Kinh kịch – loại hình nghệ thuật tinh tuý của Trung Hoa

Dân tộc Trung Hoa trải qua mấy nghìn năm tôi luyện và hoà hợp, kết tụ và phát triển đã thu hút được muôn phương mà lại có phong thái độc đáo, hình thành nên nền văn hoá rực rỡ muôn màu, đa nguyên nhất thể, rộng lớn sâu lắng mà lại mộc mạc tươi đẹp. Trong đó, Kinh kịch là một loại hình sân khấu đẹp có lịch sử trên 200 năm, được xem như một trong những di sản văn hóa đặc sắc nhất của văn hóa Trung Hoa.

Kinh kịch (京剧 – Jīngjù) hay còn gọi là “ca kịch Phương Đông”, là loại hình sân khấu đặc sắc của Trung Quốc mang đậm nét văn hóa thuần túy Á Đông. Vào tháng 11/2010, Tổ chức UNESCO đã chính thức công nhận Kinh kịch là “Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại”. 

Kinh kịch – một thể loại ca kịch dân gian được hình thành và phát triển mạnh tại Bắc Kinh vào thời vua Càn Long. Kinh kịch cũng đã trải qua với nhiều tên gọi: “Nam hí”, “Truyền kì”, “Côn Khúc”, “Huy Kịch” và bây giờ tên chính thức là “Kinh kịch”.

Có thể nói rằng, Kinh kịch là sự kết hợp giữa Huy kịch và Hán kịch. Kinh kịch được phát triển từ các nghệ thuật cổ đại dân gian từ xưa như tuồng – loại hình nghệ thuật tổng hợp, sự kết hợp hài hòa và đồng nhất giữa “Ca, nói, biểu hiện, đấu võ, vũ đạo”. 

Ban đầu, kinh kịch đơn giản chỉ ca múa kèm vũ đạo, tương tự như nghệ thuật tuồng. Hoặc có pha trộn thêm một số loại tạp kĩ như xiếc hoạt kê, các màn nhào lộn, kể chuyện hay những đoạn đối thoại và cả võ thuật. Cho đến thời nhà Đường, tên gọi “Kinh kịch” còn được gọi là “Hí kịch”. Các thể loại nghệ thuật khác của Trung Quốc thường lấy cốt truyện từ lịch sử. Họ thường lấy những vị anh hùng làm đề tài chính. Sang thời nhà Tống thì Kinh kịch còn được gọi là “Tham Quân hí” hay có thể gọi là “Tạp Kịch”.

Phần lớn các vở Kinh kịch đều có đời sống và cảm hứng từ các cốt truyện huyền thoại như cổ tích, truyền thuyết pha lẫn tính dã sử của tiểu thuyết Trung Quốc cổ điển. Chắc hẳn trong chúng ta đã quá quen thuộc với những tác phẩm như Mỹ Hầu Vương, Tam Quốc Diễn Nghĩa, Thủy Hử,… là những tác phẩm điện ảnh quen thuộc cũng đều được tái hiện lại một cách hoàn hảo thông qua loại hình nghệ thuật đặc sắc này. Vì vậy khi nghe và xem Kinh kịch cũng là chúng ta đang tìm hiểu về lịch sử cũng như văn hóa cổ xưa của đất nước Trung Hoa.

Các nhân vật trong Kinh kịch chủ yếu chia làm bốn vai chính: Sinh (vai nam), Đán (vai nữ), Tịnh (vai nam),Sửu (nam nữ đều có). “Sinh” (生) tùy theo tuổi tác và thân phận trong các vở kịch mà chia thành lão sinh, tiểu sinh và võ sinh. “Đán”(旦) bao gồm thanh y, hoa đán, võ đán, lão đán. “Tịnh”(净)vào vai nam hào kiệt hoặc thư sinh, đặc trưng nổi bật là phải vẽ nhiều màu sắc trên mặt, vì vậy còn gọi là “hoa kiểm”. “Sửu”(丑) là vai xấu xa hoặc hài hước lanh lợi.

Nhạc cụ để biểu diễn trong một vở Kinh kịch bao giờ cũng là sự kết hợp đồng bộ giữa bộ gió, bộ dây và bộ gõ, chúng tạo ra những tiếng đệm theo lời hát trầm bổng réo rắt vốn đã được xem là chuẩn mực, “quốc túy”, trong điệu hát Trung Hoa.

Cùng với các nhạc khí, nhân vật Kinh kịch còn sử dụng các loại đạo cụ khác như: đao, thương, kiếm, gậy, quạt,… để hỗ trợ cho diễn xuất và thể hiện tính cách riêng.

Nghệ thuật hóa trang trong Kinh kịch cũng rất đặc sắc. Vai “Sinh” và “Đán” phải vẽ lông mày, nâng lông mày và vẽ tròng mắt. Vai “Tịnh” và “Sửu” phải vẽ mặt nạ hay cụm từ mà miêu tả chính xác theo cách gọi của người Trung Quốc đó là Kiểm Phổ.

Kiểm phổ là cách hóa trang để diễn viên Kinh kịch hóa thân nhập vai nhân vật định sẵn, cách vẽ và hình vẽ sẽ khác nhau tùy thuộc vào nội tâm nhân vật thể hiện, và không được vẽ lẫn lộn giữa các vai khác nhau. Trong đó, phương pháp vẽ lại thiên hình vạn trạng, mỗi kiểm phổ có nét kỳ diệu riêng. Một số kiểm phổ chỉ đơn thuần dùng tay chấm màu vẽ và bôi nhẹ lên mặt, không cần dùng bút kẻ các đường nét, ví dụ như trong các tuồng Võ hí, diễn viên đóng các vai anh hùng đều áp dụng cách vẽ này.

Những tướng võ thông thường đa số đều phải vẽ mặt, nghĩa là dùng dầu trang điểm pha trộn các màu sắc khác nhau và vẽ lên mặt, màu sắc đậm nhạt, vòng mắt to nhỏ, lông mày thẳng hoặc cong, hoa văn biến hóa, lực vận bút mạnh nhẹ đều phải tuân theo chuẩn mực quy định, không được sơ suất; vai gian thần thì phải dùng mạt kiểm (mặt bôi, dùng tay bôi màu lên mặt) – lông mày được bôi đậm thêm, mắt vẽ hình tam giác, và vẽ thêm hai đường vân gian ác (giống như chân ruồi), bôi phấn lên mặt sao cho cả mặt có màu trắng xóa giống như bộ mặt giả, không được để lộ bộ mặt thật ra ngoài.

Kiểm phổ được vẽ tinh xảo, màu sắc rực rỡ, khuôn mặt có thể méo mó nhưng cũng có thể ngay thẳng, đường nét có thể thô hoặc mỏng, rất đa dạng. Qua Kiểm Phổ, khán giả có thể nhận biết các nhân vật trung thành hoặc gian trá, tốt đẹp hay xấu xa, lương thiện hay gian ác, cao thượng hay thấp hèn. Kiểm phổ chính là bằng chứng phát triển hoàn thiện của thủ pháp tả ý ước lệ trong Kinh kịch, hiểu rõ ý nghĩa tượng trưng mà Kiểm Phổ muốn thể hiện sẽ giúp ích cho việc tìm hiểu cốt truyện của tuồng kịch.

Kiểm phổ thể hiện tính cách, ví dụ như mặt đỏ thể hiện tính cách trung liệt, dũng cảm, chính nghĩa; mặt đen biểu thị sự thô bạo, hung dữ; mặt xanh dương biểu thị sự ngoan cường, dũng mãnh; mặt trắng biểu thị sự gian xảo, nham hiểm; “mặt đậu phụ” biểu thị sự a dua, nịnh bợ,…

Ngoài ra, còn rất nhiều kiểm phổ mà không thể liệt kê ra hết, vừa có thể dùng các màu sắc khác nhau để vẽ nên các hoa văn khác nhau nhằm lột tả hết tính cách của nhân vật trong vở kịch, giúp khán giả có cái nhìn cụ thể hơn.

Để biểu thị quan hệ huyết thống, có thể nhân vật cha con trong kịch sẽ được vẽ mặt cùng một màu, cách vẽ và hình vẽ sẽ to nhỏ khác nhau. Để biểu thị thân phận: nhân vật được vẽ màu vàng kim hoặc màu bạc không là tiên thì cũng là Phật; nhân vật được vẽ hình rắn, sâu bọ, cá, tôm thì chắc chắn sẽ là thủy quái hoặc sơn yêu; khuôn mặt lộ vẻ uy nghiêm đa phần là trung thần hoặc hiếu tử; mặt vẽ màu xanh lá hoặc xanh dương đều là những bậc anh hùng xuất thân trong tầng lớp nhân dân; vẽ “mắt eo”, “mày dùi cui” (nghĩa là ở giữa thô, phía dưới có hình tròn nhọn, phía trên rất nhọn, lông mày ngắn có hình dạng như chiếc dùi cui) cho nhân vật hòa thượng; kiểm phổ có mắt đen với vòng mắt nhỏ, miệng nhỏ chắc chắn sẽ là thái giám cung đình; bôi “miếng đậu phụ” màu trắng ở ngay giữa sống mũi đều là những vai phụ xuất hiện để chọc cười mua vui trong kịch.

Kiểm phổ còn có thể mở rộng phạm vi diễn xuất của diễn viên, diễn viên có thể đóng luôn các vai động vật, không cần phải kéo trâu thật ngựa thật lên sân khấu, và diễn viên vừa lột tả được hết tính cách của vai diễn, lại vừa có thể nói chuyện được, thú vị vô cùng.

Với loại hình nghệ thuật Kinh kịch, mặt nạ cũng được xem là yếu tố đặc sắc. Qua những sắc thái trên mặt nạ chúng ta có thể biết được nhân vật vai thiện hay ác. Mỗi khuôn mặt, mỗi kiểu tính cách lại có những cách tạo hình nhân vật khác nhau. Cho dù là nhân vật gian trá, thiện lành hay xấu xa, cao thượng hay thấp hèn đều thể hiện rõ nét trên khuôn mặt. Màu sắc trên khuôn mặt cũng chiếm giúp việc tạo hình được thành công hơn. Màu đỏ thường biểu thị cho những con người trung thành hết mực. Màu trắng thể hiện nhận vật gian trá,giả trân, độc ác. Màu xanh làm phản chiếu nhân vật kiên cường và dũng cảm. Mặt na màu bạc thể hiện sự tàn bạo. Màu vàng thể hiện thần phật quỷ quái. Màu sắc thể hiện được sự huyền ảo kì bí đồng thời cũng thu hút người xem hơn rất nhiều.

Trong Kinh kịch, không thể thiếu các màn nhào lộn, xiếc, và diễn trò. Sau này dưới sự ảnh hưởng của võ thuật Trung Hoa, những tiết mục Kinh kịch bắt đầu có các màn biểu diễn võ thuật làm cho buổi biểu diễn trở nên sinh động và cuốn hút hơn. Ngoài ra, Kinh kịch đã tạo nên một hệ thống động tác biểu diễn mang tính chất tượng trưng cao. Chẳng hạn như lấy một chiếc mái chèo biểu thị một con thuyền, hay một chiếc roi ngựa biểu thị một con ngựa. Diễn viên không cần đạo cụ vẫn có thể biểu diễn những động tác như lên lầu, xuống lầu, mở cửa, đóng cửa. Những động tác này tuy có hơi khuếch đại, nhưng có thể đem lại cảm giác chân thật cho khán giả.

Gắn liền với vẻ mặt trí tuệ của vai diễn cũng như nghệ thuật vũ đạo, múa võ, kỹ xảo xiếc điêu luyện…, sự độc đáo của Kinh kịch còn nằm trong vẻ đẹp hoàn mỹ của những trang phục dân tộc. Xuất xứ từ trang phục của triều đại nhà Minh (1368-1644), sự lộng lẫy và tinh xảo trong trang phục của Kinh kịch đến nay vẫn làm cho mọi người phải ngạc nhiên; kết hợp với trang phục, vai diễn tự nhiên và hoàn hảo trong sự nhuần nhuyễn giữa thực tế, trí tưởng tượng cũng góp phần tăng sự hoành tráng trong vở Kinh Kịch.

Phải nói rằng, người xưa có phong cách thưởng thức nghệ thuật rất thanh tao, chú trọng vào nội hàm chứ không chỉ là những màn phô diễn nghệ thuật. Bởi vậy mà Kinh kịch có sức sống tới mấy trăm năm mà không hề bị phai nhòa. 

Thật là tuyệt vời khi khám phá thêm một nét văn hóa rất Trung Hoa phải không nào? Du khách đã bị thu hút và tò mò muốn xem Kinh kịch này chứ? Nếu có cơ hội du lịch Nhật Bản, du khách hãy nhớ dành thời gian thưởng thức buổi biểu diễn Kinh kịch đặc sắc nhé! Chắc chắn du khách sẽ có thêm được một trải nghiệm thú vị trong hành trình khám phá vùng đất Trung Hoa.

Lễ hội đèn lồng – nét đẹp văn hoá truyền thống của Trung Quốc

Lễ hội đèn lồng là một phong tục không thể thiếu khi kết thúc mùa Tết Nguyên Đán của Trung Quốc. Đèn lồng đỏ được treo ở mọi nẻo đường mọi khu phố như dấu hiệu tạm biệt những ngày đầu xuân năm mới. Khi phố lên đèn, những chiếc đèn đỏ lung linh treo cao như tương lai tươi sáng.

Ngày 15/1 âm lịch hay còn gọi là ngày rằm tháng Giêng là một trong những ngày rất quan trọng theo lịch âm của người Châu Á. Có nơi thậm chí còn quan niệm: “Cúng cả năm không bằng rằm tháng Giêng”. Ở Trung Quốc, ngày này người ta tổ chức Lễ hội đèn lồng để chính thức kết thúc những ngày Tết nguyên Đán.

Lễ hội đèn lồng ở Trung Quốc đã có từ rất lâu đời. Theo sử sách thì lễ hội này bắt nguồn khoảng từ năm 206 trước Công nguyên đến năm thứ 25 sau Công nguyên. Thời ấy, đạo Phật tại Trung Quốc rất phát triển. Vào ngày trăng tròn của tháng âm lịch đầu tiên trong năm mới, các nhà sư thường thắp đèn lồng để cầu nguyện Phật. Một vị vua sùng đạo Phật thấy vậy cũng đã ra lệnh thắp sáng đèn lồng trong cung điện và các đền thờ để tỏ lòng tôn kính Phật. Về sau, truyền thống trên đã phát triển thành một lễ hội lớn trong dân chúng.

Lễ hội đèn lồng cũng gắn liền với nhiều truyền thuyết. Truyền thuyết thứ nhất kể rằng: Ngày xửa ngày xưa có một con thiên nga từ trên thiên đình bay xuống hạ giới đã bị một người thợ săn bắn chết. Để trả thù cho con thiên nga, Ngọc Hoàng đã sai một đội quân Thiên đình đúng ngày 15 tháng 1 xuống hỏa thiêu toàn bộ con người và động vật dưới hạ giới. Rất may cho loài người là có một số vị thần trên Thiên đình không đồng ý với quyết định có phần hơi nặng tay của Ngọc Hoàng. Họ đã liều mình xuống hạ giới để hiến kế cho chúng sinh. Thế là vào ngày đó, nhà nhà treo đèn lồng và bắn pháo hoa để trên Thiên đình tưởng rằng nhà cửa của họ đã bị phóng hoả. Nhờ đó mà loài người mới thoát khỏi cảnh diệt vong.

Một truyền thuyết khác: Vào thời Hán Vũ Đế, có một cô gái trẻ tên là Yuanxiao sống trong cung bị cấm về thăm cha mẹ vào ngày 15 tháng 1 đã có ý định lao xuống giếng để tự vẫn. Cảm động trước tấm lòng hiếu thảo của cô gái, một vị quan cận thần có tên là Dongfang Shuo đã nghĩ ra một kế để giúp cô. Ông tâu với Hán Vũ Đế rằng, ngày 16 tháng 1, Thiên dình sẽ sai Hỏa thần xuống thiêu rụi Kinh thành. Để tránh tai họa đó, mọi người phải treo đèn lồng trước cửa nhà mình và ngoài đường vào ngày 15. Theo lệnh của Hán Vũ Đế, ngày đó mọi nhà đều treo đèn lồng, nhân lúc mọi người đang mải ngắm những chiếc đèn xinh xắn đó, cô gái trẻ đã trốn về nhà thăm cha mẹ mà không hề ai biết.

Đối với mỗi người dân Trung Quốc, lễ hội này có ý nghĩa tinh thần rất lớn. Không chỉ tiếp nối truyền thống và lịch sử của dân tộc, Lễ hội đèn lồng còn là nơi mọi người cầu mong một năm mới suôn sẻ. Trong quá khứ, Lễ hội đèn lồng còn là dịp cầu duyên của những người trẻ tuổi đang tìm kiếm tình yêu. Người Trung Quốc quan niệm rằng ánh sáng từ những chiếc đèn lồng đỏ sẽ xua tan đi giá lạnh của mùa đông và chào đón mùa xuân ấm áp. Đèn lồng thắp sáng như xua đi bóng tối và thắp lên một tương lai tươi sáng và tốt đẹp phía trước. 

Vào ngày này, những chiếc đèn lồng sẽ được treo kín các con đường, từ những khu phố về ngõ nhỏ trên khắp đất nước Trung Quốc. Nơi tổ chức trưng bày đèn lồng hoành tráng nhất là đền Khổng Tử ở Nam Kinh (thành phố Hạ Môn), vườn đào Thượng Hải và công viên Việt Tú ở Quảng Châu. Ghé thăm Trung Quốc vào dịp này du khách sẽ được thưởng thức những nét đẹp văn hoá Trung Hoa đặc sắc và độc đáo riêng có nơi đây.

Cứ đến chiều tối, người người sẽ đổ xuống đường phố để thưởng thức vẻ đẹp lộng lẫy của hàng nghìn chiếc đèn lồng đa dạng về chủng loại, chẳng hạn như: đèn lồng cung đình, đèn lồng vải, đèn lồng vải và nhiều loại khác. Có nhiều loại hình ảnh được trang trí trên lồng đèn như: Họa tiết hình tượng, tranh phong cảnh, hoa và chim, hoa văn rồng phượng, cá và côn trùng. Ngoài ra, còn có lồng đèn kéo quân có khả năng làm cho hình ảnh chuyển động. Thiết kế truyền thống nhất, được nhìn thấy nhiều nhất là lồng đèn có hình dáng quả bí ngô, đính tua rua ở dưới. Có đôi khi là đèn lồng dạng hình trụ, mà các cung nữ ngày xưa hay dùng khi di chuyển. Các vật liệu được sử dụng để làm đèn lồng rất đa dạng. Thông thường, khung đèn được làm từ vật liệu tre, mây, gỗ, sợi thép. Bọc xung quang là vải hoặc giấy. Tùy từng loại chất liệu mà được trang trí họa tiết.

Xuyên suốt lễ hội, những tiết mục bắn pháo hoa, biểu diễn múa lân và kịch nghệ sẽ diễn ra liên tục giúp không khí lễ hội càng thêm nhộn nhịp và từng bừng, những nụ cười vui vẻ và hạnh phúc luôn nở trên môi mỗi người. Không chỉ vậy các hoạt động như treo điều ước, giải câu đố đậm nét văn hoá truyền thống cũng diễn ra thu hút người dân và du khách đến trải nghiệm.

Một trong những điểm nhấn chính của lễ hội này là hoạt động thả đèn hoa đăng. Người tham dự sẽ viết những điều ước của mình cho năm mới và đồng loạt thả chúng lên trời cao. Người dân tin rằng, bằng cách này, những chiếc đèn giấy sẽ giúp họ gửi gắm được điều ước của mình đến với Thượng Đế. Những chiếc đèn được thả lên trời cũng như mong muốn và ước mơ của người dân nơi đây bay cao bay xa và luôn toả sáng. Nhìn ngắm cả bầu trời đêm được thắp sáng bởi hàng trăm đốm sáng nhỏ sẽ là một trải nghiệm khó quên cho bất cứ ai từng chứng kiến.

Ngoài loại đèn lồng truyền thống, những nghệ sĩ tham gia thiết kế lễ hội còn tạo nên những mẫu đèn lồng sáng tạo với nhiều hình thù và chất liệu khác nhau. Đèn được trưng bày tại lễ hội không đơn giản chỉ là những món đồ trang trí được treo lên mà còn có thể thả trôi dưới nước, thả lơ lửng trên trời, tạo thành các tác phẩm nghệ thuật thú vị, vừa phá cách, vừa giàu bản sắc Trung Hoa.

Ngoài nhìn ngắm những chiếc đèn lồng truyền thống treo khắp đường phố, những chiếc đèn hoa đăng lung linh trên bầu trời đêm và cả những chiếc đèn bồng bềnh theo dòng nước trôi, Lễ hội đèn lồng còn là dịp để mọi người thưởng thức bánh trôi nước. Loại bánh này được làm từ bột gạo nếp dẻo, có lớp nhân bên trong là mè đen, đường, đậu phộng hoặc các loại đậu đỏ, đen, xanh,… Bánh trôi nước có thể được luộc, hấp và chiên tùy theo vùng miền, nhưng phổ biến nhất vẫn là loại bánh được luộc lên và dùng chung với rượu gạo. Người dân cho rằng, hình dáng tròn trịa của bánh trôi là biểu tượng của sự trọn vẹn. Hình ảnh những chiếc bánh trôi bên trong chiếc chén nhỏ còn được cho là giống với cảnh các thành viên trong gia đình cùng quây quần bên nhau – biểu tượng của sự đoàn viên.

Lễ hội đèn lồng mang thật nhiều nét đẹp văn hoá dân tộc mang lại những niềm vui và hi vọng cho mọi người. Du lịch Trung Quốc để hoà mình vào Lễ hội đèn lồng nhộn nhịp và tự tay thả chiếc đèn hoa đăng mang mơ ước của bản thân lên trên trời cao chắc chắn sẽ là một trải nghiệm thú vị mà du khách khó lòng quên được.

6 lần tuần du Giang Nam – những cuộc chơi xa xỉ bậc nhất của Càn Long Đế

Trong lịch sử Nhà Thanh Trung Hoa, Càn Long là một vị minh quân nhưng cũng là một ông vua nổi tiếng về khoản ăn chơi, hưởng lạc. Trong số những cuộc chơi xa xỉ bậc nhất của Càn Long, không thể không nhắc đến 6 lần tuần du Giang Nam.

Hoàng đế Càn Long tên thật là Ái Tân Giác La Hoằng Lịch, sinh vào ngày 13/8 năm Khang Hi thứ 50 (1711), tại Như Ý thất, Đông thư viện của Ung Thân vương phủ, ấu danh Nguyên Thọ. Ông là con trai thứ tư của Thanh Thế Tông Ung Chính Đế, khi ấy đang là Ung Thân vương, còn mẹ là Hiếu Thánh Hiến Hoàng hậu Nữu Hỗ Lộc thị, khi ấy vẫn còn là Cách cách của Ung Thân vương.

Từ nhỏ, Hoằng Lịch có tiếng thông minh, học đâu nhớ đó. Năm Khang Hi thứ 60 (1721), Khang Hi nghe nói cháu nội Hoằng Lịch rất thông minh, bèn cho vời gặp. Sau khi gặp, Khang Hi rất thích Hoằng Lịch, lệnh đưa vào cung học vấn, sau đó còn cho đi theo mình đến Nhiệt Hà sơn trang. Khi đó, Hoằng Lịch mới 10 tuổi.

Khi Khang Hi qua đời (1722), Ung Thân vương đăng cơ, tức Ung Chính Đế. Con trưởng Hoàng Thời hành vi phóng túng, rất không được Ung Chính yêu thích, mà Hoằng Lịch vào những năm cuối, được Khang Hi sủng ái, nên vô hình chung đã khiến địa vị của Ung Chính trong cuộc tranh đoạt Hoàng vị suôn sẻ hơn. Đây có lẽ là lý do Ung Chính đã ngấm ngầm chọn Hoằng Lịch làm Trữ quân.

Trước khi Hoằng Lịch lên ngôi, tin tức về người kế vị đã được nhiều người biết đến. Hoằng Lịch chính là người được Khang Hi Đế (ông nội) và phụ hoàng là Ung Chính Đế đánh giá cao. Trên thực tế, Ung Chính đã giao cho Hoằng Lịch nhiều công việc quan trọng từ khi Hoằng Lịch còn là hoàng tử, bao gồm cả những việc triều chính liên quan đến các chiến lược quân sự.

Theo mật chỉ do Ung Chính Đế công bố, ngay từ năm Ung Chính nguyên niên (1723), tháng 8, Ung Chính Đế đã chỉ định Hoàng tứ tử Hoằng Lịch chính thức trở thành Trữ quân. Do vậy, sự giáo dục của Hoằng Lịch từ thời khắc đó trở nên chú trọng hơn, bao gồm các lão thần Trương Đình Ngọc, Từ Nguyên Mộng, Thái Thế Xa,… ngoài ra các hoàng thân như Dận Lộc, Dận Hi cũng đều kèm cặp cưỡi ngựa bắn cung cho Hoằng Lịch, để Hoằng Lịch không quên đi nguồn gốc tổ tiên. Do đó, Hoằng Lịch nhanh chóng trở thành hoàng tử hiểu biết Mãn, Hán, Mông văn.

Năm Ung Chính thứ 2 (1724), gặp ngày kị của Thánh Tổ Khang Hi, Ung Chính Đế mệnh Hoằng Lịch thay mình tế Cảnh lăng. Đến tháng 7 năm Ung Chính thứ 5 (1727), Hoằng Lịch tiến hành đại hôn với Phú Sát thị, con gái Sáp Cáp Nhĩ tổng quản Lý Vinh Bảo, xuất thân từ dòng họ Phú Sát thị của Tương hoàng kỳ. Đại hôn cử hành ở Tây Nhị sở trong Tử Cấm Thành (về sau Càn Long Đế đổi tên thành Trọng Hoa cung).

Năm Ung Chính thứ 11 (1733), ông được gia phong Bảo Thân vương. Cùng năm này, Ung Chính Đế cho phép Hoằng Lịch tham gia nghị định đàn áp Hãn quốc Chuẩn Cát Nhĩ và người Miêu ở Quý Châu. Đây đều là đại chính sự khi đó của Đại Thanh, cho thấy tư cách kế vị của Hoằng Lịch đã rõ ràng hơn bao giờ hết. Ngoài ra, việc tế lăng, tế Khổng, tế Quan Thánh Đế Quân, tế Miếu,… những việc tế tự trọng đại đều do Hoằng Lịch đích thân chủ trì.

Để tránh lặp lại một cuộc tranh giành quyền lực – điều vốn để lại vết nhơ trong con đường đến ngai vàng của mình, Ung Chính Đế đã viết sẵn tên người kế ngôi, đưa vào trong một chiếc hộp niêm phong cẩn thận được đặt phía sau tấm bảng Chính đại quang minh phía trên ngai vàng tại Càn Thanh Cung. Tên người kế vị sẽ được công khai cho các hoàng thân trong cuộc họp mặt của tất cả các quan đại thần, sau khi Hoàng đế mất. Đây chính là hình thức xác nhận ngôi vị Trữ quân mà các hoàng đế nhà Thanh áp dụng cho đến khi Cách mạng Tân Hợi (1911) nổ ra, chấm dứt triều Thanh.

Vào năm Ung Chính thứ 13 (1735), ngày 23/8, Ung Chính Đế qua đời. Nội thị lấy chỉ dụ đã được soạn sẵn, công bố trước triều đình nhà Thanh. Theo đó, Bảo Thân vương Hoằng Lịch kế thừa Hoàng đế vị. Ngày 3/9, Hoằng Lịch lên ngôi ở điện Thái Hòa, lấy năm sau là năm đầu niên hiệu Càn Long. Ngày 27/9, di cư Dưỡng Tâm điện.

Trong lịch sử Trung Quốc, Hoàng đế Càn Long nổi tiếng với “nhiều cái nhất”, đó là: vị vua sống thọ nhất, cai trị lâu nhất và đặc biệt là có những cuộc chơi xa xỉ bậc nhất, không thể không nhắc đến 6 lần tuần du Giang Nam.

Càn Long đã thực hiện tuần du phương nam 6 lần, bằng với số lần tuần du của hoàng đế Khang Hi. Tuy nhiên, chi phí mỗi chuyến đi của Càn Long lại nhiều gấp 10 lần so với Khang Hi. 

Những chuyến tuần du phương nam của Càn Long, chủ yếu là đi thăm thú, ăn chơi hưởng lạc. Ông ta thường bắt đầu những chuyến tuần du vào mùa xuân, mùa đẹp nhất trong năm.

Một trong những chuyến tuần du tốn kém khủng khiếp nhất, phải kể đến vào năm Càn Long thứ 12 (năm 1748), Càn Long học theo Khang Hi, cùng với mẹ là Sùng Khánh Hoàng thái hậu, xuống Giang Nam thăm thú. Càn Long xuống chiếu, rằng: “Trẫm đi thăm hỏi phong tục, quan sát phong cảnh, tuần du miền Giang, Chiết, thanh sạch mà đến, ân đức dồi dào. Càng nhớ tới vùng Giang Nam, Chiết Giang nhân tài tụ hội. Thánh Tổ nhân hoàng (Khang Hi) đã từng tuần thú nhiều lần, lễ nghĩa thấm nhuần rộng khắp, luật lệ ít lời, ban ơn mưa móc”.

Càn Long tuần du xuống phía nam, chỉ riêng thuyền lớn đã huy động hơn một nghìn chiếc. Thuyền lớn mà Càn Long sử dụng phải dùng đến sức kéo của cả ngàn dân phu mới di chuyển được trên sông. Riêng ngựa được huy động đến 6.000 con, lạc đà 600 con, người hầu, cung nữ, phi tần cho đi theo đến vài ngàn người.

Vốn Càn Long thích nghe kinh kịch, nên suốt lộ trình, các nơi Càn Long đi qua, quan lại đều cho xây dựng sân khấu để hát xướng. Những gánh hát nổi tiếng của Trung Quốc bấy giờ đều đổ xô đến hai tỉnh Giang Nam, Chiết Giang biểu diễn.

Trên chặng đường từ Bắc Kinh đến Hàng Châu, tổng cộng có 36 hành cung được xây dựng, cứ 20 dặm lại có một nhà công quán. Trên đường Càn Long đi qua đều phải trải thảm, che bằng lụa. Đặc biệt, ở những nơi Càn Long tuần du qua, giá của hàng hóa lại bị đội lên gấp hai, ba lần, khiến cho phủ Nội vụ (nơi quản lý tài chính, chi tiêu hoàng gia) phải oằn mình trang trải.

Mỗi khi đến nơi nào quan lại, nhân dân tổ chức đón rước linh đình, làm Càn Long hài lòng, đều sẽ được ban thưởng rất nhiều. Ước tính, chi phí cho mỗi cuộc tuần du của Càn Long lên đến 200 trăm vạn lạng bạc.

Vì tiêu xài quá độ, phủ Nội vụ nhiều năm liền bị thâm hụt ngân quỹ, còn các đại thần mỗi khi nghe hai chữ “tuần du” đều khiếp vía. Tình trạng hao hụt chỉ chấm dứt, khi Hòa Thân tiếp quản chức tổng quản phủ Nội vụ.

Thanh sử chép: Ngày 12 tháng Giêng, năm Càn Long 44 (năm 1780), hoàng đế chuẩn bị xuống Giang Nam lần thứ năm. Chỉ yêu cầu phủ Nội vụ lo liệu những chi phí thường ngày, còn lại giao hết cho Hòa Thân. Thế là Hòa Thân lệnh cho tổng đốc, tuần phủ các tỉnh, các thương nhân gấp rút tu bổ, xây dựng hành cung, vườn cảnh, khơi thông sông ngòi. Càn Long tới xem, thấy nơi nơi thuyền bè đậu kín mặt sông, liên tiếp mấy nghìn chiếc, tỏ ra vô cùng mừng rỡ.

Sáu lần tuần du phương nam, đã để lại rất nhiều giai thoại về những cuộc ăn chơi phong lưu bậc nhất của Hoàng đế Càn Long. Tác phẩm “Thanh cung mười ba triều” đã miêu tả chi tiết việc tổ chức một cuộc đón rước Càn Long như sau:

Những nơi Càn Long đi qua, các quan lại đều được báo trước 1 tháng để chuẩn bị. Tuy nhiên, công quỹ có hạn, mà lễ đón rước muốn cho đẹp lòng Càn Long thì vô cùng tốn kém. Vì vậy, quan lại tìm đến các thương nhân với gia tài khổng lồ,giao cho việc đón tiếp Càn Long, những người này đều được gọi là Thân sĩ. Trong số các Thân sĩ, phải nhắc đến hai nhân vật giàu có nổi tiếng trong lịch sử nhà Thanh, cũng như trong các tác phẩm văn học, điện ảnh, đó là Uông Như Long và Giang Hạc Đình. Cả hai người này đều là những thương nhân buôn muối vô cùng giàu có ở Dương Châu (Giang Tô), sống vào thời Càn Long. Đặc biệt, Uông Như Long là một trong những tài phiệt, thuộc hạ rất đắc lực của Hòa Thân.

Cả Uông Như Long và Giang Hạc Đình đều mua những gánh hát nổi tiếng, những ca kĩ hát hay múa giỏi lại vô cùng xinh đẹp. Nổi bật là hai nàng Huệ Phong và Tuyết Như đều là mỹ nhân bậc nhất Dương Châu. 

Càn Long đến Dương Châu, được Uông Như Long và Giang Hạc Đình cùng đám quan viên phục vụ, vô cùng thỏa mãn. Những kẻ này còn bỏ hàng vạn lạng bạc làm một Thủy hí đài (sân khấu trên nước), để Càn Long vừa có thể nghe nhạc, vui thú cùng hai mỹ nhân, vừa không làm lỡ thời gian của cuộc tuần du.

Càn Long đi từ Giang Tô đến Hàng Châu, đem Thủy hí đài thả vào giữa Tây Hồ cho quan lại và dân chúng xem hát, ai cũng không ngớt khen ngợi.

Càn Long đến Hàng Châu, vốn được coi là miền đất Phật của Trung Quốc. Hàng Châu có rất nhiều ngôi chùa nổi tiếng như chùa Tịnh Từ, Hàn Sơn, Chiêu Khánh, Quang Hóa, Phượng Lâm…

Biết Càn Long rất sùng bái Phật giáo, đám quan lại cùng thương nhân ở đây đã chi 40 vạn lạng bạc để tu sửa hết các chùa chiền, miếu mạo. Những cao tăng ở Ngũ Đài Sơn được mời đến để giảng pháp, mong sao cho đẹp lòng Càn Long. Tuy nhiên, việc mời các cao tăng Ngũ Đài Sơn không thành, họ bèn tìm những nho sĩ tài cao học rộng, thông hiểu phật pháp, bắt cạo đầu, cho làm trụ trì ở những chùa lớn. Những kẻ này đều được giao hẹn trước, nếu người nào làm Càn Long vừa ý, được ban pháp hiệu, thì phải xuất gia cả đời và được thưởng 2 vạn lạng bạc. Nếu không được ban pháp hiệu thì được trả 4.000 lạng bạc. Sự việc thú vị này cũng được rất nhiều các tác phẩm đời sau nhắc đến.

Có câu chuyện rất nổi tiếng về cuộc đối đáp giữa Càn Long và vị trụ trì giả mạo như sau:

Càn Long đến chùa Tịnh Từ, trụ trì giả là Huệ Lâm đã đứng ở cổng chùa đón tiếp. Hoàng đế lễ Phật xong, cùng các hòa thượng lên núi Ngô Sơn, ngắm thuyền bè qua lại. Càn Long hỏi Huệ Lâm: “Hòa thượng biết trên sông có bao nhiêu thuyền bè qua lại hay không?”. Huệ Lâm nói ngay: “Chỉ có hai chiếc mà thôi, một chiếc đoạt danh, một chiếc đoạt lợi”.

Càn Long lại hỏi: “Hòa thượng mà cũng thấy được danh lợi hay sao?”. Huệ Lâm đáp: “Hòa thượng không thấy danh lợi, bởi vậy nên mới thấy được những người danh lợi trong hai chiếc thuyền kia. Những người trong hai thuyền kia thấy được danh lợi, bởi vậy, lại không thấy được những người ở ngoài hai chiếc thuyền đó”.

Càn Long cho rằng Huệ Lâm quả thật là kiến thức uyên thâm, vô cùng khen ngợi. Sau đó, ông ta trọng thưởng cho đám quan viên và các hòa thượng. Càn Long còn cấp tiền cho xây dựng, tu sửa hàng loạt ngôi chùa ở Hàng Châu, tốn kém bao nhiêu không kể xiết.

Trên đây chỉ là những giai thoại nổi tiếng nhất, được ghi nhận trong nhiều tác phẩm viết về những cuộc tuần du phương nam của Càn Long Đế. Còn có vô số những câu chuyện khác, về những ngón ăn chơi xa xỉ bậc nhất của vị hoàng đế này, được lưu truyền cho đến ngày nay.

Với những thông tin về Hoàng đế Càn Long mà chúng tôi vừa trên sẻ trên đây, hẳn du khách cảm thấy thích thú và muốn khám phá nhiều hơn về vị vua nổi tiếng này. Vậy còn chần chờ gì nữa mà du khách không đặt ngay cho mình một tour Trung Quốc để tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn?

Kế hậu Ô Lạp Na Lạp thị chết trong ghẻ lạnh vì một lần tự cắt tóc mình

Trong rất nhiều bộ phim cổ trang của Trung Hoa, phân cảnh Kế Hoàng hậu Ô Lạt Na Lạp thị tự tay cắt đi mái tóc của mình trước mặt Hoàng đế Càn Long trong sự tuyệt vọng tột cùng đã đẩy khán giả đến tận cùng của nỗi đau. Việc này đã khiến cho Kế Hoàng hậu sinh thời được vua hết mực sủng ái, vậy mà đã buông tay trần thế trong sự tịch mịch và cô độc khi mới 49 tuổi.

Trên danh nghĩa “chính thất” của Càn Long Đế, Kế Hoàng hậu đã trải qua đủ dư vị thăng trầm của cuộc sống chốn thâm cung, vinh hoa có, tủi nhục cũng chẳng kém phần. Đường đường là bậc mẫu nghi thiên hạ, sinh thời được vua hết mực sủng ái, vậy mà đến khi qua đời, tang lễ của Kế Hoàng hậu lại sơ sài chẳng khác gì bậc nô tì thấp kém. Sự thật của sự keo kiệt đến khó tin của vị Hoàng đế nổi danh xa xỉ, hào phóng nhất Thanh triều là thế nào; uẩn khúc ẩn chứa phía sau cuộc chuyển đổi tình thế chóng mặt từ đắc sủng đến thất sủng của Kế Hoàng hậu rốt cuộc ra sao, cho đến giờ vẫn là những thắc mắc lớn chưa thể lý giải.

Kế Hoàng hậu (11/3/1718 – 19/8/1766) là Hoàng hậu thứ hai của Thanh Cao Tông Càn Long Đế. Bà là Hoàng hậu duy nhất của nhà Thanh không có thụy hiệu. Trong Thanh sử cảo, bà chỉ được ghi là Hoàng hậu Ô Lạt Na Lạp thị, sử thần Triều Tiên gọi Thanh Cao Tông Kế Hoàng hậu, hay Na Lạp Hoàng hậu.

Hoàng hậu Ô Lạt Na Lạp thị sinh ra trong một gia tộc vô cùng danh giá, hiển hách. Bà được chỉ hôn làm trắc phúc tấn cho Bảo Thân Vương Hoằng Lịch. Khi Hoằng Lịch đăng cơ, lấy niên hiệu là Càn Long, bà được sắc phong thành Nhàn phi rồi tiếp tục thăng vị lên Nhàn Quý phi, Hoàng quý phi. Sau khi Phú Sát Hoàng hậu qua đời, bà trở thành Kế Hoàng hậu của vua Càn Long.

Bà đăng cơ hoàng hậu khi chưa sinh được hoàng tử nào, thậm chí bà còn được Thái hậu rất yêu quý. Khi Càn Long đã nguôi ngoai được với sự ra đi của người vợ Phú Sát thị thì ông đã vô cùng yêu thương sủng ái Hoàng hậu Ô Lạt Na Lạp thị, có thể nói vinh sủng không hề ít.

Vậy mà, Kế Hoàng hậu Ô Lạt Na Lạp thị đã bị thất sủng chỉ sau một đêm trong một chuyến tuần du. Tháng Giêng năm Càn Long thứ 30 (1765), Hoàng đế tiến hành tuần du phía Nam lần thứ 4. Kế Hoàng hậu cũng có tên trong danh sách những phi tần đi cùng. Khi chuyến tuần du mới bắt đầu, mọi việc diễn ra hết sức thuận lợi. Càn Long còn ưu ái tổ chức sinh nhật lần thứ 48 vào ngày 10/2 cho Hoàng hậu rất mực linh đình. 

Tuy nhiên, sau chuyến đi này, hoàng hậu bỗng chốc bị thất sủng. Sau khi trở về Tử Cấm Thành, bà bị biệt giam trong cung cấm, cắt giảm cung nữ hầu hạ. Tuy không bị phế ngôi vị hoàng hậu nhưng vua Càn Long đã thu hết những đặc ân mà bà được ban trong những nghi lễ sách phong năm xưa.

Một năm sau khi bị Hoàng đế ghẻ lạnh, Ô Lạt Na Lạp thị buông tay trần thế trong sự tịch mịch và cô độc khi mới 49 tuổi. Khi qua đời, bên cạnh bà không có ai thân thích, chỉ có 2 cung nữ hầu cận.

Lúc Càn Long biết tin Na Lạp Hoàng hậu tạ thế, thì ông đang đi săn ở Mộc Lang Vi Trường. Ông không hề sửng sốt cũng như dừng cuộc đi săn lại, mà chỉ để con trai Hoàng hậu là Hoàng thập nhị tử Vĩnh Cơ trở về Bắc Kinh chịu tang, rồi tiếp tục đi săn thú.

Khi ấy, Càn Long chỉ đưa ra một đạo thánh chỉ, viết rằng: “Lễ nghi không tiện làm lớn như tang lễ của Hiếu Hiền Hoàng hậu. Tất cả mọi nghi thức cứ chiếu theo lễ tang cho Hoàng Quý phi mà làm”. Theo đó, tang lễ của Ô Lạt Na Lạp thị không được tổ chức theo nghi lễ cho Hoàng hậu mà bị giáng xuống một bậc. 

Nói là cấp Hoàng quý phi, thực ra còn kém hơn, không chỉ không được hưởng nghi lễ của Hoàng quý phi, mà ngay cả một quan chức cấp thấp cũng không bằng. Toàn bộ tang sự chỉ dùng bạc 207 hai 9 phân 4 li, còn không bằng một quan viên cấp thấp trong triều đình.

Cũng theo lệ thường, Hoàng hậu phải được an táng chung với Hoàng đế. Mộ phần của bà không được đưa vào địa cung Dụ Lăng của Càn Long (nơi này từng chôn cất 2 vị Hoàng hậu và 3 Hoàng Quý phi). Bà chỉ được táng tại Phi Viên tẩm – nơi an nghỉ của các phi tần bình thường. Trên mộ Ô Lạt Na Lạp thị không có bài vị, không được cúng tế, không có cả thụy hiệu, chỉ được an táng như một cung nữ kế bên mộ của Thuần Huệ Hoàng quý phi. Thông thường quan tài của hoàng hậu đều phải dùng gỗ miền nam màu vàng cao cấp để làm, nhưng quan tài của bà lại làm bằng gỗ sam chất lượng kém. 

Khoảng 12 năm sau, năm Càn Long thứ 43 (1778), lại có người dâng thư thỉnh Hoàng đế cử hành hậu sự cho Na Lạp Hoàng hậu, việc này khiến Càn Long Đế bắt buộc phải ra chiếu dụ giải thích:

“Từ khi Hiếu Hiền hoàng hậu qua đời đến nay, nhân Na Lạp thị là từ khi Trẫm ở Thanh Cung được Hoàng khảo ban làm Trắc phúc tấn, vị thứ đương cao, bèn tấu lên Thánh mẫu Hoàng thái hậu, sách lập làm Hoàng quý phi nhiếp lục cung sự. Sau 3 năm sách lập làm Hoàng hậu.

Về sau tự mắc lỗi lầm, trẫm vẫn rộng rãi như cũ. Nhưng rồi tự đoạn cắt tóc, tức trái quốc tục cấm kị nhất, mà tự thế ngang nhiên không màng đến. Trẫm chỉ răn dạy, vì còn nghĩ ơn xưa, không thể phế truất. Sau Hậu bạo băng, trẫm chỉ giảm nghi văn an táng, vẫn chưa lột bỏ danh hào. Huống hồ về sau không lập Hoàng hậu, xử lý việc này trẫm thật là đã tận tình tận nghĩa”.

Thời kỳ đầu, người Mãn có tục tuẫn táng (chôn theo người chết), nhưng thời Khang Hi đã bỏ đi tục này. Vì vậy, đã phát triển ra một loại văn hóa tuẫn táng thay thế khác: khi chồng, Hoàng đế, Thái hậu qua đời, phụ nữ dân tộc Mãn phải cắt đi một sợi tóc ở bên tai. Hành động tự tiện cắt tóc của Ô Lạt Na Lạp thị thực sự đã nguyền rủa Hoàng đế và Thái hậu. Tuy nhiên, điều kỳ lạ là, Hoàng hậu Na Lạp là người Mãn, không thể không biết tính nghiêm trọng của việc cắt tóc, tại sao bà lại làm như vậy? Rốt cuộc đã xảy ra việc gì? Vua Càn Long giữ kín không nói đến. Có hai nguyên nhân lớn: Một là, vua Càn Long mê sắc, Hoàng hậu khuyên can không được, đã cắt tóc để phản đối. Hoàng đế Càn Long là ông vua phong lưu nổi tiếng, tục truyền mục đích tuần tra phương Nam của ông chính là để săn tìm người đẹp, không chỉ trên đường đổi sang thường phục để đi chơi, mà còn muốn dẫn theo mỹ nữ Giang Nam về cung. Hoàng hậu Na Lạp khuyên can không có hiệu quả, đành phải dùng chiêu cắt tóc, muốn qua đó để thức tỉnh Hoàng đế, không ngờ đã chọc giận Càn Long. Hai là, Càn Long muốn đưa Lệnh quý phi lên làm Hoàng quý phi. Mặc dù Lệnh phi có xuất thân thấp hèn, nhưng phần lớn các nhà sử học cho rằng bà có nhiều cơ mưu, vua Càn Long và Thái hậu đều đã bị bà thu phục. Cho nên, trong quá trình tuần tra phương Nam, hai mẹ con đã bàn bạc muốn đưa Lệnh quý phi lên làm Hoàng quý phi, nhưng sự việc này đã gây tức giận lớn cho Hoàng hậu Na Lạp. Bởi vì khi Lệnh quý phi trở thành Hoàng quý phi thì con của Lệnh phi cũng rất có khả năng được lập làm Thái tử.

Kế Hoàng hậu đường đường từ bậc mẫu nghi thiên hạ, đứng đầu chốn hậu cung ba nghìn giai lệ, để rồi phải lặng lẽ ra đi bằng một đám tang vô danh thấp kém. Nhưng nếu nghĩ kĩ hơn, phải chăng sự quay lưng đầy ghẻ lạnh của vị Hoàng đế từng yêu chiều mình hết mực và những năm tháng cuối đời cô đơn gặm nhấm nỗi ấm ức, buồn tủi mới là điều khiến người ta xót xa hơn cả cho vị Hoàng hậu đáng thương nhất lịch sử Thanh triều.

Hậu cung Trung Hoa xưa luôn có những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện ấy lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về vùng đất “đặc biệt” này. Hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc để tự mình khám phá được nhiều điều thú vị hơn nhé!

An tần Tô Hoàn Ni Qua Nhĩ Giai thị – nữ nhân đặc biệt nhất của Gia Khánh Đế

Theo sử nhà Thanh, Hoàng đế Gia Khánh có tổng cộng 16 vị phi tần. Trong đó, An tần Tô Hoàn Ni Qua Nhĩ Giai thị là nữ nhân đặc biệt nhất, dù có xuất thân hiển hách nhất, cao quý nhất trong hậu cung nhưng cả đời bà cũng không được Hoàng đế sủng ái một lần nào, sống hiu quạnh hàng chục năm trong hậu cung.

Tô Hoàn Ni Qua Nhĩ Giai thị là hậu duệ của Tín Dũng công Phí Anh Đông, một trong 5 vị đại thần sáng lập nên triều nhà Thanh. Phụ thân của bà là cháu trai đời thứ sáu của Phí Anh Đông và cũng là một Tín Dũng công nhất đẳng.

Năm Gia Khánh thứ 3, giữa hàng nghìn nữ nhân xinh đẹp tham gia Bát kỳ tuyển tú, Tô Hoàn Ni Qua Nhĩ Giai thị là người có vẻ ngoài nổi bật nhất. Với xuất thân và tướng mạo như thế, không có gì ngạc nhiên khi bà được chọn bước vào hậu cung nhà Thanh, nhận sơ phong An Thường tại.

Trong đợt tuyển tú đó, được tuyển chọn cùng với Tô Hoàn Ni Qua Nhĩ Giai thị chính là Nữu Hỗ Lộc thị, về sau trở thành Cung Thuận Hoàng quý phi. Khi vượt qua các vòng tuyển chọn gắt gao, Tô Hoàn Ni Qua Nhĩ Giai thị tin rằng mình sẽ nhanh chóng có được sự sủng ái của Hoàng đế nhưng thực tế lại nghiệt ngã hơn nhiều.

Sau khi nhập cung, Tô Hoàn Ni Qua Nhĩ Giai thị không hề được Hoàng đế ngó ngàng đến, thân phận luôn là Thường tại (cấp bậc thấp nhất trong hậu cung).  Đây là một vấn đề thật sự rất khó hiểu, bởi vì dựa vào gia thế, Tô Hoàn Ni Qua Nhĩ Giai thị ít nhất cũng phải được sơ phong là Quý nhân và có thể được thăng cấp nhanh hơn.

Đến khi Hoàng đế Đạo Quang lên ngôi, ông đã giúp Tô Hoàn Ni Qua Nhĩ Giai thị có thêm một chút thể diện khi đã trực tiếp phong bà lên cấp bậc Tần, bỏ qua bậc Quý nhân. Tuy nhiên, trong lòng bà, những điều này không hề quan trọng, vì từ lúc vào cung đến khi Hoàng đế Gia Khánh băng hà, bà chưa từng được sủng ái dù trong là trong giây phút nào, phải sống cô độc một mình ở hậu cung.

Đến năm Đạo Quang thứ 17, nữ nhân có gia thế hiển hách nhưng số phận bi đát này đã qua đời ở tuổi 53 vì bệnh nặng, được chôn cất ở Thái lăng Phi viên tẩm của Hoàng đế Gia Khánh.

Đối với hậu nhân, cuộc đời của An tần Tô Hoàn Ni Qua Nhĩ Giai thị là một trong những mẩu chuyện bi thảm của người phụ nữ sống sau bức tường Tử Cấm Thành. Sống lặng lẽ hàng chục năm ở hậu cung, đến khi được phong làm An tần thì lại phải chịu sự hành hạ của bệnh tật rồi qua đời, số phận Tô Hoàn Ni Qua Nhĩ Giai thị thật sự rất đáng thương.

Hậu cung Trung Hoa xưa luôn có những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện ấy lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về vùng đất “đặc biệt” này. Hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc để tự mình khám phá được nhiều điều thú vị hơn nhé!