Không Động – một trong ngũ đại môn phái võ thuật Trung Hoa

“Không Động” được biết tới là môn võ có nguồn gốc từ Trung Quốc, rất nổi tiếng và có ảnh hưởng sâu rộng. Xuất hiện trong tiểu thuyết võ thuật Kim Dung với rất nhiều tuyệt kỹ võ công. Ở ngoài đời, phái Không Động tồn tại với lịch sử võ thuật Trung Hoa cả ngàn năm.

Ở Trung Quốc, có 5 môn phái võ thuật lớn nhất đó là: Thiếu Lâm, Nga Mi, Võ Đang, Côn Lôn và Không Động. Đây cũng là một phần văn hóa Đạo giáo của Trung Quốc. Đặc biệt Không Động là phái võ thuật ra đời sớm nhất. Sở dĩ môn phái này có tên gọi như vậy bởi vì được bắt nguồn từ ngọn núi Không Động nổi tiếng thuộc địa phận thành phố Bình Lương, tỉnh Cam Túc. Từ xa xưa, ngọn núi này đã được mệnh danh là: “Trung Hoa Đạo giáo đệ nhất sơn”.

Phái Không Động hấp thu tinh hoa của nhiều môn phái võ thuật khác của Trung Quốc, rồi tạo ra đặc trưng của mình về thủ pháp, kỹ thuật, hệ thống võ thuật. Phái Không Động chú trọng thực chiến, dùng kỹ năng võ thuật để rèn luyện sức khỏe và gia tăng công lực.

Phái Không Động ra đời từ thời Đường. Chưởng phái đầu tiên là Phi Hồng Tử, người Cam Túc, đã hấp thụ các điệu múa của vùng Đôn Hoàng, hình thành võ công cao thâm, là nền tảng quan trọng của võ thuật phái Không Động. Đến cuối đời Thanh thì phái Không Động đạt độ cực thịnh. Đến thời hiện đại, phái Không Động không còn được nhắc đến nhiều, khiến không ít người nghĩ môn phái này chỉ là sản phẩm tưởng tượng trong tiểu thuyết võ hiệp.

Hiện nay, Không Động vẫn là danh môn chính phái, sử dụng kiếm thuật là chính. Ngoài ra, phái này còn sử dụng rất nhiều binh khí khác, như: đoản binh (đao, côn, chùy), trường binh (giáo, mác, kích, gậy, côn tam khúc), binh khí mềm (phất trần, roi, xích chùy) và kì binh (bánh xe phong hỏa, quạt càn khôn, đũa sắt). Đặc biệt, phái Không Động ưa thích sử dụng những vũ khí nhỏ gọn, dễ mang, dễ cất giấu, khó bị đối thủ phát hiện, nhưng trong giao đấu lại dễ giành chiến thắng bất ngờ như quạt, phất trần, roi,…

Võ thuật phái Không Động thiên về tính nhu, hoa mỹ; bộ tay, bộ chân, thân người thường tạo nên đường cong, đường cánh cung. Võ thuật phái Không Động hấp thu tư tưởng triết học âm dương Thái cực, tấn công, phòng thủ liên hoàn trong vận động. Khi tấn công trong động có tĩnh, tĩnh cực thì sinh động, cương nhu kết hợp. Ngay cả bài võ “Túy bát tiên” trong Thần Quyền Môn vốn nổi tiếng với tính rắn rỏi, cũng chú trọng khéo léo tấn công những bộ phận mềm như mắt, cổ đối phương, tránh dùng lực quá mạnh.

Võ thuật phái Không Động hội tụ cả những tinh túy của văn hóa Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo. Điều đó được thể hiện qua binh khí phái Không Động sử dụng như thuyền trượng, quạt, phất trần…, qua quyền thuật như La Hán Thập Tam Thủ, Phi Long Quyền, Không Động Thái Cực Quyền… Đây cũng là minh chứng cho sự hòa quyện giữa Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo trên núi Không Động.

Cách xưng hô người đứng đầu phái Không Động không giống một số môn phái khác. Người đứng đầu phái Thiếu Lâm gọi là “Trụ Trì”, đa số các môn phái khác như Nga Mi, Võ Đang gọi là “Chưởng môn”, thì với Không Động gọi là “Chưởng phái”. Nguyên nhân là vì phái Không Động bao gồm 8 hệ phái: Phi Long Môn, Truy Hồn Môn, Đoạt Mệnh Môn, Túy Môn, Thần Quyền Môn, Hoa Giá Môn, Kì Binh Môn và Huyền Không Môn. Đây là 8 bộ phận cấu thành phái Không Động, có tổng cộng 118 bài võ với kỹ năng võ thuật từ thấp đến cao, trong đó Huyền Không Môn được coi là báu vật của phái Không Động, thông thường chỉ được truyền thụ cho người được lựa chọn trở thành “Chưởng phái” tu luyện. Đứng đầu 8 hệ phái này là 8 Chưởng môn nhưng giữa họ có quan hệ ngang cấp, chỉ phụ trách quản lý đệ tử trong hệ phái của mình. Người có thân phận cao hơn họ là “Chưởng phái”.

Tiêu chuẩn lựa chọn Chưởng phái Không Động là người đó phải tinh thông 118 bài võ thuộc 8 hệ phái trên, nhưng các bài võ này có phong cách cương, nhu khác nhau, một người rất khó thành thục. Tuy nhiên, nếu không xuất hiện bậc kỳ tài võ học như vậy, thì trong giai đoạn đó phái Không Động không có “Chưởng phái”. Chính vì vậy, phái Không Động đi cùng lịch sử võ thuật Trung Quốc trong suốt hơn 1.000 năm qua, nhưng trên thực tế chỉ có 12 đời Chưởng phái. Chưởng phái đời thứ 12 là Phi Chân Tử (tên thật là Trần Hổ), hiện là Trưởng Đoàn biểu diễn võ thuật núi Không Động, Bình Lương, Cam Túc.

Hiện nay, môn phái Không Động vẫn tiếp tục phát triển, tại khu vực gần chân núi Không Động có Trường võ thuật Không Động, thuộc thành phố Lương Bình, được thành lập năm 1999. Về mặt truyền thụ võ công thì sư phụ (thầy dạy võ) cố gắng dạy đồ đệ, không để món võ công đó thất truyền. Thông thường một sư phụ thu nạp không quá 16 đồ đệ, thời gian truyền thụ thường là 3 năm. Trong số các đồ đệ, họ chọn ra 10 người xuất sắc, truyền thụ võ công cao cấp của phái Không Động, trở thành trợ thủ của Chưởng phái. Và thông thường, người nhập học trước là sư huynh, học sau là sư đệ, chứ không phân huynh, đệ bằng võ công cao, thấp. 

Qua những thông tin trên về võ thuật phái Không Động, hẳn du khách có thể phần nào thấy được đặc điểm diễn biến của nét văn hóa dân tộc Trung Hoa, từ nhận thức tự nhiên, tăng cường sức khỏe đến hoàn thiện bản thân. Nếu du khách có hứng thú với võ thuật phái Không Động và muốn tự mình khám phá nhiều thú vị hơn, đừng quên tham gia Tour Trung Quốc cùng chúng tôi nhé! 

 

Nghi thức “khóc cưới” trong hôn lễ của người Tujia ở Tứ Xuyên, Trung Quốc

“Khóc cưới” hay “khóc gả” là một nghi thức truyền thống trong hôn lễ của người Tujia (Thổ Gia) ở tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc. Dù muốn hay không, cô dâu buộc phải khóc trước ngày lên xe hoa. Với người Tujia, tiếng khóc trước ngày cưới thể hiện sự hiếu thảo, đức hạnh và trí tuệ của cô dâu. Tiếng khóc thay lời tạm biệt cha mẹ, người thân và chúc phúc cho cuộc sống hôn nhân của chính mình.

Nghi lễ khóc trong đám cưới phổ biến nhất là vào đầu thế kỷ 17 và tồn tại cho đến cuối triều đại nhà Thanh năm 1911. Theo lưu truyền, tập tục này bắt nguồn trong giai đoạn Chiến Quốc. Khi đó, công chúa nước Triệu được gả sang làm dâu nước khác. Khi công chúa sắp sửa bước chân về nhà chồng, hoàng hậu đã khóc dưới chân nàng và nói nàng hãy quay trở về sớm nhất có thể. Đây có thể coi là đám cưới “khóc” đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa.

Ngày nay, mặc dù tập tục này không còn phổ biến như xưa nữa những vẫn có rất nhiều gia đình tiếp tục giữ truyền thống này. Trong thực tế, đây là một thủ tục cần thiết trong đám cưới của người Tujia ở tỉnh Tứ Xuyên.

Đối với người Tujia, tiếng khóc biểu lộ cho niềm vui, sự gắn kết và tình yêu sâu sắc. Họ quan niệm việc khóc tập thể sẽ khiến cho bầu không khí đám cưới thêm phần náo nhiệt, đồng thời đẩy lùi những điều xui xẻo qua những lời than thở buồn bã và kéo niềm vui cùng với hạnh phúc tới. Bên cạnh đó, rất nhiều người lại cho rằng, các cô gái khi xưa bị gả về nhà chồng do “bố mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, họ không có quyền lên tiếng hay tự quyết định cuộc đời của mình, vì vậy đã dùng tiếng khóc ai oán để thể hiện nỗi lòng và sự bất mãn với xã hội.

Theo phong tục, cô dâu phải khóc 1 – 3 tháng, hoặc ít nhất 1 tuần trước đám cưới của mình. Cô dâu khóc càng to, càng nhiều thì càng chứng tỏ đó là một người con gái hiếu thảo, có đức hạnh và trí tuệ. Ngược lại, nếu cô dâu không khóc hoặc khóc ít, làng xóm sẽ chê cười, trách mắng, thậm chí còn bị cha mẹ đánh đòn. Người Tujia tin rằng, tiếng khóc càng não nề, cuộc sống hôn nhân của cô dâu càng hạnh phúc. Điểm đặc biệt, cô dâu Tujia không chỉ khóc một mình mà còn có sự tham gia của mẹ, bà ngoại, cô, dì và những người phụ nữ trong làng xóm. Mỗi người đến chào tạm biệt tặng cho cô dâu một món quà và họ cùng nhau khóc. Nếu người đến thăm không khóc sẽ bị coi là bất lịch sự và cô dâu cảm thấy bị coi thường.

Ở mỗi vùng khác nhau ở tỉnh Tứ Xuyên, tập tục này lại được thực hiện khác nhau. Ví dụ như ở miền Tây, phong tục này được gọi là “Zuo Tang” (có nghĩa là ngồi trong phòng lớn). Mỗi cô dâu trước khi cưới một tháng đều được yêu cầu vào ngồi trong một căn phòng và khóc. Trong suốt cả tháng trời ấy, người con gái sắp về nhà chồng hàng đêm đều phải vào căn phòng đó và khóc trong khoảng thời gian một tiếng đồng hồ. Sau đó khoảng 10 ngày mẹ cô sẽ vào và khóc cùng cô. 10 ngày sau là bà và sau đó mấy ngày các dì và các chị gái sẽ cùng nhập bữa tiệc “khóc”. Vào ngày cuối trước khi kết hôn, gia đình cô dâu mời thêm 9 cô gái chưa lấy chồng trong làng đến để khóc cùng, như lời động viên, an ủi đối với cô dâu. Đến nửa đêm, cô dâu khóc cảm ơn và mời những người bạn của mình ăn. 

Khóc không chỉ đơn giản là chảy nước mắt mà còn có cả một bài hát phụ họa có tên “Bài ca than khóc trong đám cưới”. Đây là lời trong một bài thơ được hát lên để làm cho không khí đám cưới được tốt đẹp. Ngoài ra còn một số bài hát khác có chủ đề về sự siêng năng, nghi thức xã giao và lòng hiếu thảo với cha mẹ cũng được hát nhân dịp này. Nội dung của khóc cưới cũng rất đa dạng, gồm khóc tổ tiên, cha mẹ, người thân, khóc chính mình và khóc bà mai. Khóc cưới cũng là tiếng lòng tiếc thương cho số phận bất hạnh của những cô dâu Tujia thời phong kiến.

Ngày nay, tục khóc cưới dần bị mai một và biến mất ở nhiều nơi. Thay vì vài tháng, các cô dâu hiện đại chỉ cần khóc cưới vài tiếng trước khi lên xe hoa. Họ cũng không cần học các khúc ca từ khi còn nhỏ. Đến Tứ Xuyên, du khách có thể gặp những đám cưới truyền thống với tục khóc cưới độc đáo này.

Tục “khóc gả” của người Tujia đã góp phần tạo nên một nét văn hóa rất đặc sắc của Trung Quốc. Nếu du khách muốn khám phá nhiều hơn về đất nước xinh đẹp này thì hãy đặt ngay cho mình một Tour Trung Quốc của chúng tôi nhé! Chúc du khách sẽ có được những hiểu biết bổ ích trong chuyến du lịch này!

Môn thần trong tín ngưỡng dân gian Trung Quốc

Nếu như cửa gỗ là loại cửa đã ăn sâu vào nếp sống văn hóa của người Trung Hoa thì Môn thần – thần giữ cửa là một phần không thể thiếu trong một ngôi nhà. Mặc dù, trong cuộc sống hiện đại, Môn thần đã không còn xuất hiện nhiều, nhưng nó vẫn là một nét đẹp văn hóa trong nếp sống của mỗi người dân Trung Hoa.

Môn Thần là một vị thần thường được người dân đặt ở 2 bên cổng vào một ngôi chùa, nhà ở hay tiệm kinh doanh… để cầu mong thần linh sẽ phù hộ cho gia đình quanh năm được bình an, không bị ma quỷ trêu chọc, và có cuộc sống tốt lành, của cải dồi dào, vận hội phơi phới.

Khởi nguyên của việc thờ Môn thần này xuất phát từ sự sùng bái tự nhiên cách đây hàng nghìn năm của Trung Hoa, lúc con người còn sợ sấm sét, mưa gió, thú dữ, kẻ ác vào nhà, và để ngăn ngừa những điều dữ tới, dân gian đã bài trí, treo dán trước cổng hình tượng của các linh thú, tôn thần có sức mạnh to lớn trấn áp ma tà, khi nhìn vào yêu ma quỷ quái, kẻ trộm đều phải sợ hãi tháo chạy.

Lúc đầu, họ trưng Chu Tước là loài chim giống như sư tử, con rồng song có cánh, phun ra lửa… với niềm tin nó có thể tiêu diệt mọi rắn rết, sói cầy, không cho chúng xâm hại ngôi nhà. Sau này, trong từng thời đại, nảy sinh các thiên thần, thổ thần, nhân thần, các danh tướng có công bảo vệ biên cương – triều đại thì họ lại chuyển sang thờ một người cụ thể được phong thần.

Về thiên thần, mọi nhà thường thờ Thần Đồ và Uất Lũy, hai vị thượng tiên đã xuất hiện từ thời Hoàng Đế. Truyền thuyết kể rằng, trên núi Độ Sóc ở Đông Hải có một cây đào lớn, cành nhánh uốn cong, lá tươi tốt um tùm, vươn dài đến 3.000 dặm. Trên cây có một con gà vàng, phía dưới có hai vị thần tiên, một người tên Thần Đồ, người kia tên Uất Luỹ. Họ đứng dưới gốc cây đào, quan sát hành tung của bách quỷ. Gặp phải ác quỷ nào vô cớ gây hoạ, gây hại cho nhân loại, hai vị thần liền dùng dây thừng trói quỷ lại đưa xuống dưới núi cho hổ ăn thịt. Về sau, mỗi khi gặp lúc trừ tịch năm cũ, mọi người liền đặt hình người được tạc bằng gỗ cây đào, còn vẽ thêm Thần Đồ, Uất Luỹ và hổ để xua đuổi tà ma ác quỷ.

Hai vị thần tiên này có thể hàng phục ma quỷ, hình tượng của họ đương nhiên cũng dữ dằn đáng sợ. Bức hoạ trong Tam giáo nguyên lưu sưu thần đại toàn là tôn dung của hai vị đại thần này. Họ phanh ngực, tay cầm kiếm, tóc dựng đứng như sừng trên đầu, chân mày nhô cao, đỉnh đầu như gò, mày ngang mắt dọc, trong nụ cười nhạt ẩn chứa sát cơ, đúng là hình tượng vị sát thần hung bạo. Có như thế, ác quỷ mới nhìn đã sợ, nghe hơi gió mà chạy. Về sau mọi người không treo hình tượng nữa mà chỉ treo trên cánh cửa một nhánh đào, hoặc dùng bút lông viết ra tôn danh của hai vị thần, hoặc giả viết lên nhành đào mấy câu thần chú. Như vậy, tà ma quỷ quái nhìn thấy liền dừng bước. Trừ tịch hàng năm đều như thế, đó gọi là “tân đào hoán cựu phù”.

Một lần, nhân hai vị đi dự hội Bàn đào trên thiên đình, một bầy quỷ đã thoát ra gây hại. Tiếng khóc của dân chúng vang trời, Thần Đồ – Uất Lũy liền hiện lên và thay vì cứ trừng phạt chúng mãi, các ngài đã cho dân gian một cành đào, dạy họ cách trồng trọt và treo những sợi dây hồng điều lên hoa đặt ở trước cửa, khiến ma quỷ nhìn thấy đã kinh hãi, tưởng thần giáng lâm. Hôm nay, tục này vẫn còn, khi nhà nhà đều trưng cành đào và dây đỏ sặc sỡ đính ba chữ Phúc, Lộc, Thọ. Từ màu đỏ của đào, người ta cũng mặc áo đỏ để lúc nào cũng may mắn, tươi đẹp.

Từ đời Hán, họ còn bắt đầu đặt tượng và dán hình ảnh của Thần Đồ – Uất Lũy lên hai bên cánh cửa bởi dùng hình ảnh tôn thần có lẽ sẽ hay hơn là chỉ dùng hình ảnh hoa đào. Thần Đồ – Uất Lũy hay được thấy cầm một cái roi, dây tiên, cũng thường bưng khay đào và có những đồng nhi để tóc trái đáo đứng cạnh, nhằm tăng thêm sự uy nghi cũng như hiền từ, nhân ái.

Về nhân thần, người ta thường thấy Tần Quỳnh (Tần Thúc Bảo) và Uất Trì Cung (Uất Trì Kính Đức), hai tướng quân oai dũng dưới thời Đường Thái Tông. Đây là hai nhân vật lừng lẫy đã giúp hoàng tử Lý Thế Dân dành được ngôi báu, dẹp loạn trong triều nên ai cũng kính sợ. Tương truyền, Đường Thái Tông (Lý Thế Dân) thường xuyên nằm mơ thấy ma quỷ kêu khóc ném đá vào mình, ngài ngủ không yên giấc. Ngài bèn sai hai vị tướng thân cận và trung thành nhất của mình là Tần Thúc Bảo và Uất Trì Kính Đức hàng đêm đứng canh cho ngài ngủ, cũng từ đó không mơ thấy có ma tà quấy nhiễu nữa. Việc hai ngài canh giữ cho giấc ngủ của vua cũng chính là canh giữ cho giang sơn Đại Đường. Cũng từ ấy, hai ngài được người dân tôn làm môn thần, trường treo dán hình hai ngài ở trước cửa với niềm tin rằng ma mị chẳng thể quấy rối. Tần Thúc Bảo chính là Tả Môn Thần đứng canh ở phía tay trái, Uất Trì Kính Đức là Hữu Môn Thần đứng phía bên tay phải, hai ngài luôn trong tư thế nghiêm nghị, mặt đối mặt, nhằm tập trung ánh nhìn vào người đang đi tới và đi vào giữa cổng, đảm bảo người này luôn được theo dõi. Hình ảnh hai vị thường mặc giáp trụ, cầm vũ khí như đao, kiếm, thương, kích, chùy,… đôi khi còn cưỡi ngựa, hùm báo khoe diễu đầy sự hùng dũng – mạnh mẽ, một vị có sắc mặt đen xì hoặc đỏ rực, một vị lại có mặt trắng toát/ xanh đậm, một vị để râu rậm một vòm, vị kia râu lưa thưa ba chùm, song cả hai đều có mày xếch lên, gương mặt cương nghị hoặc tức giận.

Cùng là tướng quân, song theo quan niệm, tính khí của mỗi vùng, mỗi nhà hay mỗi người khác nhau, hình ảnh của Tần Thúc Bảo và Uất Trì Kính Đức sẽ mang các diện mạo, trang phục, sắc màu riêng, mà thông thường còn thêm nhiều yếu tố thần thoại, tức là đưa thần tiên vào con người thật, như để trên vai hai vị có các dải lụa bay bay như trên thiên đình xuống, và đồng hóa hai vị với tứ đại thiên vương theo tín ngưỡng đạo Lão.

Cũng từ đây, sinh ra văn thần và võ thần cùng là môn thần song thể hiện khác biệt; văn thần luôn có dáng vẻ nho nhã, dịu dàng, mặc triều phục, cầm lệnh bài, thẻ ngọc còn võ thần thì phương phi, quắc thước, vận vũ trang, lăm lăm trên tay đả khí. Song dù là hình hài chi, hai vị này đều có thần thái rất trang nghiêm, uy phong, lộng lẫy với những sắc màu trang phục như đỏ, cam, hồng, vàng… đem tới sự ấm cúng, ấm no, vui vẻ, hoạt bát cùng nhiều năng lượng tích cực trong ngày xuân. Với dáng vẻ lồng lộng ấy, dân gian tin rằng các ngài vừa bảo vệ toàn gia trong tân niên được bình yên, còn chiêu tài, tiến bảo, kích thích bổng lộc, công danh, phú quý.

Cũng có nơi, do cửa cổng chỉ có một cánh nên người ta chỉ dán một vị thần, mà thường là thần Chung Quỳ và Ngụy Trưng. Trong tín ngưỡng bản địa Trung Quốc, Chung Quỳ cai quản thế giới âm ty, chuyên bắt ma, trừng quỷ, những con vật từ cõi u minh lai vãng nhân sinh. Vì thế, ngài được gọi là một trong Tứ đại phúc đức trấn trạch thánh quân hay Khu ma đế vương. Chuyện kể rằng Chung Quỳ vốn là một người rất thông minh, giỏi giang nên đỗ trạng nguyên, song vì dung mạo gớm ghiếc, khó coi nêm không được triều đình trưng dụng. Buồn giận, ngài đã đập đầu vào cổng thành tự vẫn.

Ở địa phủ, thấy ngài nhân hậu – trí dũng, giỏi cả văn lẫn võ, diêm vương đã phong ngài là vua của mọi ma quái và cho cai quản tới 80 nghìn quỷ binh, cùng đó là nhiệm vụ giáng ma trừ yêu tại nhân gian, cứ có một ma tà nào trốn khỏi địa ngục là ông sẽ đi lên trần đuổi bắt. Đến thời Đường Huyền Tông, có một con quỷ bỗng dưng lẻn vào hoàng cung ăn trộm một cây trâm. Trong giấc mơ của mình, vua Đường thấy hiện ra hai con quỷ, một con quỷ bé nhỏ đang đánh cắp một cây trâm ngọc của Dương Quý Phi và một cây sáo ngọc của chính đức vua và bị con quỷ to lớn hơn chộp lấy, nuốt chửng.

Vua khiếp đảm vấn hỏi thì quỷ vương tự xưng là Chung Quỳ, kể lại nguồn cơn như đã thi đỗ ra sao rồi quyên sinh… và giờ nguyện đi bắt ma để phá bỏ mọi ma tà, tai ách cho đời, nói xong biến mất. Tỉnh dậy, ông lập tức cho họa sĩ vẽ lại và làm nên bức tranh Xu điện Chung Quỷ đồ đem treo ở bất cứ đâu, nơi ấy không có tà tính, không có tiếng người than khóc, đau buồn. Dân gian vì vậy thường vẽ Chung Quỳ như một quan nhân, đầu đội mũ ô sa tay cầm kiếm – quạt, tướng mạo rất dữ dằn, trấn giữ tại cửa để ngăn cản mọi điều hắc ám.

Tại miền Nam Trung Quốc, Chung Quỳ cũng hay được thờ với hai vị Huyền Quan và Quan Vũ tạo thành bộ ba trấn địa thánh quân. Từ Tết Nguyên đán cho tới hết rằm tháng Giêng (Tết Nguyên tiêu), mọi nhà ở đây từ nhà dân tới cửa hàng, cửa hiệu đều dán hình ngài ở cửa vì họ tin rằng, đây là lúc ma đói thượng trần, nên ai nấy có đồ ngon, của ngọt đều mang ra dâng cúng tổ tiên, bố thí cô hồn, song để tránh cảnh chen lấn xô đẩy, dành giật… họ cũng nghĩ tới Chung Quỳ như một vị thần trung chính, công minh và sự hiển hiện của thần ngoài trừng ma còn mang đến sự no đủ, thôi đói rét.

Tựu trung, mỗi Môn thần đều được thể hiện rất sặc sỡ, đa dạng, phong phú ngoài cửa, có bao nhiêu lớp cửa thì sẽ dán từng ấy hình tượng thần khác lạ. Riêng với văn thần, còn thấy trong từng phòng, nơi học tập, văn nghệ của gia đình, nhằm đi sâu vào từng khía cạnh đời sống, phù hộ người dân an khang, thịnh vượng.

Văn hóa Trung Hoa có rất nhiều điều thú vị và hấp dẫn đang chờ đón du khách đến tìm hiểu và khám phá. Vậy còn chần chờ gì nữa mà du khách không book ngay cho mình một Tour Trung Quốc để có được những trải nghiệm tuyệt vời khi đặt chân đến vùng đất rộng lớn này!

Tưng bừng lễ hội đua ngựa Dangjiren ở Tây Tạng, Trung Quốc

Lễ hội đua ngựa có tên gọi “Dangjiren” đã được tổ chức suốt hàng trăm năm nay, bắt nguồn từ sự tôn vinh sơn thần và mùa hè Tây Tạng. Lễ hội Dangjiren là dịp tốt để du khách ngắm những tay du mục trên lưng ngựa, thảo nguyên xanh bao la đến tận chân trời và thưởng thức thịt và sữa chua bò lông vàng Yak.

Cứ tới đầu tháng 8, khi hoa dại nở rộ và những đồng cỏ lên xanh bát ngát, người Khampas – một dân tộc du mục ở cao nguyên Tây Tạng lại đổ về Damxung –  một quận nằm ở độ cao trung bình 4.300m ở phía bắc thành phố Lhasa để tham dự một lễ hội vui, chủ yếu là đua ngựa. Ai nấy đều mặc những trang phục cổ truyền rất sặc sỡ, trong đó có những cái áo tay dài tha thướt như đôi cánh tiên, rồi nhảy múa, ca hát, thậm chí đua ngựa lãng mạn như thể thần tiên hạ phàm vậy. Và họ dựng ven đường, dọc theo thung lũng vô số lều trại, đưa Damxung trở thành một biển lều sinh động, tráng lệ.

Do đời sống du mục phụ thuộc nhiều vào ngựa, giúp săn bắn, đi lại và thồ hàng nhanh chóng nên hằng năm, người Khampas luôn dành khoảng 7 hôm giữa mùa mưa nhằm chọn ra những chú ngựa khỏe nhất, những người cưỡi giỏi nhất và tổ chức thành các cuộc thi. Họ thi đua ngựa, cưỡi ngựa bắn cung, cưỡi ngựa quăng dây, cưỡi dưới bụng ngựa, nhặt lụa Hada (một dải lụa có ý nghĩa quan trọng trong Phật giáo về sự an lạc, hạnh phúc…) dưới đất và các trò khác như nhào lộn, tung hứng, trồng cây chuối lúc ngựa phi, kéo co, cử tạ, trình diễn thời trang, nhảy múa.

Trong suốt lễ hội, họ còn rao bán nhu yếu phẩm như áo Chuba, giầy Sueba, mũ Bazhu, tạp dề Bangdian, vòng cổ các loại bằng vàng bạc, ngọc ngà, san hô, mã não quý giá, những thứ chỉ Tây Tạng mới có. Khi đến hội của người Khampas, dù không mua gì, du khách cũng được đón tiếp rất nồng hậu, mời vào trong lều Bra-nag uống trà bơ, rượu sữa ngựa, ăn thịt bò Yak bên những bếp lửa ấm cúng. Có hàng ngàn túp lều rực rỡ quanh hội chợ và bên trên đều in vẽ, thêu, đính đầy biểu tượng Phật giáo và là chốn nghỉ ngơi an lành của du khách qua đêm.

Từ sáng tinh mơ của mỗi ngày hội, mọi người đã xếp hàng chật đường, dọc các trường thi để xem đua ngựa và chưa cần đua, chỉ cần nhìn đoàn người ngựa nối đuôi nhau diễu hành đã thấy thú vị. Mỗi chú ngựa đua đều được trang điểm rất đỏm, thường là cổ đeo vòng lục lạc (chuông), đuôi sẽ buộc nơ (tua rua), còn lưng đóng yên lộng lẫy bảy màu. Chủ của nó cũng rất bảnh, ngoài áo quần nhiều màu thì trên người còn lủng lẳng đủ thứ vòng xuyến. Nói chung trang sức của cả nam lẫn nữ Tây Tạng dù chỉ là một cái hạt trong vòng cổ cũng to bằng cỡ chén hạt mít. Từng người dắt theo một chú ngựa, tuy khác màu song cùng là nòi Tibetan pony hoặc Riwoche. Tùy nội dung, ai đó sẽ đua tốc độ trong vài trăm mét tới hàng cây số hoặc thi bắn nỏ, bắn súng, cúi rạp người xuống đất, kéo lê thê để lấy lụa Hada. Mỗi đợt thi đều rất gay cấn, kịch tính vì người chơi luôn ở trạng thái đua chen sát nút và những tư thế, động tác của họ như bay lên hay cùng ngả người đón vật gì đều làm khán giả hồi hộp, phấn khích vì vẻ đẹp khó tả.

Tuy nói là đua ngựa song nó là một trò chơi tạp kỹ, cầu kỳ, nhiều pha mạo hiểm, ngoạn mục và cần có sức mạnh, sự khéo léo, dũng cảm của một chiến binh và nghệ sĩ xiếc. Xem đua ngựa đã thích mắt, song tại đây còn thấy nhiều màn biểu diễn ấn tượng nữa gồm ca, vũ, kịch dựa trên Phật thoại. Và du khách sẽ được xem opera của Tây Tạng, các điệu múa mặt nạ, múa Xianzi, múa Guo Zhuang… nhuốm màu huyền bí do lễ hội này được đại tu viện lâu đời nhất ở Litang cho mở vào năm 1580 để hoằng dương Phật Pháp và tưởng nhớ vị Dalai Lama thứ ba.

Có lẽ vì những hoạt động thú vị và hấp dẫn như thế mà lễ hội đua ngựa Dangjiren được rất nhiều du khách thích thú và hưởng ứng. Hàng năm có rất nhiều người đến Tây Tạng tham gia lễ hội. Du khách hãy đặt cho minh một tour Trung Quốc để có được sự trải nghiệm tuyệt vời với lễ hội hấp dẫn này nhé!

Rộn ràng Tết Losar của người dân Tây Tạng ở Trung Quốc

Nếu như người Việt Nam có Tết Nguyên Đán là Tết cổ truyền, thì người dân ở Tây Tạng – một khu tự trị của Trung Quốc, cũng có ngày tết riêng của họ, đó là Tết Losar. Đây là ngày lễ quan trọng nhất trong năm của người Tây Tạng, thể hiện đầy đủ nhất những nét văn hóa và tín ngưỡng độc đáo của họ. 

“Losar” là một từ tiếng Tạng có nghĩa là “năm mới”. Losar được tính bằng ngày mùng 1 (ngày đầu tiên) của tháng đầu tiên trong lịch Tây Tạng, khi mặt trăng bắt đầu quỹ đạo mới quanh Trái đất. Thường thì Losar sẽ rơi vào tháng 2 hoặc tháng 3 dương lịch hằng năm. 

Lễ hội Losar xuất hiện trước khi Phật giáo du nhập vào Tây Tạng, còn gọi là thời kỳ Tiền Phật giáo. Lúc đó, vào mùa đông người ta đều tổ chức một lễ hội tôn giáo mà trong đó hương trầm được đốt lên để dâng lên các vị thần thánh. Sau đó, khi Phật giáo xuất hiện, nó đã tác động sâu rộng tới văn hóa của người Tây Tạng, từ đó nghệ thuật, văn học và âm nhạc của người Tây Tạng đều phản ánh những quan điểm của Phật giáo. Cũng từ đó, lễ hội này đã phát triển thành một lễ hội Phật giáo được tổ chức hàng năm, mà theo sử sách ghi lại thì bắt đầu xuất hiện vào giai đoạn cai trị của Pude Gungyal – vị vua thứ 9 của Tây Tạng. Nó diễn ra vào thời điểm ra hoa của cây mơ ở vùng Lhokha Yarla Shampo. Đây cũng là thời điểm mà nông nghiệp, tưới tiêu, nghề rèn sắt và xây dựng cầu cống đã phát triển ở Tây Tạng. Những lễ hội chào đón các sự kiện này được coi như là những tiền đề của Tết Losar. Về sau lễ hội này đã trở thành Tết Losar đón năm mới âm lịch của người Tây Tạng như ngày nay.

Tết Losar sẽ được diễn ra trong 15 ngày (trong đó có 3 ngày chính) với những nghi lễ cổ đại diện cho cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, bằng cách tụng kinh, đi qua ngọn đuốc. Lễ Losar đặc trưng bởi những điệu nhảy, âm nhạc và tinh thần lạc quan của người Tây Tạng.

Trước khi đến Tết khoảng 1 tháng, người Tây Tạng đã bắt đầu dọn dẹp, trang hoàng nhà cửa, thay cờ cũ bằng những lá cờ mới nhiều màu sắc, may quần áo mới cho các thành viên trong gia đình. Họ sẽ dùng bột trắng vẽ lên tường những biểu tượng của may mắn ví dụ như hình chiếc ô (biểu tượng cho sự bảo vệ, che chắn khỏi ánh nắng mặt trời), hai con cá vàng (biểu tượng của phú quý), vỏ ốc (biểu tượng cho sự vang vọng của những giáo lý nhà Phật), hoa sen (biểu tượng cho sự vươn tới cái đẹp và sự cao quý của con người), ngọn cờ chiến thắng (biểu tượng cho chiến thắng của Đức Phật trước con quỷ Mara), bánh xe pháp luân (biểu tượng Phật giáo của Bát Chính Đạo – tức là 8 con đường đúng đắn), nút trường cửu (tượng trưng cho sự kết nối vô tận của vạn vật).

Thời điểm cuối năm được coi là một dịp đặc biệt để người Tây Tạng nói lời tạm biệt với năm cũ và đón chào năm mới, nên dù Tết Losar có 3 ngày chính nhưng người ta sẽ bắt đầu ăn mừng từ ngày 29 của tháng 12 âm lịch. Đêm 29/12 được coi là đêm giao thừa và không thể thiếu món súp Guthuk. Người ta sẽ nặn ra những viên tròn bằng bột, bên trong có chứa 9 biểu tượng của may mắn khác nhau, bao gồm ớt, sợi bông, một miếng gỗ nhỏ, than đá, đường, sợi len, giấy, sỏi và đậu sống bên trong. Mỗi người sẽ chọn một viên và nhân bên trong nó sẽ nói lên tính cách và vận mệnh của họ trong năm mới. Ví dụ nếu họ chọn được viên bánh có ớt, điều đó có nghĩa là họ là người sôi nổi, thích nói chuyện. Nếu là len thì nó tượng trưng cho lòng tốt còn than đá biểu tượng cho sự bủn xỉn. Nếu họ chọn được những nguyên liệu màu trắng bên trong, ví dụ như muối thì đây cũng là một dấu hiệu tốt.

Ngày chính của Tết Losar bắt đầu (Mồng 1 Tết hay còn gọi là “Lama Losar”), lúc này các thành viên trong gia đình đều sẽ dậy sớm, mặc những bộ quần áo mới và đẹp nhất. Các bà mẹ sẽ nấu một nồi rượu lúa mạch (Changkol) và chờ mặt trời lên. Trong thời gian này, họ sẽ cùng nhau ăn Droma Dresil – một món cơm thập cẩm gồm gạo, bơ, nho khô, đường. Khi bình minh ló rạng, người phụ nữ cao tuổi nhất nhà sẽ mang một chiếc gầu ra con sông gần nhà để lấy về gầu nước đầu tiên trong năm mới. Theo quan niệm của người Tây Tạng, đây là lúc nước đạt được độ tinh khiết nhất. Sau đó, các thành viên trong gia đình cùng quây quần bên nhau, trao cho nhau câu chúc năm mới truyền thống là Tashi Delek và cùng uống rượu lúa mạch. Người ta sẽ để hạt lúa mạch mọc mầm và bánh lúa mạch Tsampa cùng những hạt ngũ cốc khác lên bàn thờ để cầu mong một năm mới được mùa.

Ngày thứ hai của Tết Losar có tên “Gyalpo Losar” – còn có tên là “ngày Tết Losar của nhà vua”, có mục đích tôn vinh Đạt Lai Lạt Ma – thủ lĩnh tinh thần của người Tây Tạng cùng các lãnh đạo của cộng đồng. Trước đây nó là ngày để các vị vua tặng quà cho dân chúng trong các lễ hội. Trong ngày này sẽ có những màn múa hát, biểu diễn đặc sắc chỉ có duy nhất một lần trong năm. Người dân cũng uống rượu lúa mạch Chang và cùng nhau ca hát, nhảy múa. Trong các gia đình, vào buổi tối, người ta sẽ mang những cây đuốc và đi khắp nhà, vừa đi vừa la hét để xua đuổi quỷ dữ ra khỏi nhà.

Cũng trong ngày này, người ta mới bắt đầu việc đi thăm họ hàng và bạn bè, cùng nhau ăn uống, múa hát. Trẻ em được tặng quà và tiền mừng tuổi. 

Mồng 3 Tết (Choe-kyong Losar), người dân tổ chức cúng tế những vị thần bảo hộ các Lạt Ma. Họ treo cờ sặc sỡ trên đồi, núi và nóc nhà, đốt lá cây bách xù và đốt hương dâng lên thần thánh. Họ hát và tung những nhúm bột kiều mạch lên trời, đồng thời khấn “Ki-ki So-so Lha Gyalo!”, có nghĩa là “Cầu xin hạnh phúc và cầu các vị thần linh chiến thắng!”.

Sau 3 ngày chính, người dân Tây Tạng lại tiếp tục ăn uống và tiệc tùng mừng năm mới đến tận 12 ngày tiếp theo, tức là tới rằm tháng Giêng.

Năm mới chỉ kết thúc với sự kiện lễ Chunga Choepa hay còn gọi là Lễ hội Đèn Bơ, trong đó người ta sẽ tạo ra những tác phẩm điêu khắc từ bơ sữa bò Yak. Đây là một hoạt động mang tính thiêng liêng với người Tây Tạng, và các thầy tu trước khi tham gia phải thực hiện những nghi lễ để thanh tẩy cơ thể. Sau lễ hội, những tác phẩm nghệ thuật này sẽ được đặt ở các tu viện.

Du khách có cảm thấy hào hứng với Tết Losar của người dân Tây Tạng không? Nếu câu trả lời là có thì còn chần chờ gì nữa mà du khách không book một tour Trung Quốc để cùng hòa mình trong một “cái” tết Losar đặc sắc và vui nhộn?

Nỗi oan của Vạn Lịch Đế khi nhận danh hiệu “hoàng đế lười nhất lịch sử” Trung Hoa

Trong số các vị Hoàng đế nhà Minh, Hoàng đế Vạn Lịch là một vị vua khá nổi trội, ông có thời gian trị vì lâu nhất triều đại – dài tới 48 năm. Thế nhưng trong 48 năm đó, Hoàng đế Vạn Lịch không lâm triều tới 28 năm liên tiếp – 28 năm không quan tâm chính sự, bởi vậy, ông bị đánh giá là vị Hoàng đế lười nhác nhất trong lịch sử. 

Minh Thần Tông (4/9/1563 – 18/8/1620) hay Vạn Lịch Đế, là vị hoàng đế thứ 14 của nhà Minh trong lịch sử Trung Quốc. Ông trị vì trong 48 năm, lâu dài nhất trong các vị Hoàng đế nhà Minh và triều đại của ông cũng chứng kiến sự suy tàn dần dần của nhà Minh.

Ông có tên thật là Chu Dực Quân, là con trai thứ ba của Minh Mục Tông Chu Tái Hậu, mẹ là Hiếu Định Hoàng hậu Lý thị, người Thông Châu, vào hầu Mục Tông khi còn là Dụ vương với thân phận thị nữ của Hiếu An Hoàng hậu.

Năm 1568, 2 năm sau khi Minh Mục Tông lên ngôi, Chu Dực Quân được phong làm Hoàng thái tử. Năm 1572, ngày 5/7, Minh Mục Tông băng hà. Thái tử Chu Dực Quân mới chưa đầy 10 tuổi được lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Vạn Lịch, Từ Thánh Hoàng Thái hậu dạy bảo và phụ chính.

Vạn Lịch lên ngôi khi chỉ 10 tuổi, mới là đứa trẻ chưa hiểu chuyện thế gian. Tuy vậy, vị vua trẻ vẫn ngày ngày cần mẫn thiết triều, học tập, giải quyết chính sự. Trong thời gian đầu lên ngôi, Vạn Lịch được sử sách đánh giá là rất siêng năng, trực tiếp xử lý hầu hết các công việc trong triều và rất được lòng quần thần.

Thế nhưng vào giữa thời kỳ cai trị, Hoàng đế Vạn Lịch bất ngờ trở nên “lười biếng”. Ông đã ngừng thiết triều trong suốt 28 năm, dường như không màng chính sự nữa. Tuy nhiên, điều bất ngờ là trong 28 năm này, xã hội vẫn yên ổn, nội chiến và ngoại chiến vẫn toàn thắng. Điển hình như bên trong, có Chiến dịch Ninh Hạ dẹp yên cuộc nổi loạn của người Mông Cổ; bên ngoài, có Chiến tranh Nhật Bản – Triều Tiên (1592-1598) đánh lại Nhật Bản.

Có nhiều suy đoán khác nhau về lý do vua Vạn Lịch không lâm triều và bị quy kết là lười nhác. 

Suốt cuộc đời Hoàng đế Vạn Lịch có được ba trợ thủ đắc lực, đó là Từ Thánh Hoàng Thái hậu, Phùng Bảo và Trương Cư Chính.

Từ Thánh Hoàng Thái hậu có lòng yêu thương nhân từ độ lượng của người mẹ, Hoàng đế Vạn Lịch vô cùng kính trọng bà. Có đôi lúc bà cũng sẽ tham gia việc chính trị, giúp đỡ Vạn Lịch. Phùng Bảo được Vạn Lịch gọi là “Đại Bảo”, là trợ thủ đắc lực của Hoàng đế, cũng là một người bạn đồng hành từ nhỏ đến lớn của ông.

Người có ảnh hưởng lớn nhất đến Vạn Lịch là Trương Cư Chính. Trương Cư Chính đã làm vô cùng tốt vai trò người thầy nghiêm khắc bậc nhất của Hoàng đế Vạn Lịch.

Sau khi Vạn Lịch lên ngôi, có hơn phân nửa việc chính sự được Trương Cư Chính và ông cùng xử lý. Chính thứ quan hệ vua tôi hài hoà này đã mang tới thời kỳ xã hội ổn định, kinh tế phát triển kéo dài mười năm mang tên “Vạn Lịch trung hưng”.

Vạn Lịch dựa dẫm rất nhiều vào Trương Cư Chính, đến mức sau khi Trương Cư Chính qua đời, ông không biết phải nghe theo ai, bắt đầu bỏ bê triều chính. Đây là một nguyên nhân, nhưng không phải là nguyên nhân chủ yếu nhất.

Đồn đoán phổ biến nhất là nhà vua vì thất vọng về các quan văn nhà Minh quá mưu cầu tư lợi nên cố tình tránh mặt các quan. Đa số quan văn nhà Minh đều mưu cầu tư lợi. Thái độ của phần lớn trong số đó khi ấy là: Chỉ cần đứng đúng vị trí trong những việc phải trái rõ ràng, ngày thường nhận một chút lợi lộc sẽ chẳng ảnh hưởng gì lớn. Điều quan trọng là quyền lực của đám quan văn rất lớn. Việc họ phản đối Vạn Lịch lập con thứ ba làm Thái tử đã trở thành giọt nước tràn ly. Từ đó về sau, Vạn Lịch không còn cùng làm việc với quan văn nữa. Thật ra, thay vì nói Vạn Lịch bỏ bê triều chính, nên nói ông tránh mặt đám quan văn mới phải.

Không lâm triều là để không thấy sẽ khỏi phải phiền lòng, không có nghĩa là Vạn Lịch không màng chính sự. Ngược lại, điều này còn nâng cao hiệu suất hành chính ở một mức độ nhất định, Hoàng đế Vạn Lịch có thể chuyên tâm xử lý quốc sự hơn. 

Theo các sách sử, vị hoàng đế này chưa một lần nào chính thức xác nhận về lý do mình không thiết triều, trước những lời phàn nàn của quần thần, ông chỉ đơn giản trả lời là mình không được khỏe. Thời điểm ấy người ta vẫn chưa tin lời ông, các đại thần trong triều thì đinh ninh đây là lời biện hộ vô căn cứ của “vị vua lười biếng”.

Phải tới 400 năm sau, hậu thế mới tìm ra lý do không thiết triều của vị hoàng đế nhà Minh khi khai quật lăng mộ của ông. Vào năm 1955, nhóm khảo cổ dẫn đầu bởi nhà sử học Quách Mạt Nhược đã khai quật khu lăng mộ Định Lăng của Hoàng đế Vạn Lịch và cải tạo thành một bảo tàng ngầm dưới lòng đất. Lăng mộ này dù không lớn nhưng thiết kế vô cùng cẩn mật, phải mất hơn 1 năm đoàn khảo cổ mới tìm được lối vào. Theo số liệu công bố, vật tùy táng bên trong có tới hơn 3.000 văn vật gồm rất nhiều đá quý, trân châu cùng nhiều vật phẩm và tơ lụa.

Khi mở nắp quan tài, bí ẩn lớn nhất về vị vua thứ 13 của nhà Minh đã dần được tiết lộ. Bản khôi phục hài cốt của Hoàng đế Vạn Lịch cho thấy hai chân của ông có độ dài không đồng đều, chân phải dài hơn chân trái một chút khiến việc đi lại rất bất tiện.

Dị tật chân bất cân xứng xuất hiện do Vạn Lịch mắc chứng teo cơ khá trầm trọng, điều này trực tiếp lý giải nguyên nhân ông không thể ngồi lâu trên ghế rồng.

Trình độ y học thời đó còn kém phát triển, bệnh tình của vua không thể chữa khỏi, dáng đi cũng vì bệnh mà kém uy nghiêm nên Vạn Lịch đã chọn cách ẩn mình sau màn trướng để giải quyết chính sự.

Vị vua vẫn siêng năng vì nước vì dân dù không được người đời nhìn thấy, vậy mới hiểu thiên tử cũng có những nỗi khổ thật không thể chia sẻ cùng ai! 

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất kỳ khách du lịch nước ngoài nào. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn thì hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc nhé!

“Bật mí” những điều thú vị về Long bào của các vị Hoàng đế Trung Hoa xưa

Trong triều đại phong kiến, Hoàng đế được xem là bậc chí tôn, cao cao tại thượng. Mọi đồ dùng mà nhà vua sử dụng đều là những đồ quý giá, độc đáo, được thiết kế riêng từ chất liệu, màu sắc đến họa tiết và bất cứ ai cũng không được phép dùng những màu sắc, chất liệu họa tiết đó. Biểu hiện rõ nhất của sự phân biệt này phải kể đến trang phục của hoàng đế Trung Hoa hay còn được gọi là Long bào.

“Long” có nghĩa là rồng. “Bào” có nghĩa là y phục, quần áo. Trong xã hội phong kiến thì rồng biểu tượng cho chân mệnh thiên tử, nên dùng để chỉ nhà vua hay còn gọi là Thiên tử (con trời). Thời phong kiến những đồ vật có hình rồng chỉ có vua mới được dùng. Như vậy, long bào là từ dùng để chỉ quần áo có thêu hình rồng cho hoàng đế mặc.

Trên chiếc long bào có những chi tiết cần phải chú ý như hoa văn 9 con rồng trên cả vạt trước và vạt sau áo. Trước thời nhà Đường, nhiều người có thể mặc áo có dạng tương tự long bào nhưng không được thêu hình rồng. Nhưng sau thời nhà Đường, người bình thường không chỉ không được phép thêu hình rồng lên quần áo mà ngay cả áo kiểu dáng long bào cũng không được mặc. Đường Cao Tổ còn quy định, màu vàng là màu của đế vương, chỉ được dùng bởi vương thất. Từ đó về sau, màu vàng đã trở thành màu sắc đặc trưng dùng riêng cho hoàng tộc. Hầu như long bào của các thế hệ sau đó đều lấy màu vàng sáng làm chủ đạo.

Long bào của Tần Thủy Hoàng có màu đen

Chúng ta vẫn thường thấy rằng những bộ quần áo mà vua Tần Thủy Hoàng mặc thường có màu đen, đến thời Hán Văn Đế áo long bào chuyển sang màu vàng; áo long bào thời Tấn, Tống, Minh thì có màu đỏ… Du khách có biết tại sao lại có chuyện như vậy không?

Dưới thời nhà Tần, các học thuyết về ngũ hành rất phát triển, vua Tần cho rằng cơ nghiệp của nhà Tần gắn liền với yếu tố nước trong ngũ hành. Nước sau khi dập lửa sẽ để lại những vết tro tàn màu đen, chính vì vậy mà Tần Thủy Hoàng chọn màu đen nhằm ngụ ý, cơ nghiệp nhà Tần mệnh nước sẽ dập tắt được ngọn lửa thôn tính của các nước, không cho họ cơ hội bùng cháy. Sau khi Tần Thủy Hoàng qua đời, nhà Tần nhanh chóng bị lật đổ, nhà Hán được thành lập thay thế vị trí của nhà Tần. Chính vì vậy mà các vua triều đại sau cho rằng không nên chọn màu đen, sẽ không may mắn đi theo vết xe đổ của nhà Tần. Sau này, các vua phong kiến đều chọn màu vàng, là màu của kim loại quý. Chọn màu vàng ngụ ý mong đất nước của mình sẽ được phồn thịnh, nhiều vàng, nhiều của.

Long bào với chất liệu, hình vẽ hoa mỹ, cầu kì và tinh tế

Long bào là trang phục của bậc đế vương thời cổ đại, hoa văn thêu trên long bào nằm ở vị trí nào đều có quy định rõ ràng, thậm chí có những hoa văn hoặc màu sắc chỉ được phép sử dụng trên trang phục của đế vương, vì đây là biểu tượng vương quyền tối cao.

Những chất liệu làm long bào đều phải lựa chọn chất liệu tốt nhất, mềm mại, thoải mái như lụa, tơ, gấm… thường sẽ là những vải thượng hạng chọn từ những cống phẩm của các nước tiến cống. Hầu hết long bào sẽ có màu vàng, thêu hoạt tiết hình rồng bằng chỉ vàng, chỉ bạc – loại chỉ quý hiếm ở thời phong kiến.

Hoa văn chủ yếu trên long bào là văn rồng, ngoài ra còn có văn phụng, văn mẫu đơn phú quý, văn ngọc tỉ, ở quanh văn rồng còn có văn mây ngũ sắc, văn dơi đỏ, văn thập nhị chương (nhật, nguyệt, tinh thần, sơn, long, hoa trùng, tông di, tảo, hỏa, phấn mễ, phủ, phất) tượng trưng cho điều lành. Dĩ nhiên những hoa văn này có ý nghĩa sâu xa, mây ngũ sắc là hoa văn trang trí thường thấy, tượng trưng cho may mắn; văn dơi màu đỏ là tượng trưng cho “phúc lớn”, cũng là hoa văn trang trí không thể thiếu trên long bào.

Nói riêng về văn rồng, thì trong một số tài liệu có mô tả như thế này: chín con rồng trên long bào có bốn con chính long thêu ở trước, lưng và hai vai. Vạt trước và sau long bào thì mỗi vạt có hai con hành long, như vậy nhìn từ trước hay sau đều thấy năm con rồng, hàm ý sự tôn quý (cửu ngũ). Nhưng tính ra tổng cộng mới chỉ có tám con rồng, còn một con ở đâu? Thật ra con rồng cuối cùng này thêu bên trong vạt trước, muốn trông thấy phải vén vạt áo lên mới được. Tất nhiên, việc thiết kế văn rồng trong mỗi triều đại cũng có sự đổi khác.

Ngoài chín con rồng ở trên thì văn rồng còn thể hiện trong những hình rồng nhỏ ở cổ áo, eo và cổ tay áo. Còn vô số đường uốn lượn dưới long bào gọi là “chân nước”. Trên chân nước thêu rất nhiều gợn sóng cuồn cuộn, còn báu vật đá dựng đứng gọi là “hải thủy giang nhai”, không chỉ tượng trưng cho may mắn bất tận mà còn hàm nghĩa “thống nhất giang sơn”, “mãi mãi thái bình”.

Người xưa gọi ngôi vị hoàng đế là “Cửu ngũ chí tôn”. Trong “Dịch kinh – Càn Long – Cửu ngũ” có ghi: “Rồng bay trên trời, phúc cho bậc đại nhân khi nhìn thấy”. Số chín là số dương, trong Dịch kinh biểu thị bằng một vạch liền (─); số năm là hào vị thứ năm trong quái tượng tính từ dưới lên. Khổng Dĩnh Đạt ghi trong “Ngũ kinh chính nghĩa” rằng: “Lời cửu ngũ, dương khí mạnh ngút trời, vì rồng ở trên trời. Hiện tượng này ví như thánh nhân có đức rồng, bay cao ở ngôi vị trên trời”. Chính vì thế, sau này “cửu ngũ” dùng để ví ngôi vua. Cũng từ văn hóa Đạo gia như vậy mà long bào có thêu chín con rồng, tượng trưng cho hoàng đế.

Ngoài ra, một biểu tượng khác trên chiếc áo long bào là hình ảnh một con dơi đỏ – từ đồng âm của một nhân vật mang ý nghĩa là “ngập trong trận đại hồng thuỷ của sự may mắn”.

Áo lót bên trong cũng có hình ảnh của đại dương và núi non, vì theo quan niệm của người Trung Hoa, hoàng đế là thiên tử, là người có quyền lớn nhất thế gian.

Tay áo dài và cổ áo rời, nặng

Mặc dù người Mãn Châu từ vùng Đông Bắc tái chiếm và đóng đô ở Bắc Kinh từ tay nhà Minh vào năm 1644 nhưng nếu xét về các khía cạnh văn hoá, phong tục tập quán và lễ nghi, người Mãn Châu phải học rất nhiều từ đất nước phát triển như Trung Hoa. Họ không những nể phục Trung Hoa bởi thể chế chính trị mà còn khâm phục bởi những lễ nghi, văn hoá, phong tục tập quán và thậm chí tôn giáo của người dân nơi đây. Sau khi xâm chiếm, dù người Mãn Châu rất khâm phục văn hoá Trung Hoa, nhưng họ vẫn luôn tự hào về cội nguồn của chính mình. Do đó, việc du nhập những bộ y phục là một trong những yếu tố quan trọng nhất khi người Mãn Châu chuyển đến vùng đất này. Chúng được làm từ da động vật và có hình dạng của con thú ấy để tận dụng tối đa việc sử dụng nguyên liệu thô.

Y phục hoàng tộc của người Trung Hoa với tay áo hình móng ngựa cùng cổ áo rời và nặng được bắt nguồn từ truyền thống của người Mãn Châu. Kể từ khi người Mãn Châu sinh sống bằng việc săn bắn ở vùng Đông Bắc, họ phải tìm cách để chống chọi với cái lạnh thấu xương ở vùng đất này. Do đó, họ mặc những bộ y phục có tay áo dài để che hết phần tay, và cổ áo rời, nặng được dùng để tránh rét trong những chuyến đi dài.

Nhưng sau này, tay áo dài trở nên vướng víu trong cuộc sống thường nhật. Vì thế, triều đình đã quyết định cuốn tay áo lên, và chỉ thả tay áo xuống khi giao thiệp với một người lạ nào đó. Truyền thống này xuất phát từ hoàng tộc triều đình và dần dần trở thành nếp sống của tất cả mọi người.

Mỗi chiếc long bào được dùng cho từng dịp khác nhau

Các tủ quần áo hoàng gia trong thời nhà Thanh đều là những chiếc áo choàng và áo long bào. Nhiều long bào được dùng cho những dịp lễ lớn trong triều đình, y phục đi du ngoạn, y phục vào những ngày thời tiết xấu và thậm chí những bộ y phục dùng khi ăn và ra ngoài trời.

Tuỳ vào tình hình thời tiết mà sẽ có áo lót bên trong hay không và sẽ làm bằng những chất liệu khác nhau như lụa, da thuộc hay vải sợi. Màu sắc được chọn phải phù hợp với màu sắc hoàng gia. Một trong những màu sắc dành riêng cho hoàng đế là vàng tươi, đỏ, xanh và xanh sáng.

Màu vàng thường được sử dụng trong các buổi lễ. Những màu sắc còn lại được dùng trong những ngày lễ ở ba ngôi đền lớn: Long bào xanh ở Đền Cung đình, long bào đỏ ở Đền Mặt trời và long bào xanh sáng ở Đền Mặt trăng. Với mỗi chiếc áo long bào, hoàng đế cũng sẽ đeo đai và mũ phù hợp.

Những chiếc áo long bào được dùng trong những dịp hết sức đặc biệt thường có hoạ tiết con rồng vàng. Thông thường, hoàng đế chỉ mặc bộ y phục này vào những ngày lễ trọng đại.

Quá trình làm long bào rất phức tạp, rất nhiều thủ pháp

Trang phục của Hoàng đế ngày xưa đều do những người thợ có chuyên môn cao phụ trách, triều đình cũng sẽ phái người đến theo dõi và đốc thúc. Ngay cả khi có rất nhiều người cùng làm thì cũng cần đến vài năm để hoàn thiện một chiếc long bào. Thời nhà Thanh, có hơn 2.000 người chịu trách nhiệm làm long bào cho Hoàng đế, họ phải làm cả ngày lẫn đêm, có khi mất đến hơn 2,5 năm để hoàn thành. 

Kiểu mẫu và đường nếp phải nhận được sự chấp thuận của hoàng đế và các vị đại thần trong triều đình trước khi được phép hoàn thành. Sau đó, kiểu mẫu sẽ được chuyển giao đến các thợ làm lụa. Sau khi vải đã hoàn tất, một thợ thủ công sẽ cắt vải và sẽ chuyển đến một thợ may tiếp theo để hoàn tất phần thô của chiếc áo long bào. Sau cùng, chiếc áo sẽ được thêu thêm nhiều hoạ tiết cầu kì.

Chỉ những loại chỉ thượng hạng mới được sử dụng để thêu long bào và thậm chí còn phải làm từ vàng thật. Hoàng đế sẽ thuê 500 thợ thủ công và thợ thêu để khâu áo và 40 thợ khác để thêu chỉ vàng lên áo.

Chế tác long bào là một công việc đầy rủi ro nhưng lại có thu nhập cao. Và vì được trả công rất cao nên nếu xuất hiện một lỗi nhỏ trên long bào thì sẽ bị xử phạt nghiêm trọng. Nếu sai sót tương đối lớn, dẫn đến long bào bị hỏng thì có khả năng sẽ bị xử tội chết. Vì thế, người phụ trách chế tác long bào luôn phải cẩn thận, dồn hết sức vào trang phục trân quý trước mặt.

Một điều đặc biệt nữa là gần như tất cả long bào thời cổ đại đều không được giặt giũ. Một phần là vì người xưa ít chú ý đến vấn đề vệ sinh. Mặt khác, vì trên long bào có những họa tiết thêu rồng dễ bị biến dạng sau khi giặt. Hơn nữa, ngay cả khi trang phục bị bẩn hoặc có mùi lạ thì hầu hết người thời đấy sẽ sử dụng hương huân (xông hương) để khử. Dùng nước để giặt quần áo chỉ là hành động mà người nghèo mới làm.

Vậy thì câu hỏi được đặt ra là, nếu long bào thời cổ đại về cơ bản không bao giờ được giặt giũ thì làm sao Hoàng đế có thể chịu được mùi lạ khi mặc? Câu trả lời sẽ tiết lộ khả năng tài chính của hoàng gia.

Bởi vì phải mất nhiều năm mới sản xuất ra được một chiếc long bào nên nhiều người đã nghĩ Hoàng đế không có bao nhiêu long bào cả, họ sẽ mặc một chiếc long bào nhiều lần. Nhưng trên thực tế, với nỗ lực của hàng nghìn người tham gia quá trình chế tác ngày đêm, số lượng long bào chuyển đến hoàng cung mỗi năm rất lớn. Hoàng đế hoàn toàn có thể thay đổi long bào liên tục, thậm chí có người chỉ mặc long bào một lần duy nhất.

Vả lại, không phải lúc nào các Hoàng đế đều mặc long bào, họ chỉ mặc vào những dịp đặc biệt đã định. Những ngày bình thường, họ sẽ mặc thường phục. Nhưng trong lịch sử cũng có một số vị Hoàng đế tiết kiệm, khi trên long bào xuất hiện mùi lạ, cung nữ sẽ sử dụng hương để xông chiếc long bào đấy.

Lịch sử – đất nước – con người Trung Hoa quả thật có rất nhiều điều thú vị đáng để quan tâm phải không du khách? Hãy đặt tour Trung Quốc của chúng tôi để tự mình khám phá nhiều hơn về vùng đất rộng lớn này nhé!

13 lễ hội và sự kiện văn hoá đặc sắc nhất Thượng Hải, Trung Quốc

Thượng Hải của Trung Quốc là một điểm đến ưa thích của rất nhiều khách du lịch trên thế giới. Khi đến đây, du khách sẽ có những trải nghiệm tuyệt vời và đáng nhớ. Đặc biệt, Thượng Hải được biết đến là thành phố sở hữu những lễ hội tuyệt vời và vui tươi, nhộn nhịp nhất.

Lễ Giáng sinh

Giáng sinh mặc dù không phải ngày lễ chính thức của Trung Quốc nhưng điều đó không ngăn được người dân Thượng Hải tận hưởng một mùa Noel rực rỡ chẳng kém thành phố nào trên khắp thế giới.

Từng con phố nới đây vốn đã đẹp bởi những ngôi nhà đầy màu sắc, nay càng thêm thu hút bởi ánh đèn lung linh, kim tuyến lấp lánh, ngay cả những hàng cây bên đường cũng được khoác lên mình tấm áo rực rỡ nhất.

Một trong những cách tuyệt vời để đón lễ Giáng sinh ở Thượng Hải là ghé thăm các khu chợ đông đúc và nhộn nhịp với nhiều hoạt động giải trí miễn phí thú vị. Không gian lung linh tại đây sẽ khiến du khách ngỡ như mình đang lạc vào những khu chợ Giáng sinh ở Đức hoặc Hà Lan.

Tết Nguyên đán

Cũng giống như ở Việt Nam, tết Nguyên đán cũng là ngày lễ lớn nhất trong năm, mang đậm nét văn hóa Trung Hoa. Vào dịp này, Thượng Hải là một trong những nơi tuyệt vời nhất để đón tết.

Đến đây, du khách sẽ trải nghiệm không khí tết xưa giữa một không gian hiện đại khi mà ai ai cũng chọn trang trí nhà cửa bằng những câu đối đỏ, đèn lồng đỏ và đốt pháo để cầu một năm mới vui vẻ, an lành và hạnh phúc.

Nếu ghé Thượng Hải vào dịp tết cổ truyền, du khách sẽ được thưởng thức các loại bánh truyền thống, trong đó bánh tổ (Nian Gao) là đáng thử nhất bởi nó tượng trưng cho sự ấm cúng và gắn kết gia đình.

Cùng với việc xem đồ trang trí và pháo hoa, tại lễ hội lớn nhất Thượng Hải này, du khách còn được chiêm ngưỡng những màn múa lân, múa rồng tưng bừng trên khắp con phố.

Lễ hội đèn lồng

Lễ hội đèn lồng được tổ chức tại vườn Yu Yuan đến nay đã 20 năm tuổi. Lễ hội này thường được người dân Thượng Hải tổ chức trong tiết thu khi thời tiết chuyển giao giữa mùa hè và mùa thu. Mang phong cách nghệ thuật kết hợp giữa truyền thống và hiện đại nên sự kiện này thu hút rất đông đảo giới trẻ và người cao tuổi tới chiêm ngưỡng.

Khi đêm rằm đến, khắp phố phường, quảng trường, công viên ở Thượng Hải đều sẽ được trang trí bằng những chiếc đèn lồng rực rỡ đủ màu bao gồm đèn hoa đăng, đèn hình người, đèn lâu đài, đèn bức tường, đèn con vật để tạo thành những mô hình đẹp mắt trang trí cho cảnh quan công cộng. Không khí đêm rằm náo nhiệt chẳng thua gì giờ phút đón chào năm mới của Tết Nguyên Đán.

Trong lễ hội đèn lồng, người dân Thượng Hải nói riêng và Trung Quốc nói chung thường có tục thả đèn trời. Bởi hình dáng giống chiếc mũ khổng lồ của Khổng Minh nên họ gọi đó là đèn Khổng Minh. Đèn được làm bằng giấy với một lỗ nhỏ ở đáy, người ta sẽ viết ước nguyện lên đó và thả chiếc đèn nhỏ bay lên trời. Như vậy hạnh phúc và may mắn sẽ tới trong cả năm. Mang phong cách nghệ thuật kết hợp giữa truyền thống và hiện đại nên sự kiện này thu hút rất đông đảo giới trẻ và người cao tuổi tới chiêm ngưỡng.

Liên hoan Văn học Quốc tế

Liên hoan Văn học Quốc tế là lễ hội sách lớn nhất tại Trung Quốc nói chung và Thượng Hải nói riêng, sẽ mang đến cơ hội cho rất nhiều bạn trẻ được ngắm thần tượng của mình ngay trong khoảng cách gần. Sự kiện văn hoá này kéo dài tới 1 tuần, thường tổ chức tại nhà hàng Bund. Không chỉ là cuộc gặp gỡ giữa các tác giả nổi tiếng mà còn là nơi tương tác giữa các nhà văn Trung Quốc và quốc tế, mang đến cơ hội giao lưu, học hỏi cho tất cả các nhà văn.

Lễ hội này thường diễn vào tháng 3 hàng năm. Nếu muốn trải nghiệm hãy thử một lần ghé Thượng Hải vào thời điểm này. Không chỉ gặp các tác giả nổi tiếng bạn còn có thể sở hữu những cuốn sách có chữ ký của tác giả mình yêu thích. Đây là điều không dễ dàng.

Hội chợ đền Longhua

Hội chợ đền Longhua là một trong những lễ hội truyền thống lớn nhất của thành phố Thượng Hải vào tháng 4 hàng năm. Với lịch sử hơn 400 năm, hội chợ này là nơi du khách có thể xem các buổi biểu diễn về văn hóa dân gian, các điệu múa truyền thống, các nghi lễ ban phước và nhiều hơn thế nữa.

Ngoài việc dùng thử các món ăn địa phương và xem các màn biểu diễn tung hứng hay đi cà kheo, du khách cũng có thể tham gia vào màn trình diễn võ thuật hoặc tham gia tour du lịch với hướng dẫn viên địa phương. Địa điểm của lễ hội này, đền Longhua, là một trong những đền Phật giáo nổi tiếng nhất trong thành phố – và nó cũng là đền cổ nhất. Hơn nữa, khu vực này có rất nhiều cây đào thường nở hoa cùng thời điểm với lễ hội.

Lễ hội Văn hoá trà Quốc tế

Diễn ra vào tháng 4 hoặc tháng 5 với thời gian tổ chức trong 4 ngày, lễ hội Văn hoá trà Quốc tế là một sự kiện lớn dành cho những người hâm mộ trà. Lễ hội này được bắt đầu từ những năm 1990 và đã phát triển thành một trong những lễ hội hàng đầu ở Thượng Hải. Tham gia vào lễ hội, bên cạnh những người yêu thích và buôn bán trà nổi tiếng còn có hàng ngàn du khách đến để tìm hiểu kiến thức về thức uống này.

Tham gia lễ hội này du khách sẽ tìm thấy rất nhiều loại trà hảo hạng, thưởng thức trà và cả cơ hội xem các phong tục như nhảy trà. Để có chuyến đi thú vị nhất, lời khuyên dành cho du khách là ghé qua quán trà Song Nguyên ở quận Zhabei. Tại đây, ngoài việc trải nghiệm các nghi lễ trà thanh lịch, du khách còn có cơ hội thưởng thức các món ăn dựa trên trà, các món tráng miệng, các buổi biểu diễn và đặc biệt là vở opera về lịch sử của trà.

Lễ hội hoa anh đào

Từ giữa tháng 3 đến tháng 5, những cánh hoa anh đào đua nhau khoe sắc trên các nẻo đường, góc phố khắp đất nước Trung Quốc. Mặc dù mỗi vùng đất khoác lên mình một vẻ đẹp nhẹ nhàng, riêng biệt nhưng sắc hồng hoa anh đào ở Thượng Hải thường ghi được dấu ấn trong lòng du khách hơn cả.

Nếu như ở Nhật Bản, người ta thường tổ chức lễ hội Hanami mỗi khi hoa anh đào bung nở thì vào thời điểm này, các công viên ở thành phố Thượng Hải cũng tràn ngập sắc hồng với lễ hội hoa đào hằng năm. Lễ hội này thường bắt đầu vào cuối tháng 3 hoặc đầu tháng 4 tùy thuộc vào thời điểm hoa nở rộ nhất. Du khách có thể dễ dàng tìm thấy hoa anh đào tại bất cứ con đường nào của Thượng Hải và ngửi thấy mùi thơm nhẹ, vấn vương của loài hoa này. Thông thường lễ hội này sẽ được tổ chức kèm những buổi biểu diễn trực tiếp.

Với hơn 10.000 cây anh đào, Công viên Gucun là địa chỉ lý tưởng nếu du khách muốn hòa mình vào lễ hội hoa anh đào lớn nhất Thượng Hải. Vào dịp tháng 4 hàng năm, hàng ngàn du khách đổ về đây tham quan và chụp ảnh. Ngoài ra, du khách có thể đến trường Đại học Đồng Tế tọa lạc ở đông bắc thành phố Thượng Hải, trong cả khuôn viên của trường những gốc cây anh đào lâu năm, tán cây phủ rộng và nở bung rực rỡ. Ngôi trường này nổi tiếng với con đường hoa anh đào.

Liên hoan Phim Quốc tế 

Là một liên hoan tập trung những bộ phim hay nhất, mang ý nghĩa nhân văn nhất của những tên tuổi lớn đến từ Hollywood. Liên hoan phim Thượng Hải thu hút rất nhiều các ngôi sao lớn nhỏ từ khắp nơi trên thế giới. Du khách có thể có cơ hội ngắm nhìn những thần tượng của mình ở cự ly gần.

Sự kiện này mang tới hơn 500 bộ phim từ khắp nơi trên thế giới với giải thưởng xứng đáng, cao quý dành cho những bộ phim hay nhất. Liên hoan phim này đã dần trở thành liên hoan phim lớn nhất Đông Á.

Lễ hội thuyền rồng

Nhắc đến các lễ hội và sự kiện văn hoá của Thượng Hải không thể không nhắc tới lễ hội thuyền rồng. Đây được đánh giá là một trong những lễ hội nổi tiếng và thú vị bậc nhất của nơi đây. Khi tới Thượng Hải vào tháng 6, chắc chắn du khách sẽ có những trải nghiệm tuyệt vời và đáng nhớ.

Lễ hội Thuyền rồng của Thượng Hải thu hút rất nhiều ngôi sao và đông đảo người dân. Lễ hội này sẽ là cuộc đua thuyền gỗ đầy màu sắc và sôi động. Du khách sẽ được chứng kiến những cảnh đua thuyền gay cấn đến nghẹt thở cùng với đó là sự cổ vũ của đông đảo người dân nơi đây. Chắc chắn du khách sẽ có những giây phút thư giãn, vui vẻ với không khí đầy sôi động này.

Liên hoan truyền hình

Được thành lập vào năm 1986, Liên hoan truyền hình đã được tổ chức thành công trong hơn 20 năm vào tháng 6 hàng năm. Đây hiện là một trong những liên hoan truyền hình Trung Quốc có ảnh hưởng nhất, thúc đẩy sự phát triển của ngành truyền hình trong nước và tăng cường giao lưu và hợp tác giữa giới truyền hình Trung Quốc và nước ngoài. Cuộc thi và giới thiệu chương trình truyền hình quốc tế Magnolia Award là một điểm nhấn nổi bật của sự kiện này. Một số lượng lớn các chương trình truyền hình chất lượng tập trung tại đây để cạnh tranh cho những vị trí và giải thưởng xứng đáng. Diễn đàn truyền hình Magnolia là một hoạt động quan trọng khác, tập trung vào các chủ đề và tin tức nóng hổi của ngành công nghiệp truyền hình.

Photofairs Thượng Hải

Ra mắt vào năm 2013, lễ hội này trở thành điểm đến quen thuộc của rất nhiều nhiếp ảnh gia thuộc khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Với hơn 50 phòng trưng bày trên 16 quốc gia, các nhà nhiếp ảnh có thể mang tới những tác phẩm ưng ý nhất để chia sẻ tới tất cả mọi người.

Không chỉ vậy các du khách khi tới đây sẽ được thưởng thức những tác phẩm mang đậm tính nghệ thuật và mãn nhãn với những tác phẩm đó. Du khách sẽ có cơ hội nhìn thế giới dưới góc độ nhiếp ảnh và những bức ảnh ấn tượng về thế giới. Chắc chắn rằng du khách sẽ cảm thấy mãn nhãn và bất ngờ với những bức ảnh từ khắp mọi nơi trên thế giới được quy tụ tại nơi đây.

Nếu muốn thưởng thức lễ hội này thì tháng 9 hàng năm là một lựa chọn thích hợp dành cho du khách. Đi vào thời điểm này du khách sẽ có cơ hội thưởng thức thêm nhiều lễ hội khác đầy sôi động tại Thượng Hải.

Liên hoan Nghệ thuật Quốc tế

Bắt đầu từ năm 1999, đây là một hoạt động văn hóa nghệ thuật cấp cao ở Trung Quốc. Nó trưng bày nghệ thuật truyền thống Trung Quốc cũng như những thành tựu văn hóa rực rỡ từ các quốc gia trên thế giới, nhằm tăng cường giao lưu giữa văn hóa nghệ thuật Trung Quốc và nước ngoài. Trong sự kiện này, du khách có thể xem nhiều buổi biểu diễn âm nhạc, khiêu vũ và kịch, hoặc tham dự các triển lãm văn hóa nghệ thuật cũng như các hội chợ thương mại. Có những tuần văn hóa được tổ chức để giới thiệu văn hóa đặc sắc trong văn hóa của một thành phố trong nước, tỉnh, khu vực hoặc nước ngoài. Ví dụ, Tuần lễ Văn hóa Singapore và Tuần lễ Văn hóa Thanh Hải được tổ chức vào năm 2007 và Tuần lễ Văn hóa Mexico được tổ chức vào năm 2006. 

Lễ hội du lịch

Đây là lễ hội lớn nhất trong số các lễ hội và sự kiện văn hoá được tổ chức trong thành phố Thượng Hải. Lễ hội này thường bắt đầu từ giữa tháng 9 đến đầu tháng 10 hàng năm. Được thành lập vào năm 1990, nó thu hút cả người dân địa phương và du khách bằng cách trưng bày các sản phẩm và hoạt động du lịch đầy màu sắc của thành phố liên quan đến tham quan, giải trí, ăn uống, mua sắm và triển lãm. Ngoài ra còn có phong tục dân gian, ẩm thực, nghệ thuật, thời trang và văn hóa từ nhiều quốc gia khác để thưởng thức. Du khách có thể đến đây và tham gia những sự kiện độc đáo của lễ hội này:

Lễ diễu hành khai mạc: Nó bắt đầu tại đường Huaihai ở trung tâm vào khoảng 19:30 ngày khai mạc. Cùng với màn trình diễn tuyệt vời của các nghệ sĩ và các nhóm vũ công đến từ các quốc gia trên thế giới với trang phục đầy màu sắc bắt đầu từ đây và diễu hành trên các đường phố chính của thành phố, bao gồm Đường Huangpi, Đường Nam Trùng Khánh và Đường Maoming. 

Lễ khai mạc Lễ hội: được tổ chức tại Quảng trường Thế kỷ trên Phố đi bộ Nam Kinh vào khoảng 21:00 giờ ngày khai mạc với sự xuất hiện của nhiều ngôi sao nhạc pop và các nghệ sĩ truyền thống Trung Quốc tham gia lễ hội này.

Cuộc diễu hành trên tàu sông Hoàng Phố: Được diễn ra trên hơn 20 tàu du lịch được trang trí tinh xảo trên sông Hoàng Phố. Những con tàu cùng với ánh đèn nhiều màu sắc, trang phục và pháo hoa hứa hẹn đem đến một đêm đáng nhớ cho khách du lịch. Du khách có thể đặt tàu du lịch và tham gia các bữa tiệc thú vị được tổ chức tại đây, hoặc đơn giản là thưởng thức cảnh đêm quyến rũ của thành phố trên Bến Thượng Hải.

Để có một chuyến du lịch thú vị tới thành phố Thượng Hải hòa mình vào không khí vui nhộn và chiêm ngưỡng khung cảnh tuyệt đẹp của những lễ hội, du khách hãy đặt ngay cho mình một tour Trung Quốc nhé! Chúc các du khách có một chuyến đi vui vẻ và thú vị!

Đôn Di Hoàng Quý phi – vị phi tử cả đời không có con nhưng được cả 3 hoàng đế sủng ái

Thời xưa, không con cái được coi là một trong những tội đại bất hiếu và không được coi trọng. Thế nhưng, với Đôn Di Hoàng Quý phi trong thời nhà Thanh thì lại là một trường hợp ngoại lệ. Cả đời bà không có nổi mụn con nhưng vẫn được cả ba vị hoàng đế là Khang Hi, Ung Chính, Càn Long yêu mến, chăm sóc chu đáo. 

Theo sử sách ghi chép, Đôn Di Hoàng Quý phi là một phi tần của Thanh Thánh Tổ Khang Hi Đế. Bà sinh vào ngày 16 tháng 10 (âm lịch) năm Khang Hi thứ 22, họ Qua Nhĩ Giai thị, thuộc Hoàng kỳ Mãn Châu. Họ này giàu có, phú quý, đứng đầu trong bát đại gia tộc thời nhà Thanh. Cha là Tam phẩm Hiệp lĩnh Dụ Mãn. 

Khi Qua Nhĩ Giai thị 17 tuổi, liền nhập cung tham gia tuyển tú. Nhờ gia thế hiển hách, dung mạo xuất chúng lại trổ hết tài năng, Qua Nhĩ Giai thị thuận lợi trở thành phi tử (Thứ phi) của Khang Hi Đế. 

Một số bản thoại có chép, Qua Nhĩ Giai thị rất xinh đẹp, vẻ đẹp của nàng không lộng lẫy kiêu sa nhưng vô cùng mềm mại, ngọt ngào, nhìn một lần là nhớ mãi. Cùng với xuất thân rất cao, nàng được Khang Hi rất coi trọng. Năm Khang Hi thứ 39 (1700), tháng 12, Qua Nhĩ Giai thị được sách phong Hòa tần, cùng lúc với Lương tần Vệ thị. Vừa vào cung đã được phong làm Hòa tần. Phong vị như vậy, đối với một phi tử mới nhập cung, thực sự khiến nhiều người ghen tị đỏ mắt. Xét về điểm này thì so với Vệ thị sinh được Bát a ca Dận Tự mới phong Tần, quả là có khác biệt.

Vậy nguyên nhân do đâu mà Qua Nhĩ Giai thị lại đắc sủng khi tuổi còn rất trẻ như vậy? Tương truyền Khang Hi đế có lần nằm mộng trông thấy một thiếu nữ ôm phượng cưỡi rồng ở Ninh Cổ Tháp. Thiếu nữ trong mộng có nụ cười duyên dáng, đôi mắt long lanh, xinh đẹp động lòng người. Sau giấc mộng Khang Hi vội sai người đi khắp nơi để tìm thì trông thấy Qua Nhĩ Giai thị ôm một con gà trống, nở nụ cười đẹp tựa hoa hồng bên sông Mẫu Đơn. Thế nên ngay khi nhập cung Qua Nhĩ Giai thị đã được Khang Hi sủng ái hết lòng. Tuy truyền thuyết này vẫn chưa rõ thực hư, nhưng sự sủng ái Khang Hi dành cho Qua Nhĩ Giai thị là điều không thể nghi ngờ.

Một năm sau khi phong Tần, Qua Nhĩ Giai thị sinh càng được sủng ái, liền nhanh chóng có thai và hạ sinh Hoàng thập bát nữ vào ngày 18 tháng 10 (âm lịch) năm 1701. Đáng tiếc, công chúa sau sinh còn chưa kịp đặt tên đã mệnh yểu qua đời. Bất hạnh hơn, vì quá đau thương, hơn nữa sinh con thân thể bị hao tổn, đời này Hòa tần không thể có con nữa.

Khang Hi Đế thấy nàng trẻ tuổi như vậy đã bị tổn thương nặng nề cả về thể chất lẫn tinh thần, vì vậy lại càng cực kỳ thương yêu, chiều chuộng nàng. Mặc dù sau Hòa tần vẫn không thể sinh con, Khang Hi vẫn không lạnh nhạt, quan tâm đầy đủ, thậm chí còn tấn phong nàng làm Hòa phi (tháng 4 năm 1718).

Từ khi nhập cung cho đến khi trở thành Hoà Phi, cuộc sống bà của không có tranh đấu, rất an nhàn. Thực tế, lúc đó, các hoàng tử tranh quyền đoạt vị, rất dễ liên lụy đến mẫu thân của mình. Hòa phi địa vị khá cao nhưng không con cái, cho nên đối với các phi tần khác, nàng không có uy hiếp, đối với các hoàng tử lại càng không có bất kỳ cản trở nào, cuộc sống ở nơi hậu cung của Hòa phi cực kỳ an nhàn. 

Năm Khang Hi thứ 61 (1722), Khang Hi Đế băng hà, thời điểm này, Hòa phi vừa 40 tuổi. Đến khi Ung Chính kế vị, đối với Hòa phi cũng cực kỳ tôn kính, tôn phong bà làm Hoàng khảo Quý phi. Kỳ lạ ở chỗ, Ung Chính đối với mẹ đẻ quan hệ không quá thân thiết, trái lại đối với Hoàng khảo Quý phi lại vô cùng yêu thương, tình như mẹ con ruột thịt.

Tính cách của Hoàng khảo Quý phi ôn hòa lại sảng khoái, hoàng đế Ung Chính có tâm sự trong lòng đều có thể tìm nàng để giải tỏa. Nói cách khác, Ung Chính rất tín nhiệm bà.

Sau, Ung Chính lại hạ lệnh, đưa hoàng tử Hoằng Lịch (hoàng đế Càn Long sau này) đến cho Hoàng khảo Quý phi nuôi dưỡng. Cũng nhờ vậy mà tình cảm của Càn Long và Hoàng khảo Quý phi cũng vô cùng gắn bó, thân thiết.

Thời điểm Càn Long lên ngôi, vì nhớ ơn dưỡng dục thời ấu thơ nên ông cũng quý trọng, hiếu thuận với Hoàng khảo Quý phi chẳng khác nào bà nội thực sự của mình. Cho rằng thế là không đủ, Càn Long phong tôn bà làm Ôn Huệ Quý Thái phi, và sau đó là Ôn Huệ Hoàng Quý Thái phi. Lúc này, trong hậu cung, bà có bối phận cao không ai sánh nổi.

Cứ như thế, Ôn Huệ Hoàng Quý Thái phi sống an nhàn sung túc cho đến lúc qua đời vào năm Càn Long thứ 33, thọ 86 tuổi. Mệnh tận, bà ở trong tẩm cung An Tường mà rời khỏi nhân thế. Kim quan của bà tạm quàn tại Cát An sở, Càn Long Đế đích thân đến tưới rượu. Cùng năm, hoàng đế làm lễ dâng thụy hiệu cho Ôn Huệ Hoàng Quý Thái phi là Đôn Di Hoàng Quý phi, tiến hành an táng vào Hoàng Quý phi viên tẩm trong Cảnh lăng.

Các sử gia cho rằng, mặc dù Đôn Di Hoàng Quý phi không con không cái, nhưng nhờ xinh đẹp lại tài đức, nhận được sự yêu thương, kính trọng của cả 3 vị hoàng đế nổi tiếng. Nàng cũng trở thành một trong những phi tần sống thọ nhất, sung sướng nhất, suốt đời bình an, trôi chảy, thực sự làm cho người khác ước ao.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất kỳ khách du lịch nước ngoài nào. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn thì hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc nhé!

Bạc Cơ – Thái hoàng Thái hậu đầu tiên của Trung Hoa với cuộc đời “an phận”

Mặc dù là Thái hoàng Thái hậu đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa, Bạc Cơ lại hầu như bị xem nhẹ cả đời, cho dù được tiên đoán là có thể sinh Thiên tử thì cũng không được người khác để tâm. Ngay cả khi đã trở thành thiếp của Hoàng đế, bà vẫn gần như bị bỏ quên. 

Bạc Cơ (? – 155 TCN), còn được gọi là Bạc phu nhân, là một phi tần của Hán Cao Tổ Lưu Bang, Hoàng đế sáng lập ra nhà Hán. Trước khi trở thành tần phi của Lưu Bang, bà là một thiếp thất của Ngụy Vương Báo. Sau khi con trai Hán Văn Đế lên ngôi, bà trở thành Hoàng Thái hậu. Sau khi cháu nội Hán Cảnh Đế lên ngôi, bà trở thành Thái hoàng Thái hậu, là Thái hoàng Thái hậu đầu tiên của nhà Hán và trong lịch sử Trung Quốc.

Theo sử sách ghi lại, cha của Bạc Cơ là người đất Ngô huyện, quận Cối Kê, mẹ là Ngụy Ổn, họ hàng tông thất Ngụy vương. Cha bà Bạc Công mất sớm, mai táng ở Sơn Âm.

Khi Trần Thắng khởi nghĩa chống nhà Tần, các chư hầu tự lập để hưởng ứng, trong đó có nước Ngụy. Bạc Cơ được mẹ đưa vào cung hầu hạ Ngụy Vương Báo. Trong số thê thiếp của Ngụy Vương Báo, Bạc Cơ xinh đẹp nhất nên nhanh chóng trở thành ái thiếp của ông. Sau, Ngụy Vương Báo chết, bà được Hán vương Lưu Bang đưa về hậu cung.

Về sau khi Hán vương xưng Hoàng đế, tức Hán Cao Tổ, bà ở lại Trường An cùng Hán Cao Tổ. Tuy có nhan sắc nhưng suốt một năm trời, Bạc Cơ không hề được sủng hạnh. Cùng nhập cung với bà có Quản phu nhân và Triệu Tử Nhi, từng ước hẹn ai có sủng hạnh thì sẽ không quên những người còn lại. Thế nhưng, cả Quản thị và Triệu thị đều được sủng hạnh trước, bỏ mặc Bạc Cơ.

Hán Cao Tổ năm thứ 4 (203 TCN), Hán Cao Tổ ngồi ở Cao Linh đài tại Hà Nam thành cung, có Quản phu nhân cùng Triệu thị bầu bạn. Đương khi đó cả hai đang gièm giễu việc ước hẹn với Bạc Cơ năm xưa, Hán Cao Tổ nghe thế bèn hỏi, cảm thấy thương xót Bạc Cơ nên tối đó cho triệu hạnh bà. Đêm đó, Bạc Cơ nhỏ to với Hán Cao Tổ rằng: “Đêm trước, thiếp thân mơ thấy có một con thương long (苍龙; rồng xanh) ở trên bụng”. Hán Cao Tổ cao hứng nói: “Đây là điềm lành!”. Đêm đó sau khi lâm hạnh, Bạc Cơ mang thai và sinh ra Lưu Hằng, hoàng tử thứ 4 trong số các hoàng tử của Hán Cao Tổ. Năm Hán Cao Tổ thứ 11 (196 TCN), khi Lưu Hằng được 8 tuổi, Hán Cao Tổ phong làm Đại vương. Nhưng cũng từ đó trở đi, Lưu Bang lại lạnh nhạt với bà, hai người rất ít có dịp gặp mặt nhau. 

Tuy rằng sinh hạ được Hoàng tử, nhưng Bạc Cơ không vì thế mà đòi hỏi Hoàng đế sủng hạnh, hết thảy đều để thuận theo tự nhiên. Bà lặng lẽ nuôi dưỡng con trai, đối xử lương thiện với mọi người. Cho dù là với những người có địa vị thấp nhất trong cung, bà cũng vô cùng lễ nhượng.

Lúc ấy, người được sủng ái nhất trong cung là Thích phu nhân, một người giỏi về múa. Người này nhận được nhiều ân sủng nhất nên ỷ sủng sinh kiêu, những người thị thiếp khác cũng a dua hùa theo phe bà, khiến Lữ hoàng hậu gai mắt. Sau khi Hán Cao Tổ băng hà, Thái tử Lưu Doanh con trai của Lữ hậu lên ngôi, hiệu là Hán Huệ đế.

Lữ thị trở thành Hoàng Thái hậu bắt đầu chèn ép những phi tần từng được tiên đế sủng ái, cấm họ ra ngoài cung cũng như cấm họ về đất phong của con trai họ, đặc biệt là Thích phu nhân người mà Lữ Thái hậu ghét nhất. Năm 194 TCN, Thích phu nhân bị Lữ Thái hậu ra lệnh giết rất tàn bạo: bị chặt tứ chi, bị khoét hai mắt, bị cắt mũi và tai, bị cạo hết tóc, bị chuốc thuốc câm khiến bà không nói được, bị chết trong đau đớn. Sau đó Lữ Thái hậu còn bức hại nhiều Hoàng tử con của Cao Tổ như Lưu Như Ý, Lưu Hiển, Lưu Khôi.

Còn Bạc Cơ vốn không được sủng, địa vị không cao. Thậm chí cho đến tận lúc Lưu Bang mất, Bạc Cơ cũng không được phong làm Phu nhân, chỉ làm thiếp. Hơn nữa, Bạc Cơ cũng không có tâm tranh đấu giành giật, không uy hiếp bất kỳ ai cho nên không bị Lữ Thái Hậu ganh ghét, đố kỵ. Bạc Cơ vì muốn né tránh mọi mâu thuẫn nên đã cầu xin được ra khỏi cung và về đất phong của con trai Lưu Hằng, được Thái hậu chấp thuận cho xuất cung, nhờ thế mà bình an yên ổn. Ở đất phong của con trai, tức Đại quốc, Bạc Cơ trở thành Đại Vương Thái hậu, sống hưởng phước con cháu đầy đàn.

Sau khi Hán Huệ đế và Lữ Thái hậu lần lượt qua đời, các quan trong triều lật đổ sự thống trị của gia tộc họ Lữ, bàn bạc xem nên đưa người con trai nào của Hán Cao Tổ lên ngôi, và cân nhắc đến cả vấn đề mẫu tộc của Tân đế không nên quá quyền lực để tránh tình trạng ngoại thích tiếm quyền tiếp tục tái diễn như thời Lữ Thái hậu, suy xét một hồi thì họ thấy Đại vương Lưu Hằng, con trai của Bạc Cơ là người phù hợp nhất.

Lưu Hằng lên ngôi, lấy hiệu Hán Văn đế, tôn phong mẫu thân làm Hoàng Thái hậu. Bạc Thái hậu chọn một đứa cháu trong gia tộc gả làm chính thất cho đứa cháu nội của bà, tức Thái tử Lưu Khải. Hán Văn đế băng hà, Thái tử Lưu Khải lên ngôi, lấy hiệu Hán Cảnh đế, tôn phong tổ mẫu làm Thái Hoàng Thái hậu. Bạc Cơ là người đầu tiên được phong làm Thái Hoàng Thái hậu trong lịch sử Trung Quốc.

Năm 155 TCN, Bạc Cơ qua đời. Thời nhà Hán chỉ có chính thất Hoàng hậu mới được phép hợp táng cùng Hoàng đế, còn phi tần thì không được và dù vị phi tần đó có là sinh mẫu của Hoàng đế thì sau khi qua đời cũng không được truy phong làm Hoàng hậu. Thế nên Bạc Cơ chỉ được gọi là Bạc Thái hậu hoặc Văn đế Thái hậu, được an táng ở Bạc lăng, thuộc Bá lăng – nơi chôn cất của người con trai bà là Hán Văn đế. Đến thời Hán Quang Vũ đế Lưu Tú, Bạc Cơ được truy tôn làm Cao Hoàng hậu, được hợp táng cùng Hán Cao Tổ trong Trường lăng, còn mộ của Lữ Thái hậu bị dời khỏi Trường lăng.

Hậu cung Trung Hoa xưa luôn có những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện ấy lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về vùng đất “đặc biệt” này. Hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc để tự mình khám phá được nhiều điều thú vị hơn nhé!