một trong những vật tùy thân của các Tỷ kheo ở Ấn Độ, thường được làm từ lông dê, gai vải bông xé nhỏ, vải hoặc vật cũ rách, nhánh cây, ngọn cây và có chức năng như một vật tùy thân cần thiết để bảo vệ sức khỏe cho đời sống du hành. Sau khi Phật giáo truyền sang Trung Quốc, phất trần là pháp khí biểu tượng cho sự tu tập đoạn trừ phiền não, chướng nạn đồng thời là vật trang nghiêm của các bậc cao tăng trong khi thực thi pháp sự. Từ thời xa xưa, phất trần đã được xem là một thánh vật gắn liền với hình tượng của các đạo sĩ trong văn hóa Trung Hoa. Cũng bởi vậy mà cổ nhân khi nói tới vật dụng này vẫn thường có câu: “Tay cầm phất trần, không phải người phàm”.

Một giả thuyết khác cho rằng hình ảnh cây phất trần này từng đi vào trong đời sống nghệ thuật của nhân dân, thường xuất hiện trong kinh kịch hay tuồng Quảng. Trong 2 loại hình nghệ thuật này, phục trang và khuôn mặt của các nhân vật được hóa trang khá giống nhau, nên những ai vào vai thái giám cầm thêm cây phất trần để người xem dễ phân biệt.

Vào thời xưa, thường dân bách tính cũng thường giữ trong nhà những chiếc phất trần dùng để đuổi muỗi hoặc lau dọn, công dụng cũng không khác biệt nhiều so với chổi lông gà.

Trên thực tế, cây phất trần thường thấy của các thái giám mặc dù có hình thức cầu kỳ hơn, tuy nhiên công dụng cơ bản nhất cũng không khác với phất trần của người bình thường là bao.

Đối với các thái giám, họ cũng sử dụng cây phất trần này thể phủi bụi bẩn, vệ sinh đồ đạc ở những địa điểm mà hoàng đế sắp ghé qua. Nếu trên người hoàng đế có vết bẩn hay bụi, thái giám cũng chỉ được dùng cây phất trần chứ không được tự ý dùng tay để làm sạch. Bởi nếu trực tiếp dùng tay để chạm hoặc vỗ vào người Thiên tử sẽ bị coi là một hành động đại bất kính.

Sau này vì tính năng và độ thông dụng, cây phất trần được dùng làm chiếc roi phạt những ai vi phạm phép tắc trong cung và được sử dụng trong cả các gia đình thường dân. Trong mỗi gia đình, nếu có người không giữ gìn phép tắc gia quy cũng sẽ dùng phất trần để trị tội.

Ngoài những công dụng cơ bản trên đây, phất trần của các thái giám còn được xem như một loại vũ khí “tạm thời”. Theo ghi chép trong Minh sử và Thanh sử, thái giám cấp cao kề cạnh Hoàng đế không cần phải cầm phất trần, trong khi đó thái giám thấp hơn một bậc phải cầm phất trần và quan sát mọi tình huống xung quanh Hoàng đế. Tất cả thái giám này đều đứng kề cận hai bên trái phải của Hoàng đế, có thể theo Hoàng đế vào những nơi không thích hợp cho thị vệ tiến vào. Nếu thấy tình huống nguy hiểm, khi có thích khách xuất hiện thì những thái giám cầm phất trần sẽ dùng chúng làm vũ khí chống trả, kéo dài thời gian để các thị vệ có thể ứng cứu.

Bên cạnh đó, thái giám là những người thường xuyên kề cận phi tần và cung nữ trong hậu cung, dù đã mất đi một bộ phận nam giới trên cơ thể nhưng không có gì đảm bảo thái giám sẽ không làm ra chuyện không phù hợp. Lúc này, phất trần được xem là một lời nhắc nhở. Xét cho cùng, trong Đạo giáo và Phật giáo, phất trần còn có ý nghĩa đoạn tuyệt hồng trần. Nhìn thấy phất trần trong tay cũng có thể khiến thái giám quên đi mọi tâm tư không đứng đắn.

Theo quan niệm của Đạo giáo, phất trần thường được biết tới là pháp khí của các nhân vật thần thoại. Ví dụ tiêu biểu là chính là Thái Thượng Lão Quân – vị thần tiên luôn đem theo cây phất trần bên mình. Cũng bởi vậy mà vật dụng ấy thường đem tới cho người khác cảm giác siêu phàm, thoát tục, thậm chí cổ nhân còn tin rằng nó có sức mạnh để trừ tà.

Vào thời cổ đại, vương thất, hoàng gia của mọi vương triều đều hi vọng rằng hoàng cung của họ sẽ luôn đầy ắp những điều cát tường, như ý. Cũng vì vậy mà giai cấp thống trị thời bấy giờ sẵn sàng làm mọi việc để tăng thêm vận may cho bản thân. Và việc để cho các thái giám cầm phất trần cũng nằm trong số đó. Họ tin rằng, việc biến phất trần trở thành vật bất ly thân của tầng lớp này sẽ gia tăng may mắn, đồng thời còn có công dụng diệt trừ những thứ tà ma quỷ quái hoặc những điều xui xẻo. Đây cũng là một trong những lý do khiến phất trần trở thành một thứ “vũ khí” thường gắn liền với hình tượng của các hoạn quan, thái giám Trung Hoa vào thời xưa.

Ngoài cây phất trần, các thái giám còn luôn mang theo bên mình một chiếc khăn nhỏ và bao đầu gối.

Nhiều người cho rằng chiếc khăn nhỏ để các thái giám lau mồ hôi nhưng không phải vậy. Sau quá trình tịnh thân, các thái giám thường bị tiểu nhiều lần trong ngày nhưng số lượng nước tiểu ít. Để tránh mùi khai, họ phải dùng khăn lau bộ phận sinh dục sau khi đi vệ sinh.

Dù ở bên cạnh Hoàng hậu hay Hoàng thượng nhưng thân phận của thái giám cũng chỉ là tôi tớ trong cung. Vì vậy, khi gặp những người này, họ vẫn phải hành lễ. Có ngày họ phải hành lễ hàng chục lần chưa kể mỗi lần làm sai việc gì có thể phải quỳ gối xin lỗi hoặc quỳ phạt nhiều giờ. Do đó, họ luôn mang theo bao đầu gối để việc quỳ không gây tổn thương cho da đầu gối.

Bao đầu gối là một dụng cụ hình vuông, bên ngoài bọc vải, bên trong nhét các loại giẻ hoặc các vật làm mềm. Các thái giám sẽ buộc chúng chắc chắn vào đầu gối. Trong các bộ phim dã sử Trung Quốc, nhiều cô gái cũng áp dụng cách này nhưng thường bị phát hiện.

Nhìn chung, cuộc đời thái giám không ít những nỗi buồn phiền và sự tự ti, trừ những thái giám lộng quyền để vươn đến đỉnh cao quyền lực. Hầu hết họ không có tài sản gì đáng giá. Sống trong cung cả đời cho đến khi về già, tưởng sẽ an nhàn nhưng thực ra họ không có đất đai hay gia sản gì to tát ngoài đồng lương ít ỏi hàng tháng nhận được trong cung.

Thời Minh – Thanh, hoạn quan khi xuất cung thường vào làm việc trong miếu, chùa hoặc nhận bố thí sống qua ngày. Tuổi già của họ là những ngày tháng cô đơn, không người thân nương tựa.

Vậy là qua bài viết này, du khách đã hiểu thêm được phần nào về cuộc sống sinh hoạt của tầng lớp thái giám trong lịch sử Trung Hoa. Nếu du khách là người có niềm đam mê với văn hóa, lịch sử của đất nước này thì hãy thực hiện một chuyến du lịch Trung Quốc nhé! Chắc chắn du khách sẽ có được nhiều khám phá và trải nghiệm thú vị khi đặt chân đến vùng đất rộng lớn này!

Lễ hội thuyền rồng sôi động và đầy màu sắc văn hoá truyền thống Trung Hoa

Trung Quốc được biết đến là một trong những đất nước có nền văn hóa lịch sử lâu đời và có nhiều di tích lịch sử nổi tiếng. Không chỉ vậy đất nước này còn có những lễ hội truyền thống rất đặc sắc mà du khách có thể tìm hiểu trong chuyến du lịch của mình. Trong những lễ hội đó không thể không nhắc đến Lễ hội thuyền rồng được diễn ra vào mỗi dịp Tết Đoan Ngọ.

Lễ hội thuyền rồng là nét văn hoá đặc sắc, có ý nghĩa và truyền thống lâu đời đối với người dân Trung Quốc. Theo tài liệu ghi chép, lễ hội thuyền rồng được tổ chức lần đầu tiên ở Phiên Ngu (nước Sở xưa – nay là tỉnh Quảng Châu), đây chính là nơi đã sản sinh ra một nền văn hoá truyền thống mang đậm bản sắc văn hoá của người dân Trung Quốc. 

Lễ hội thuyền rồng được tổ chức vào ngày 5/5 âm lịch hàng năm, diễn ra trên khắp các con sông của đất nước Trung Hoa. Cứ vào dịp này là trên các con lại xuất hiện hàng dài những chiếc thuyền đầy màu sắc. Người dân ngồi trên thuyền mặc những bộ trang phục truyền thống và ném bánh đậu nếp xuống sông.

Có rất nhiều giải thích cho nghi thức đặc biệt này, nhưng theo sử sách Trung Quốc thì lễ hội thuyền rồng được tổ chức nhằm mục đích để tưởng nhớ một vị quan văn thanh liêm của nước Sở vào thế kỷ thứ 4 TCN, đó là Khuất Nguyên.

Khuất Nguyên chủ trương khôi phục quan hệ giữa nước Sở và nước Tề láng giềng. Thời kỳ này được biết đến trong lịch sử Trung Quốc là Thời Chiến Quốc, lý do là 7 nước, hay 7 vương quốc xâu xé lẫn nhau trong suốt 200 năm, cho đến khi Tần Thuỷ Hoàng thống nhất Trung Hoa. Lúc bấy giờ, Vua nước Sở đã phá hỏng mối bang giao với nước láng giềng, nhưng Khuất Nguyên đã tự nỗ lực khôi phục sự hoà hảo với nước Tề và mang lại hoà bình tạm thời cho đất nước của ông. Tuy nhiên, triều đình nước Sở khi đó đầy rẫy tham nhũng, nhiều viên tham quan bị kẻ thù mua chuộc. Khuất Nguyên bị những viên tham quan gièm pha hãm hại, khiến vua Sở nổi giận không tin dùng Khuất Nguyên nữa.

“Chúng chen chúc trên đường vụ lợi,
Tấm lòng tham, tham mãi tham hoài!
Đem dạ mình đọ bụng người,
Sinh lòng ghen ghét, đặt lời gièm pha.”

Những dòng thơ trên đây nằm trong bài “Ly tao” của Khuất Nguyên, trong đó ông đã giãi bày câu chuyện bị đày ải của mình. Ông viết:

“Lòng chính trực bị xéo giày,
Tai nghe xiểm nịnh, lòng đầy lửa sân.”

Vua Sở đã đày Khuất Nguyên đến vùng quê Giang Nam, nơi đó ông dành nhiều tháng ngày để sáng tác thơ và suy
ngẫm trong cay đắng. Thơ của ông phản ánh tấm lòng trung thành với nhà vua, mặc dù bị hắt hủi.

“Chín lần trời hãy chứng minh,
Chỉ vì ta quá trung thành đấy thôi.”

Khi không còn những trung thần và nhân tài xung quanh nhà vua nữa, nước Sở nhanh chóng bị Tần đánh bại. Sau khi hay tin, Khuất Nguyên vô cùng đau xót:

“Biệt ly ta chẳng quản nài;
Xót mình lòng dạ đổi dời bao phen.”

Trong tuyệt vọng, Khuất Nguyên gieo mình xuống sông Mịch La tự vẫn. Khi người dân địa phương biết tin ông tự vẫn, họ vội lao ra sông trên những con thuyền gỗ, đánh trống và dùng mái chèo đập mạnh vào mặt nước để xua đuổi tà ma và cá, nhằm tìm kiếm và cứu ông trong tuyệt vọng. Khi không thể tìm thấy vị cố quan, họ đã ném cơm nắm xuống dòng sông. Một trong những lý do là để cúng cơm cho cô hồn của Khuất Nguyên. Theo tục lệ ở Trung Quốc, người chết vì tự vẫn sẽ trở thành cô hồn đói khát, phải đợi cho đến khi tiến trình sinh mệnh đặc định nơi dương gian kết thúc. Một lý do khác của việc rắc cơm xuống sông là để cho cá ăn mà không rỉa thi thể của Khuất Nguyên nữa.

Theo truyền thuyết, một đêm, Khuất Nguyên báo mộng cho một ngư ông rằng ông không thể ăn được cơm mà họ rắc xuống vì có một con rồng đã ăn hết. Vị quan nói với ngư ông hãy gói cơm trong lá cây ngải cứu thành hình kim tự tháp, bên ngoài buộc bằng chỉ ngũ sắc. Chỉ như vậy mới có thể xua đuổi con rồng và ông mới có thể ăn được cơm. Đây là câu chuyện đằng sau cuộc đua thuyền và những chiếc bánh làm từ gạo nếp mà người dân thường ăn trong dịp lễ hội thuyền rồng.

Với người dân Trung Quốc, lễ hội thuyền rồng không chỉ là dịp để tưởng nhớ vị anh hùng yêu nước Khuất Nguyên, mà đó cũng là ngày để xua đuổi tà ma, bệnh tật và cầu bình an trong cuộc sống. Bởi vậy mà người dân cũng thực hiện rất nhiều phong tục độc đáo: dọn dẹp nhà cửa và tắm nước thảo mộc giúp ngăn ngừa các bệnh ngoài da; treo cây ngải cứu và lá ngải cứu lên khung cửa nhà để xua đuổi sâu bọ và các động vật có độc; mang theo túi đựng nước hoa để khỏi bị côn trùng cắn và các vấn đề về da khác; chuẩn bị trước đầy đủ nước và tránh lấy nước từ giếng (vì theo mê tín dị đoan, nước trong giếng vào ngày đó rất độc); Dán chân dung các vị thần có hình dáng xấu xí, hung dữ lên cửa hoặc treo trong phòng để xua đuổi tà ma, bảo vệ ngôi nhà của mình; đeo vòng tay chuỗi ngũ sắc cho trẻ em với hi vọng may mắn và sức khỏe…

Lễ hội thuyền rồng gồm có 2 phần chính: phần lễ và phần hội. Trong phần lễ những ngư dân tại đây sẽ dâng hương cúng nhằm thể hiện sự kính trọng của họ đến tổ tiên, cùng với các vị thần linh của sông nước. Nó được xem là phần quan trọng, tất yếu không thể thiếu trong lễ hội. Tiếp theo đó sẽ diễn ra phần hội, đó chính các cuộc thi đua thuyền được diễn ra rất gay gắt, và thu hút được rất nhiều sự chú ý của người dân. Các nhóm sẽ cùng cạnh tranh quyết liệt cùng tiếng trống vang dội khắp dòng sông.

Không chỉ có thi đua thuyền, trong lễ hội còn có rất nhiều hoạt động vui nhộn và hấp dẫn khác như: thi uống rượu, thi nấu cơm trên thuyền, thi điêu khắc đầu rồng,…

Tham gia lễ hội thuyền rồng ngoài việc được hoà mình không khí, sôi động náo nức của lễ hội. Bên cạnh đó, trong lễ hỗi còn có sự xuất hiện của nhiều món ăn mang đậm màu sắc ẩm thực của truyền thống Trung Quốc. Trong đó không thể thiếu món bánh Zongzi (Bánh đậu nếp). Những chiếc bánh nếp hình tam giác xinh xinh với nhân đậu đỏ thơm ngon đã chứa đựng trong mình một truyền thống đề cao tiết tháo, cũng như góp phần tô điểm cho lễ hội thuyền rồng thêm phần rực rỡ, phong phú. Ở mỗi địa phương khác nhau lại có phiên bản Zongzi khác nhau. Nhưng về cơ bản, Zongzi là bánh nếp hấp lá tre có nhân đậu. Để tạo hình tam giác thật đúng chuẩn cho bánh, người ta thường cuốn lá tren vào một vật hình phễu, đổ nhân vào rồi mới gói lại. Bánh có lớp vỏ bằng nếp dẻo bùi, thơm mùi lá non, cùng lớp nhân đậu beo béo sần sật, tuy cách làm đơn giản nhưng hương vị thơm ngon khó quên.

Theo phong tục của người Trung Quốc, ngoài ăn bánh Zongzi, người ta còn ăn Jiandui (Bánh rán mè). Cũng như Zongzi, nhân chính của Jiandui là đậu, và loại đậu được ưa thích nhất là đậu đỏ. Màu đỏ tượng trưng cho sự thịnh vượng, dồi dào và may mắn rất được người Trung Hoa ưa dùng vào những dịp lễ lạc, đặc biệt là trong lễ hội thuyền rồng náo nhiệt với hàng trăm con thuyền khoe sắc.

Ngoài ra, các món ăn từ lươn, món trứng hấp trà, và bánh Dagao (làm bằng cách đập gạo nếp luộc thành bột nhão) cũng là những món ăn “có mặt” trong mỗi dịp lễ hội thuyền rồng.

Nếu du khách là một người yêu thích văn hoá Trung Quốc thì vào 5/5 âm lịch hãy đến và hoà mình vào lễ hội thuyền rồng sôi động này nhé! 

Nét tinh tuý trong nghệ thuật cắt giấy của Trung Hoa

Nói đến Trung Quốc – một đất nước với nền văn hóa đặc trưng thì không thể không nhắc đến một loại hình nghệ thuật hết sức đặc biệt: nghệ thuật cắt giấy. Đây là loại hình nghệ thuật dùng dao hoặc kéo để khắc hoa văn hình ảnh trên giấy. Giấy được cắt ra dùng để trang trí nhà, hoặc dùng trong các dịp lễ tết, thọ, hỉ khi phối hợp với các văn hóa dân gian.

Nghệ thuật cắt giấy ở Trung Quốc gần như song hành với lịch sử phát minh ra giấy thời nhà Hán. Các phát hiện khảo cổ cho thấy nghệ thuật truyền thống này bắt đầu từ thế kỷ thứ 6, thậm chí còn có thể sớm hơn, và rất thịnh hành ở đất nước gấu trúc từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ thứ 13. Đến thế kỷ thứ 14, nó bắt đầu được phổ biến ra thế giới…

Từ thời Tây Hán trước công nguyên, nghệ thuật cắt giấy với hình thức sơ khai là cắt hoa trên da động vật hoặc mảnh đồng. Nghệ thuật cắt giấy có nguồn gốc từ các nghi lễ cúng của người Trung Hoa với tổ tiên với ước mong bất tử. Từ đây phong tục cắt giấy theo các mẫu thiết kế được hình thành.

Thời nhà Đường, nghệ thuật cắt giấy đã được nhà thơ Đỗ Phủ nhắc đến trong thơ: “Nước nóng cho rửa ráy / Tiểu chỉ để chiêu hồn”. Theo tục lệ địa phương thời đó, nếu viết chữ lên giấy và dán lên tường có thể trừ tà cho các vị khách. Vì vậy, ngày nay việc dùng giấy để trang trí cờ hiệu cũng khá phổ biến.

Vào khoảng thế kỷ V, tại ba ngôi mộ ở Thổ Lỗ Phồn khu tự trị Tân Cương cũng tìm ra dấu vết về nghệ thuật cắt giấy như hình mẫu “ngôi nhà và bó hoa”. Đến thế kỷ VI – IX, tranh giấy cũng được trang trí trên các đồ trang sức, nón, trống đồng… Ví dụ như các mẫu vẽ được dùng để trang trí nón được tìm thấy ở thành phố Tây An, những lá vàng và bạc được khắc sau gương đồng tìm thấy ở quận Giang Châu (Quảng Tây).

Trước thể kỷ XIII, con người đã sử dụng các mẫu vẽ để trang trí trên các đồ gốm. Ngoài ra, vải in màu chàm được tìm thấy ở tỉnh Sơn Tây cũng là nhờ việc đổ bột nhão vào các mẫu vẽ, sau đó đặt vải vào mà thành các mẫu vẽ độc đáo.

Từ thế kỷ XIX đến thế kỷ XVII, nghệ thuật cắt giấy đã được sử dụng khá rộng rãi để trang trí dèn lồng và quạt xếp. Đến thế kỷ XX, hình giấy cắt lúc này đã được dùng trong hoàng tộc do độ độc đáo đã được nâng lên rất nhiều. Cung điện thời nhà Thanh được dán các hình vẽ rồng phượng. Và thay vì thêu các hình vẽ người ta đã cắt giấy và dán chúng lên áo hoàng bào.

Như vậy, có thể thấy rằng, nghệ thuật cắt giấy rất được coi trọng. Thậm chí, giới nữ trong Hoàng triều được đánh giá bằng khả năng cắt giấy và đây cũng từng là một trong những yếu tố để chọn dâu của người Trung Quốc.

Đa phần các nghệ sĩ cắt giấy là nữ giới, chủ đề của họ thường bao gồm mọi thứ từ bình dị đến phức tạp trong cuộc sống hàng ngày. Chính sự hiểu biết cuộc sống thường nhật đó khiến phụ nữ thấu hiểu và cảm nhận sâu sắc tinh thần thực sự của nghệ thuật này. Tuy nhiên, ngày nay những người thợ cắt giấy chuyên nghiệp lại là đàn ông. Họ có thu nhập ổn định và cùng làm việc trong các xưởng thủ công.

Công cụ chính để tạo ra các tác phẩm cắt giấy không phải gì khác ngoài những chiếc kéo. Một khi được sở hữu bởi các nghệ nhân, chúng sẽ trở thành một vật dụng siêu phàm và những tác phẩm công phu dần hiện ra từ những nhát kéo đầy tính nghệ thuật. Một trong những dụng cụ khác không thể thiếu là những chiếc dao với các kích cỡ khác nhau, rất cần thiết để tăng cường độ sắc nét hoặc tạo ra những nét thanh nhấn tinh tế cho các tác phẩm cầu kỳ. Tranh giấy được cắt hoàn toàn bằng thủ công đòi hỏi sự cần mẫn, tỷ mỉ và tập trung của người thực hiện. Chúng ta có thể dễ dàng cắt tranh giấy nhưng rất khó để có thể đạt được trình độ kiệt tác. Bởi ngoài khả năng tưởng tượng phong phú, cũng cần phải biết cách làm chủ chiếc kéo, con dao, đưa những nhát cắt ngọt với những lực phù hợp để tạo được những đường cong mềm mại, không bị xiên xẹo, bờm xờm cho tác phẩm.

Có hai kiểu cắt giấy là dùng kéo và dùng dao. Với kiểu dùng kéo, người ta có thể cắt chồng một lúc nhiều mảnh giấy cho nhanh, thậm chí lên tới 8 tờ. Để tác phẩm được đẹp, ngoài sự khéo léo đương nhiên của người thực hiện, bí quyết ở đây còn là mũi kéo phải thật sắc. Kiểu cắt thứ hai là bằng dao. Người ta sẽ đặt một vài lớp giấy trên một bề mặt phẳng mềm, sau đó người nghệ sĩ sẽ dùng dao nhọn, sắc rạch theo chiều thẳng đứng tạo nên những đường nét cho tác phẩm. Cắt bằng dao có một lợi thế là người sáng tạo có thể thực hiện hoàn hảo những chi tiết nhỏ, mảnh mà dùng kéo khó có thể làm được. Ngoài ra, màu giấy cũng rất được chú trọng, thực tế, các tác phẩm có thể được thực hiện ở bất cứ màu sắc nào nhưng màu đỏ luôn là ưu tiên hàng đầu.

Đề tài cho nghệ thuật cắt giấy thì có muôn hình vạn trạng, từ động vật chim muông đến phong cảnh, con người và cả những nhân vật dân gian, nhân vật trong các tác phẩm văn học cổ, những hình tượng như 12 con giáp, cũng không thể thiếu những câu chúc như “An khang thịnh vượng”, “mọi điều tốt lành” và lồng vào đó là những hình cắt về những vật xung quanh như hàng cây, cánh đồng… những vật bình dị xung quang cuộc sống. Nói chung, bất cứ đề tài nào con người cũng có thể mô phỏng và hiện thực hóa trên những mảnh giấy màu theo những cung bậc sáng tạo riêng của từng người.

Không nghi ngờ rằng những mẫu giấy màu được cắt một cách công phu, cầu kì có khả năng tạo ra bầu không khí vui vẻ, một không gian truyền thống ấm cúng. Có lẽ chính vì vậy, các tác phẩm cắt giấy thường được dán ở đám cưới hay các lễ hội, tết nhất ở Trung Quốc cùng với những khao khát được mang lại may mắn, hạnh phúc bền lâu. Ngày nay, nghệ thuật cắt giấy chủ yếu là để trang trí, chúng được dán trên tường, cửa sổ, cột nhà, gương, đèn lồng ở nhà hay làm quà. Ngoài ra, các mẫu cắt giấy còn được sử dụng như làm mẫu thêu và tác phẩm sơn mài.

Ra đời từ thủa xa xưa, nhưng sự sáng tạo của nghệ thuật cắt giấy vẫn còn trường tồn với thời gian. Và Trung Quốc rất có ý thức bảo tồn nghệ thuật này qua rất nhiều hiệp hội tranh giấy cắt mang tính toàn quốc, các cuộc triển lãm, cuộc thi cắt giấy…

Nghệ thuật cắt giấy tinh túy đã góp phần tạo nên một nền văn hóa Trung Hoa đặc sắc, và đây cũng là một trong những lý do thu hút lượng lớn khách du lịch quốc tế tìm đến khám phá hàng năm. Nếu du khách cũng yêu thích nền văn hóa truyền thống của vùng đất rộng lớn này thì hãy tham gia ngay tour Trung Quốc nhé!

Thư pháp – môn nghệ thuật tinh tuý của đất nước Trung Hoa

Trung Quốc có nền văn hóa tồn tại qua hàng ngàn năm, thấm nhuần trong dòng máu của những người dân nơi đây. Một số nét văn hóa đã trở thành truyền thống và thói quen của người Trung Hoa trong đời sống, học tập và làm việc của họ. Một trong số đó là nghệ thuật thư pháp.

Thư pháp, nếu hiểu một cách nôm na theo cách chiết tự thì: “Thư” là viết, ghi chép lại; “Pháp” là hình pháp, mẫu mực, cách thức, phép tắc. Như vậy, “Thư pháp” là mẫu mực của chữ viết, hay hiểu cách khác là nó đã được nâng tầm lên thành một môn nghệ thuật riêng biệt. 

Thư pháp Trung Hoa được hình thành từ rất sớm: vào khoảng thế kỷ thứ II – IV. Từ đó, nó trở thành một môn nghệ thuật tao nhã của các tao nhân và người có học.

Nghệ thuật thư pháp giúp người ta rèn luyện óc thẩm mỹ cũng như nâng cao tính kiên nhẫn của mỗi người theo học. Đối với người Trung Quốc, thư pháp không phải ai cũng học tập và lĩnh hội được hết cái hay của nó mà phải trải qua khổ luyện, tu tâm dưỡng tính, nuôi dưỡng tình cảm. Người Trung Quốc có câu: “Thư pháp khả dĩ tu tâm dưỡng tính, đào dã tâm tình” (Thư pháp có thể khiến người ta tu tâm dưỡng tính, rèn luyện tình cảm). Người chơi và viết thư pháp cũng lắm công phu: Phải biết cách đặt thân đúng, đặt bút đúng theo các quy tắc riêng, mắt nhìn thẳng, dụng bút phải chuẩn, thời gian luyện tập dài, không được nóng vội.

Thư pháp gắn với “Văn phòng tứ bảo” gồm có: giấy, mực, nghiên, bút, mỗi thứ phải tuân theo quy cách, phải đúng loại thì chữ mới đẹp được. Giấy phải là loại giấy “xuyến chỉ” đắt tiền, mực thì dùng loại mực thỏi hoặc mực trấp pha theo tỉ lệ và phải điều tiết khi viết, nghiên mực phải có độ nghiêng nhỏ để tránh bị đọng mực. Bút lại càng phức tạp hơn, bút chuyên dụng để viết thư pháp gồm các loại tiểu, trung, đại, phải có mao quản (ngòi bằng lông để có thể thấm mực dễ dàng), phải có đủ các bộ phận: Đào tuyến (sợi dây để treo bút), bút quản (quản bút bằng trúc), bút hào (búp lông giống búp sen), bút căn (phần lông gắn với quản bút). Vậy mới thấy, thú chơi thư pháp công phu và tỉ mỉ như thế nào.

Chữ viết thể hiện trong thư pháp thường là chữ Hán hoặc chữ Nôm theo các phong cách khác nhau. Mỗi phong cách lại có những đặc trưng riêng về cách thể hiện. Ngày nay trên Thế giới có 5 phong cách viết thư pháp là Khải, Triện, Lệ, Hành và Thảo. Khải thư là kiểu chữ được sử dụng phổ biến và thông dụng nhất ngày nay. Nó được dùng trong lĩnh vực quảng cáo, in ấn. Đặc biệt là loại chữ dành cho những người mới bắt đầu học chữ Hán. Khải thư có bố cục ngay ngắn theo dạng hình vuông, được viết chậm rãi và cẩn thận. Khác với các loại chữ khác, khi viết thì ngòi bút được nhấc lên khỏi mặt giấy. Triện Thư là loại chữ thư pháp có lịch sử lâu đời và được lưu hành rộng rãi. Triện thư gồm 2 kiểu chữ là Đại Triện và Tiểu Triện. Đây là loại chữ thư pháp kiểu cổ, các nét thanh, bố cục đơn giản. Lệ thư là bước phát triển cao hơn của Triện thư. Hầu hết nét bút của Lệ thư là những nét vuông thể hiện sự mạnh mẽ, đơn giản về đường nét. Hành thư là loại chữ thư pháp gần giống với chữ viết tay thông thường. Khác với các kiểu chữ khác, chữ Hành thư khi viết thì ngòi bút ít nhấc lên khỏi mặt giấy. Chính vì thế các nét chữ trong cùng một chữ được viết nối liên tục nhau. Hành thư có đường nét phóng khoáng, dễ đọc, bố cục chữ tròn trịa, ít góc cạnh. Thảo thư là kiểu chữ mang tính nghệ thuật cao, thiên về cảm hứng của người viết. Các nét chữ được biến tấu đầy thi vị, thanh thoát, tốc độ viết nhanh chóng. Các nét chữ thể hiện sự liên kết, uyển chuyển tạo nên sự liên hoàn cho các bộ chữ. Khi viết, ngòi bút được hạn chế nhấc lên khỏi mặt giấy. Thảo thư được viết để thể hiện đại ý của văn tự, chính vì thế mà không phải ai cũng có thể thưởng thức được loại thư pháp này.

Một tác phẩm thư pháp là thể hiện giữa thư thể và thư gia. Nội dung và hình thức của thư pháp phải hòa hợp để xác định bố cục và thư thể trong tác phẩm. Người viết thư pháp phải trải qua thời gian tìm hiểu và khổ luyện lâu dài mới có thể vẽ nên những nét tựa “rồng bay phượng múa”. 

Khi thưởng thức một tác phẩm thư pháp, người ta thường đánh giá nó qua bút pháp và sự sáng tạo của tác giả, thể hiện qua từng nét bút nhanh – chậm, độ đậm – nhạt của mực hay sự tương phản giữa giấy và mực.

Thư pháp của người Trung Hoa được xem như một loại hình nghệ thuật, thậm chí là một môn học với đầy đủ cơ sở lý luận mà người ta gọi là “Thư học”. Thư pháp đòi hỏi có sự khổ luyện cao, người viết nếu thiếu kiên nhẫn sẽ khó học thành, như câu nói: “Học thư vô nhật bất lâm trì” (Học thư pháp không có ngày nào mà không vào ao). Thuật ngữ “lâm trì” chỉ sự khổ luyện thư pháp xuất phát từ giai thoại của thư pháp gia Trương Chi mỗi ngày luyện tập viết chữ xong lại rửa bút ở ao khiến nước đen như mực (Lâm trì học thư, trì thủy tận mặc). Về sau này, “lâm trì” được dùng để chỉ sự luyện tập thư pháp. Ngược dòng lịch sử Trung Hoa, thời đại nào cũng có những nhà thư pháp lẫy lừng với phong cách rất riêng. Thời Hán với Trương Chi say mê thư pháp, không có giấy phải viết lên vải lụa cho đến khi không còn chỗ viết thì đem nhuộm để cắt may thành quần áo mặc. Sau này, thư pháp gia nổi tiếng Vương Hi Chi (nhà Tấn) noi gương Trương Chi mà bỏ đến 15 năm rèn luyện chữ nghĩa để trở thành “Thư thánh” (một trong Thập Thánh được dân gian Trung Quốc ca ngợi và truyền tụng). Thế mới thấy, nghệ thuật con chữ có sức hút thật mãnh liệt với người đời xưa.

Nghệ thuật viết chữ đẹp của người phương Bắc phải kể đến Vương Hi Chi và dòng dõi nhà ông. Vương Hi Chi ngày trước bắt đầu luyện chữ thư pháp bằng cách viết chữ “Vĩnh” (chữ hội tụ đầy đủ tám nét cơ bản trong cách viết chữ Hán), tạo nên “Vĩnh tự bát pháp” – bài học cơ bản cho người tập viết thư pháp. Không chỉ có Vương Hi Chi mà con cháu ông cũng say mê nghiên cứu thư pháp. Con trai ông Vương Hiến Chi cũng yêu thích viết chữ không kém gì cha nên ngay từ thuở nhỏ đã gánh nước đổ đầy 18 chum nước để mài mực. Hai cha con Vương Hi Chi và Vương Hiến Chi nổi tiếng với lối viết chữ Thảo, được người đời xưng tụng là “Thảo Thánh Nhị Vương” (Hai vị vua của lối viết chữ thảo), chữ thảo của hai ông mềm mại, uyển chuyển, trở thành khuôn mẫu của cách viết chữ thảo cho hậu thế luyện theo. Dòng dõi nhà Vương Hi Chi còn phải kể đến nhà sư Thích Trí Vĩnh (Vĩnh Thiền Sư), tương truyền là cháu bảy đời của Vương Hi Chi, sống đời nhà Tấn, là người khổ luyện thư pháp nhiều đến nỗi thoái bút (bút bị cùn do viết chữ) chất cao thành gò. Vĩnh Thiền Sư tu luyện ở chùa Vĩnh Hân, yêu thích thư pháp đến nỗi 40 năm luyện chữ trên lầu chùa mà không xuống đất (Đăng lâu bất hạ tứ thập niên, Thiền Sư cũng là người kế tục và nghiên cứu, phát triển “Vĩnh tự bát pháp” (Tám nét tạo thành chữ “Vĩnh”) đã được khởi xướng từ thời ông tổ bảy đời Vương Hi Chi. Giai thoại về Vĩnh Thiền Sư kể lại rằng: Khi nhà sư đã luyện chữ đạt đến mức độ điêu luyện, người người biết đến ông, ham thích và mong muốn sở hữu chữ ông đã chen lấn nhau xin chữ dẫm nát ngạch cửa đến nỗi phải lấy sắt bao lại, gọi là “Thiết môn hạn”. Nhà Đường có nhà sư Hoài Tố nhà nghèo không có tiền mua giấy, phải tập viết trên lá chuối mà được xưng tụng là “Thảo thánh”. Dần dần, người yêu thích thư pháp không chỉ là bậc vua chúa, kẻ sĩ mà còn có cả thứ dân cũng rất thích mà ngày nay còn lưu truyền nhiều câu chuyện thú vị: Đường Thái Tông rảnh rỗi lại luyện “Trừu không luyện tự” (lấy ngón tay mà viết chữ vào không khí), nửa đêm đốt đuốc luyện Lan Đình tự (chữ của Vương Hi Chi trong “Lan Đình tập tự”) thật đáng khâm phục. Lương Vũ Đế vì quá ham thích nét chữ Thư Thánh đã truyền lệnh thu thập bút tích và ra lệnh trong cung phải lấy chữ viết của Vương Hi Chi làm chuẩn, nhà vua còn sai Chu Hưng Tự soạn “Thiên tự văn” bằng bốn cách viết thư pháp của Vương Hi Chi, dùng nó làm phương tiện dạy chữ Hán và viết thư pháp trong cung còn lưu truyền tới ngày nay.

Thư pháp đồng hành với sự phát triển và ổn định của chữ Hán, có lịch sử trải dài và thời đại nào cũng có những thư gia tiêu biểu với dấu ấn cá nhân không pha trộn. Đời nhà Tần không thể không kể đến “đệ nhất thư pháp gia” – Tể tướng Lý Tư, Triệu Cao hay Mẫu Kính. Nhà Hán cũng góp mặt những thư gia như Sử Du, Trương Chi, Tào Hỷ, Sái Ung, Lương Hộc, Lưu Đức Thăng… Đời Tam Quốc và Tây Tấn có Hàm Đan Thuần, Vỹ Đản, cha con Vệ Ký – Vệ Cẩn, Lục Cơ… Đời Đông Tấn có gia đình Vương Hi Chi – Vương Hiến Chi – Vương Tuần – Vương Dân. Thư pháp đời Nam Bắc triều có Bạc Thiệu Chi, Vương Tăng Kiều, Đào Hoằng Cảnh, Vương Bao… Xuôi đến thời thịnh vượng nhất của thư pháp chữ Hán là đời Tùy – Đường cũng sản sinh nhiều cái tên như: Trí Vĩnh, Đinh Đạo Hộ, Âu Dương Tuân, Ngu Thế Nam, Lục Giản Chi, Vũ Tắc Thiên, Lý Ung, Trương Húc, Hàn Trạch Mộc, Hạ Tri Chương, Nhan Chân Khanh, Liễu Công Quyền, Đỗ Mục, Cao Nhàn… Đời Ngũ Đại với Dương Ngưng Thúc, Từ Huyễn… Đời Tống có Lý Kiến Trung, Vương An Thạch, Tô-Hoàng-Mễ-Sái (Tô Thức, Hoàng Đình Kiên, Mễ Phế, Sái Tương), Nhạc Phi, Lục Du, Vương Đình Quân… Đời nhà Nguyên có Triệu Mạnh Phủ, Tiêu Vu Khu, Nghê Tán,… Đời Minh – Thanh với những cái tên tiêu biểu như: Cha con Tống Liêm – Tống Thoại, Trần Hiến Chương, Thẩm Chu, Hình Đồng, Trương Thụy Đồ, Phó Sơn, Vương Đạc, Kim Nông, Bao Thế Thần, Hà Thiệu Cơ, Trần Diệc Hi, Tề Bạch Thạch, Trịnh Bản Kiều… Ngay cả đến thời hiện đại, số lượng thư gia cũng hết sức nhiều, có thể kể đến vài cái tên như: Trịnh Văn Trác, Tăng Hi, Hoàng Tân Hồng, Hồ Tiểu Thạch, Lỗ Tấn, Quách Mạt Nhược, Vu Hữu Nhiệm, Mã Nhất Phù,…

Trên đây chỉ là vài cái tên tiêu biểu nhất của nghệ thuật thư pháp chữ Hán qua các triều đại. Kỳ thực, số lượng các nhà thư pháp Trung Hoa còn rất nhiều và ngày càng có nhiều người tiếp nối bộ môn nghệ thuật này. Điểm qua một số cái tên như vậy cũng đủ để thấy sức hấp dẫn lòng ham thích nghiên cứu, luyện tập của người Trung Quốc lớn thế nào. Thư pháp tinh tế không chỉ ở chỗ phải trải qua khổ luyện mới có nét chữ đẹp, có hồn, mà nghệ thuật “cho chữ” cũng là một nét văn hóa. Chữ được viết ra là kết tinh của những năm tháng khổ luyện không ngừng của người viết, nó còn thể hiện cảm xúc, tình cảm và suy nghĩ của người tạo chữ. Chính vì thế, việc cho chữ cho ai cũng là điều mà các thư gia hết sức coi trọng, không phải ai cũng được tặng chữ. Văn hóa Trung Quốc nặng lễ nghĩa, coi trọng sách vở, chữ nghĩa, người có học luôn được trọng vọng, làm quan cũng lấy chữ nghĩa làm đầu, lời nói của người nhiều chữ rất có trọng lượng… tâm lý ấy không chỉ tồn tại trong xã hội mà ngay trong cả phạm vi gia đình truyền thống người Hoa, kẻ thất học không bao giờ được xem trọng, khó có thể thay đổi địa vị của mình. Mặt khác, viết thư pháp lại được xem là nghệ thuật của chữ nghĩa, do đó người viết cũng không thể tặng chữ mình cho đối tượng mình không xem trọng. Rất khó để có thể ép một thư gia viết chữ khi tâm họ không mong muốn, vì khi đó nét chữ sẽ không đẹp vì tấm lòng không thỏa mãn. Truyền thống từ ngày xưa để lại, các nhà thư pháp chỉ tặng chữ chứ không đem ra bán như bây giờ, họ cũng chỉ tặng anh em, bạn bè thân hữu mà họ quý mến, tuyệt đối không cho chữ tùy tiện. Người được tặng chữ phải là người có học, biết quý trọng và nâng niu chữ mình được tặng. Người Trung Quốc thường treo chữ thư pháp ở giữa gian phòng khách, hay bên cột nhà chính, hay trước cửa, cổng nhà, đình, thể hiện sự trang trọng, đề cao chữ được tặng, xem chữ là một vật quý giá trong nhà, ở những vị trí đặc biệt quan trọng trong không gian sống.

Trên đây là một vài nét về nghệ thuật thư pháp của Trung Hoa. Nếu du khách là người yêu thích môn nghệ thuật  tinh túy này thì hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc để có cơ hội khám phá nhé! Chúc các du khách có một chuyến đi vui vẻ và thú vị!