Phục trang của các phi tần thời nhà Thanh

Gần đây, các bộ phim cổ trang đang rất được chú ý, hầu hết các hãng phim đều đang cố gắng hết sức để lột tả được chân thực nhất đời sống cũng như những phục trang mà người xưa thường sử dụng. Trong đó, triều đại nhà Thanh là thời đại có nhiều quy tắc lễ nghi được đánh giá là phức tạp nhất trong lịch sử phong kiến Trung Hoa.

Trong nghi thức về phục trang thời nhà Thanh, với một nữ nhân trong hậu cung, về cơ bản có 3 loại phục trang được mặc, đó là: Triều phục, Cát phục, Thường phục.

Thường phục là loại mặc thường ngày, không có quy định cụ thể. Nhưng với Triều phục và Cát phục thì luôn cần phải chuẩn chỉnh, bởi điều đó thể hiện vinh hiển của Đại Thanh. Và dù là trang phục nào thì cũng là yếu tố thể hiện địa vị, nên sẽ có sự khác biệt nhất định với từng người.

Triều phục là trang phục dành cho các dịp cực kỳ trọng đại, như lễ sắc phong hoặc đại lễ. Quy định bộ triều phục của một hậu phi thời nhà Thanh là tương đối phức tạp, với ít nhất là 10 yếu tố tạo thành, bao gồm: Triều quan (mũ), Kim ước (dây đeo trán để giữ triều quan), Nhị (hoa tai), Lãnh ước (kiềng trên cổ), Triều châu (bộ dây ngọc khoác bên ngoài), Thải thuế (dây rũ bằng vải trước ngực), Triều quái (áo khoác mặc ngoài triều bào), Triều bào (áo chính), Triều váy (Có 2 loại: có áo hoặc không dựa theo hiện vật thật), và Triều ủng (giày).

Để chi tiết hơn thì từ ngoài vào trong sẽ gồm 3 lớp là Triều quái, Triều bào và Triều váy. Trong đó, Triều phục của Hoàng thái hậu và Hoàng hậu là đồng dạng. Các mệnh phụ cấp cao (phu nhân của đại công thần trong triều) thì có Triều phục giống nữ nhân mang tước vị Tần. Và cũng phải từ tước Tần trở lên mới được phép có Triều quái, Triều bào và Triều quan thôi.

Cát phục là thứ phục sức đặc biệt nhất, bởi trong tất cả các triều đại, chỉ có nhà Thanh là hình thành quy định chính thức mà thôi.

Khác với Triều phục chỉ được mặc trong các dịp rất trọng đại, thì vào các dịp lễ ít trang trọng hơn, các hậu phi sẽ mặc Cát phục. Về cơ bản, loại trang phục này cũng giống như Thường phục, nhưng có thêm hoa văn và trang sức mỹ lệ hơn, nên còn được gọi là “Thải phục” hay “Hoa y”.

Một bộ cát phục bao gồm: Long quái và Long bào. Long quái: áo mặc ngoài, có xẻ vạt, thân áo dài, ống tay tương đối dài, đều có màu xanh đen (tức là Thạch Lam sắc). Long quái của Hậu phi chỉ xẻ đằng sau, trong khi của Đế vương là xẻ cả trước sau. Long bào: mặc bên trong, cũng là áo chính của bộ Cát phục. Áo cổ tròn, ống tay áo dạng Mã đề tụ, xẻ vạt trái phải, thân áo dài, viền cổ áo có hoa văn. Có thể chỉ cần mặc Long bào, không cần khoác Long quái.

Có thể thấy, cụm từ “Long bào” cũng được dùng với Cát phục của các nữ nhân chứ không chỉ Hoàng đế. Nhưng tất nhiên, màu sắc phải khác nhau, tùy theo địa vị. Thái hậu, Hoàng hậu và Hoàng Quý phi có Long bào màu Minh hoàng. Kế đến tước Quý phi và Phi dùng màu Kim hoàng, còn Tần thì dùng màu Hương (màu có tone nâu đất, trầm ấm).

Với Long quái, tùy vào địa vị mà hoa văn sẽ có khác biệt. Long quái có thêu rồng vàng 5 móng (Ngũ trảo kim long) được dành cho Hoàng hậu, Hoàng Quý phi, Quý phi và Phi. Riêng tước Tần, phần vạt áo phải theo Quỳ ong – hình rồng lượn trong một hình tròn nhưng không quay chính diện).

Không chỉ quần áo trang phục, mà các phụ kiện cũng là yếu tố thể hiện địa vị của người đeo một cách rõ ràng. Hơn nữa, một số phụ kiện được yêu cầu có mặt trên Triều phục, nên hiển nhiên phải thực hiện theo quy định. Có thể kể đến: 

Lưu tô

“Lưu tô” là tên gọi của những loại trang sức dạng móc treo dài, có thể dùng để gắn lên búi tóc của các phi tần. Trong phim Hoàn Châu Cách Cách, nó là một đoạn dây tua rua màu đỏ, được gắn trên chiếc mũ lớn đội đầu của các phụ nữ trong hậu cung. Còn trong Chân Hoàn Truyện, nó lại được làm bằng các chuỗi ngọc trai kết lại với nhau.

Món trang sức này được tạo ra với mục đích khi người phụ nữ bước đi, sợi dây cũng nhẹ nhàng đung đưa theo. Nó mang lại cảm giác “yểu điệu thục nữ” – một hình tượng mà các nữ nhân trong xã hội cổ đại đều hướng đến.

Trâm cài tóc

Đối với những người ở thời cổ đại, việc cài trâm mang ý nghĩa một cô gái đã chính thức trở thành một người phụ nữ (sau khi kết hôn). Đến thời nhà Thanh, trâm cài tóc đã có nhiều hình thức và kiểu dáng hơn, bao gồm cả mặt thẩm mỹ và tính thực dụng.

Nó được làm bằng các chất liệu chủ yếu như: ngọc, phỉ thúy, mã não, vàng, bạc… Những loại chất liệu làm trâm này cũng phụ thuộc vào thân phận và cấp bậc trong xã hội hay trong gia đình, cung cấm của người phụ nữ. Đồng thời, những chất liệu này cũng có sự liên quan đến yếu tố thời tiết. Ví dụ như: đông xuân thì cài trâm vàng, đến lập hạ sẽ đổi sang trâm ngọc.

Áp khâm

Món đồ hay được các phi tần đeo trước ngực có tên gọi là Áp khâm – một loại trang sức lưu hành dưới thời Minh – Thanh, làm từ những chất liệu đá quý như hạt châu, ngọc hoặc tơ tằm, kim loại tùy vào địa vị, thân phận của chủ nhân. Áp khâm được đeo trên chiếc nút cài thứ hai tính từ cổ xuống của vạt áo bên phải. Những mỹ nhân trong Diên Hi công lược cũng đeo áp khâm khi diện Kỳ bào. Món phụ kiện này được kết từ nhiều hạt tròn, có thể dùng làm một loại vòng tay, tùy mục đích sử dụng.

Ban đầu, Áp khâm được làm hoàn toàn từ kim loại, thường là bạc, dài 28cm, nặng 40g. Phần trên khép kín gọi là hoa lam, bên trong hoa lam có khi được đặt thêm hương liệu như trầm hương, đàn hương, long não,… Phần đuôi kiểu sợi chuỗi buông tỏa gọi là ngân liên. Về sau dần dần xuất hiện kiểu áp khâm chuỗi hạt và có phần đuôi làm từ tơ. Bên cạnh việc làm đồ trang sức, Áp khâm còn có một công dụng để giữ cố định cho vạt áo không bị xộc xệch khi di chuyển, giữ sự kín đáo tinh tế cho người dùng (Áp là giữ, đè chặt, Khâm là vạt áo).

Kiềng đeo cổ (Lãnh ước)

Kiềng đeo trên cổ Triều phục là một điểm để phân giai cấp trong Hậu cung, giữa những cấp bậc khác nhau. Hoàng hậu có 11 Đông châu, ở giữa lấy San hô, dây rũ ở 2 đầu dùng màu Minh hoàng, ở giữa các dây sức San hô, ở đuôi các dây sức đá Ngọc lam. Hoàng quý phi có 7 Đông châu, ở giữa lấy San hô, dây rũ ở 2 đầu dùng màu Minh hoàng, ở giữa các dây sức San hô, ở đuôi các dây cũng sức San hô. Các quý phi sẽ diện màu dây là Kim hoàng, còn lại như Hoàng quý phi.

Nhẫn móng tay (hộ giáp)

Nhẫn móng tay còn được gọi là “móng tay giả” hay “hộ giáp”. Nó đã xuất hiện rất lâu, từ tận thời Chiến quốc. Người Trung Quốc xưa quan niệm rằng tóc, móng tay là của cha mẹ sinh ra, vì vậy tránh cắt đi mà cứ để chúng mọc dài tự nhiên.

Tóc thì không sao, nhưng móng tay mọc dài rất vướng víu, dễ gãy. Vì vậy, người ta bắt đầu chế ra “hộ giáp” với mục đích đơn thuần ban đầu là bảo vệ phần móng tay dài. Và chỉ có người xuất thân cao quý, thuộc tầng lớp trung lưu trở lên mới “nuôi” móng tay dài và dùng hộ giáp. Không chỉ phụ nữ thôi đâu mà cả nam nhân cũng có thể dùng phục sức này.

Lâu dần thành thói quen, hộ giáp đã trở thành thứ phụ kiện biểu trưng cho vẻ đẹp và quyền lực của các bậc cao cao tại thượng, là phục sức không thể thiếu của phái nữ (vì họ ở khuê phòng, ít ra ngoài nên dễ “nuôi” móng tay hơn).

Đến thời nhà Thanh, hộ giáp lại được nâng tầm và gắn liền với phi tần mỹ nữ chốn cung đình. Nó không còn món đồ bảo vệ móng đơn thuần mà là dấu hiệu phân cấp địa vị, quyền lực. Hoàng hậu, quý phi dùng hộ giáp bằng vàng, bạc, ngọc trai, mai rùa,… Các phi tần thứ bậc thấp thì dùng hộ giáp bằng đồng, ngà, men sứ… Họa tiết chạm khắc trên hộ giáp cũng vô cùng tinh xảo, hoàng hậu chạm khắc hình phượng hoàng. Hộ giáp của Thái hậu lại khắc hình chữ “vạn”, chữ “thọ”. Một số hộ giáp còn có thể uốn cong theo khớp ngón tay.

Đặc biệt, Từ Hy Thái hậu từ người bảo dương hộ giáp của mình kĩ càng nhất. Theo tự truyện của một cung nữ từng theo hầu hạ bà tiết lộ, Từ Hy ngày đeo hộ giáp vàng ở bàn tay phải, hộ giáp ngọc trai ở tay trái. Đêm ngủ thay bằng loại hộ giáp “ít lấp lánh” hơn. Bà đều đeo chúng ở ngón út và ngón áp út, mỗi cái dài từ 5 – 7cm. Từ Hy bảo vệ móng tay lẫn hộ giáp vô cùng cẩn thận. Mỗi ngày đều sai cung nữ rửa bằng nước nóng, sau đó dùng nước bóng từ Pháp đánh lên. Dù vậy, khi về già, móng tay dĩ nhiên “héo úa”, xỉn màu. Ban đầu Từ Hy trách tội hạ nhân đã lơ là trách nhiệm. Nhưng cuối cùng bà nhận ra không thể chống lại quy luật tất yếu của thời gian. Lúc này Từ Hy Thái hậu mới chịu cắt móng tay thường xuyên.

Nắm được vai trò của hộ giáp từ thực tế, các nhà làm phim đã khéo léo đưa chúng lên màn ảnh nhỏ. Mục đích vừa thể hiện hình ảnh đặc trưng của triều nhà Thanh, lại vừa tăng độ ấn tượng nơi bàn tay của các vị nương nương. Ví dụ như trong Diên Hi Công Lược, những lần hành lễ “đỏng đảnh” của Cao Quý phi, cái nhịp tay tính toán mưa kế của Nhàn Phi… đều là những chi tiết nhỏ nhưng phô bày độ sắc sảo của phục sức, giúp khắc họa tính cách nhân vật.

Bộ ba cặp hoa tai (Nhị)

Đây cũng được coi là một trong những trang sức đặc trưng thời nhà Thanh. Theo truyền thống người Mãn, Hậu phi đều xỏ 3 lỗ ở tai và đeo 3 viên trang sức hoa tai vào khi mặc Triều phục. Theo quy chế, hình hoa tai của tần phi đều có hình rồng làm bằng vàng, ngoài ra còn sức trân châu mỗi bông 2 viên, tuy nhiên chất lượng trân châu tùy cấp bậc mà khác biệt như Hoàng hậu sẽ đeo hoa tai dùng nhất đẳng Trân châu, Hoàng quý phi và Quý phi dùng nhị đẳng Trân châu, các nàng Phi dùng tam đẳng Trân châu, còn Tần thì dùng tứ đẳng Trân châu.

Khăn Long Hoa

Bên cạnh những phụ kiện tinh xảo như: trâm cài tóc, móng tay giả,… các phi tần, cách cách luôn đeo trên cổ một chiếc khăn trắng với tên gọi là “Long Hoa Lĩnh Cân” hay gọi tắt là “khăn Long Hoa”. Đây chính là phục sức riêng biệt, thể hiện sự cao quý của bản thân và cũng khiến mình trở nên nổi bật hơn trong chốn hậu cung ba nghìn giai lệ.

Khăn Long Hoa được hệt từ tơ lụa hảo hạng. Trên mỗi chiếc khăn thường được thêu thùa tỉ mẩn những hoa văn, hình vẽ đặc thù, tượng trưng cho địa vị của người mặc.

Những mỹ nhân mới nhập cung, chưa có danh phận, nên trên khăn Long Hoa sẽ không xuất hiện bất kỳ họa tiết nào. Còn Hoàng Hậu và Thái Hậu thì thường đeo khăn Long Hoa với họa tiết được trang trí cầu kỳ và tỉ mẩn nhất. Không chỉ vậy, kích thước khăn của 2 vị chủ tử này cũng lớn hơn các phi tần khác, bởi họ là người đứng đầu tam cung lục viện. Với các phi tần khác, khăn Long Hoa sẽ được trang trí với những họa tiết đơn giản như hình hoa lá nhằm tránh bất kính với bề trên, đảo lộn tôn ti trật tự, thứ bậc trong cung. Ngoài ra, khăn Long Hoa còn giúp trang phục, vẻ về ngoài của các phi tần trở nên trang nhã và lịch thiệp hơn.

Quạt lụa – 1cm giá 3 chỉ vàng

Quạt cũng là loại phục sức được đưa vào quy định trong hậu cung nhà Thanh, là một phụ kiện không thể thiếu với những phi tần, phu nhân có địa vị cao. Và bởi nó là yếu tố thể hiện địa vị, nên làm ra nó cũng không hề đơn giản.

Những chiếc quạt thời nhà Thanh được dệt theo một kỹ thuật đặc biệt được gọi là “Kesi” – hay dệt lụa hoa – hiểu nôm na “những sợi chỉ đan kết vào nhau”. Về cơ bản, đó là một phương pháp dệt hết sức tinh tế, hoa văn cực kỳ tinh xảo và hoàn toàn được làm thủ công. Có khi một ngày chỉ dệt được 2cm, thế nên mới nói 1cm lụa Kesi ngày xưa có giá 3 chỉ vàng là vì vậy.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về lịch sử triều đại của một đất nước đông dân nhất thế giới này. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn thì hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc nhé!

Trải nghiệm với 19 lễ hội đặc sắc của dân tộc thiểu số ở Trung Quốc

Trung Quốc là một quốc gia đa dân tộc, cùng với nền văn hóa đa dạng thì ngoài những ngày lễ tết truyền thống phổ biến được nhiều người biết đến như Tết Nguyên Đán, Tết Thanh Minh, Đoan Ngọ,… thì ở quốc gia tỉ dân này còn vô số những ngày hội, ngày lễ đặc sắc của bộ phận dân tộc người thiểu số mà du khách có thể chưa được biết đến.

1. Lễ hội Munao Zongge

Munao Zongge là tết truyền thống của dân tộc Jingpo ở tỉnh tự trị Đại Đức, được diễn ra vào 15 ngày đầu của tháng đầu tiên trong năm mới âm lịch. Lễ hội bắt đầu bằng một nghi lễ hiến tế long trọng, và một nghi thức đặc biệt để trao vương miện cho các vũ công hàng đầu. Tiếp theo đó là người dân, và khách từ các dân tộc khác nhau sinh sống ở Dehong sẽ tham gia vào điệu nhảy đại chúng, trong tiếng trống mạnh mẽ, và âm nhạc dân gian.

Những điệu nhảy này thường có số lượng người lớn, và có nhiều cách di chuyển phức tạp. Sẽ có nhiều nhóm nhảy khác nhau tham gia vào nghi lễ, và sẽ có một người dẫn đầu để giúp họ không đi nhầm. Mỗi bước nhảy đều rất quan trọng, nên thường là vũ công giỏi nhất dẫn đầu. Cho dù có bao nhiều người tham gia lễ hội đi chăng nữa, thì đội hình sẽ không bao giờ trở nên lộn xộn.

2. Lễ hội Dao Gan Jie

Người dân Lisu ở các quận Tengchong và Longling thuộc tỉnh Vân Nam tổ chức lễ hội Dao Gan Jie vào ngày 7-8/2 âm lịch hàng năm nhằm tưởng nhớ vị quan Wang Ji – người sinh sống trong triều đại nhà Minh, được biết đến như một anh hùng vĩ đại của người Lisu. Bản thân Wang Ji là người Hán, nhưng anh đã sống trong bộ lạc Lisu, và đào tạo những thành niên trẻ của làm trở thành chiến binh tài giỏi, để bảo vệ vùng đất của họ trước nhữ kẻ xâm lược.

Wang Ji đã sống ở Lisu trong nhiều năm, và dạy cho họ tất cả những kỳ thuật nông nghiệp và quân sự khác. Tuy nhiên, Wang Ji đã bị đầu độc, sau đó đóng khung vì tội phải quốc, nhưng nhờ sự giúp đỡ của anh đối với Lisu, nên người dân nơi đây luôn nhớ về công lao đó, và tưởng nhớ cái chết của ông cũng như vinh danh bằng lễ hội Dao Gan Jie.

Trong lễ hội Dao Gan Jie, những người tham gia sẽ đi bộ trên lửa bằng chân trần trên than nóng, và nhiều hoạt động khác như leo lên cột lửa, múa kiếm lửa,… Trong đó, phải kể đến leo kiếm, một trong những trò chơi mạo hiểm nhất, những người đàn ông trong làng phải trèo lên một chiếc thang đặc biệt, tất cả các thanh của chiếc thang này đều làm từ các lưỡi kiếm gắn vào cọc tre. Không sử dụng bất cứ một dụng cụ hỗ trợ nào, họ phải thực hiện bằng chân trần và người chiến thắng sẽ là người đầu tiên leo lên đỉnh của bậc thang rồi thực hiện động tác nhào lộn và đốt pháo hoa trước khi leo xuống. Màn trình diễn thót tim này là điểm không thể bỏ qua đối với du khách khi đến đây.

3. Lễ hội lửa Làng Hongwan

Nằm ở khu vực miền núi phía tây của huyện Maiwan thuộc tỉnh Vân Nam, là nơi sinh sống của hơn 300 hộ gia đình,
trong đó có 1.200 là người dân tộc Ai (một nhánh của người Yi). Đây là nơi cư trú của người Yi cổ xưa, và là ngôi làng cuối cùng của người Yi ở Trung Quốc. Và lễ hội lửa Làng Hongwan là lễ hội cổ xưa của người Yi, được tổ chức vào ngày 3/2 âm lịch hàng năm.

Trong lễ hội, những chàng trai trẻ trong làng sẽ tập trung tại sân chơi của một trường tiểu học vào sáng sớm, và họ vẽ lên mình những hình ảnh kỳ lạ, có liên quan đến lửa trên mặt, và thân trên. Trên người họ mặc một chiếc váy màu nâu, và có sử dụng dây buộc, trên đầu là cỏ dại, vỏ lá cây, cây trồng,… Trong sự kiện họ la hét một cách điên loạn để thể hiện những ham muốn của linh hồn, và giải phóng niềm đam mê.

Người gia trong làng sẽ hát và nhảy những bài hát của người Yi trên đường phố, họ thổi lá hoặc sáo trúc hoặc chơi các bài hát bằng cây đàn nhị tự chế. Vào buổi trưa, bữa tiệc đường phố được bắt đầu, dân làng đặt những cây thông tươi được thu thập từ ngọn núi gần đó như một bàn ăn, và bắt đầu bữa tiệc. Sau bữa ăn là màn đốt lửa gỗ, và những điệu nhảy của Bimo – một phù thủy trong làng.

4. Lễ hội Đuốc

Cũng là một lễ hội lửa của dân tộc Yi, lễ hội Đuốc ở Sở Hùng thuộc tỉnh Vân Nam lại là một lễ hội lớn hơn. Sự kiện này không chỉ có người dân tộc Yi tham gia, mà còn có một số lượng lớn người dân tộc thiểu số khác, kể cả người Bai.

Lễ hội được tổ chức vào ngày 24/6 âm lịch để tôn vinh vị thần Atilaba trong truyền thuyết, một người khổng lồ đã dùng cây đốt đuốc để đánh đuổi dịch châu chấu.

Vào ngày nay, ban ngày, mọi người từ già nhỏ gái trai đều ăn mặc đẹp đẽ tham gia các hoạt động dân gian tập thể như đấu bò, đấu vật, đua ngựa, bắn cung… và không thể thiếu uống rượu để chúc mừng. Về đêm, mỗi gia đình đều sẽ đốt đuốc trong nhà và canh ở vị trí mà luôn đảm bảo ngôi nhà nhận được ánh sáng tốt nhất. Ngoài ra, mọi người cũng sẽ đốt đuốc ở ngoài hay ở các cánh đồng. Đặc biệt, thời điểm vui nhất có thể nói là lúc mọi người trong làng tụ họp bên ngọn đuốc lớn đỏ rực, cùng nhau nhảy múa, ca hát, những chàng trai thổi sao, những cô thiếu nữ xinh đẹp thì nhảy múa trong những điệu nhạc dân gian.

5. Lễ hội hát mồng 3 tháng 3

Lễ hội hát mồng 3 tháng 3 không chỉ là lễ hội truyền thống của dân tộc Choang mà còn là một trong những lễ hội của các dân tộc thiểu số như Hán, Yao, Dong, Miao ở Quảng Tây.

Có rất nhiều truyền thuyết nói về sự ra đời của ngày lễ này, trong đó có lẽ thú vị nhất được người dân truyền miệng lại chính là câu chuyện về rắn cụt đuôi, tương truyền có một người phụ nữ dân tộc Choang một ngày đi làm đồng, vô tình thấy con rắn cụt đuôi cứ năm lần bảy lượt chuôi vào giỏ của mình. Thương tình bà đem nó về nuôi, kì lạ, rắn càng ngày càng lớn dần, còn có tài hô mưa gọi gió, cứu giúp dân làng qua cơn đại hạn. Bỗng một ngày người mẹ của rắn qua đời, rắn thần đã khóc rất nhiều. Từ đó cứ ngày này, ngày 3 tháng 3 rắn thần lại về tảo mộ mẹ mình.

Trong ngày này hàng năm, mọi người đều tổ chức bắn pháo hoa, bên cạnh đó là các hoạt động nhân gian truyền thống như diễn kịch, múa rồng, kéo co, chọi gà và các hoạt động triển lãm thương mại để quảng bá đặc sản của địa phương. Du khách đến đây sẽ được người dân chào đón nồng hậu bằng những điệu hát, tiếng kèn truyền thống, tiếp đón du khách tứ phương bằng những ly rượu gạo thơm và các món ăn đặc trưng của vùng đất này.

6. Lễ hội Lusheng

Lễ hội Lusheng là lễ hội nổi tiếng nhất của nhóm dân tộc thiểu số người Miao (Hmong), đây là lễ hội đặc trưng được tổ chức khắp nơi, ở bất kì chỗ nào có người Miao sinh sống, nhưng lớn nhất và nổi tiếng nhất có lẽ là lễ hội Lusheng là ở Kaili, tỉnh Quý Châu. Lusheng là một nhạc cụ bằng gỗ tre, nhạc cụ hoàn hảo để đồng hành với nhiều hoạt động dân gian truyền thống như múa Miao và nhào lộn.

Người Miao từ các ngôi làng xung quanh hay lân cận cùng nhau tụ tập lại, mặc những bộ trang phục đẹp nhất của dân tộc mình, đội những chiếc mũ bạc. Những người phụ nữ nhảy múa theo điệu nhạc do những người đàn ông trong làng thổi, bên cạnh đó còn có các hoạt động thú vị như đấu bò, đua ngựa…Đặc biệt đây cũng là thời điểm tuyệt vời để các nam thanh nữ tú trong làng gặp gỡ, tìm hiểu, kết duyên.

7. Lễ hội té nước

Có nguồn gốc từ các nghi lễ trong Phật giáo, nhiều lễ hội té nước khác nhau đã được tổ chức trên khắp Châu Á. Tại Trung Quốc, người Da tổ chức Lễ hội té nước về cơ bản cũng khá giống như lễ hội nổi tiếng Songkran của Thái Lan. Về cơ bản đây là một lễ hội truyền thống mang tính chất tôn giáo, nhưng khi được tổ chức vào thời hiện đại, thì không khí của lễ hội trở nên vui vẻ và sôi động hơn rất nhiều.

Lễ hội được tổ chức trong nhiều ngày của tháng 4 hàng năm tại Tây Song Bản Nạp, tỉnh Vân Nam. Vào sáng sớm, mọi người sẽ diện trang phục thật xinh đẹp, thật sặc sỡ cùng nhau đến các ngôi chùa để thực hiện nghi thức tắm Phật, sau đó bắt đầu ăn mừng. Cũng trong thời gian này, mọi người với những khẩu súng phun nước trên tay hoặc những chậu nước lớn và té vào nhau, như để cầu nguyện cho một năm mới tốt lành hơn. Ngoài ra còn có các hoạt động thú vị khác như đua thuyền, cưỡi voi, đánh đu, biểu diễn nghệ thuật và các hoạt động văn hóa dân gian khác…

8. Lễ hội Monihei

Bắt đầu từ ngày 1/5, người dân tộc Wa và khách du lịch lại nô nức tham gia Lễ hội Monihei ở Cangyuan, tỉnh Vân Nam. Đây là một lễ hội thú vị nhất từ trước đến nay của dân tộc Wa khi địa phương phát hiện ra một loại thuốc thảo dược “thần kỳ”, là chìa khóa cho sự trường sinh bất tử.

Thuốc này có dạng bột, sau đó được trộn với nước để tạo thành hỗn hợp sền sệt và thoa khắp cơ thể. Hiện giờ, bùn cũng được sử dụng như một sự thay thế tượng trưng cho loại thuốc bí ẩn đó, mọi người chạy xung quanh để ném và bôi bùn lên cơ thể của nhau và càng bẩn càng tốt. Bùn trên mặt trẻ em được coi là lời chúc bình an, bùn trên mặt người già được coi là lời chúc trường thọ, và bùn trên mặt phụ nữ được coi là lời chúc sắc đẹp.

9. Lễ hội Naadam

“Nadaam” theo tiếng Mông Cổ có nghĩa là “tiêu khiển” hoặc “giải trí”. Đây là một lễ hội thể hiện sự tinh vi và hùng hồn của văn hóa du mục, nó được tổ chức như một lễ kỷ niệm tôn vinh nền độc lập dân tộc, là sự kết hợp xuất sắc của nghệ thuật và thể thao. Lễ hội này đã có từ rất lâu đời, ít nhất là vào thời Đế chế Mông Cổ, khi Thành Cát Tư Hãn biến lễ kỷ niệm truyền thống thành một ngày lễ chính thức của người Mông Cổ.

Lễ hội được tổ chức với 3 môn thể thao chính là đấu vật, cưỡi ngựa và bắn cung, kết hợp với các yếu tố nghệ thuật như: ca hát, nhảy múa và biểu diễn.

Lễ hội Nadaam đặc biệt được diễn ra vào tháng 7, khi những cánh đồng cỏ xanh tươi, trải dài vô tận trên thảo nguyên Mông Cổ là địa điểm thích hợp nhất để diễn ra cuộc tranh tài vô cùng gây cấn và lý thú của người dân nơi đây, không phân biệt tuổi tác, khoác lên mình những phục sức sặc sỡ nhất, tham gia tranh tài cưỡi ngựa. Những lá cờ đầy màu sắc bay phấp phới trong gió, tiếng mọi người la hét cổ vũ, đồng cỏ yên bình ngày thường bỗng chốc trở nên ồn ào náo nhiệt lạ thường.

Ngoài 3 trò chơi chính, một cuộc thi bắn súng nhỏ cũng sẽ được tổ chức bên cạnh. Và trong lễ hội bánh xèo với thịt là một phần không thể tách rời.

10. Tết Losar

Đây là ngày lễ quan trọng nhất trong năm của người Tây Tạng, thể hiện đầy đủ nhất những nét văn hóa và tín ngưỡng độc đáo của họ. Tết Losar sẽ được diễn ra trong 15 ngày (trong đó có 3 ngày chính) với những nghi lễ cổ đại diện cho cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, bằng cách tụng kinh, đi qua ngọn đuốc. Lễ Losar đặc trưng bởi những điệu nhảy, âm nhạc và tinh thần lạc quan của người Tây Tạng.

Ngày chính của Tết Losar bắt đầu (Mồng 1 Tết hay còn gọi là Lama Losar), lúc này các thành viên trong gia đình đều sẽ dậy sớm, mặc những bộ quần áo mới và đẹp nhất. Các bà mẹ sẽ nấu một nồi rượu lúa mạch Changkol và chờ mặt trời lên. Trong thời gian này, họ sẽ cùng nhau ăn Droma dresil – một món cơm thập cẩm gồm gạo, bơ, nho khô, đường. Khi bình minh ló rạng, người phụ nữ cao tuổi nhất nhà sẽ mang một chiếc gầu ra con sông gần nhà để lấy về gầu nước đầu tiên trong năm mới. Sau đó, các thành viên trong gia đình cùng quây quần bên nhau, trao cho nhau câu chúc năm mới truyền thống là “Tashi Delek” và cùng uống rượu lúa mạch. Người ta sẽ để hạt lúa mạch mọc mầm và bánh lúa mạch Tsampa cùng những hạt ngũ cốc khác lên bàn thờ để cầu mong một năm mới được mùa.

Ngày thứ hai của Tết Losar có tên “Gyalpo Losar”. Trong ngày này sẽ có những màn múa hát, biểu diễn đặc sắc chỉ có duy nhất một lần trong năm. Người dân cũng uống rượu lúa mạch Chang và cùng nhau ca hát, nhảy múa. Trong các gia đình, vào buổi tối, người ta sẽ mang những cây đuốc và đi khắp nhà, vừa đi vừa la hét để xua đuổi quỷ dữ ra khỏi nhà.

Mồng 3 Tết (Choe-kyong Losar), người dân tổ chức cúng tế những vị thần bảo hộ các Lạt Ma. Họ treo cờ sặc sỡ trên đồi, núi và nóc nhà, đốt lá cây bách xù và đốt hương dâng lên thần thánh. Họ hát và cầu nguyện những điều tốt đẹp trong năm mới.

11. Lễ hội Shoton

Shoton cũng là một trong những lễ hội truyền thống lớn nhất ở Tây Tạng. Lễ hội này kéo dài 1 tuần (khoảng 29/6 đến 1/7 theo lịch Tây Tạng) nhằm tỏ lòng tôn kính đức Phật. 

Tại ngày khai hội, người dân Tây Tạng sẽ cùng nhau trải bức tranh Thangka thể hiện chân dung đức Phật với tấm lòng thành tôn kính vô hạn. Bức tranh khổng lồ này rộng khoảng 500m2 đang dần mở trên lưng đồi của tu viện Drepung để đón những tia sáng mặt trời đầu tiên chiếu vào bức Thangka vào khoảng 8 giờ sáng. Nghi lễ này được gọi là “Tắm Phật trong ánh mặt trời”.

Bên cạnh đó, âm nhạc Tây Tạng cũng là một hoạt động hấp dẫn của lễ hội. Âm nhạc và các vũ điệu được biểu diễn kể từ ngày thứ hai của lễ hội từ 11:00 trưa đến tối. Các buổi trình diễn thường được diễn ra ở Norbulingka và Longwangtan (Dragon King Pond, công viên đối diện với cung điện Potala). Những người dân dịa phương ngồi trên thảm với gia đình và bạn bè, uống trà bơ, thưởng thức các món ăn và xem biểu diễn, trong khi vẫn cầu nguyện với tràng hạt trong tay.

Lễ hội Shoton còn có nhiều hoạt động thú vị như: đua trâu Yak (trâu lùn), đua ngựa, biểu diễn những bài hát địa phương và các điệu nhảy truyền thống vẫn được thực hiện luân phiên.

Trong thời gian diễn ra lễ hội, người dân và du khách có thể thưởng thức đặc sản sữa chua trâu lùn Tây Tạng có 1 không 2 trên thế giới và cùng hòa mình cùng với những người dân bản địa để tham gia những hoạt động tập thể như nhảy múa, nhạc kịch dân gian, thưởng thức món ăn vùng,… và nhất là hoạt động ném sữa chua vô cùng vui nhộn và độc đáo.

12. Lễ hội Đèn bơ

Cứ ngày 25/10 hàng năm theo lịch Tây Tạng, các tu viện, đền, chùa lại tưng bừng tổ chức lễ hội đèn bơ để tưởng niệm Tsong Khapa – một vị Lạt-ma Tây Tạng, người đã sáng lập ra giáo phái Gelug của Phật giáo Tây Tạng.

Vào ban ngày, mọi người hành hương tới các đền, chùa và cầu mong những điều tốt lành sẽ đến với họ. Khi đêm về, buổi thắp sáng đèn bơ sẽ được tổ chức. Trong lễ hội, các tín đồ sẽ thắp hàng ngàn cây đèn bơ khác nhau thành nhiều hình ảnh, và cả đức Phật tại những ngôi đền chùa và nhà của mình.

Vào ban đêm, mọi người cũng bắt đầu tổ chức các cuộc thi hát đối kháng, đôi khi cuộc thi được kéo dài trong một vài ngày. Nơi diễn ra lễ hội nổi bật nhất chính là ở Lhasa.

13. Lễ hội cầu nguyện Monlam

Được coi là sự kiện quan trọng nhất đối với Phật tử Tây Tạng, lễ hội cầu nguyện Monlam bắt đầu 3 ngày sau Tết Nguyên đán ở miền Tây Trung Quốc, khu vực dân tộc Tây Tạng và được tổ chức trong gần 2 tuần. Trong thời gian Monlam, hàng triệu người hành hương đến các tu viện để cầu may mắn trong năm mới và cúng dường cho những người thân quá cố của họ.

Một trong những điểm đến phổ biến nhất cho khách hành hương là Tu viện Labrang ở quận Xiahe, quận tự trị Tây Tạng Gannan, tỉnh Cam Túc. Tu viện, được thành lập vào năm 1709, là một trong sáu tu viện lớn nhất của giáo phái Mũ Vàng của Phật giáo Tây Tạng và là nơi cư ngụ của hàng ngàn tu sĩ.

Các sự kiện chính của lễ hội được tổ chức vào những ngày cuối cùng. Đầu tiên là lễ ra mắt Đức Phật, trong đó các nhà sư Phật giáo Tây Tạng mang Thangka 30m mô tả Đức Phật lên sườn đồi phía trên Tu viện Labrang cho hàng ngàn tín đồ chiêm ngưỡng.

Ngày hôm sau, các nhà sư mặc trang phục như các vị thần và những người bảo vệ Pháp (Pháp như là giáo pháp của Đức Phật nói chung) và thực hiện điệu múa Chăm. Với các chuyển động chậm và lặp đi lặp lại, nghi thức kéo dài hàng giờ được thực hiện để tiêu diệt các linh hồn xấu và mong cầu những lợi ích to lớn cho nhân loại. Phật tử sùng đạo sử dụng điệu nhảy này để thiền định và kết nối tâm linh với các vị thần. Sau cùng, mọi người tham gia một đám rước lớn.

Vào buổi tối ngày hôm sau, tất cả các nhà sư và khách hành hương đi xem các tác phẩm điêu khắc làm từ bơ Yak của các nhà sư Phật giáo Tây Tạng mà theo truyền thống đại diện cho một lễ vật dâng lên Đức Phật và các vị thần.

Vào ngày cuối của lễ hội, một đám rước lớn cuối cùng được tổ chức, khi các nhà sư Phật giáo Tây Tạng mang theo một bức tượng Di Lặc, vị Phật tương lai, thực hiện Kora (mạch hành hương) xung quanh tu viện Labrang cùng với hàng ngàn người hành hương.

14. Lễ hội đua ngựa Litang

Lễ hội đua ngựa Litang vào tháng 8 là dịp tốt để du khách ngắm những tay du mục trên lưng ngựa, thảo nguyên xanh bao la đến tận chân trời và thưởng thức thịt và sữa chua bò lông vàng Yak.

Dân tộc Kham là một phân nhóm của dân tộc Tây Tạng đang sinh sống ở gần biên giới Tứ Xuyên và Tây Tạng. Chủ yếu là dân du mục. Họ sinh sống ở các vùng núi cao trên 3.000 m. Xung quanh là những đồng xanh bao la đầy cỏ. Mặc dù, thời tiết mưa phùn liên tục nhưng khi mặt trời lên, bầu không khí ẩm ướt lập tức bị phá tan và thay vào đó là cái nắng nóng đến cháy da. Mùa hè đến, thời tiết bắt đầu đẹp hơn, các tu viện địa phương tổ chức cuộc đua ngựa và buổi ca nhạc Tây Tạng truyền thông. Ở đây, các nhà sư đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức vở kịch Tây Tạng. Ở cuộc đua ngựa, họ cũng được sắp xếp ngồi ở vị trí danh dự nhất.

Trong một vài ngày lễ hội diễn ra, nó thu hút sự chú ý của dân làng và dân du mục khắp nơi đến tham dự. Hầu hết những người tham gia sẽ dựng lều trại tạm thời xung quanh địa điểm tổ chức. Đồng thời, họ cũng mở những gian hàng nhỏ mua bán, trao đổi những món hàng như thuốc bí truyền, đồ trang sức, đặc sản các vùng. Xen giữa thời gian nghỉ hay các tiết mục đặc sắc, họ ăn uống, nhảy múa.

Lễ hội đua ngựa Litang tập hợp đàn ông ở nhiều độ tuổi khác nhau phô diễn tài năng, thể hiện trình độ huấn luyện, đào tạo ngựa. Họ tham gia vào cuộc chơi, từ màn đua tốc độ đến các màn biểu diễn nhào lộn với ngựa, kỹ năng vừa cưỡi ngựa vừa bắn cung tên…

Giải thưởng nhận được có khi là tiền mặt, có khi là một chú ngựa mới. Nhưng đa phần, việc được phô trưng tài năng trước phái nữ đã là phần thưởng lớn nhất giành cho những người đàn ông du mục này.

15. Lễ hội Panwang

Sau 1.000 năm di cư, người Yao đã trở thành dân tộc thiểu số phân bố rộng rãi nhất ở Trung Quốc, và lễ hội Panwang hàng năm của họ như là một mô hình thu nhỏ của văn hóa lịch sử độc đáo của người Yao. Lễ hội còn được biết đến với tên gọi khác là sự trở lại của nhà vua, là lễ hội lớn của người Yao để hiến tế nhà vua. 

Lễ hội Pan Wang được tổ chức vào tháng 10 âm lịch hàng năm tại Hạ Châu, Quảng Châu. Nội dung của lễ hội Panwang chủ yếu là để tôn thờ Pan Wang, và tổ chức các hoạt động văn hóa dân gian. Vào ngày lễ hội được tổ chức, người Yao sẽ mặc quần áo đặc trưng của dân tộc, và có một số lượng người tham gia rất đông. Trong lễ hội, mỗi gia đình phải sử dụng rượu và thịt hảo hạng để thờ cúng Panwang, cũng như tổ tiên của gia đình, và xua đuổi tà ác.

16. Lễ hội sờ ngực

Nam giới có thể tùy ý sờ ngực các cô gái trong 3 ngày tháng 7 Âm lịch mà không bị coi là hành vi khiếm nhã, thiếu tôn trọng. Lễ hội sờ ngực hay lễ hội ma quỷ, là một nét văn hóa truyền thống của người dân tộc Di sống ở tỉnh Vân Nam.

Hàng năm, cứ vào ngày 14 – 16/7 âm lịch, ngoài việc đốt vàng mã cúng tế, tất cả nam và nữ khi ra ngoài đường đều phải tuân thủ quy định của lễ hội sờ ngực. Đàn ông phải sờ ngực phụ nữ một cách nhiệt tình, còn phụ nữ phải đón nhận việc đó một cách vui vẻ. Mọi người đều coi việc sờ và “được sờ” này sẽ mang đến may mắn cát tường cho bản thân.

Theo tục lệ, các chàng trai và cô gái còn độc thân sẽ ra ngoài đường tụ tập tham dự lễ hội và tìm “đối tác”. Khi tìm được người ưng ý, hai người sẽ nắm tay nhau cùng đi vào rừng tùng trên núi… Nhưng ngày nay đa số mọi người, bao gồm cả khách du lịch đến đây, nếu trên đường gặp cô gái mình thích đều có thể tùy ý sờ ngực để lấy may. Các cô gái cũng không vì vậy mà tức giận, ngược lại đều cảm thấy vui vẻ.

Tuy liên quan đến vấn đề giới tính nhưng người dân tộc Di lại coi đây là một ngày lễ truyền thống. Trong thời gian lễ hội diễn ra, nam thanh nữ tú vui chơi, đánh đàn ca hát nhảy múa làm cho không khí trở nên sôi động.

17. Lễ hội đường phố tháng 3

Lễ hội đường phố tháng 3 thực sự được tổ chức bởi nhiều nhóm dân tộc khác nhau, nhưng lễ hội của dân tộc Bai ở Đại Lý là đến nay nổi tiếng nhất. Một ngôi chợ ngoài trời lớn được dựng lên dưới chân núi Cangshan bán mọi thứ như thực phẩm, các loại trà đặc sản, đồ thủ công mỹ nghệ, nhạc cụ,… thậm chí là cả gia súc. Tất cả đều do người dân của khu vực này tự sản xuất và tự mình đem ra bày bàn. 

Không chỉ là một nét đẹp về văn hóa mà lễ hội này còn có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế địa phương và được người dân địa phương cũng như du khách mong đợi. Sẽ là một trải nghiệm khó quên cho du khách khi cùng nhau dạo quanh giữa các gian hàng thủ công mỹ nghệ độc đáo, được thưởng thức những món ăn đặc sản nơi đây.

18. Tết truyền thống của Dân tộc Miêu

Thông thường, năm mới của người Miêu (ở huyện tự trị dân tộc Miêu Rongshui, thuộc khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây) sẽ diễn ra vào khoảng tháng 10 âm lịch (cuối tháng 10 hoặc tháng 11 dương lịch), hoặc có khi trễ hơn.

Thời điểm chính xác để đón mừng năm mới thường chỉ được tiết lộ khoảng 2 tháng trước khi lễ mừng diễn ra. Tết là dịp lễ hội quan trọng nhất trong năm của người Miêu. Nó tượng trưng cho sự khởi đầu của những điều mới mẻ và thành công.

Trong dịp lễ này, những cô gái dân tộc Miêu sẽ mặc trang phục truyền thống xuống đường du xuân. Nhiều cuộc diễu hành lớn cũng được tổ chức. Nhiều hoạt động vui chơi giải trí như đua ngựa, đấu bò, thi thổi lusheng cũng được diễn ra thu hút rất đông người xem và tham dự.

19. Lễ mừng năm mới của Dân tộc Đồng 

Lễ mừng năm mới của người Đồng (ở huyện Rongjiang, tỉnh Quý Châu) thường không có thời gian cố định mà thường thay đổi qua từng năm. Thông thường, người Đồng sẽ đón Tết vào những ngày đầu tiên của tháng 11 âm lịch (khoảng cuối tháng 11 hoặc 12 theo dương lịch). Tuy nhiên, thời gian còn có thể thay đổi tùy theo từng ngôi làng, một vài nơi còn tổ chức mừng năm mới vào những ngày cuối của tháng 10. 

Lễ mừng năm mới của người Đồng thường là dịp để đánh dấu sự kết thúc một mùa gặt (thường là mùa thu). Theo đó dân làng sẽ bắt đầu nghỉ ngơi, dành thời gian để vui chơi thư giãn sau một vụ mùa bận rộn.

Trước Tết, người Đồng thường dọn dẹp nhà cửa, mua sắm quần áo mới, làm bánh gạo, giết mổ động vật, thắp nhang và nến để cúng bái tổ tiên.

Trong lễ mừng năm mới, người Đồng sẽ mặc trang phục truyền thống và mời khách đến nhà để dự tiệc, đồng thời gửi nhiều loại thức ăn khác nhau cho bạn bè, bà con họ hàng như rau củ muối chua, cá đông lạnh và ziba (một loại bánh làm từ gạo nếp). Để đáp lại tấm lòng của người gửi, thông thường người nhận sẽ tặng lại một số đồ tương đương cho người gửi. Phong tục này thường được người dân địa phương gọi là “Sự trở lại của ziba”.

Nhiều hoạt động vui chơi giải trí cũng được tổ chức vào dịp này. Điểm nổi bật nhất trong các lễ hội là những màn chơi lusheng (một loại sáo làm từ tre) của các nam thanh niên trong làng cùng những màn chọi trâu. Cả hai hoạt động đều thu hút rất đông khán giả đến xem.

19 lễ hội dân tộc thiểu số trên đây đã nêu bật sự đa dạng của các ngày truyền thống kỷ niệm của Trung Quốc. Chỉ cần tham gia vào một trong số các lễ hội này, du khách sẽ thêm nhiều trải nghiệm độc đáo và khó quên cho chuyến du lịch Trung Quốc.

Vén màn bí mật về tầng lớp thái giám trong lịch sử Trung Hoa cổ đại

Dưới sự thống trị của chế độ phong kiến Trung Hoa cổ đại, bên cạnh hoàng đế tồn tại có một nhóm người đặc biệt. Họ là nhóm người tiêu biểu nhất của chế độ phong kiến. Những người ấy là hoạn quan, cũng tức là thái giám.

Nguồn gốc của Hoạn quan ở Trung Quốc

Trong lịch sử Trung Quốc, hoạn quan đã có từ thời Tây Chu, đương thời gọi là tử nhân, hoặc hạng nhân, yêm doãn, nội tiểu thần. Được tuyển dụng để làm một số công việc cung đình: truyền lệnh của nhà vua đến các quan, canh gác hậu cung, quét dọn phòng ốc, liên lạc giữa nhà vua với các cung phi… Vào thời Tây Chu các nước Tề, Sở, Tần, đều có hoạn quan, và gọi bằng các tên như hình thần, ty cung. Thời Chiến Quốc nước Triệu có Hoạn giả lệnh coi về hoạn quan. Nước Tần có hoạn quan đảm nhận chức Xa phủ lệnh. Sau khi Tần thống nhất Trung nguyên, hoạn quan có người làm đến Thừa tướng, gọi là Trung thừa lệnh. Thời Tây Hán, các hoạn quan được gọi là thường thị có những hoạn quan đảm nhận các chức Hoàng môn lệnh, Dịch đình lệnh. Đến nhà Đường đổi là trung quan.

Tại các triều nhà Tùy, nhà Đường, nhà Tống đặt ra cơ cấu Nội thị tỉnh do hoạn quan đảm nhiệm, trông coi các việc nội bộ ở trong cung đình. Hoạn quan ở hai triều Đường, Tống có người trực tiếp thống lãnh quân đội. Đến đời nhà Minh, đặt ra Thập nhị giám, Tứ ty, Bát cục gọi là Nhị thập tứ nha môn, trông coi về việc phục dịch trong cung đình, mỗi cơ cấu có thái giám trông coi. Đến đời nhà Thanh có Tổng quản thái giám, người đứng đầu thái giám, trực thuộc Nội vụ phủ.

Chữ Hán, có hơn ba mươi từ ngữ dùng để chỉ hoạn quan, nên thường giải thích hoạn quan là thái giám. Nhưng kỳ thực, khái niệm về hai từ ngữ này có chỗ khác biệt. Mới đầu hoạn quan không nhất thiết phải là người bị thiến. Trong lịch sử Trung Quốc cổ xưa đã có hoạn quan. “Hoạn quan” chỉ là danh xưng chỉ chung những quan viên phục dịch, hầu hạ hoàng đế và gia tộc trong hoàng cung. Cho đến đầu đời nhà Đông Hán, khi Lưu Tú quang phục lại Hán thất, mới ban lệnh hoạn quan tất yếu phải là người đàn ông bị thiến. Trước đó, thời Hán Võ Đế, năm 99 trước Công nguyên, khi Lý Lăng thua trận đầu hàng Hung Nô, Tư Mã Thiên vì bênh vực Lý Lăng mà bị thiến và tuy là người bị thiến nhưng Tư Mã Thiên không phải là hoạn quan.

Từ ngữ “thái giám” xuất hiện sớm nhất vào đời Đường Cao Tông Lý Trị năm Long Sóc nhị niên, tức năm 662, khi đem thay đổi danh xưng “Điện trung tỉnh”, cơ cấu chuyên lo việc xa giá, y phục trong hoàng cung thành “Trung ngự phủ”, và cải “Giám thành trung ngự” thành “thái giám” và “thiếu giám”.

Đến đầu đời nhà Minh thiết lập “Nhị thập tứ nha môn”, mỗi nha môn đặt ra một thái giám giữ ấn tín phục dịch hoàng đế cùng gia thuộc, và người được giữ chức thái giám tất yếu phải là hoạn quan. Từ đấy “thái giám” thành danh xưng chuyên chỉ hoạn quan. Đến giữa thời kỳ nhà Minh, quyền thế của thái giám được mở rộng thêm ra. Thái giám có quyền làm sứ giả, trông coi quân đội, coi xét quan lại, dân tình nên trở thành lộng quyền.

Đến đời nhà Thanh, xét thấy sự chuyên hoành và tệ hại của thái giám mới đặt ra chức “Tổng quản Thái giám” làm thủ lĩnh, lệ thuộc vào “Nội vụ phủ” và giới hạn tước vị đến “tứ phẩm” để nhằm làm giảm quyền lực của thái giám.

Hệ thống thái giám chính thức cáo chung vào ngày 5/11/1924, thời điểm hoàng đế Phổ Nghi bị đuổi ra khỏi Tử Cấm Thành. Tính ra ông vua cuối cùng của Trung Quốc được sống trong nhà mình thêm 12 năm tính từ lúc cuộc cách mạng Tân Hợi lật đổ nhà Mãn Thanh năm 1912.

Nhìn chung, có 4 cách đàn ông Trung Quốc thời xưa trở thành thái giám. Một là bị gia đình ép buộc, bán cho triều đình lúc còn nhỏ; hai là nghèo đói không còn lựa chọn; ba là tự nguyện với hy vọng có cuộc sống sung sướng hơn; và bốn là các phạm nhân, thay vì chịu án tử thì đổi lại thành “thiến”.

Quá trình “tịnh thân” đầy đau đớn

Thời cổ đại, có hai nơi chuyên phẫu thuật tịnh thân cho nam giới là “Nội vụ phủ” trong cung và “Cơ sở chuyên tịnh thân” bên ngoài. Dưới triều Thanh, “Thận Hình Ti” là tên gọi để chỉ bộ phận trong cung chuyên thực hiện quá trình này.

Tịnh sư là tên gọi của những người hành nghề tịnh thân. Đây là nghề hái ra tiền bởi quá trình thực hiện vô cùng đau đớn và tỉ lệ tử vong rất cao, đòi hỏi kỹ thuật cao.

Trước khi bắt đầu, người tịnh thân và tịnh sư sẽ phải ký một bản cam kết trước sự có mặt của người làm chứng. Bản cam kết sẽ ghi rõ người tịnh thân hoàn toàn tự nguyện, bất chấp mọi rủi ro hay tử vong sau tịnh thân. Người tịnh thân cũng phải nộp một khoản phí nhất định. Đa số những người này đều xuất thân nhà nghèo nên phải xin trả dần từng năm sau khi nhập cung.

Quá trình hoạn cũng thật công phu và tỉ mỉ. Quá trình tịnh thân đòi hỏi phải chọn lựa thời tiết bởi nền y học cổ đại còn khá kém, chưa tìm ra loại thuốc sát trùng hiệu quả. Chính vì vậy, người ta thường tiến hành quá trình này vào cuối xuân đầu hạ, khi mà khí hậu ôn hòa và gần như không có ruồi muỗi.

Trước đó, người tịnh thân sẽ được nhốt vào một căn phòng kín gió, không được ăn uống gì để tránh đại tiểu tiện gây nhiễm trùng.

Giai đoạn đầu tiên của quá trình này được gọi là “yêm cát”, sử dụng “yêm đao” có lưỡi cong làm bằng vàng và đồng để tránh nhiễm trùng. Quá trình này sẽ gồm 3 người thực hiện: tịnh thân sư và 2 trợ lý. Người tịnh thân sẽ bị bịt kín mắt, trói chặt chân tay, đồng thời được giữ chặt bởi 2 người hỗ trợ tịnh sư, nhằm tránh trường hợp khổ chủ vì quá đau mà giãy giụa, khiến máu chảy không cầm được và mất mạng.

Vào đời nhà Thanh, người tịnh thân còn bị dùng gậy trúc đánh vào phần thân dưới cho mất cảm giác, đồng thời nhét trứng luộc bóc vỏ hoặc giẻ vào miệng để tránh việc đau quá mà cắn phải lưỡi.

Tiếp đến, bộ phận sinh dục của người tịnh thân sẽ được rửa và ngâm trong canh ớt. Tiếp sau đó, tịnh sư sẽ cầm tất tật mọi thứ: dương vật, bìu… gọn lỏn trong tay trái, và rồi tất cả sẽ biến mất chỉ sau một nhát dao “phực” thật ngọt. Cuối cùng, đao phủ sẽ dùng nút đúc bằng sáp trắng, ấn vào nơi trước kia là niềm tự hào của các nam nhân rồi băng bó lại.

Trong vòng 3 ngày, người tịnh thân sẽ không được ăn uống gì để tránh nhiễm trùng. Hết khoảng thời gian này sẽ tháo băng, và nếu thái giám đi tiểu bình thường được tức là đã “hoạn” thành công. Còn không, tức là đường sinh thực khí đã bị thu hẹp hay bịt kín, và người này chỉ còn nước chờ chết.

Do cơ quan sinh dục vẫn có khả năng phát triển hoặc mọc dài ra, thái giám sau khi nhập cung sẽ được kiểm tra cơ thể mỗi năm một lần. Quá trình này được gọi là kiểm tịnh. Không ít thái giám có mùi khai trên người do tịnh thân chưa chuẩn, khiến nước tiểu rỉ ra.

Sau ca mổ, ba món “bảo bối” – tức hai tinh hoàn và dương vật của tân thái giám, sẽ được trữ trong một cái bình niêm phong đặt trên kệ cao. Điều này có hai lý do quan trọng.

Thứ nhất, mỗi khi thái giám được thăng chức, anh ta phải vượt qua bài kiểm tra nghiêm ngặt, và điều này bất khả thi nếu thiếu “bảo bối”. Bài kiểm tra là cơ hội để mấy tay thầy lang kiếm chác, vì lắm khi bệnh nhân quên mất việc thu hồi “bảo bối” sau ca mổ. “Bảo bối” thậm chí có thể mượn, mua hoặc thuê bằng tiền.

Thứ hai, khi thái giám chết, anh ta mong được chôn chung với “bảo bối”. Nếu bị thất lạc, anh ta sẽ tìm mọi cách để có được cái khác. Thái giám muốn chết một cách “vẹn toàn”, vì chỉ có vậy anh ta mới đầu thai trở lại làm đàn ông ở kiếp sau.

Người Hoa cổ tin rằng Diêm Vương sẽ biến kẻ nào mất “của quý” thành con la cái. Đó là tại sao thái giám sợ mất “bảo bối” đến vậy.

Theo nghiên cứu về thái giám Trung Hoa công bố năm 1877 của học giả phương Tây G. Carter Stent, việc mất đi bộ phận sinh dục ảnh hưởng đến tính cách và khiến thái giám trông già hơn tuổi. Họ dễ bị xúc động mạnh, bao gồm nóng giận mất kiểm soát. Họ cũng sẽ không lộ yết hầu, giọng nói lảnh lót, cử chỉ động tác như đàn bà. Và họ không còn kiểm soát được bàng quang nên thường hay “đái dầm”. Người Hoa có câu “hôi như thái giám” cũng do đây mà ra.

Hoạn quan: Kẻ làm sụp đổ cả một vương triều, người tìm ra một trong tứ đại phát minh Trung Hoa

Hoạn quan vốn chỉ là quan trong nội đình, không có quyền can dự chính sự, nhưng là người hầu cận thường ngày gần nhất của hoàng đế, được hoàng đế tin dùng, nên có khả năng lộng quyền, nắm được đại quyền chính trị, thậm chí có thể phế lập hoàng đế. Dưới các triều Đông Hán, Đường, Minh đều từng xảy ra những việc hoạn quan chuyên quyền làm bậy.

Dù bị tước đi khả năng tự lập cho mình một vương triều tập quyền (không có con nối dõi), nhưng một số hoạn quan trở nên tha hóa, biến thành những con người tham lam, tàn nhẫn và gian hiểm. Trong các bộ phim cổ trang Trung Quốc, hoạn quan thường là những vai phản diện. Rất nhiều gian thần hoạn quan có thể tìm thấy trong lịch sử Trung Quốc.

Sự sụp đổ của triều Tần (221-206 TCN) dưới tay hoạn quan Triệu Cao là một ví dụ. Theo như sử sách chép lại, Triệu Cao xuất thân trong một gia đình quý tộc tông thất nhà Triệu (một trong số 7 nước thời Chiến Quốc). Vì cha mẹ của Triệu Cao phạm pháp, ông cùng với huynh đệ của mình mắc tội liên đới và bị xử cung hình. Triệu Cao vốn giỏi về hình luật và pháp lệnh nên được Tần Thủy Hoàng thu nạp về dưới trướng rồi phong cho chức “Trung xa phủ lệnh”. Dần dần, Triệu Cao trở thành một trong những cận thần thân tín của hoàng đế. Sau khi Tần Thủy Hoàng băng hà, Triệu Cao và Thừa tướng Lý Tư đã tiến hành một cuộc chính biến, bức hại thái tử Phù Tô cùng hai tướng quân thân cận của Phù Tô là Mông Điềm và Mông Nghị. Sau đó, Triệu Cao đưa con thứ của Tần Thủy Hoàng là Hồ Hợi lên ngôi làm một hoàng đế bù nhìn, tức Tần Nhị Thế.

Chỉ 3 năm sau, một cuộc bạo loạn lớn nổ ra. Triệu Cao nhiều lần giấu nhẹm tin bại trận, không cho Tần Nhị Thế Hồ Hợi biết rõ binh tình. Sau này, khi Lưu Bang và Hạng Vũ hai mặt tiến đánh vào Quan Trung, vì sợ tội, Triệu Cao đã bức Tần Nhị Thế phải tự sát.

Nhị Thế chết rồi, Triệu Cao lại lập Tử Anh lên làm hoàng đế mới. Tử Anh biết rõ mình chỉ là con rối trong tay Triệu Cao và sẽ sớm bị phế bỏ một khi không còn giá trị lợi dụng. Tử Anh lập mưu giết chết Triệu Cao. Nhưng các cuộc nổi dậy đã không còn có thể dập tắt được nữa. Tử Anh đầu hàng Lưu Bang, người mở cơ nghiệp cho triều Hán sau này. Chỉ 3 năm sau ngày Tần Thủy Hoàng băng hà, dưới tay Triệu Cao, cơ nghiệp nhà Tần đã mau chóng sụp đổ.

Dù trong lịch sử, hoạn quan nổi tiếng quỷ quyệt tuy nhiên không phải tất cả đều xấu xa, một số thậm chí còn đóng góp rất lớn cho văn hóa Trung nguyên. Giấy, một trong bốn phát minh vĩ đại của con người do thái giám Thái Luân dưới thời Đông Hán làm ra. Ngoài ra, Trịnh Hòa, một vị thái giám phục vụ dưới thời vua Minh Thành Tổ, đã chỉ huy các đoàn tàu thương lái di chuyển đến các khu vực như Đông Nam Á, Ấn Độ, Ả Rập, Ba Tư và Đông Phi, sớm kết nối thương mại Trung Quốc với các khu vực này.

Các thái giám còn đóng góp cho âm nhạc. Các thái giám thời nhà Minh còn được công nhận là những người Trung Quốc đầu tiên chơi nhạc cổ điển phương Tây. Hoàng đế Càn Long thời nhà Thanh còn lập một dàn nhạc thính phòng bao gồm các hoạ sĩ mặc âu phục và đội tóc giả.

Nhan nhản chuyện thái giám “làm bậy”

Theo lẽ thường, sau khi bị thiến, khả năng sinh dục của những người này bị cắt đứt, buộc họ phải dứt bỏ những hành vi gắn với dục vọng. Vậy nhưng, lịch sử Trung Hoa vẫn ghi nhận không ít trường hợp các thái giám “không an phận” mà làm nên những chuyện đồi bại, biến thái.

Vào những năm Gia Tĩnh, Minh triều từng xảy ra vụ việc hoạn quan Lưu Quang Vinh có hành vi tư thông với nhiều cung nữ. Sau khi sự tình bại lộ, thái giám họ Lưu này bị Hoàng đế thẳng tay bãi quan.

Khi Minh Hi Tông còn tại vị, ba kẻ hoạn quan là Ngụy Trung Hiền, Triệu Tiến Kinh, Từ Ứng Nguyên từng thông đồng với nhau gây nên nhiều hành vi đồi bại trong cung đình. Thậm chí, Ngụy Trung Hiền cùng một thái giám khác là Ngụy Triệu Đồng còn tư thông với nhũ mẫu của Hoàng đế, gây ra tai tiếng khuấy đảo chốn cung đình lúc bấy giờ. Chưa dừng lại ở đó, những kẻ hoạn quan không an phận này còn gây ra chuyện tày trời khiến bàn dân thiên hạ “giận sôi máu”. Đó chính là hành vi cưỡng hiếp phụ nữ.

Theo các tài liệu lịch sử ghi chép, vào cuối những năm Hồng Vũ, vị quan tên là Thạch Doãn nhận nhiệm vụ tuần tra tại Hà Nam. Có lần, Thạch Doãn cải trang thành thường dân đi vi hành. Tới một ngôi nhà, ông nghe thấy tiếng khóc bi ai vọng ra. Sau khi điều tra, Thạch Doãn mới biết rằng con gái nhà ấy bị một hoạn quan cưỡng gian, vì nhục nhã nên đã tự sát. Biết rõ chân tướng vụ việc, vị quan họ Thạch ấy dâng tấu lên nhà vua. Đọc được tấu chương này, Hoàng đế Chu Nguyên Chương vô cùng tức giận, đã hạ lệnh phán tội chết cho tên hoạn quan kia.

Vào năm Cảnh Thái nguyên niên (1450), Đại đồng Hữu Tham tướng Hứa Quý dâng tấu lên nhà vua, tố cáo Thái giám phụ trách việc giám quân là Vi Lực Chuyển cậy thế cưỡng gian thê tử của một vị quan quân. Vì người thiếu phụ này phản kháng, Vi Lực Chuyển đã “giận cá chém thớt”, kiếm cớ trách phạt và đẩy vị quan quân kia vào chỗ chết. Lúc ấy, Minh Đại Tông Chu Kỳ Ngọc tra hỏi Tuần án Ngự sử thì quả nhiên thấy có chuyện như vậy. Thậm chí, hoạn quan họ Vi này còn không từ thủ đoạn với cả người thân trong nhà. Sinh thời, Lực Chuyển có nhận một người con trai nuôi. Nhưng vì vừa mắt với thê tử của con mình, Vi Lực Chuyển đã làm chuyện đồi bại, thậm chí còn thẳng tay hại chết con nuôi để chiếm đoạt con dâu sau khi sự việc bị bại lộ. Năm Thuận Thiên nguyên niên, Công bộ Hữu Thị Lang Hoắc Tuyên Hiệu lại dâng tấu hạch tội Vi Lực Chuyển. Tấu chương vạch rõ: Hoạn quan họ Vi này mỗi khi tổ chức yến tiệc đều tìm kỹ nữ đến bồi rượu, vui thú, sau đó còn nhiều lần ép các quan quân phải gả con gái cho mình. Minh Anh Tông nghe xong liền vô cùng tức giận, lập tức sai người bắt Vi Lực Chuyển trừng trị theo pháp luật.

Những sự việc trên hẳn sẽ khiến nhiều người không khỏi thắc mắc, thái giám là những kẻ đã mất đi khả năng quan hệ nam nữ, sao có thể phạm tội cưỡng gian?

Đi sâu vào quá trình “tịnh thân” của các thái giám, ta có thể thấy rõ, vào thời cổ đại, trong cung có hai cách để thiến các nam tử. Cách thứ nhất là cắt bỏ toàn bộ dương vật. Cách thứ hai là cắt bỏ hoặc bóp nát tinh hoàn. Trong số đó, việc loại bỏ tinh hoàn được sử dụng phổ biến hơn cả. Khi cơ quan này bị “vô hiệu hóa”, đàn ông sẽ mất đi khả năng phát dục, dương vật cũng không thể cương, năng lực tình dục cũng vì vậy mà “tiêu biến”.

Vậy nhưng, các thái giám vẫn sử dụng “ngọc hành” (dương vật) đã trở nên vô dụng để “đùa bỡn” phụ nữ. Tuy nhiên, việc sở hữu cơ quan sinh dục bị khiếm khuyết khiến quan hệ nam nữ của các hoạn quan không thể diễn ra theo phương pháp thông thường.

Sự thỏa mãn về mặt sinh lý của họ cũng chỉ có thể dừng lại ở mức độ đụng chạm thân thể hoặc dùng các dụng cụ khác để “vũ nhục” đối phương. Chưa dừng lại ở đó, có một số thái giám còn sở hữu khả năng “hồi xuân”. Vì nhiều lý do khác nhau, một vài hoạn quan được nhân nhượng bằng cách thiến “hông triệt để”, hoặc sử dụng thủ thuật khiến dương vật tạm thời teo lại để che mắt người ngoài. Đối với các trường hợp hi hữu này, chức năng của dương vật rất có khả năng khôi phục trở lại, nhu cầu về mặt sinh lý cũng theo đó mà phát sinh.

Theo một số nguồn sử liệu Trung Hoa, những sự việc như vậy quả thực đã từng được ghi nhận. Cuốn “Tảo lâm tạp trở” thời nhà Minh khẳng định thái giám Ngụy Trung Hiền sở hữu khả năng khiến “ngọc hành sống lại”. Đến thời nhà Thanh, hoạn quan Tiểu Đức Trương được miêu tả là người “có hứng thú đặc biệt với phụ nữ”, thậm chí còn cưới tới mấy người vợ.

Ngay cả khi có khả năng “hồi xuân”, nhưng hầu hết các thái giám đều mang tâm lý méo mó, biến thái do nhu cầu sinh lý bị đè nén, lại thêm ánh mắt kỳ thị từ phía dư luận. Cũng bởi vậy mà những hành vi vũ nhục, cưỡng gian của những kẻ không an phận này đều hết sức đáng sợ, tàn nhẫn.

Hoạn quan lấy vợ là chuyện không hiếm

Căn cứ theo ghi chép của nhà sử học, Đông Hán, Đường và Minh là ba thời kỳ chịu ảnh hưởng lớn nhất của hoạn quan. Trong số đó, căn theo ghi chép trong sách sử, ngay từ thời Hán Thành Đế, việc hoạn quan lấy vợ đã rất phổ biến.

Đến thời Hán Hoàn Đế, những hoạn quan như Đan Siêu, Đường Hoành, Từ Hoàng được phong làm Ngũ hầu, họ cũng công khai lấy vợ. Từ đó có thể thấy, vào thời nhà Hán, việc hoạn quan lấy vợ đã vô cùng phổ biến.

Vào thời nhà Đường, hoạn quan càng gây hại, không những sống xa hoa lãng phí, còn chọn dùng người thân của mình vào việc công.

Ở giai đoạn sau ở nhà Đường, bởi hoàng đế quá mức ngu dốt, bỏ bê triều chính, khiến hoạn quan nắm được quyền thế, vậy nên hoạn quan không những ngang nhiên lấy vợ, còn cố tình nâng đỡ nhà vợ.

Vào thời Đường Huyền Tông, hiện tượng này khá rõ ràng. Khi ấy, hoạn quan Cao Lực Sĩ rất được hoàng đế sủng ái. Sau khi lấy con gái một quan nhỏ phụ trách văn thư tên là Lã Huyền Ngộ, Cao Lực Sĩ bắt đầu cất nhắc cha vợ mình một cách trắng trợn, đề bạt ông ta làm Thiếu khanh. Khi mẹ vợ của Cao Lực Sĩ qua đời, lễ tang cũng muôn phần long trọng. Các quan lớn trong triều ào ào đích thân tới chia buồn, cảnh tượng hết sức rầm rộ, từ đó có thể thấy được địa vị của hoạn quan vào thời nhà Đường cao tới mức nào.

Mãi cho tới thời nhà Tống, hiện tượng hoạn quan lấy vợ mới giảm thiểu rõ ràng, bởi vì vào thời nhà Tống, hoàng đế đã rút ra bài học kinh nghiệm từ việc hoạn quan gây hại trong giai đoạn cuối nhà Đường, cho nên đã tăng cường quản lý đối với hoạn quan, mặc dù vẫn có một số hoạn quan lấy vợ, thế nhưng số lượng rất ít, gần như không có ghi chép trong sử sách.

Thế nhưng, thời nhà Minh, tình trạng hoạn quan lộng quyền diễn ra vô cùng nghiêm trọng, vì thế hoạn quan lấy vợ đã là chuyện thường tình. Vào giai đoạn đầu của nhà Minh, Minh Thái Tổ có quy định rõ ràng rằng hoạn quan không được lấy vợ, nếu như có người vi phạm, sẽ phải chịu hình phạt lột da. Tới thời Minh Thành Tổ, bởi vua hết sức sủng ái hoạn quan, cho nên những quy định này cũng dần bị coi nhẹ. Căn cứ theo ghi chép, giai đoạn này đã có rất nhiều hoạn quan lấy vợ, có trường hợp Hoàng đế ban thưởng cho hoạn quan, cũng có trường hợp là do cung nữ và hoạn quan cùng sống trong hoàng cung lâu ngày nên nảy sinh tình cảm, đa số những cung nữ này sau khi được xuất cung cũng đều gả cho những thái giám ấy.

Ở Trung Quốc có cụm từ “đối thực” dùng để chỉ chuyện vợ chồng giữa cung nữ và thám giám (ban đầu dùng để mô tả hành vi đồng tính luyến ái nữ giữa các cung nữ).

Tới thời nhà Thanh, vào giai đoạn đầu, bởi quy định vô cùng nghiêm khắc, thế nên chuyện hoạn quan lấy vợ rất hiếm thấy, nhưng tới giai đoạn giữa và sau đã xuất hiện rất nhiều hoạn quan lấy vợ nuôi con.

Theo lời kể của một thái giám tên Tôn Diệu Đình, ông nói rằng ở trong hoàng cung (thời nhà Thanh), gần như mỗi một thái giám đều sẽ có nhân tình, ai không có nhân tình sẽ bị chê cười.

Từ đó có thể thấy, vào giai đoạn cuối của nhà Thanh, chuyện thái giám lấy vợ cũng hết sức phổ biến.

Cả đời tận tuỵ hầu hạ chủ nhân, lúc nghỉ hưu chật vật tìm chốn dung thân

Thời phong kiến ở Trung Quốc, việc trở thành thái giám được coi là điều xấu hổ, có lỗi với tổ tiên, và gia đình thường không muốn chấp nhận họ. Bởi vậy khi qua đời, họ cũng không được chôn cất trong phần mộ của tổ tiên.

Đối với những thái giám có tên tuổi như Lý Liên Anh (thái giám triều đại nhà Thanh thế kỷ XIX, là người thân cận và tâm phúc của Từ Hi Thái hậu) sẽ không phải đau đầu vì việc dưỡng già. Bởi họ có nhiều cơ hội kiếm được tiền, xây vương phủ tráng lệ như một cung điện cho riêng mình ở Bắc Kinh, sống một cuộc sống xa hoa, ăn chơi sa đọa.

Nhưng những nhân vật như vậy không có nhiều, phần lớn thái giám sẽ gặp khó khăn trong việc dưỡng lão khi về già. Sau khi “nghỉ hưu” thường thì họ sẽ chọn ở chùa, bởi chỉ có ở nơi đó họ mới được chấp nhận.

Các thái giám sau khi rời cung cũng thành lập một tổ chức tương trợ, gọi là “Hiệp hội dưỡng lão”, có thể coi là một nhóm dành cho các thái giám cao tuổi. Họ thiết lập mối quan hệ thân thiết với nhà chùa bằng cách quyên góp tiền bạc, để có cơ hội có chốn dung thân sau khi nghỉ hưu. Ngoài ra, Hiệp hội dưỡng lão còn đầu tư mua đất, xây dựng đình chùa làm nơi trú ngụ cho các thái giám, gọi là “miếu thái giám”. Theo thống kê, vào cuối triều đại nhà Thanh, có 26 ngôi miếu thái giám trong và ngoài thành phố Bắc Kinh.

Các hoạn quan thời nhà Thanh khi còn trẻ đã phải chuẩn bị cho việc dưỡng lão. Đầu tiên, họ cần tích lũy tài sản, sau đó đi quyên góp cho Hiệp hội dưỡng lão thì mới có đủ tư cách tham gia hiệp hội này, và khi về già có thể yên tâm rời khỏi chốn cung đình. Chẳng hạn như Thôi Ngọc Quý, đại thái giám thân cận của Từ Hi Thái hậu đã hiến 680 mẫu đất. Sau khi nghỉ hưu vào năm 1908, ông sống trong đền và mất tại đó.

Ngoài ra, những thái giám nghèo không tiết kiệm được tiền bạc thì chỉ có thể sống lang thang, ăn xin sống tạm bợ qua ngày cho đến khi chết vì đói.

Bên cạnh đó, thái giám nên đến chùa khi còn trẻ để bái kiến các nhà sư, đạo sĩ làm thầy, quyên góp tiền tu sửa chùa, để sau khi rời cung có thể chuyển về đó. Tiêu biểu nhất trong việc trên là thái giám Lưu Đa Sinh (thái giám thân cận của Hàm Phong Đế). Thái giám Lưu Đa Sinh về sau quyên góp để sửa chữa và xây dựng 20 ngôi đền cho thái giám, đồng thời còn mua hơn 2.600 mẫu đất.

Thời phong kiến, thái giám là những người tuy phục vụ trong cung mấy chục năm nhưng về già lại không được coi trọng. Do đó, thời trẻ họ phải tích lũy tài sản, mua nhà tậu đất, thăm nom sư thầy để có chốn nương thân khi nghỉ hưu.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất kỳ khách du lịch nước ngoài nào. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn thì hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc nhé!

Lễ hội cháo cầu may Laba ở Bắc Kinh, Trung Quốc

Trung Quốc là một quốc gia có nền văn hóa và lịch sử đa dạng. Nổi tiếng với bề dày lịch sử của các triều đại cùng nền văn hóa lâu đời và được biết đến như chiếc nôi của văn hóa phương Đông. Trung Quốc có các lễ hội vô cùng đặc sắc không thể bỏ qua nếu du khách có dịp đặt chân tới, chẳng hạn như Lễ hội cháo Laba ở Bắc Kinh.

Hàng năm, cứ vào ngày thứ tám của tháng thứ 12 theo lịch âm Trung Quốc là ngày hội cháo cầu may Laba được tổ chức tại chùa Yonghegong Lama ở thủ đô Bắc Kinh. Từ “La” theo tiếng Trung Quốc có nghĩa là “tháng âm lịch cuối cùng” và “Ba” có nghĩa là “tám”. Đó là lễ hội khởi đầu cho các hoạt động đón chào Tết âm lịch của người Trung Hoa.

Vào đúng 8h30, nồi cháo Laba nghi ngút khói với hương thơm nồng nàn được các vị lạt ma của ngôi chùa Yonghegong Lama bưng ra và làm lễ phát cháo như thường niên. Rất nhiều người dân đến đây xếp hàng để ăn cháo với tin rằng Cháo Laba có thể mang lại cho mọi người của cải và sự bội thu trong năm tới. Và nó cũng rất dinh dưỡng.

Cháo Laba thường được nấu với 30 loại nguyên liệu, trong đó gạo, đậu đỏ, quả hạch và hoa quả khô là các nguyên liệu chủ yếu. Sự phong phú về nguyên liệu trong một món ăn cộng với công thức nấu gia truyền, sự tinh tế trong cách phối hợp các nguyên liệu âm dương phổ biến trong món ăn đã làm cho món cháo Laba trở nên đặc biệt và thơm ngon hơn hẳn.

Những người dân thủ đô Bắc Kinh trong chờ lễ hội đến để có thể thưởng thức bát cháo Laba chứa đầy hi vọng. Còn đối với những vị khách du lịch quốc tế, việc được hòa vào dòng người đón nhận bát cháo Laba trong lễ hội đặc biệt này thì quả là điều thích thú. Chính vì lý do đó nên lễ hội cháo Laba hiện nay được nhiều người đón nhận và tham gia.

Tương truyền, nguồn gốc lễ hội cháo Laba xuất phát từ Ấn Độ: Trên đường Thích Ca Mâu Ni đi tìm đường giác ngộ, ông đói và kiệt sức nên đã nằm lại bên một con sông. Một cô gái chăn cừu tìm thấy và đã chia sẻ với ông bữa trưa của mình – bát cháo được nấu bằng gạo và đậu. Sau đó, Thích Ca Mâu Ni đã có thể tiếp tục cuộc hành trình và đạt tới sự giác ngộ, trở thành Đức Phật trong ngày thứ tám của tháng âm lịch cuối cùng. Từ đó, các nhà sư và lạt ma luôn chuẩn bị cháo gạo vào đêm hôm trước trước và tổ chức lễ hội vào ngày hôm sau.

Nếu du khách có dịp đến Bắc Kinh trong chuyến du lịch Trung Quốc trong những ngày cuối năm thì đừng bỏ qua cơ hội tham gia lễ hội cháo Laba nhé! Chắc chắn đây sẽ là một trải nghiệm thú vị mà du khách khó lòng quên được.

Cuộc đời thật của Thục Gia Hoàng Quý phi trong lịch sử Thanh triều

Trong Hậu cung Trung Hoa xưa, không hiếm thấy sự xuất hiện của các phi tần ngoại quốc. Những vị phi tần ấy vốn dĩ chỉ là “vật hi sinh” cho các cuộc hôn nhân chính trị, và đa phần đều chết thảm do không có thủ đoạn bằng các phi tần chính quốc. Tuy nhiên, với Thục Gia Hoàng Quý phi – vị phi tần duy nhất có nguồn gốc Triều Tiên của Càn Long Đế là một ngoại lệ đặc biệt.

Thục Gia Hoàng Quý phi có xuất thân Triều Tiên, nhưng làm phi tần của Thanh Cao Tông Càn Long Đế không phải vì mục đích chính trị. Chưa kể bà đã trụ vững trong chốn thâm cung, từng bước đi lên từ vị trí Quý Nhân cho đến Hoàng Quý phi và hạ sinh cho Càn Long Đế tới 4 Hoàng tử, mang về cho gia tộc không ít vinh hiển.

Thục Gia Hoàng Quý phi Kim Giai thị, nguyên là Kim thị, sinh vào ngày 25/7 (âm lịch) năm Khang Hi thứ 52, xuất thân Chính Hoàng kỳ Bao y, là hậu duệ một gia tộc người Triều Tiên, nguyên gốc hiện ở Nghĩa Châu.

Sau sự kiện Đinh Mão chi dịch xảy ra năm 1617, tổ tiên bà đến cậy nhờ Hậu Kim, sinh sống ở vùng Đông Bắc, do vậy về căn bản Kim thị là một Mãn Châu nữ tử gần như thuần chủng. Nhà Thanh thiết lập Cao Ly Tá lĩnh, là xếp dòng dõi của bà vào hệ này, cũng xem là trở thành chân chính Mãn Châu sĩ phu. Căn cứ “Mãn Châu Bát Kỳ thị tộc thông phổ ” ghi lại, Cao Ly Tá lĩnh, là Tá lĩnh độc nhất ở Nội vụ Phủ, đều lệ thuộc Chính Hoàng kỳ Bao y đệ Tứ Tham lĩnh, sở hữu 43 dòng họ khác nhau, trong đó Kim thị và Hàn thị là 2 họ hiển hách nhất. Hai gia tộc đều lấy quân công lập nghiệp, cũng hoạch phong thế chức, do vậy Mãn Châu quý tộc đối với họ rất ưu ái cùng coi trọng, trở thành sĩ tộc có ảnh hưởng trong xã hội.

Theo “Bát Kỳ thông chí” cuốn 4, Kỳ phân chí ghi lại: năm đầu Thiên Thông (1627), tằng tổ phụ của Thục Gia Hoàng quý phi Tam Đạt Lễ, khi đó tùy trưởng huynh Tân Đạt Lễ quy phụ Hậu Kim, lấy làm quan phiên dịch. Đương Hoàng Thái Cực quy mô dụng binh Triều Tiên bán đảo, do vậy cho quy phục Chính Hoàng kỳ Bao y, nhậm Cao Ly Tá lĩnh, Tân Đạt Lễ nhậm Cao Ly đệ Nhị Tá lĩnh, kiêm Nội vụ Phủ Tam kỳ Hỏa doanh Tổng quản sự. Tổ phụ Thượng Minh không rõ sự tích. Cha của Kim thị là Thượng Tứ Viện Khanh Kim Tam Bảo, từng là Tuần thị Trường lô diêm chính, sau thăng Võ Bị viện Khanh, kiêm nhậm Công trung Tá lĩnh, nhậm Đệ Tam Tá lĩnh kiêm Đệ Tứ Tá lĩnh. Anh trai trưởng Kim Đỉnh từng nhậm Lam Linh Thị vệ, thứ huynh Kim Huy từng nhậm Mãn Tả Thị lang của bộ Binh, anh út là tương lai Lễ bộ Thượng thư Kim Giản.

Do là Bao y thuộc Nội vụ phủ, Kim thị sẽ thông qua Nội vụ phủ tuyển tú nhập cung làm cung nữ, và thông qua đó có lẽ Kim thị đã hầu hạ Hoàng tứ tử Hoằng Lịch, nhận danh phận làm Cách cách và sống trong Tiềm Để cùng ông. Đến khi Hoằng Lịch đăng cơ Hoàng đế, bà chính thức được sắc phong vị trí Quý Nhân. Tới đây, con đường hoạn lộ của bà mới chính thức khai hoa nở nhụy.

Mùa xuân năm Càn Long thứ 2 (1737), Kim Quý Nhân được Càn Long đế sắc phong thành Tần. Khi định huy hiệu, Nội vụ phủ soạn ra 4 huy hiệu lần lượt là “Lệnh”, “Uyển”, “Gia” và “Túy”, sau cùng định chọn “Gia tần”. Theo Hồng xưng thông dụng của Nội vụ phủ, chữ “Gia” có Mãn văn là “Gitulkhan”, có nghĩa là “đáng khen”. Ngày 4/12 (âm lịch) cùng năm đó, lấy Lễ bộ Thượng thư Nhậm Lan Chi làm Chính sứ, Nội Các Học sĩ Ngô Gia Kỳ  làm Phó sứ, tiến hành lễ sách phong.

Năm Càn Long thứ 4 (1739), ngày 14/1 (tức ngày 21 tháng 2 dương lịch), bà hạ sinh Hoàng tứ tử Vĩnh Thành, là vị hoàng tử đầu tiên của Càn Long Đế sau khi đăng cơ.

Năm thứ 6 (1741), ngày 13/2, chỉ dụ tấn lên Phi. Cùng năm tháng 11, lấy Lễ bộ Thượng thư Tam Thái làm Chính sứ, Lễ bộ Thị lang Mãn Sắc làm Phó sứ, hành sắc phong lễ. Năm Càn Long thứ 11 (1746), ngày 15/10, bà lại sinh hạ Hoàng bát tử Vĩnh Tuyền.

Năm Càn Long thứ 13 (1748), ngày 1/7 (âm lịch), Nhàn Quý phi Na Lạp thị được lập làm Nhiếp lục cung sự Hoàng Quý phi, lễ nghi đều như sách lập Hoàng hậu. Do đại lễ long trọng này, Càn Long Đế cũng đại phong hậu cung, dụ tấn Gia phi Kim thị thành Quý phi. Cùng năm, ngày 9/7, Gia Quý Phi phúc khí tràn đầy, lại sinh thêm một Hoàng tử, đáng tiếc Hoàng tử này yểu mệnh nên chưa được 1 tuổi đã hoăng thệ.

Cứ tưởng con đường sinh nở của bà tới đây là dừng lại và bà đã an phận ở vị trí Gia Quý phi, nhưng không, năm Càn Long thứ 17 (1751), ngày 7/2, bà tiếp tục hạ sinh Hoàng thập nhất tử Vĩnh Tinh.

Cũng chính vì do liên tục sinh nở nên sức khỏe của Gia Quý Phi đã sớm cạn kiệt. Bà đã lâm trọng bệnh và qua đời vào ngày 15/11, ở tuổi 42. Bà được đích thân Sùng Khánh Hoàng Thái hậu truy phong thành Thục Gia Hoàng Quý phi, đồng thời cũng là 1 trong 5 hậu phi duy nhất được an táng ở Dụ lăng phi viên tẩm cùng Càn Long Đế, bên cạnh Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu, Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu, Tuệ Hiền Hoàng Quý phi và Triết Mẫn Hoàng Quý phi. Thần bài của bà được đặt ở Tây Noãn các trong Long Ân điện, phía Tây bài vị của Tuệ Hiền Hoàng quý phi (ở giữa Noãn các), và phía Đông, cũng là đối diện chính là bài vị của Triết Mẫn Hoàng Quý phi.

Đáng lưu ý là dù đã qua đời, nhưng những ân sủng của bậc Thiên tử dành cho bà vẫn còn tiếp tục. Chẳng hạn như việc Hoàng đế Gia Khánh (kế vị Càn Long đế) đã hạ lệnh gia tộc Kim Thị của Thục Gia Hoàng Quý phi được đổi thành Kim Giai Thị và nhập vào Mãn Châu Chính Hoàng kỳ. Đến năm Gia Khánh thứ 23, hoàng đế truyền chỉ chính thức sửa tên Kim Thị thành Kim Giai thị trong ngọc điệp hoàng gia, biểu thị ân sủng thâm hậu đối với gia tộc của bà. Từ đây gia tộc trở nên hưng thịnh, Kim Giản lần lượt nhậm Tương Hoàng kỳ Hán quân Đô thống, rồi Lại bộ Thượng thư. Con là Ôn Bố, sơ thụ Bái đường a, Lam Linh Thị vệ, Tổng binh trấn Thái Ninh, Nội vụ Phủ đại thần, Võ Anh điện Tổng đài quan, Tương Hồng kỳ Hán quân Phó đô thống, Công bộ Thị lang, Chính Hồng kỳ Mông Cổ Phó đô thống, cuối cùng là Thượng thư bộ Hộ. Cháu Thiện Ninh, tập nhậm Thế quản Tá lĩnh, còn Kim Huy từng nhậm Tả Thị lang bộ Binh. Gia tộc từ khi liên hôn hoàng thất, dần dần phát đạt.

Quả thật, mặc dù với xuất thân Triều Tiên nhưng Thục Gia Hoàng Quý phi Kim Giai Thị không những không bị “đào thải” sớm trong chốn hậu cung nhà Thanh vốn thâm độc nhiều tâm cơ, mà còn trụ vững, nâng cao phi vị của mình cho tới khi cuối đời và mang về cho gia tộc không ít vinh hiển đúng là chuyện hiếm thấy.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất kỳ khách du lịch nước ngoài nào. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn thì hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc nhé!

Vén màn bí mật về chế độ lương thưởng của phi tần nhà Thanh

Hẳn trong hình dung của hậu thế, các phi tần của nhà vua đều sẽ được hưởng thụ cuộc sống ăn sung mặc sướng, tiêu tiền như nước. Tuy nhiên, thực tế là các phi tần trong lịch sử Trung Hoa, đặc biệt là vào thời nhà Thanh, vốn không có quyền tự do tiêu xài tiền bạc mà cũng chỉ được phát bổng lộc ở một mức nhất định.

Vào thời nhà Thanh, khi chế độ quản lý hậu cung đã đạt tới mức hoàn thiện và chặt chẽ nhất, thì đời sống chi tiêu của những phi tử nơi cung cấm thậm chí cũng được quy định hết sức rạch ròi.

Chiếu theo quy chế của Thanh cung, hậu cung của các vị Hoàng đế chỉ được phép có 1 Hoàng hậu, 1 Hoàng Quý phi, 2 Quý phi, 4 Phi, 6 Tần. Các cấp bậc thấp hơn như Quý nhân, Thường tại, Đáp ứng tuy không giới hạn số lượng nhưng cũng không thể lựa chọn một cách tùy tiện.

Về chế độ cấp phát bổng lộc, mỗi hàm phi vị khác nhau sẽ được hưởng thụ những đại ngộ khác nhau. Đãi ngộ này sẽ bao gồm cả ngân lượng cấp theo năm và các nhu yếu phẩm phục vụ cho cuộc sống hàng ngày của họ. 

Theo lẽ thông thường, người được hưởng thụ đãi ngộ cao nhất trong hậu cung Thanh triều (chỉ tính riêng các thê thiếp của Hoàng đế) nghiễm nhiên sẽ là Hoàng hậu. Dựa vào ghi chép của Thanh cung, Hoàng hậu mỗi năm được hưởng 1.000 lượng bạc.

Một lượng bạc của thời nhà Thanh sẽ ứng với khoảng 250 NDT ngày nay. Như vậy, các Hoàng hậu của vương triều này mỗi năm sẽ nhận được 250.000 NDT/năm, tương đương mức lương 20.800 NDT/tháng (xấp xỉ với khoảng 73.000.000 VND/tháng).

Hưởng mức đãi ngộ cao thứ hai là Hoàng Quý phi. Nhân vật được ví như “Phó Hoàng hậu” trong hậu cung này sẽ được hưởng 800 lượng bạc mỗi năm, tương đương khoảng 200.000 NDT/năm, ứng với mức lương 16.600 NDT/tháng (xấp xỉ với khoảng 58.000.000 VND/tháng).

Các vị Quý phi trong hậu cung Thanh triều mỗi năm được cấp phát 600 lượng bạc làm bổng lộc, tương đương với khoảng 150.000 NDT/năm, ứng với mức lương gần 12.500 NDT/tháng (xấp xỉ với khoảng 43.750.000 VND/tháng)

Những người ở hàng Phi vị sẽ được hưởng bổng lộc 300 lượng bạc/năm, tương đương 75.000 NDT/năm, ứng với mức lương 6.250 NDT/tháng (xấp xỉ với khoảng 21.900.000 VND/tháng).

Những phi tử mang Tần vị thường được cấp phát 200 lượng bạc mỗi năm, tương đương 50.000 NDT/năm, ứng với mức lương khoảng 4.200 NDT/tháng (xấp xỉ với khoảng 14.700.000 VND/tháng).

Quý nhân trong hậu cung Thanh triều mỗi năm được cấp 100 lượng bạc làm bổng lộc, tương đương 25.000 NDT/năm, ứng với mức lương 2.000 NDT/tháng, xấp xỉ với khoảng 7.000.000 VND/tháng.

Xếp dưới Quý nhân là các Thường tại, nhóm người này được phát 50 lượng bạc làm bổng lộc hàng năm, tương đương 12.500 NDT/năm, ứng với mức lương hơn 1.000 NDT/tháng (xấp xỉ với khoảng 3.500.000 VND/tháng).

Đứng cuối trong danh sách những phi tần có chức vị trong hậu cung là các Đáp ứng. Họ chỉ nhận được 30 lượng bạc để chi tiêu cho cả năm, tương đương với 7.500 NDT/năm, ứng với mức lương 625 NDT/tháng, xấp xỉ với khoảng 2.900.000 VND/tháng).

Ngoài số bổng lộc được xem như tiền lương kể trên, mỗi phi tần ở các thứ bậc khác nhau sẽ được hưởng những đãi ngộ khác nhau về nhu yếu phẩm. Số vật dụng này sẽ bao gồm lăng la tơ lụa, đồ ăn hàng ngày, số cung nữ hầu hạ… Ngoài ra, vào dịp sinh nhật của mỗi phi tử, nhà vua sẽ ban thưởng cho họ quà tặng là những lễ vật riêng. Trong các dịp lễ tết, những phi tần có con đều được Hoàng đế phát “hồng bao”. Số ngân lượng hoặc lễ vật được phát trong các dịp này được gọi là “thứ bổng”, tương đương với tiền thưởng trong thời hiện đại.

Mặc dù được quy định rõ ràng, thế nhưng thông qua các đãi ngộ kể trên, không khó để nhận thức mức độ chênh lệch giữa những người có thứ bậc khác nhau là rất lớn. Thực tế là chỉ cần hơn kém một thứ bậc là đãi ngộ của người có phẩm hàm cao hơn gần như đã gấp đôi, gấp rưỡi người ở hàng thấp hơn. Đó là chưa kể tới việc Hoàng hậu thậm chí còn được hưởng đãi ngộ gấp tới hàng chục lần so với các phi tần cấp thấp.

Chính vì thế, để tồn tại trong chốn Hậu cung, họ đã phải nỗ lực cả đời để cải thiện đia vị của mình, cũng như tránh khỏi những mưu kế hiểm độc. Và có lẽ cũng chính vì những đãi ngộ khác nhau về cấp bậc ấy mà những phi tần nơi hậu cung đã sẵn sàng đánh đổi cả tính mạng để tiêu diệt đối thủ, tranh giành sự sủng ái của nhà vua.

Hậu cung Trung Hoa cổ đại luôn có những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện ấy lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về vùng đất “đặc biệt” này. Hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc để tự mình khám phá được nhiều điều thú vị hơn nhé!

Tết Nguyên Đán của người dân Trung Hoa

Mỗi năm đến dịp Tết Nguyên Đán, người Trung Quốc lại thực hiện hành trình di dân lớn nhất trong năm để tìm về nguồn cội. Tết Nguyên Đán ở Trung Quốc là thời điểm “vàng” trong năm để du khách có dịp tìm hiểu, khám phá về nét văn hóa độc đáo tại quốc gia có bề dày lịch sử lâu đời. Đối với người Trung Quốc, đây là dịp trọng đại trong một năm.

Tết Nguyên Đán là lễ hội truyền thống quan trọng nhất trong năm của một số dân tộc Châu Á như Trung Quốc, Việt Nam, Hàn Quốc, Triều Tiên,…Tết Nguyên Đán đánh dấu sự kết thúc của năm cũ và khởi đầu một năm mới.

Chữ “Tết” được người Việt Nam đọc chệch đi từ chữ “Tiết” (mùa màng, lễ hội) mà thành. Trong khi đó, cả hai chữ “Nguyên Đán” (元旦) nghĩa là “sự khởi đầu buổi sáng mới”; “nguyên” có nghĩa là sự khởi đầu hay sơ khai và “đán” có nghĩa là buổi sáng sớm, cho nên đọc đúng phiên âm phải là “Tiết Nguyên Đán”. Thời xa xưa, người Trung Quốc gọi Tết Nguyên Đán bằng nhiều tên khác nhau như: “Nguyên thần”, “Tuế đầu”, “Niên tiết”, “Nguyên thần”, “Nguyên nhật”,…

Tết được tính từ ngày đầu tiên của tháng âm lịch đầu tiên – ngày Chính (Chánh Nguyệt) và kết thúc vào ngày tổ chức lễ hội đèn lồng rằm tháng giêng. Đêm giao thừa của Trung Quốc, ngày dành cho sum họp gia đình, được gọi là đêm Trừ Tịch với “trừ” nghĩa là thay đổi, hoán đổi và “tịch” là đêm, “trừ tịch” nghĩa là “đêm của sự thay đổi””đêm của thời khắc giao thời”.

Tết Nguyên Đán là ngày tết âm lịch dài nhất và quan trọng nhất ở Trung Quốc, thường kéo dài từ ngày 8/12 âm lịch đến ngày 15 tháng Giêng âm lịch.

NGUỒN GỐC TẾT NGUYÊN ĐÁN

Liên quan đến nguồn gốc của Tết Nguyên Đán có nhiều cách diễn giải, tuy nhiên, giả thiết được nhiều người Trung Quốc đại lục phổ biến chấp nhận hiện nay đó là thời kỳ vua Nghiêu vua Thuấn, vào chính ngày mà vua Nghiêu lên nắm ngai vàng, ông đã dẫn theo thuộc hạ của mình lên núi khấn bái trời đất, kể từ đó, người ta gọi ngày này là “tuế thủ” và coi là khởi đầu của một năm. Đây là một trong những giả thuyết được lưu truyền rộng rãi nhất.

Còn theo lịch sử Hồng Kông, nguồn gốc Tết Nguyên Đán có từ đời Tam Hoàng Ngũ Đế và thay đổi theo từng thời kỳ các triều đại. Thời kỳ Tam Hoàng, nhà Hạ chuộng màu đen nên chọn tháng giêng, tức tháng Dần làm tháng đầu năm mới.Nhà Thương thích màu trắng nên lấy tháng Sửu, tức tháng chạp, làm tháng đầu năm. Còn nhà Chu ưa sắc đỏ nên chọn tháng Tý, tức tháng mười một, làm tháng Tết. Mãi cho đến đời nhà Hán, sau khi Hán Vũ Đế thống nhất giang sơn đã đặt lại ngày đầu năm mới vào tháng Dần, tức tháng Giêng. Từ đó về sau, trải qua bao nhiêu thời đại, không còn nhà vua nào thay đổi về tháng Tết nữa.

Cũng có nghiên cứu cho rằng Tết Nguyên Đán có nguồn gốc từ phong tục “Tế lễ tháng chạp” (lạp tế) từ thời thượng cổ, đến nay đã có lịch sử phát triển hơn 4.000 năm. Ngay từ thời kỳ vua Nghiêu vua Thuấn, xã hội Trung Quốc đã xuất hiện hoạt động “Lạp tế”. Lạp tế tức là hoạt động tế lễ bách thần diễn ra vào tháng cuối cùng trong năm (lạp nguyệt), nhằm cảm tạ thần linh đã phù hộ cho mọi người được no đủ, mùa màng bội thu. Nghi thức tế lễ này vô cùng trang trọng, mọi người phải chuẩn bị những loại thực phẩm ngon nhất để tế tự bách thần. Bởi thế, người ta phải đi săn (đả liệp), nhằm kiếm thịt thú rừng tươi, có mùi vị thơm ngon để làm tế phẩm. Thời cổ, chữ “liệp” đồng nghĩa với chữ “lạp”, bởi vậy “Lạp tế” còn có ý nghĩa là hoạt động “săn bắt, tế tự”.

Ngoài ra, Tết Nguyên Đán của người dân Trung Hoa cũng bắt nguồn từ truyền thuyết về con Niên. Theo truyền thuyết, khởi đầu của Tết Nguyên Đán Trung Quốc là một cuộc chiến chống lại con niên (Niên Thú) quanh năm sống dưới đáy biển. Con niên hay đến vào dịp đầu năm mới để phá hoại gia súc, mùa màng, giết hại dân làng, đặc biệt là trẻ con. Để bảo vệ mình, dân làng đặt thức ăn trước cửa nhà vào dịp đầu năm và sau đó, già trẻ trai gái cùng dắt nhau lên núi trốn chạy con niên. Mọi người tin rằng sau khi ăn những thức ăn đó, nó sẽ không tấn công dân làng nữa. Một lần, có một ông già ăn xin đến thôn làng, khi đó dân làng đã trốn hết lên núi, chỉ còn một bà lão ở lại cho ông thức ăn và khuyên ông lão nhanh chân đi trốn. Ông lão bất ngờ nói: “Hãy cho tôi ở lại nhà hôm nay, tôi sẽ đuổi được con niên đi”. Thế rồi vào đêm trừ tịch (giao thừa), con niên đến thôn như thường lệ, nhưng phát hiện ra có điều bất thường, ngoài cửa nhà bà lão đầu thôn có dán giấy đỏ, bên trong nhà có ánh lửa sáng rực, con niên khi đó đã vô cùng sợ hãi, kêu to một tiếng toan tháo chạy. Ngay khi đến gần cửa, bên trong vườn đột nhiên phát ra tiếng pháo nổ lớn, con niên khiếp đảm, một mạch chạy thẳng ra cửa mà không dám quay đầu trở lại nữa. Sau này, dân làng mới hiểu ra rằng con niên sợ màu đỏ, ánh lửa và tiếng pháo nổ. Do đó, về sau, vào những ngày đầu năm mới, dân làng đều treo đèn lồng đỏ, dán giấy đỏ trên cửa sổ, cửa ra vào. Mọi người cũng dùng pháo hoa để làm cho con niên khiếp sợ. Từ đó, con niên không bao giờ tới làng nữa. Cuối cùng, con niên bị Hồng Quân Lão Tổ bắt (ngài là thầy dạy của Tam Thanh – là ba vị thần tiên tối cao trong Đạo Giáo). Con niên trở thành vật cưỡi của Hồng Quân Lão Tổ.

PHONG TỤC ĐÓN TẾT NGUYÊN ĐÁN CỦA NGƯỜI DÂN TRUNG HOA

Dọn dẹp và trang trí nhà cửa

15 ngày trước khi thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới bắt đầu, người dân Trung Quốc đã bắt đầu tất bật cho các hoạt động mua sắm quần áo, đồ trang trí, thực phẩm cất trữ. Vài ngày trước Tết thường là từ 2-3 ngày, mọi người sẽ bắt đầu dọn dẹp nhà cửa, để loại bỏ đi những mảnh vụn, mảnh đất xấu của năm trước. Việc dọn dẹp này được xem như là cách để xua đi những thứ cũ kỹ đã qua và chào đón điều mới mẻ trong năm mới.

Dọn dẹp nhà cửa thường là hoạt động chung, tất cả các thành viên trong gia đình sẽ tham gia hoạt động này. Đây là một cách để tạo sự gắn kết các thành viên trong nhà, đồng thời cũng mang đến khoảng thời gian thư giãn, thoải mái nhất cho mọi người. Kết hợp với dọn dẹp vệ sinh, nhiều gia đình cũng sơn sửa lại nhà, tạo nên một không gian mới mẻ hơn để chào đón năm mới.

Sau đó, người ta sẽ thực hiện trang trí nhà cửa của mình bằng nhiều hình thức:

  • Treo câu đối xuân

Bắt nguồn từ thời đại Shu (hơn 1.000 năm trước), các câu đối cho Tết Nguyên Đán có một lịch sử lâu dài và phong phú. Vào thời cổ đại, những cặp câu đối này được chạm khắc thành những tấm thẻ làm từ thân cây đào.

Theo truyền thuyết, có một cây đào khổng lồ trong thế giới linh hồn. Mỗi buổi sáng, những linh hồn đến thăm thế giới loài người phải trở về đó. Lối vào được bảo vệ bởi hai vị thần. Những linh hồn gây hại trong đêm sẽ bị bắt và cho hổ ăn. Mọi người bắt đầu khắc tên của hai vị thần này vào gỗ đào để chống lại những linh hồn hung ác. Điều này chuyển thành những lời phước lành bằng văn bản, sau đó chúng thành những câu thơ trên giấy đỏ.

Ngày nay, khi đến Trung Quốc, du khách có thể thấy chúng dọc theo cánh cửa của hầu hết mọi gia đình trong mùa năm mới. Một dòng thứ ba ngắn hơn tùy ý được đặt phía trên khung cửa. Nhiều ý muốn được đưa vào những bài thơ này. Số lượng từ của mỗi dòng nên giống nhau; nếu du khách tự viết, hãy sử dụng bộ đếm từ để đảm bảo mỗi dòng chứa cùng số lượng từ.

Các định dạng và âm điệu nên đồng nhất hoặc bổ trợ cho nhau. Một số người viết thậm chí còn muốn sử dụng sự lặp âm đầu hoặc sử dụng các từ giống nhau cho hai bên. Có vô số phiên bản và phong cách khác nhau, nhưng mỗi cặp câu đối đều truyền đạt mong muốn của người viết cho năm mới.

  • Dán chữ “Phúc”

Tương tự, người Trung Quốc cũng trang trí ngày Tết bằng một số từ nhất định. Từ phổ biến nhất là từ “Phúc” – nghĩa là hạnh phúc và may mắn. Nó được viết bằng thư pháp trên một mảnh giấy đỏ vuông. Những thứ này có thể được dán lên tường, cửa ra vào hoặc cửa sổ.

Chữ “Phúc” thường được kết hợp vào các đồ trang trí khác, chẳng hạn như giấy cắt và tranh. Như một cách chơi chữ, nhiều người thích đặt chữ “Phúc” đảo ngược. Bởi chữ dán ngược nghĩa là “Phúc Đảo”, chữ “Đảo” trong tiếng Hán đồng âm với chữ “Đáo” (倒 – Dào), nó đồng âm với từ “ở đây” (到). Trò chơi chữ này thể hiện rằng vận may đang đến, hoặc đã ở đây.

  • Dán tranh Thần cửa

Theo tín ngưỡng dân gian Trung Quốc có nhiều vị thần khác nhau, cũng như các nhân vật lịch sử được tôn kính (có thật hoặc huyền thoại) và trong đó có vị thần mang tên Thần Cửa. Đúng như tên gọi, tranh của những vị thần này được dán lên cửa chính của một ngôi nhà, vì lối vào chính theo truyền thống bao gồm hai cửa, nên các vị thần luôn xuất hiện theo cặp.

Theo truyền thuyết, thợ săn quỷ nổi tiếng nhất tên là Zhong Kui có khuôn mặt rất đáng sợ. Đây là lý do tại sao tất cả các vị thần Cửa đều có đôi mắt giận dữ, gương mặt nhiều nếp nhăn và giữ vũ khí truyền thống. Thần sẵn sàng bảo vệ gia đình trước bất kỳ con quỷ hay linh hồn nào.

  • Tranh cắt giấy nghệ thuật

Cắt giấy là một nghề thủ công dân gian, nó có thể được sử dụng quanh năm, nhưng được dùng đặc biệt trong Tết Nguyên Đán. Tranh cắt giấy nghệ thuật thường thấy trên các cửa sổ, theo đúng tên gọi của nó là “cửa sổ hoa”. Các nghệ nhân sẽ tỉ mỉ tạo ra những tác phẩm tuyệt đẹp này và dán chúng lên cửa sổ bằng keo dính từ cơm.

Những đồ trang trí này thường tượng trưng cho sự thịnh vượng và lời chúc tốt lành, chúng được làm bằng giấy đỏ. Hình ảnh bao gồm cá, đào, lúa, rồng, phượng,… Những hình ảnh ấy là biểu tượng cho những điều tốt lành, chẳng hạn như con cá, theo tiếng Trung Quốc có phát âm giống phước lành. Những hình ảnh khác như rồng và đào, là biểu tượng từ truyện dân gian và truyền thuyết. Xiên đâm cá và hình ảnh liên quan khác, đại diện cho hy vọng một vụ thu hoạch tốt…

  • Dán các loại tranh có ý nghĩa

Nghĩa đen của loại tranh cụ thể này là “bản vẽ của năm mới”. Chúng còn được gọi là “bản in Năm Mới”. Đây là một nghề thủ công có lịch sử ít nhất một nghìn năm. Chúng phù hợp với tất cả các đồ trang trí năm mới, những bức tranh này được người dân sử dụng để bày tỏ mong muốn cho năm tới.

Phong cách nghệ thuật truyền thống của Trung Quốc đã quen được sử dụng, nhưng với sự phát minh của công nghệ in, phong cách và hình ảnh được mô tả đa dạng hơn. Một số người gọi những bức tranh này là bách khoa toàn thư về đời sống dân gian. Các khái niệm có thể xuất phát từ các sinh vật trên trời đến truyện dân gian hay các hoạt động hàng ngày.

Phần lớn các bản in mô tả một đứa trẻ như búp bê mũm mĩm hoặc một phụ nữ xinh đẹp. Những hình ảnh này thể hiện mong muốn về những đứa trẻ khỏe mạnh và một gia đình hạnh phúc. Có ba trường phái đặc biệt của tranh dân gian Trung Quốc: Táohuā wù (桃花坞) từ Tô Châu (苏州 -Sūzhōu), Yángliǔqīng (杨柳青) từ Thiên Tân (天津 -Tiānjīn) và Wéifāng (潍坊) từ Sơn Đông (山东 – Shāndōng).

  • Treo đèn lồng

Tết Nguyên Đán ở Trung Quốc kéo dài tổng cộng 15 ngày, với các hoạt động khác nhau cho mỗi ngày, đặc biệt là Lễ hội đèn lồng. Có rất nhiều kiểu đèn lồng, từ hình dạng cơ bản như hình cầu, đến hoa sen và thậm chí là rồng! Một số người viết chữ “Phúc”, thơ hoặc thư pháp lên đèn lồng trước khi thả chúng.

Đèn lồng Kongming, được đặt theo tên của Khổng Tử, nó đặc biệt quan trọng trong Lễ hội đèn lồng. Mọi người viết ra những điều ước ở mỗi bên của đèn lồng và thả chúng bay lên trời, với hy vọng điều ước của họ sẽ thành hiện thực trong năm mới.

Tiễn Ông Táo về trời

Theo như truyền thuyết thì mỗi gian bếp của từng nhà đều có ông thần Táo (hay gọi tắt là Ông Táo). Vào ngày 23/12 âm lịch thì ông Táo sẽ bay về trời báo cáo cho Ngọc Hoàng về những sự việc đã xảy ra dưới hạ giới trong năm qua. Vì thế, tiễn ông Táo về trời là một phong tục Tết Nguyên Đán ở Trung Quốc mà người dân địa phương luôn thực hiện. Món ăn để dâng cúng ông Táo thường là bánh đường, bánh rán và súp đậu hũ.

Làm bánh bao hấp vào đêm giao thừa

Ăn bánh bao hấp trong những ngày Xuân về là một phong tục Tết Nguyên Đán ở Trung Quốc mang ý nghĩ truyền thống, lâu đời. Và người dân địa phương thường trang trí những chấm tròn đỏ lên bánh bao để tạo màu sắc tươi sáng. Trước đây thì mọi người trong gia đình luôn quây quần lại để cùng nhau làm bánh. Nhưng hiện nay, do xã hội phát triển, mọi người cũng không có thời gian tự làm nên họ sẽ mua bánh bao bán sẵn trong siêu thị hay cửa hàng tiện lợi để đem về cúng. Chỉ có một số vùng quê nông thôn là vẫn còn giữ gìn tập tục truyền thống này.\

Đốt pháo, bắn pháo hoa

Pháo hoa không chỉ làm sáng bầu trời đêm ở thời khắc chuyển giao từ năm cũ sang năm mới mà còn mang trong mình nét giao hưởng rực rỡ đầy màu sắc, âm thanh vui nhộn được phát ra. Hơn nữa, ý nghĩa của việc bắn pháo hoa đêm giao thừa ở Trung Quốc còn được cho là để xua đuổi tà mà, quỷ quái đến gần.

Hiện ở đất nước Trung Quốc không chỉ có pháo hoa mà còn có cả các loại pháo thông thường được người dân đốt mỗi độ Tết đến xuân về. Đây là một phong tục Tết Nguyên Đán ở Trung Quốc để tạo nên bầu không khí rộn ràng những ngày đầu năm. Đầu tiên sẽ đốt một dây pháo nhỏ rồi tiếp theo là đốt 3 tiếng pháo lớn hơn tượng trưng cho việc năm cũ đã qua và chào đón năm mới đang tới. Tuy nhiên, việc đốt pháo đã bị cấm ở những thành phố lớn của Trung Quốc. Và chỉ còn xuất hiện tại một số vùng nông thôn hẻo lánh.

Ăn mặc trang trọng

Đây là thời điểm rất tốt để mặc quần áo truyền thống của Trung Quốc. Trang phục truyền thống của Trung Quốc (được làm từ lụa) có thể được mua tại Phố người Hoa. Gắn liền với niềm vui, hạnh phúc, may mắn, thịnh vượng và an khang, quần áo màu đỏ sẽ đảm bảo rằng bạn đã thể hiện trọn vẹn tinh thần của ngày Tết. Ngoài màu đỏ, màu vàng cũng là một màu được sử dụng rất nhiều trong dịp đón năm mới, hoặc họ có thể học cách kết hợp cả 2 màu này. Người Trung Quốc tránh ăn mặc quần áo có màu đen trong dịp Tết. Màu đen tượng trưng cho điềm xui rủi, và thậm chí cái chết.

Thờ cúng Tổ tiên

Nhằm tỏ lòng biết ơn và tôn trọng những gì tổ tiên đã ra cho mình, các gia đình Trung Quốc đã thờ cúng tổ tiên của mình, đặc biệt là rất trang trọng vào những ngày này. Có rất nhiều phong tục truyền thống để thể hiện lòng biết ơn của họ, chẳng hạn như cúi lạy trước mộ hoặc bàn thờ tổ tiên hoặc chuẩn bị thức ăn và đồ uống để thờ cúng tổ tiên.

Đi chùa

Vào dịp tết Nguyên Đán, người Trung Quốc có thói quen đi chùa hay đền thờ để cầu may mắn. Họ sẽ thắp nhang và khấn nguyện. Hầu hết các ngôi chùa đều chào đón tất cả mọi người, không chỉ riêng người Trung Quốc. Đặc biệt, họ cũng thường tìm được ống xăm may mắn ở gần lối đi vào các đền thờ hoặc chùa. Khấn nguyện xin một quẻ xăm, rồi lắc ống xăm cho đến khi một thẻ xăm rơi ra. Sẽ có một thầy bói giải thích quẻ xăm đó cho khách.

Bữa ăn lớn cùng gia đình

Một bữa ăn lớn cùng gia đình là cách chào đón năm mới phổ biến nhất của người Trung Quốc. Một thành phần quan trọng trong các món ăn vào Tết Nguyên Đán là mì trường thọ. Món mì trường thọ thay cho lời chúc mạnh khỏe, sống lâu. 

Trong mâm cơm ấy cũng không thể thiếu món cá. Bởi vì, theo quan niệm của người Hoa thì cá là món ăn sẽ mang lại cho họ sự giàu có, phùng vinh, dư giả suốt năm. Điều đặc biệt nhất ở đây là vào dịp Tết Nguyên Đán, khi ăn họ sẽ không ăn hết mà chỉ ăn phần thân cá còn phần đuôi và đầu cá sẽ để lại qua đêm theo quan điểm của họ là “niên niên hữu dư”.

Mâm cơm Tết Nguyên Đán của người Trung Quốc không thể gọi là đầy đủ nếu thiếu món salad cá Yu sheng (hay còn được biết với tên Lo Hei), là món salad đầy màu sắc của cá tươi và rau, quả. Những năm gần đây, các nguyên liệu đã trở nên ngày càng phong phú, bao gồm sứa, đu đủ, khoai lang, hẹ ngâm và nhiều hơn nữa.

Ngoài ra, các ngày khác trong bữa ăn thường có bánh tổ (Nian Gao). Loại bánh này được làm từ gạo nếp loại tốt, cùng với đường và một chút gừng tươi; ăn chiếc bánh này truyền tải mong ước các thành viên trong gia đình lúc nào cũng luôn kết dính, gắn bó với nhau bền vững. Phiên âm Nian Gao còn mang ý nghĩa chỉ sự thịnh vượng, tiến bộ, luôn đi lên.

Còn có rất nhiều món ăn khác mà mỗi gia đình Trung Hoa quây quần bên nhau để thưởng thức như: Sủi cảo, Khâu nhục, Xá xíu, Lạp vịt, Chả giò, Bánh xoắn chiên, Bánh củ cải (Luo Buo Gao), Chè trôi nước, các loại trái cây (cam quýt, đào, bưởi), mứt gừng, hồng khô,…

Chúc Tết người thân, bạn bè

Vào những ngày đầu năm mới, người Trung Quốc sẽ đến chơi nhà của người thân, bạn bè, có thể dùng chung bữa cơm thân mật. Trong chuyến đi này, họ sẽ gửi cho nhau những lời chúc năm mới may mắn, an lành và tốt đẹp. Trẻ em thì luôn ngoan ngoãn, vui tươi, người già thì nhiều sức khỏe,…

Mừng tuổi bằng phong bao đỏ

Vào ngày Tết cổ truyền của Trung Quốc, người lớn sẽ tặng những phong bao màu đỏ có tiền mừng tuổi cho trẻ nhỏ (bao lì xì). Ý nghĩa của phong bao này là mang tới sức khỏe dồi dào, may mắn… Cho tới ngày nay, phong tục Tết cổ truyền của Trung Quốc này thay đổi một chút, đó là những người trẻ cũng sẽ tặng những phong bao đỏ cho ông bà, bố mẹ, để thay lời chúc sức khỏe và bình an.

Múa lân sư tử

Múa lân sư tử trong tiếng trống lớn là một nghi thức mang tính biểu tượng trong năm mới. Hai hay ba người luôn mặc trang phục đặc biệt và chuyển động đầu sư tử để xua đuổi xui xẻo và mang đến may mắn.

Có thể thấy, ngày Tết Nguyên Đán ở Trung Quốc cũng có nhiều nét đặc sắc như Việt Nam. Nếu có dịp du lịch Trụng Quốc vào những ngày đầu xuân năm mới, du khách sẽ có cơ hội tìm hiểu sâu hơn về các phong tục đón Tết nơi đây.

Nét thú vị về đôi đũa trong văn hoá Trung Hoa

Đối với mỗi người dân Trung Hoa, đôi đũa là một vật dụng quen thuộc không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày. Dù sau này, trên bàn ăn đã xuất hiện thêm các dụng cụ từ phương Tây như nĩa, dao… thì đôi đũa vẫn giữ được sự quan trọng của mình. Vì thế, đôi đũa đã trở thành một nét văn hóa rất độc đáo của Trung Quốc.

Có nhiều quốc gia tự coi mình là nơi sản sinh ra đôi đũa. Điều này còn cần được nghiên cứu thêm. Tuy nhiên, ở Trung Quốc đôi đũa đóng vai rất trò quan trọng trong truyền thống văn hóa. Từ xa xưa, đũa được những người dân bên bờ sông Trường Giang gọi là “Zhu” có nghĩa là “dừng lại”. Nhưng đối với những người thủy thủ đi trên tàu, “dừng lại” là một điều không may mắn. Vì thế thay bằng gọi Zhu” họ gọi là “Kuai có nghĩa là nhanh nhẹn, hoạt bát. Từ đó đến nay, người Trung Hoa gọi đôi đũa là “Kuai”.

Người Trung Quốc không dùng dao và dĩa trong bữa ăn bởi theo quan niệm của học thuyết Khổng Tử, đó là những vật dụng liên quan đến bạo lực và binh đao. Trong khi đó, đũa tượng trưng cho sự thanh cao và lòng nhân từ, đây cũng là hai nội dung chính của học thuyết Khổng Tử. Một lý do nữa không kém phần quan trọng đó là các món ăn của người Trung Quốc thích hợp với đũa hơn là dao và dĩa. Do đó, đôi đũa đóng một vai trò quan trọng trong truyền thống văn hóa của người Trung Hoa.

3 TRUYỀN THUYẾT VỀ SỰ RA ĐỜI CỦA ĐÔI ĐŨA 

Đôi đũa là một phần của văn hóa Trung Hoa cổ xưa, được kể lại trong rất nhiều các truyền thuyết và câu chuyện dân gian khác nhau trong lịch sử. Trong đó, 3 truyền thuyết phổ biến nói về sự ra đời của đôi đũa là: Đát Kỷ và đôi đũa (truyền thuyết được lưu truyền vùng Giang Tô); Đại Vũ dùng cành cây, cành trúc gắp thức ăn (truyền thuyết được lưu truyền vùng Đông Bắc); Khương Tử Nha và đôi đũa trúc.

Trước hết, chúng ta sẽ nói tới Truyền thuyết về Đát Kỷ và sự ra đời của đôi đũa. Tương truyền tại vùng Giang Tô, vua Trụ (triều đại nhà Thương) buồn vui thất thường, khi hắn ăn uống thì hoặc là chê thịt cá không tươi, khi lại mắng canh gà nóng quá, thậm chí còn bực bội vì mặt nhạt không hợp khẩu vị,… Kết quả rất nhiều ngự trù đã mất mạng dưới thái độ hách dịch của vị hôn quân này.

Yêu hồ Đát Kỷ được vua Trụ sủng ái, mỗi lần có yến tiệc, để tránh làm Trụ Vương nổi giận, Đát Kỷ đều thử đồ ăn trước. Có một lần Đát Kỷ chọn ra được vài món hợp khẩu vị nhưng thấy phần quá nóng, thời gian lại gấp không kịp cho đổi. Trong lúc vội quá Đát Kỷ liền nhanh trí rút trâm ngọc trên đầu rồi kẹp đồ ăn và thổi, sau đó mới đưa cho Trụ Vương.

Trụ Vương thấy hành động gắp đồ ăn của Đát Kỷ lạ mắt nên rất vui, từ đó ngày nào cũng yêu cầu Đát Kỷ làm như thế. Mỹ nhân này liền nhờ người thợ thủ công làm cho hai cây trâm ngọc thật dài để gắp đồ ăn. Đây chính là hình thức đầu tiên của đũa ngọc. Về sau cách gắp đồ ăn này được truyền đến dân gian, sinh ra đôi đũa trúc.

Truyền thuyết này không hợp với bằng chứng lịch sử. Giới khảo cổ học trước đây đã khai quật khu lăng mộ thời nhà Ân Thương ở khu Hầu Gia Trang, thuộc An Dương và đã tìm thấy loại đũa bằng thép, qua khảo chứng niên đại thì sớm hơn thời mạt kỳ Trụ Vương nhà Thương.

Một truyền thuyết phổ biến khác trong dân gian cho rằng đôi đũa được Hoàng đế Hạ Vũ tìm ra. Hạ Vũ nổi tiếng là một vị vua nhân cách đạo đức ngay thẳng và có tài chống lũ lụt.

Trong một giai đoạn lịch sử, khi đất nước mà ông trị vì liên tục bị lũ lụt nghiêm trọng đe dọa, vì quá bận rộn với công việc cải cách hệ thống những con đê để kiểm soát nước nên Hạ Vũ không thể dành thời gian để gặp vợ và con mình, không thể cùng họ dùng một bữa cơm tươm tất.

Một lần nọ, khi cùng những binh lính đến một hòn đảo, Hạ Vũ đích thân chuẩn bị dụng cụ nấu ăn và lửa để nấu thịt. Vì quá đói do làm việc cật lực dưới trời mưa lớn và nước ngập mọi nơi, đồng thời muốn rút ngắn thời gian ăn uống để quay lại công việc, ông đã bẻ hai nhành cây nhỏ từ một cành cây gần đó và dùng chúng để trực tiếp gắp thịt thả vào nồi nước đang sôi. Những người hầu cận và binh lính có mặt lúc đó cũng bắt chước ông. Và cây đũa đã ra đời trong hoàn cảnh như vậy.

Truyền thuyết này nếu tính theo thời gian thì lại khá hợp lý. Tuy nhiên, cũng không có gì khảo chứng chuẩn xác điều này.

Truyền thuyết thứ ba thì lại kể rằng, vì Khương Tử Nha quá nghèo túng, vợ của ông muốn hại chết ông để lấy người khác. Một hôm người vợ nói: “Ông đói phải không? Tôi nấu thịt cho ông rồi, mau dùng đi nhé!”.

Khương Tử Nha tay đang cầm miếng thịt, bỗng một con chim bay từ ngoài cửa sổ vào rồi mổ vào tay Khương Tử Nha. Khương Tử Nha đau quá kêu “ai da” một tiếng, rồi xua đuổi con chim đi. Lần thứ hai cầm miếng thịt con chim lại bay vào mổ vào tay ông. Sau ba lần liên tục, Khương Tử Nha bất giác nghi ngờ, không lẽ miếng thịt này không ăn được? Thế là Khương Tử Nha đuổi theo con chim ra ngoài, chạy đến một sườn núi không có người. Con chim lúc này đậu trên một cành trúc rồi kêu lên lảnh lót: “Khương Tử Nha ôi Khương Tử Nha, ăn thịt không được dùng tay cầm, đồ để gắp thịt ở dưới chân ta đây…”.

Khương Tử Nha nghe thế thì nghĩ đây đúng là con chim thần, bèn nghe theo chỉ điểm của chim, bẻ hai nhánh trúc nhỏ rồi đi về nhà. Về đến nhà người vợ lại thúc giục ông ăn thịt, Khương Tử Nha dùng hai que trúc thò vào trong bát kẹp miếng thịt, đâu ngờ từ một đám khói xanh bốc lên từ que trúc, “tại sao que trúc lại bốc khói, không lẽ có độc?” Nghĩ thế Khương Tử Nha liền gắp miếng thịt bắt vợ ăn. Người vợ sợ hãi vội bỏ chạy đi. Câu chuyện sau đó bị nhiều người biết, vợ Khương Tử Nha không còn dám đầu độc ông nữa, còn hàng xóm láng giềng thì ai nấy học cách dùng nhánh trúc ăn cơm.

Truyền thuyết này không phù hợp với lịch sử. Khương Tử Nha sống cùng thời vua Trụ nhà Thương, đã có vua Trụ dùng đũa ngà voi, vậy thì đũa trúc của Khương Tử Nha không phải nguồn gốc đầu tiên của đũa.

Tất cả những điều trên đều chỉ là lời đồn đại và chưa hề có ghi chép lịch sử chính xác về người đã tạo ra đũa. Chúng ta chỉ có thể nói rằng chiếc đũa là phát minh của một người Trung Quốc cổ đại có bộ óc thông minh.

VẬT LIỆU TẠO NÊN ĐÔI ĐŨA

Giới khảo cổ học ở Trung Quốc đã khai quật khu lăng mộ thời nhà Ân Thương ở khu Hầu Gia Trang, thuộc An Dương. Họ đã tìm thấy loại đũa bằng thép. Có thể coi đây là bằng chứng khảo cổ sớm nhất mà chúng ta tìm thấy được liên quan đến vật dụng này.

Ngày nay, đôi đũa ở Trung Quốc có thể được tạo ra từ nhiều vật liệu khác nhau như tre, gỗ, nhựa, sứ, bạc, đồng, ngà, ngọc, xương, thậm chí là đá. Tuy nhiên, đũa tre vẫn là loại được sử dụng thường xuyên nhất trong cuộc sống hàng ngày của người Trung Quốc.

Ý NGHĨA ĐẰNG SAU CỦA ĐÔI ĐŨA TRONG VĂN HÓA TRUNG HOA

Đứng ở góc độ tự nhiên, đôi đũa là thể hiện của các yếu tố của triết học Trung Hoa, đặc biệt là nhị phân âm dương. Hai chiếc đũa phải được sử dụng như một cặp, một cái giữ vững chắc trong khi cái kia di chuyển, để sử dụng. Điều này phản ánh sự hòa hợp của âm và dương như các yếu tố thụ động và hoạt động tương ứng tạo nên khái niệm về một tổng thể năng lượng.

Theo truyền thống Trung Hoa, chiều dài tiêu chuẩn của một chiếc đũa là 7 thốn (1 thốn = 3,33m) và 6 phân (1 phân = 3,33mm). Điều này tượng trưng cho thất tình lục dục của con người trong đạo lý của Phật giáo. Ăn cơm cũng giống như tu thân dưỡng tính, loại bỏ những dục vọng trong mỗi con người.

Đôi đũa có hình dạng một đầu vuông và đầu còn lại hình tròn tượng chưng cho trời và đất: “Trời tròn còn đất vuông”. Điều này có nguồn gốc từ bát quái trong triết học của người Trung Quốc. Đây là nguồn gốc sinh ra vạn vật. Chúng ta dùng đầu tròn để gắp thức ăn tượng chưng cho câu nói: “Dân dĩ thực vi tiên” (Dân coi thực là trời).

Đũa thường có một cặp, tượng chưng cho âm và dương. Khi dùng đũa, một chiếc giữa chặt, chiếc còn lại chuyển động. Tượng chưng cho “tĩnh và động” phản ánh sự hòa hợp trong âm dương.

Khi cầm đũa đúng cách, những ngón tay tự nhiên đặt vào 3 vị trí: Ngón cái và ngón trỏ trên cao, ngón út và ngón đeo nhẫn ở dưới thấp, ngón giữa nằm ở giữa 2 chiếc đũa. Điều này không đơn giản chỉ là một quy ước bề mặt, nó còn tượng trưng cho quan niệm truyền thống của người Trung Hoa xưa về trời, đất và con người.

Ngón út và ngón đeo nhẫn hỗ trợ lẫn nhau dưới thấp, biểu thị cho Đạo của đất. Ngón cái và ngón trỏ tương ứng với sự linh hoạt và ổn định hoặc những luật lệ trên thiên thượng.

Ngón giữa là biểu tượng cho vị trí khó khăn nhưng danh giá của một vị vương, theo truyền thống gọi là thiên tử. Đây chính là người vừa phải đáp ứng nhu cầu, mong ước của người dân vừa phải tuân thủ đạo đức và thuận theo mệnh trời.

Người Trung Quốc cổ đại tin rằng ở đôi đũa có tồn tại mối liên kết giữa trời đất và con người. Những niềm tin đó đã thâm nhập vào văn hoá và cuộc sống. Đó là từ các nghi lễ tôn giáo được tổ chức trong triều đình đến các phong tục dân gian truyền từ đời này sang đời khác trong dân chúng, lưu truyền bao đời.

NGHI THỨC DÙNG ĐŨA CỦA NGƯỜI TRUNG HOA

Đũa thường được giữ trong tay phải và việc sử dụng đũa bằng tay trái được coi là nghi thức không thích hợp ở Trung Quốc.

Nghịch đũa được coi là một hành vi xấu, còn gắp thức ăn cho người già, trẻ em sẽ được coi là lịch sự và chu đáo.

Khi đi ăn với người lớn tuổi, người Trung Quốc thường để người lớn cầm đũa trước mình.

Thông thường, một người chủ nhà mến khách sẽ chủ động gắp thức ăn từ đĩa vào đĩa của khách.

Gõ đũa vào thành bát được cho là hành động bất lịch sự bởi vào thời cổ đại Trung Quốc, những người ăn xin thường làm vậy để thu hút sự chú ý.

Văn hóa Trung Hoa quả thật có rất nhiều điều thú vị mà khi đặt chân đến đây du khách mới có thể khám phá một cách trọn vẹn. Hãy để tour Trung Quốc của chúng tôi là chiếc cầu nối đưa du khách đến với một nền văn hóa đặc sắc này nhé!

Thú vị Tết Trung thu ở Trung Quốc

Trải qua mấy nghìn năm lịch sử, Tết Trung thu vẫn luôn là ngày lễ đóng vai trò quan trọng trong đời sống văn hoá của người dân Trung Quốc. Đối với họ, Trung thu là Tết đoàn viên, những người thân yêu sẽ được ở bên nhau với niềm hạnh phúc tròn đầy, viên mãn như ánh trăng rằm.

Những câu thơ cuối trong bài “Thuỷ Điệu Ca Đầu” của nhà thơ Đường nổi tiếng Tô Đông Pha: “Chỉ nguyện cho đời người trường cửu / Ngàn dặm cùng ngắm ánh trăng thanh”, có lẽ đã thể hiện được hoàn hảo nhất tinh thần của Tết Trung Thu, một sự kiện lâu đời có nguồn gốc từ văn hóa Trung Hoa.

Từ xa xưa, đêm 15 tháng 8 âm lịch – khi mặt trăng tròn đầy và sáng nhất, cũng là dịp mà thành viên trong các gia đình ở Trung Quốc lại sum họp, ăn mừng một vụ mùa bội thu và cùng ăn uống trong bầu không khí thân tình, ấm áp.

TRUYỀN THUYẾT VỀ TẾT TRUNG THU

Là một ngày lễ lớn ở đất nước Trung Quốc, ngày Tết Trung Thu bắt nguồn từ những truyền thuyết từ thời xa xưa nhưng lại mang những ý nghĩa sâu sắc. Bàn về sự tích ngày lễ này, người Trung Quốc nhắc đến truyền thuyết về Hậu Nghệ và Hằng Nga.

Hậu Nghệ là một người bất tử, trong khi đó Hằng Nga là một tiên nữ xinh đẹp sống ở Thiên Đình và phục vụ cho Tây Vương Mẫu. Cả hai người là vợ chồng. Sắc đẹp của Hằng Nga và sự bất tử của Hậu Nghệ đã làm cho một số vị thần tiên khác ganh ghét, và họ đã vu oan một tội lỗi phạm thiên đình cho Hậu Nghệ trước mặt Vua Nghiêu. Từ đó, Hằng Nga và Hậu Nghệ bị đuổi khỏi hoàng cung và phải sống cuộc đời thường dân. Từ đó, cuộc sống làm lụng, săn bắn đã làm cho chàng Hậu Nghệ trở thành một xạ thủ có tiếng trong dân gian.

Bấy giờ, có 10 mặt trời cùng lúc tồn tại, cứ một mặt trời thì chiếu một ngày, và cứ thay phiên như vậy trong vòng một ngày. Tuy nhiên, tai họa ập đến, một ngày kia cả 10 mặt trời cùng xuất hiện trong một ngày và đã thiêu cháy hầu hết sinh linh trên mặt đất. Trước hoàn cảnh “ngàn cân treo sợi tóc” trên, Vua Nghiêu đã sai Hậu Nghệ bắn rơi 9 mặt trời chỉ để một cái lại mà thôi. Chàng Hậu Nghệ đã hoàn thành sứ mạng xuất sắc. Để đáp lại, Vua Nghiêu đã cho chàng một viên thuốc trường sinh bất lão và dặn rằng “Tạm thời không được uống cái này vào, hay bắt đầu cầu nguyện và ăn chay trong một năm sau đó mới được uống”. Hậu Nghệ làm theo, chàng đem viên thuốc về nhà và giấu nó ở cái rui trên nóc nhà và tự khổ luyện tinh thần. Được khoảng nửa năm, Vua Nghiêu mời chàng đến kinh thành “chơi”. Hằng Nga ở nhà thì bỗng lưu ý đến một vật sáng lóng lánh trên mái nhà và phát hiện ra viên linh dược, sau đó, biết là linh dược, nàng đã uống ngay viên thuốc cũng đúng lúc Hậu Nghệ vừa về đến và ngay tức khắc chàng đã biết chuyện gì đã xảy ra. Nhưng tất cả đã quá muộn, Hằng Nga bắt đầu bay về trời.

Với chiếc nỏ trong tay, Hậu Nghệ đuổi theo Hằng Nga. Nhưng đi được đến nửa đường thì thần Gió đã cản chàng lại mặc cho nàng tiên nữ xinh đẹp kia bay đến mặt trăng. Khi vừa đến nơi Hằng Nga bỗng không thở được và viên thuốc bỗng văng ra. Kể từ đó, Hằng Nga mãi ở trên mặt trăng không thể nào trở lại. Truyền thuyết còn kể lại rằng nàng đã kêu gọi những con thỏ ở mặt trăng tạo ra viên thuốc giống như vậy để nàng còn quay về với người chồng ngày đêm mong nhớ, nhưng tất cả đều vô dụng.

Trong khi đó, ở dương thế, sự mong nhớ và nỗi hối hận ngày đêm cồn cào Hậu Nghệ. Cuối cùng, chàng xây một lâu đài trong mặt trời và đặt tên là “Dương”, trong khi đó thì Hằng Nga cũng xây một lâu đài tương tự đặt tên là “Âm”. Cứ mỗi năm một lần, vào ngày rằm tháng 8, hai người được đoàn viên trong niềm hân hoan hạnh phúc. Chính vì thế mà mặt trăng luôn thật tròn và thật sáng vào ngày này như đê nói đến niềm vui, sự hân hoan khi được gặp mặt của con người.

Đây là tài liệu có trong truyền thuyết Trung Quốc khá phổ biến ở thời Tây Hán (206 TCN – 24 SCN).

Theo sự tích thứ 2 thì Hậu Nghệ vốn là người phàm trần và là một xạ thủ rất giỏi, chàng đã bắn rơi 9 mặt trời để cứu loài người, nhưng sau đó chàng ta đã trở thành vua Trung Quốc nhưng rồi anh ta trở nên bạo ngược và thi hành những đạo luật khắt khe với nhân dân. Một ngày kia, Hậu Nghệ đánh cắp một viên thuốc trường sinh bất lão của một vị nữ thần. Tuy nhiên, Vợ Hậu Nghệ, Hằng Nga đã uống nó vì nàng không muốn chồng của mình cứ mãi mãi trở thành một ông vua bạo ngược để nhân dân oán ghét. Và sau khi uống viên linh dược, Hằng Nga đã bay về trời. Vì quá yêu thương Hằng Nga, Hậu Nghệ đã không nỡ bắn rơi mặt trăng giống như chàng đã từng làm với 9 mặt trời trước đó.

Một truyền thuyết khác đã cho rằng: Hằng Nga và Hậu Nghệ đều là những vị thần bất tử sống trên thiên đình. Một ngày kia, người con trai thứ 10 của Ngọc Hoàng đã phân thân thành mười mặt trời từ đó gây nên thảm kịch cho loài người. Trước tình hình đó, Hậu Nghệ, với tài bắn tên của mình đã bắn rơi 9 mặt trời nhưng vì tình cảm, đã tha chết cho bản thể thứ 10 của con trai của Ngọc Hoàng. Dĩ nhiên, Ngọc Hoàng không chấp nhận và rất phật ý. Ông ta đã trừng phạt Hậu Nghệ và Hằng Nga bằng cách bắt họ phải sống cuộc đời con người ở trần thế.

Sau khi xuống trần thế, hối tiếc cuộc sống bất tử đã qua, Hậu Nghệ đã bỏ nhà ra đi tìm thứ thuốc có thể trường sinh bất lão. Cuối cùng, chàng tìm thấy Tây Vương Mẫu, bà đã cho Hậu Nghệ linh dược, nhưng dặn rằng: mỗi người chỉ nên uống nửa viên để có được sự sống trường tồn.

Hậu Nghệ đem viên thuốc về nhà và để nó trong một chiếc lọ. Chàng đã cảnh báo Hằng Nga không được mở chiếc lọ ra để xem trong đó có gì và đi săn bắn trong vài tháng. Cũng giống như Pandora trong Thần Thoại Hi Lạp. Sự tò mò đã làm Hằng Nga mở chiệc lọ và tìm thấy viên thuốc, dĩ nhiên nàng đã uống hết viên linh dược mà không biết rằng mỗi người chỉ nên uống nửa viên. Hậu quả thật tai hại, Hằng Nga đã bay về mặt trăng mà không thể cứu vãn được. Kể từ đó cả hai người đã phải sống trong tình cảnh chia lìa, ngăn cách.

Theo truyền thuyết thứ hai, Tết Trung thu ở Trung Quốc bắt nguồn từ thời vua Đường Minh Hoàng. Chuyện xưa kể rằng vua Đường Minh Hoàng dạo chơi vườn Ngự Uyển vào đêm rằm tháng 8 âm lịch. Trong đêm Trung Thu, trăng rất tròn và trong sáng. Trời thật đẹp và không khí mát mẻ. Nhà vua đang thưởng thức cảnh đẹp thì gặp đạo sĩ La Công Viễn còn được gọi là Diệp Pháp Thiện. Đạo sĩ có phép tiên đưa nhà vua lên cung trăng. Ở đấy, cảnh trí lại càng đẹp hơn. Nhà vua hân hoan thưởng thức cảnh tiên và du dương với âm thanh ánh sáng huyền diệu cùng các nàng tiên tha thướt trong những xiêm y đủ màu xinh tươi múa hát. Trong giờ phút tuyệt vời ấy nhà vua quên cả trời gần sáng. Đạo sĩ phải nhắc, nhà vua mới ra về nhưng trong lòng vẫn bàng hoàng luyến tiếc.

Về tới hoàng cung, nhà vua còn vấn vương cảnh tiên nên đã cho chế ra Khúc Nghê Thường Vũ Y và cứ đến đêm Rằm tháng Tám lại ra lệnh cho dân gian tổ chức rước đèn và bày tiệc ăn mừng trong khi nhà vua cùng với Dương Quý Phi uống rượu dưới trăng ngắm đoàn cung nữ múa hát để kỷ niệm lần du nguyệt điện kỳ diệu của mình. Kể từ đó, việc tổ chức rước đèn và bày tiệc trong ngày rằm tháng tám đã trở thành phong tục của dân gian.

Cũng có người cho rằng tục treo đèn bày cỗ trong ngày rằm tháng tám âm lịch là do ở điển tích ngày sinh nhật của vua Đường Minh Hoàng. Vì ngày rằm tháng tám là ngày sinh nhật của vua Đường Minh Hoàng nên triều đình nhà Đường đã ra lệnh cho dân chúng khắp nơi trong nước treo đèn và bày tiệc ăn mừng. Từ đó, việc treo đèn bày cỗ trong ngày rằm tháng tám trở thành tục lệ.

PHONG TỤC TRUYỀN THỐNG VÀO NGÀY TẾT TRUNG THU Ở TRUNG QUỐC

Trung thu được xem là một trong những ngày Tết truyền thống quan trọng bậc nhất đối với người dân Trung Quốc, chỉ xếp sau Tết Nguyên Đán. Trong đêm rằm sáng nhất năm này, họ có rất nhiều hoạt động sôi nổi và đặc sắc. 

Cúng trông trăng

Cúng trông trăng là một phong tục rất lâu đời tại Trung Quốc. Thực chất đây là một loại hình hoạt động thờ cúng “thần mặt trăng” của người xưa. Để cúng trăng, người ta bày một bàn hương lớn, đặt các lễ vật như bánh Trung thu, dưa hấu, táo, đỏ, mận, nho. Dưới mặt trăng đặt bài vị “Nguyệt thần” theo hướng mặt trăng, ngọn nến đỏ sẽ cháy cao, cả nhà lần lượt cúng trăng cầu phúc. Tế trăng ngắm trăng, ngắm trăng thể hiện ước nguyện của con người. Là một trong những nghi lễ quan trọng của Tết Trung thu, tục cúng trăng đã tiếp tục từ xa xưa đến nay, và dần phát triển thành các hoạt động thưởng trăng, tụng kinh của dân gian, đồng thời cũng trở thành hình thức chính của con người hiện đại mong muốn đoàn tụ và gửi gắm những ước nguyện tốt đẹp cho cuộc sống.

Thắp và chơi đèn lồng

Vào đêm Trung thu không thể thiếu đi tục thắp đèn cầu trăng. Khoảng 10 ngày trước khi lễ hội thắp đèn diễn ra, tại mỗi gia đình đều tất bật chuẩn bị những thanh tre chắc khỏe nhất để làm nên những chiếc đèn lồng độc đáo với màu sắc sặc sỡ. Nến đốt bên trong được buộc vào cọc tre bằng dây thừng, dựng trên mái ngói hoặc sân thượng hoặc dùng những chiếc đèn nhỏ để tạo thành các nhân vật hoặc nhiều hình dạng khác nhau. Có thể nói lễ hội đèn lồng Trung Thu tại Trung Quốc dường như chỉ đứng sau Lễ hội đèn lồng về quy mô.

Trẻ em thì sẽ chơi những chiếc đèn con thỏ, ông sao hay đèn hộp… nhiều chiếc đèn với kích thước, hình thù khác nhau được người lớn giúp sức làm nên. Vào ngày này, ngoài đường sẽ rộn vang tiếng cười con trẻ trong những chiếc đèn với ánh đèn sáng lang thang qua những con đường rất đẹp.

Người Trung Quốc cũng có một phong tục đó là vào ngày 15/8 âm lịch sẽ thả đèn lên trời và thả đèn hoa đăng dưới sông để cầu mong một điều gì đó may mắn, hạnh phúc sẽ đến với chính bản thân và những người xung quanh mình. Thả đèn là một hoạt động vô cùng có ý nghĩa đối với trẻ em tuổi thơ và với những em thiếu nhi. Bắt đầu thả đèn, ai ai cũng đều thành tâm cầu nguyện, mong mỏi những điều ước bay đi xa và trở thành những hiện thực đáng mơ ước.

Ngắm trăng

Phong tục ngắm trăng xuất phát từ tín ngưỡng dâng lễ vật lên mặt trăng, tế lễ nghiêm trang đã dần trở thành một thú vui mỗi khi dịp trăng Rằm tháng Tám. Người ta cho rằng đêm này chính là thời khắc mặt trăng gần với trái đất nhất, trăng to nhất, tròn nhất và sáng nhất nên từ xưa đến nay đã có tục uống rượu và ngắm trăng.

Từ thời cổ đại, người Trung Quốc đã có phong tục ngắm trăng vào đêm trung thu. Các ghi chép lịch sử vào đời Chu đã đề cập rất nhiều vào buổi lễ tế thần mặt trăng vào đêm trăng tròn và sáng nhất năm để chào đón mùa đông. Người ta bày rất nhiều thứ bánh Trung thu, dưa hấu, táo và nho trên bàn lễ.

Đến thời Đường – Tống, việc thưởng nguyệt, ngắm trăng trong đêm đoàn viên càng trở nên thịnh hành nên người ta còn gọi Trung thu là Tết ngắm trăng. Ngày nay, vào dịp Tết Trung thu, hầu hết người dân Trung Hoa sẽ cùng nhau đổ ra đường để chiêm ngưỡng vẻ đẹp đặc biệt của đêm trăng trằm. Họ xem lúc mặt trăng lên cao và tròn nhất là khoảnh khắc vô cùng thiêng liêng, biểu hiện sự tròn đầy, viên mãn và đẹp nhất của đất trời nên càng không thể bỏ lỡ.

Thưởng thức bánh Trung thu

Bánh trung thu hay còn gọi là bánh cung đình, bánh sum họp… là lễ vật để cúng thần mặt trăng trong dịp Tết Trung thu thời xa xưa. Bánh Trung thu ban đầu được dùng làm lễ vật để cúng thần mặt trăng, sau này người ta dần lấy tết Trung thu để ngắm trăng và nếm bánh trung thu như một biểu tượng của sự sum họp gia đình. Bánh Trung thu tượng trưng cho sự đoàn tụ, được mọi người coi là thức ăn của lễ hội, dùng để cúng tế cho người thân, bạn bè. Từ khi phát triển, ăn bánh Trung thu đã trở thành một phong tục nhất định phải có trong ngày Tết Trung thu ở khắp mọi miền nam bắc Trung Quốc, người ta ăn để tỏ lòng “đoàn tụ” trong ngày này.

Trong dân gian có rất nhiều truyền thuyết giải thích tại sao cứ đến tết Trung thu người ta lại ăn bánh trung thu. Nhưng truyền thuyết được phổ biến nhất là trong những năm cuối triều đại nhà Nguyên, bọn thống trị áp bức bóc lột nhân dân rất tàn khốc, khiến dân chúng bất mãn và nuôi ý chí phản kháng mãnh liệt.

Hồi ấy có hai vị lãnh tụ của phong trào nông dân khởi nghĩa là Chu Nguyên Chương và Lưu Bá Ôn đã tổ chức nhân dân vùng lên chống lại bè lũ thống trị tàn bạo. Để có thể truyền đạt tin tức và mệnh lệnh một cách bí mật, người ta đã làm những cái bánh hình tròn, trong những cái bánh này đều có nhét thêm một tờ giấy ước định thời gian khởi nghĩa là lúc trăng sáng nhất trong đêm Rằm tháng Tám âm lịch. Sau đó, những cái bánh này được người ta truyền đi cho nhau và trở thành một phương tiện liên lạc. Phương pháp này tỏ ra hết sức hiệu nghiệm, tin tức hô hào khởi nghĩa đã được truyền đi khắp nơi. Về sau người Trung quốc lấy việc làm bánh Trung thu vào ngày Rằm tháng Tám để kỷ niệm sự kiện ấy. Như vậy phong tục ăn bánh Trung thu trong ngày tết Trung thu dần dần đã được lưu truyền cho tới ngày nay.

Có ý kiến khác cho rằng: bánh Trung thu đã có từ đời Đường. Nó được coi như một thứ đồ lễ để cúng thần mặt trăng, và hồi ấy bánh này được gọi là bánh nhỏ (tiểu bính) hay bánh ngọt (điềm bính) và ở kinh thành Trường An đã có những cửa hiệu làm và bán bánh Trung thu.

Sang đến đời Tống thì các nơi trong nước Trung Quốc đã có nhiều thứ bánh Trung thu với phong vị khác nhau, chẳng hạn bánh kiểu Tô Châu, bánh kiểu Quảng Châu, bánh kiểu Ninh Ba, bánh kiểu Bắc Kinh.

Vì bánh Trung thu có mùi vị thơm ngon, hình của nó lại tương tự như mặt trăng, cho nên về sau loại bánh này đã được dùng làm vật tượng trưng cho chuyện gia đình đoàn tụ trong ngày tết Trung thu, đồng thời nó cũng được dùng làm quà ngày lễ để bạn bè thân thuộc tặng cho nhau kèm theo những lời chúc tốt lành.

Múa rồng lửa

Từ tối ngày 14/8 âm lịch hàng năm, phong tục múa rồng lửa sẽ được tổ chức trong ba đêm liên tục. Con rồng lửa này dài hơn 70m, được buộc thành thân rồng 32 khúc bằng cỏ ngọc, chứa đầy hương trường sinh. Vào đêm diễn ra sự kiện, trên các con đường, ngõ hẻm của quận này, những con rồng lửa uốn lượn nhảy múa vui nhộn dưới ánh đèn và tiếng nhạc trống rồng rất sôi động. Người dân Trung Quốc tin rằng rồng lửa là linh vật mang lại nhiều may mắn và an lành tới mọi gia đình.

Giải câu đố

Vào đêm rằm Trung thu ở những nơi công cộng người dân treo rất nhiều đèn lồng, mọi người tập trung lại với nhau, cùng nhau giải những câu đố ghi trên đèn lồng. Đây là hoạt động mà nam thanh nữ tú rất ưa chuộng, trò chơi này đã làm nên vô số giai thoại tình yêu. Vì thế, giải câu đố trong đêm Trung thu trở thành phương pháp bày tỏ tình yêu của các đôi nam nữ.

Mai mối

Tin rằng sự may mắn của thần mặt trăng là một người mai mối thành công, một bộ phận người Trung Hoa đã xây dựng nên các buổi dạ hội trong đêm trăng rằm hòng tìm kiếm cơ hội se duyên cho các cặp đôi trẻ. Ở đây những cô gái sẽ tham gia ném khăn tay của mình vào đám thanh niên, người bắt được và trả lại khăn tay sẽ chủ nhân của nó.

Mỗi đất nước đều mang trong chính mình những sự mới mẻ và đa dạng đa màu sắc riêng của văn hóa ngày lễ truyền thống. Tại Trung Quốc cũng vậy, Tết Trung thu ở Trung Quốc đã để lại những dấu ấn khó có thể phai mờ trong tiềm thức của những người dân bản địa nơi đây đã sinh ra lớn lên và phát triển gắn bó với mảnh đất quê hương yêu dấu này. Nếu như muốn được khám phá nhiều hơn nữa về nét văn hóa đặc sắc này hãy nhanh tay book tour Trung Quốc nhé! 

Mối thiên tình sử của Hàn Tử Cao và Trần Văn Đế trong lịch sử Trung Hoa cổ đại

Trong lịch sử Trung Hoa cổ đại, tương truyền có mối tình đồng tính thời Nam – Bắc triều của Hoàng đế Trần Văn Đế và “nam Hoàng hậu” Hàn Tử Cao. Nam tử họ Hàn sở hữu vẻ đẹp rung động lòng người, đẹp đến độ thiên hạ cho rằng nhan sắc của chàng còn hơn cả những mỹ nhân nổi tiếng như Điêu Thuyền hay Tây Thi.

Hàn Tử Cao (538-567), nguyên tên là Man Tử, sinh ra dưới thời Ngụy – Tấn, Nam – Bắc Triều. Ông xuất thân trong một gia đình truyền thống làm nghề nông. Hàn Tử Cao sống bằng nghề nghề bện giày rơm ở Sơn Âm, Hội Kê, Lương Triều.

Mặc dù có xuất thân thấp kém, nhưng Hàn Tử Cao lại sở hữu dung mạo vô cùng khôi ngô, tuấn tú, khiến nhiều người tò mò tới chiêm ngưỡng. Tương truyền, năm vừa tròn 16 tuổi, Hàn Tử Cao đã có vẻ ngoài diễm lệ, khiết bạch sáng tươi như mỹ nữ, trán vuông tóc mượt, lông mày thanh tú. Dung mạo mỹ miều đến mức 8 chữ “Chim sa cá lặn, hoa nhường nguyệt thẹn” cũng không đủ diễn tả. 

Trong thời đại các chư hầu hỗn chiến, thiên hạ đại loạn, binh biến diễn ra trong nhiều năm liên tiếp, Hàn Tử Cao phải theo cha chạy nạn khắp nơi, do đó chàng hay gặp phải loạn quân. Thế nhưng, mỗi lần kề gươm vào tới cổ của Hàn Tử Cao, bọn loạn quân lại ngỡ ngàng vì tưởng như mình đang được đứng trước mặt một bậc thần tiên. Cuối cùng, Hàn Tử Cao không những không bị giết mà còn được bọn loạn quân bảo vệ, đưa ra khỏi vùng nguy hiểm. Điều này, càng khẳng định hơn về sắc vóc của Hàn Tử Cao không phải kiểu tầm thường để có thể “mê hoặc” được không chỉ những nữ nhân mà cả những người cùng giới.

Lại có chuyện khác kể rằng, Hàn Tử Cao sống ở đô thành chỉ một thời gian ngắn nhưng danh tiếng về sự đẹp trai thì đã vang khắp xa gần. Khắp nơi thiếu nữ tìm tới hiệu giày của Hàn Tử Cao đông như trảy hội, mua giày thì ít mà ngắm dung nhan của tay thợ giày họ Hàn thì nhiều. Tuy nhiên, Hàn Tử Cao lại tỏ ra rất lạnh lùng. Chính sự lạnh lùng của Hàn Tử Cao lại càng khiến những cô thiếu nữ thêm si mê cuồng nhiệt hơn. Lúc bấy giờ, cô công chúa triều Trần đính hôn với một người tên là Vương Nhan – một quý tộc xuất thân giàu có và cũng nổi tiếng khôi ngô tuấn tú. Khi công chúa tâm sự cùng với cô hầu trên đời này chẳng có ai đẹp hơn chàng. Ai ngờ, cô người hầu lại cho biết Hàn Tử Cao đẹp hơn rất nhiều. Nghe vậy, công chúa không phục, cho rằng Vương Nhan mới là người đẹp trai nhất. Do đó, quyết định tự mình tới hiệu giầy để “kiểm chứng” nhan sắc của Hàn Tử Cao. Kết quả là ngay khi nhìn thấy Hàn Tử Cao, cô công chúa triều Trần đã như bị hớp mất hồn vía, từ đó, chỉ chăm chăm theo đuổi Hàn Tử Cao, quên luôn người chồng sắp cưới của mình. Thế nhưng, Hàn Tử Cao vẫn lạnh lùng như chẳng biết công chúa tồn tại. Công chúa tương tư thành bệnh cuối cùng ho ra máu mà chết.

Sau này, trong thời gian xảy ra Loạn Hầu Cảnh, Hàn Tử Cao lánh nạn ở Kinh sư Kiến An. Kết thúc cảnh loạn lạc, vào một ngày họ, Hàn Cao Tử tới phủ thái thú để xin giấy thông hành về quê. Lúc bấy giờ, quan thái thú là Trần Tây – người sau này trở thành Trần Văn Đế (522-566). Sau khi gặp Hàn Tử Cao, Trần Tây biết rằng mình sẽ cùng người đàn ông này chung sống cả đời. Ông bèn ngỏ ý mời Hàn Tử Cao đi cùng, hưởng vinh hoa phú quý cả đời. Trần Tây còn hứa hẹn với Tử Cao rằng: “Nếu sau này ta làm vua, sẽ lập ngươi làm hoàng hậu, giang sơn này là của riêng đôi ta”. Tuy nhiên, từ trước tới nay, chưa từng thấy người đàn ông nào được phong làm hoàng hậu, vì vậy, suy nghĩ một hồi, Trần Tây nói thêm: “Chỉ sợ ta và ngươi cùng giới tính, người đời sẽ dị nghị mà thôi”. Nghe Trần Tây nói vậy, Hàn Tử Cao bèn nói: “Từ thời cổ đại đã có nữ vương thì tất cũng phải có nam hoàng hậu. Nếu như chúa công có ơn, tôi có chết cũng cam lòng”. Thế là thiên tình sử bắt đầu. Khi đó, Hàn Tử Cao 16 tuổi, Trần Tây thì cũng chỉ mới 22.

Hàn Tử Cao được Trần Tây vô cùng sủng ái. Họ sống chung với nhau, thân thiết hơn vợ chồng. Trần Tây vốn tính nóng nảy nhưng luôn ôn nhu, dịu dàng với Tử Cao, ông dạy chàng cưỡi ngựa, bắn cung, đọc sách viết chữ. Ở bên Trần Tây, Tử Cao dần trưởng thành, trở thành một người tài sắc vẹn toàn, chiếm được sự sủng ái của Trần Thiến. Hai người vào sinh ra tử cùng nhau trên chiến trận, gắn bó keo sơn. Trần Tây luôn giữ Tử Cao bên cạnh, ngày đêm quấn quýt không rời.

Về sau, khi Trần Tây đánh bại triều Lương, lập ra nhà Trần, lên ngôi hoàng đế, sử gọi là Trần Văn Đế thì việc đầu tiên vị vua này nghĩ tới chính là lập Hàn Tử Cao làm hoàng hậu. Tuy nhiên, các đại thần trong triều thi nhau phản đối, không thể phong đàn ông làm hoàng hậu được. Sau nhiều tranh cãi, cuối cùng, Trần Văn Đế đành phải nhượng bộ đám quần thần “hủ nho”, chẳng có chút “bình đẳng giới” nào của mình, gạt chuyện phong hoàng hậu cho Hàn Tử Cao sang một bên. Mặc dù không phong được Hàn Tử Cao làm hoàng hậu, thế nhưng, đối với Trần Văn Đế, người duy nhất là hoàng hậu trong lòng ông ta chỉ có một và đó chính là Hàn Tử Cao.

Tại vị 7 năm, niên hiệu là Thiên Hạ, Trần Văn Đế đã băng hà vào năm 566. Trước khi mất, vua không cho ai vào chăm sóc ngoài Hàn Tử Cao. Những ngày cuối cùng nằm trên giường bệnh đều một mình Hàn Tử Cao túc trực hầu thuốc, không rời nửa bước. Nhớ chuyện khi xưa không giữ được lời hứa lập hậu, Trần Văn Đế cảm thấy có lỗi với Tử Cao bèn để lại di cáo nói rằng khi mình chết đi, trước cửa lăng của minhcó đúc hai bức tượng con kỳ lân đực, thông thường thì các cặp kỳ lân đều là một đực một cái, tượng trưng cho vua và hoàng hậu với sự hòa hợp của âm dương. Tuy nhiên, lăng mộ của Trần Văn Đế lại là hai con kỳ lân đực, điều này như tuyên bố rằng Hàn Tử Cao mới chính bậc mẫu nghi thiên hạ trong lòng Trần Văn Đế.

Sau khi Trần Văn Đế qua đời, trưởng tự Trần Bá Tông lên ngôi lấy hiệu là Trần Phế Đế, nhưng sau khi đăng cơ thì xảy ra tranh đấu trong hoàng tộc. Hoàng thúc Trần Húc đã khởi binh đoạt vị, phế truất Trần Bá Tông vào mùa đông năm 568.

Hàn Tử Cao cùng các vị quân thần không thể lật đổ được âm mưu của Trần Húc. Năm 567, Tử Cao bị Trần Húc bắt giải đến Đình úy rồi bị xử tử, mỹ nam mất lúc 29 tuổi, ra đi khi còn trẻ. Có dị bản kể rằng Trần Húc vốn ép buộc Hàn Tử Cao làm nam nhân bên cạnh mình vì ông ta mê mẩn nhan sắc của chàng tướng quân, nhưng Tử Cao nhất quyết không tuân theo nên bị gán tội mưu phản. Hàn Tử Cao ra đi để giữ tấm lòng trung trinh với Trần Văn Đế.

Thi thể Hàn Tử Cao cũng được chôn cùng với Trần Văn Đế trong lăng mộ. Thiên tình sử khép lại với cái kết không hẳn có hậu, nhưng cũng khiến nhiều người cảm thấy cảm động, tiếc thương cho mối tình hoàng đế và nam hoàng hậu duy nhất lịch sử Trung Hoa cổ đại.

Hậu cung Trung Hoa cổ đại luôn có những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện ấy lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về vùng đất “đặc biệt” này. Hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc để tự mình khám phá được nhiều điều thú vị hơn nhé!