Kẹo râu rồng – món tráng miệng ngọt ngào của người Trung Hoa

Trung Quốc có nền ẩm thực vô cùng phát triển, đặc biệt là ẩm thực đường phố. Chỉ riêng các loại bánh kẹo của đường phố Trung Quốc cũng đã vô cùng đa dạng, nào kẹo hồ lô, bánh quẩy, bánh hành chiên… Và nếu là một người mê mẩn những món ngọt của Trung Quốc, kẹo râu rồng, một món ăn đường phố phổ biến tại đây luôn là sự lựa chọn thú vị dành cho du khách.

Trước đây, kẹo râu rồng (龍鬚糖) vốn nổi tiếng là một món tráng miệng ngọt ngào được thịnh hành trong hoàng cung và luôn nằm trong danh sách các món ăn được nhà vua yêu thích. Tương truyền, vào thời nhà Hán, món kẹo này chỉ có Vua mới được ăn. Mỗi khi nhà vua thưởng thức thì những sợi kẹo dính quanh miệng mình và những đại thần đều trêu đùa nhà vua mới mọc thêm râu. Từ đó, cái tên “kẹo râu rồng” được sử dụng để gọi món kẹo này cho tới bây giờ.

Nếu như từ khi mới ra đời, kẹo râu rồng chỉ được lưu hành trong cung cấm và phục vụ tầng lớp quý tộc, thì cho đến năm 1911, sau sự sụp đổ của chế độ nhà Thanh, món kẹo này đã dần vượt qua Tử Cấm Thành và phổ biến hơn trong tầng lớp bình dân. Cứ như vậy, kẹo râu rồng trở thành một phần của ẩm thực đường phố cho đến ngày nay.

Kẹo râu rồng không chỉ đơn thuần là một món tráng miệng mà còn là cả một nghệ thuật thủ công truyền thống của Trung Hoa. Bởi vậy mà dù đã trải qua một thời gian dài tồn tại trong lịch sử nhưng nó vẫn luôn là món kẹo được yêu thích.

Để làm kẹo râu rồng, người ta chỉ cần những nguyên liệu khá đơn giản bao gồm: đường mật maltose (mạch nha), bột, lạc rang,… nhưng bí quyết làm nên món này mới chính là trọng điểm thu hút nhiều sự quan tâm của các thực khách. Để có được những chiếc kẹo hấp dẫn này, người ta sẽ phải làm qua rất nhiều công đoạn tỉ mỉ và cực kì khéo léo.

Đầu tiên, người đầu bếp phải thắng đường cho đặc dính lại rồi nặn thành từng khoanh tròn với độ lớn vừa phải. Sau đó họ sẽ bắt đầu kéo giãn kẹo trong bột khô để có thể tạo ra những sợi chỉ dễ dàng mà không bị dính vào nhau.

Công đoạn công phu nhất trong việc làm kẹo này chính là việc gấp và kéo sợi. Việc quấn đôi vòng kẹo hay kéo sợi được thực hiện lặp đi lặp lại rất nhiều lần. Thậm chí có nơi người thợ làm kẹo còn cho biết quy trình quấn đôi vòng kẹo này vượt quá cả 16.000 vòng. Biết được số lượt vòng kẹo phải gấp đôi thì chắc chắn du khách sẽ không còn ngạc nhiên khi thấy các thớ kẹo bắt đầu tơi ra như sợi chỉ mảnh mai.

Sau khi kẹo tơi ra thì người ta chỉ việc cắt kẹo thành từng khúc vừa phải rồi cho hỗn hợp đậu phộng nghiền, mè, đường hoặc dừa vào rồi dùng nĩa/tay để se kẹo lại như một cái kén trắng.

Màu sắc phổ biến nhất của kẹo râu rồng chủ yếu là màu trắng, thế nhưng ngày nay, để những viên kẹo bắt mắt và hợp sở thích của nhiều người hơn, người ta thường làm ra những viên kẹo đủ màu sắc như hồng, xanh, nâu, vàng… Khi thưởng thức và chỉ cần cắn một miếng nhỏ thôi, thực khách cũng sẽ cảm nhận kẹo tan ra ngay khi chạm vào đầu lưỡi, tan tỏa vị ngọt ngào của mạch nha kèm theo nhân đậm đà trong miệng.

Kẹo râu rồng trông tưởng chừng rất đơn điệu nhưng thật ra lại thu hút người qua lại bởi không chỉ các công đoạn thực hiện đẹp mắt và công phu mà đây còn là món ăn vặt khá ngon miệng, hợp khẩu vị của nhiều người, nhất là đối với người hảo ngọt.

Nếu có dịp du lịch Trung Quốc, kẹo râu rồng là một món ăn đường phố mà du khách nhất định phải thưởng thức. Vừa nhìn những người thợ khéo léo tạo ra chiếc kẹo tỉ mỉ vừa cắn một miếng “ngọt ngào” sẽ là trải nghiệm vô cùng thú vị dành cho du khách đấy!

9 loại nước sốt – “linh hồn” của ẩm thực Trung Hoa

Trung Quốc là một quốc gia rộng lớn với nền ẩm thực vô cùng phong phú. Nơi đây có rất nhiều món ăn ngon đã làm hài lòng du khách mỗi bữa ăn. Các món ăn này sở dĩ cuốn hút du khách cũng bởi được nêm nếm hoặc dùng kèm với các loại nước sốt thơm ngon.

Một bữa ăn “thô” – nghĩa là chỉ có thức ăn mà không có bất kì loại sốt hoặc nước chấm nào ăn kèm – sẽ có mùi vị món ăn giảm hẳn độ ngon. Hẳn ai trong chúng ta cũng từng xuýt xoa, gắp không ngưng đũa khi dùng các món ăn có vị sốt hấp dẫn. Có thể nói, nước sốt là linh hồn của các món ăn giúp kích thích vị giác của thực khách một cách tinh tế, khiến người dùng đắm chìm trong hương vị của món ăn.

Có thể nói, nước sốt là linh hồn của các món ăn, giúp món ăn vừa đậm đà lại vừa bắt mắt. Nước sốt khá đa dụng. Bên cạnh công dụng thổi bùng hương vị món xào, nước sốt còn dùng để trộn với mì ăn ngay hoặc chấm Dimsum thay thế nước tương đều để lại hậu vị đặc biệt.

Nói về sốt tại châu Á, nền ẩm thực Trung Hoa gần như được xếp lên hàng đầu vì sự phối hợp đầy sáng tạo các nguyên liệu với nhau để chế biến ra rất nhiều loại sốt làm phong phú món ăn. Trong số đó, 13 vị sốt tiêu biểu được ưa chuộng hiện nay chính là: Xì dầu, Sốt sa tế, Sốt tiêu đen, Sốt dầu mè, Sốt dầu hàu, Sốt tương đen, Sốt mận, Sốt XO, và Sốt Jim Bang.

Xì dầu

Xì dầu hay còn gọi là nước tương được bắt nguồn từ phương pháp ủ lên men truyền thống của Trung Quốc từ nhiều năm về trước. Nếu du khách có xem bộ phim “Bão táp gia tộc” của TVB – một bộ phim nói về cách nấu xì dầu của Trung Quốc thời xưa thì du khách sẽ hình dung được sự công phu của mỗi lu ủ xì dầu.

Với người Hoa, xì dầu không chỉ được sử dụng trong các món ăn nấu chín mà còn được dùng để tạo hương vị thơm ngon cho thực phẩm tươi sống. Tại đa số các nhà hàng Trung Hoa đều dùng xì dầu thay cho gia vị khi chế biến món cơm rang giúp món cơm tỏa mùi thơm đặc trưng và trở nên vô cùng hấp dẫn. Một bí quyết trong phong cách nấu ăn của người Hoa là họ thường dùng xì dầu nhạt để tạo hương vị và xì dầu đậm để tạo màu cho món ăn.

Sốt sa tế

Trung hoa vốn nổi tiếng đặc sản ớt, đây cũng chính là lý do mà sốt sa tế được mệnh danh là “linh hồn” của ẩm thực Trung Hoa. Vị cay ấm nóng của sốt sa tế khiến người dùng cảm thấy khoan khoái khi thưởng thức bữa ăn, đặc biệt là vào những ngày thời tiết se lạnh.

Làm từ ớt và muối, với tỏi và gia vị khác, người Hoa có thể dùng loại sốt này để tẩm ướp tất cả các món thịt, cá để tăng thêm hương vị cay nồng cho món ăn. Bởi vậy, sốt sa tế rất kích thích vị giác.

Sốt tiêu đen

Vừa nồng vị, vừa ấm nóng – sốt tiêu đen được xếp vào danh sách top 3 loại sốt được yêu thích nhất hiện nay. Khác với sốt sa tế, vị cay the nhè nhẹ của sốt tiêu đen khiến người dùng cảm thấy khoan khoái khi thưởng thức bữa ăn. Khi dùng bữa, người ăn dù có thưởng thức món nhiều dầu mỡ cũng không thấy ngấy vì có vị tiêu điều tiết hương vị ở mức vừa đủ.

Sốt tiêu đen the nồng không ngừng kích thích vị giác vì chứa nhiều gia vị giúp “dậy mùi” món ăn: tiêu đen, bơ lạt, hành tím, dầu hào thượng hạng.

Sốt dầu mè

Chỉ cần một lượng nhỏ “dầu bóng tối” này cũng đủ khiến món ăn trở nên hấp dẫn hơn với mùi hương đầy mê hoặc. Sốt dầu mè được làm từ hạt mè rang rồi ép lấy dầu.

Trong ẩm thực Trung Hoa, dầu mè thường để thêm hương vị cho nước sốt, nước chấm và các món nấu chín. Tuy vậy, dầu mè nói chung không được sử dụng như một loại dầu ăn, vì hương vị mạnh hơn các loại dầu khác như dầu đậu nành, dầu đậu phộng, khi chiên xào bằng dầu mè sẽ làm át mùi của những nguyên liệu khác.

Sốt dầu hàu

Dầu hàu là một loại nước sốt sền sệt màu nâu, có vị ngọt, ban đầu được chiết xuất từ những con hàu nhưng ngày nay được làm theo kiểu công nghiệp với các nguyên liệu khác như muối, đường, nước, chất điều hương vị, hương hàu tổng hợp… Dầu hàu có công dụng chính là làm gia vị để chế biến món ăn, giúp món ăn tăng hương, tăng vị và trở nên hấp dẫn hơn.

Dầu hàu ra đời từ năm 1888 ở Quảng Đông, do một người tên là Lee Kam Sheung làm ra sau khi người này vô tình để quên một nồi hàu nấu chín trong nước muối. Lee Kam Sheung thấy rằng mặc dù nồi hàu có mùi khét nhưng hương vị lên men lại rất đặc biệt. Sau này, Lee thành lập công ty chuyên sản xuất dầu hào và nước sốt gia vị, trở thành doanh nhân và phát triển thương hiệu ra toàn thế giới, chính vì vậy dầu hào mới phổ biến như hiện nay.

Sốt tương đen

Sốt tương đen hay Hoisin là tên gọi để chỉ loại sốt có màu nâu sậm, hơi quánh đặc, vị ngọt nhẹ và cay the. Loại nước sốt này được làm từ nước, đường, đậu tương, giấm trắng, gạo, muối ăn, bột mì, tỏi và ớt, cùng một số chất tạo màu và chất bảo quản. Tuy tên trong tiếng Trung của tương đen là “hải tiên tương” nghĩa là “nước tương cá biển”, nhưng trong thành phần của tương đen không có hải sản. Trong ẩm thực Trung Hoa, tương đen được dùng cho các món vịt quay Bắc Kinh, nem rán, và xá xíu. 

Sốt mận

Sốt mận có lẽ là món sốt độc đáo nhất trong số những loại vừa kể trên. Ở Trung Quốc, nước sốt mận với vị ngọt và chua được sử dụng trong các công thức nấu ăn hoặc làm sốt chấm đều ngon.

Sốt XO

Sốt XO được biết đến là một loại tương sò điệp, thơm ngậy vị hải sản. Tên gọi XO có nguồn gốc từ một loại rượu lâu năm được người dân Hồng Kông sử dụng trong các bữa ăn, tiệc liên hoan. Người Hồng Kông cũng quen dùng từ XO để chỉ chất lượng cao, xa xỉ, thượng hạng. Sốt XO được làm từ các loại nguyên liệu thượng hạng như: sò điệp, thịt heo muối, giăm bông thượng hạng, cá muối nguyên con, dầu nành, dầu ớt, dầu mè.

Sốt Jim Bang

Sốt Jim Bang là một trong những loại sốt nổi tiếng nhất Trung Hoa, xuất hiện trong nhiều món ăn, đặc biệt là hải sản. Hương vị đậm đà của nước sốt hòa quyện vào từng thớ thịt, làm tăng thêm vị ngọt và tươi của hải sản, khiến cho thực khách không thể cưỡng lại.

9 loại nước sốt kể trên đều có nhiều thú vị mang hơi hướng ẩm thực Trung Hoa rõ rệt. Nó không chỉ ngon đối với người dân địa phương mà ngày nay đã tiến ra ngoài biên giới để chinh phục những thực khách quốc tế. Nếu có dịp du lịch Trung Quốc, du khách đừng quên tìm mua những loại nước sốt để các món ăn thêm thơm ngon nhé!

Cơm chiên Dương Châu – tinh hoa ẩm thực xứ Trung Hoa

Trung Quốc nổi tiếng là một quốc gia có bề dày lịch sử. Cộng thêm vào đó là diện tích rộng lớn nên ẩm thực nơi đây khá đa dạng và phong phú với rất nhiều món đặc sản. Trong số đó, phải kể đến món Cơm chiên ở Dương Châu tuyệt hảo. Và có lẽ cũng vì xuất phát từ Dương Châu nên người ta gọi luôn món ăn là Cơm chiên Dương Châu.

Cơm chiên Dương Châu, hay gọi bóng bẩy hơn là “cơm chiên vàng bạc” là một món ăn đã vượt xa biên giới Trung Quốc để trở nên nổi tiếng trên toàn thế giới. Đây là một trong những món cơm chiên được yêu thích nhất trên thế giới, ngon, rẻ và bất cứ ai cũng có thể làm được. Hầu như tất cả các nhà hàng Trung Quốc trên khắp thế giới đều phục vụ món ăn này trong thực đơn của nhà hàng mình.

Cơm chiên Dương Châu bắt nguồn là một món ăn gia đình của Trung Quốc, được chế biến từ cơm nguội và các thực phẩm còn thừa lại ở bếp và sau mỗi bữa ăn. Nguồn gốc của món ăn nổi tiếng này vẫn còn gây ra rất nhiều tranh cãi.

Một số nguồn thông tin cho rằng: sơ khai của cơm chiên Dương Châu là món cơm chiên với trứng. Hoàng đế nhà Tùy đã truyền bá món cơm chiên này tới Dương Châu, khi ông vi hành qua đây. Một số người lại tin rằng cơm chiên Dương Châu bắt nguồn từ dân gian.

Theo nghiên cứu của các học giả, ngay từ thời Xuân Thu, những người chèo thuyền trên kênh đào Dương Châu đã bắt đầu ăn cơm chiên trứng. Vào thời đó, cuộc sống còn khổ cực, nếu cơm thừa của ngày hôm nay sẽ được dành cho bữa trưa hôm sau. Họ chiên cơm với trứng cùng hành lá xắt nhỏ, món này gọi là Cơm chiên trứng.

Đến thời nhà Minh, các đầu bếp Dương Châu đã cho thêm vào món cơm chiên trứng một số loại gia vị khác để làm tăng mùi vị cho món ăn và tạo thành món Cơm chiên Dương Châu. Sau đó, đến thời Gia Khánh của nhà Thanh, Y Bỉnh Thụ bắt đầu thêm thịt nạc, tôm,… sau đó chiên với trứng cho một hương vị mới ngon hơn. Từ đó, món ăn này được truyền bá khắp nơi. Và trở nên nổi tiếng khắp Trung Quốc và cả thế giới.

Ngày nay, ở Trung Quốc, Cơm chiên Dương Châu thường được chọn làm khai vị trong các bữa tiệc, bữa ăn. Với nguyên liệu dễ dàng, chế biến nhanh chóng mà hương vị thơm ngon nên được nhiều người yêu thích. Các nguyên liệu khá phong phú. Trước hết, nguyên liệu không thể thiếu là gạo được chọn lựa cẩn thận để nấu thành cơm, cơm phải có độ săn chắc, độ bóng đầy đủ, đặc biệt là cơm phải tơi, mịn, không bị nát, không bị dính. Thịt heo nướng, vị ngọt nhẹ đặc biệt là một thứ nguyên liệu khác không thể thiếu được trong món Cơm chiên Dương Châu. Tuy vậy, ở một số nơi, thịt đùi heo được dùng thay cho thịt heo nướng. Bên cạnh đó phải còn có cà rốt, giá, cần tây, đậu phụ, đậu quả, trứng và một số loại thịt như tôm, thịt gà. Cơm được chiên bằng dầu thực vật hoặc mỡ động vật để giúp cho hạt cơm không bị dính và có mùi thơm ngậy.

Trứng đem lại màu vàng óng cho món cơm. Màu vàng nâu và một chút mặn được tạo bởi nước tương. Thêm hạt tiêu và nước sốt, món cơm sẽ có vị cay vừa phải, đậm đà mà rất dễ chịu. Hành và tỏi càng làm dậy lên mùi thơm hấp dẫn sẵn có. Ngoài ra, cũng có thể cho thêm hải sâm, đậu xanh, hành tăm và thịt đùi tuỳ theo sở thích của mỗi người để cơm chiên thêm phần quyến rũ và bổ dưỡng.

Chính sự kết hợp hài hòa của các nguyên liệu có trong món Cơm chiên Dương Châu mà làm cho món ăn không chỉ có hương vị thơm ngon mà còn có màu sắc rất bắt mắt nữa. Sắc tố trong món Cơm chiên Dương Châu đã thể hiện sự tương quan của tử vi ngũ hành âm khí và dương khí vô cùng rõ ràng. Người Trung Quốc thường rất xem trọng tử vi, chính vì vậy mà trong mỗi món ăn người ta cũng thường vận dụng quan niệm âm khí và dương khí tử vi ngũ hành để thực hiện món ăn. Như vậy mà món Cơm chiên Dương Châu không chỉ tạo được mùi vị ngon miệng, thơm ngon, hấp dẫn mà còn làm cân bằng âm khí và dương khí trong cơ thể con người. Cụ thể hơn, Cơm chiên Dương Châu là món ăn thơm ngon lại rất tốt cho sức khỏe. Nó cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho một bữa ăn, cung cấp cả chất đạm, chất béo, vitamine cho cơ thể mà không cần thêm ăn kèm thức ăn khác. Vì thế, Cơm chiên Dương Châu không những là món ăn ngon bổ dưỡng mà còn rất tiện lợi để thưởng thức. Múc muỗng Cơm chiên Dương Châu với màu sắc hấp dẫn của rau củ, cảm nhận vị thơm ngon tròn vị của các loại gia vị, vị bùi của các loại rau, vị béo ngậy thơm của trứng, dư vị để lại nhớ mãi không thôi.

Để món ăn không bị khô hay ngấy, thực khách có thể kết hợp ăn với dưa chuột, cà chua cắt lát hoặc các loại salad khác. Thêm chút xì dầu hoặc tương ớt sẽ làm món ăn ngon hơn nhiều. Hãy thưởng thức khi còn nóng để có thể cảm nhận được trọn vẹn hương vị thơm ngon đặc trưng của món Cơm chiên Dương Châu!

Du khách hãy du lịch Trung Quốc và đắm chìm trong những món ẩm thực đơn giản mà ngon đến tuyệt vời như món cơm chiên Dương Châu nhé! Chúc các du khách có một chuyến đi vui vẻ và thú vị!

Bún ốc – đặc sản “nặng mùi” kén người ăn của vùng đất Liễu Châu, Trung Quốc

Cũng giống như trái sầu riêng khét tiếng, món Luosifen (bún ốc) đã tạo được tiếng vang trên mạng xã hội của đất nước Trung Quốc nhờ mùi hương mạnh mẽ của nó. Một số người ví von bún ốc như một loại “vũ khí sinh học” vì không thể chịu đựng được mùi vị của món ăn.

Bún ốc có nguồn gốc từ Liễu Châu – một thành phố thuộc tỉnh Quảng Tây, phía bắc Trung Quốc. Luosifen được ví von như “sầu riêng của các loại bún phở”, dù “nặng mùi” nhưng lại là món ăn yêu thích của rất nhiều người. Thậm chí với nhiều tín đồ của món ăn này, vị chua nhẹ và sự kết hợp hoàn hảo của các nguyên liệu trong món bún ốc đã “lấn át” luôn “mùi khó ngửi” và vô cùng gây nghiện.

Mặc dù có tên gọi là bún ốc nhưng thực tế một tô bún không hề có sự góp mặt trực tiếp của ốc. Người ta chỉ sử dụng ốc sông để tạo ra hương vị cho phần nước dùng của món ăn này. Ngoài ra, ở nước dùng còn được hầm từ xương heo hoặc bò, măng ngâm chua. 

Một tô bún ốc thường là sự kết hợp của nhiều nguyên liệu địa phương như: măng, đậu que ngâm chua, lạc rang, váng đậu, rau… người ta cũng có thể thêm vào nhiều nguyên liệu tuỳ vào sở thích như nấm hương, tôm… Sau khi sắp xếp các nguyên liệu vào tô, phần nước dùng có mùi khá nồng, cay nóng và chua nhẹ sẽ được chan vào để tạo thành một tô bún ốc hoàn chỉnh. 

Trong khi ốc có thể được coi là thành phần lạ nhất trong món Luosifen (dù chỉ để tạo nên hương vị nước dùng), thì măng chua lên men (Suan Sun) là nguyên liệu thổi hồn cho món bún này. Suan Sun khiến món bún ốc có “mùi đặc biệt”, thế nhưng đó cũng là nét thu hút nhất của món ăn.

Để măng giữ được độ tươi ngon nhất, những người nông dân ở vùng ngoại ô Liễu Châu phải thức dậy trước bình minh để thu hái. Họ chọn phần ngọn vừa trồi lên khỏi mặt đất, cẩn thận cắt bỏ các chồi phía trên thân rễ. Măng sau đó được gọt sạch vỏ, thái sợi và ngâm trong dung dịch ít nhất 2 tháng. Nước ngâm là sự pha trộn giữa nước suối Liễu Châu và nước ngâm măng lâu năm. Mỗi mẻ măng mới chứa từ 30 đến 40% lượng nước ngâm cũ. Quá trình lên men không chỉ đòi hỏi thời gian mà cũng cần được theo dõi một cách cẩn thận. Sau khi thành phẩm măng vẫn giữ được đồ giòn và vị chua “gây nghiện” vô cùng.

Bên cạnh măng chua, sợi bún để làm món bún ốc cũng khá đặc biệt, được làm từ gạo, to và có độ dai nên người ăn có thể ăn được khá nhiều mà không thấy ngán. Ngoài ra, phần nước dùng làm từ ốc có vị chua chua cay cay giúp món bún ốc khá trọn vị.

Một tô bún ốc sẽ có vị chua cay của nước dùng, vị chua chua giòn giòn của măng ngâm, vị bùi của lạc rang… có thể khiến nhiều người ngại ngùng không dám thử, thế nhưng một khi đã thử qua, chắc chắn sẽ bị hấp dẫn và “mê mệt”.

Với thông tin về món bún ốc “đặc biệt” mà chúng tôi vừa chia sẻ trên đây chắc hẳn du khách đã rất nóng lòng muốn du lịch Trung Quốc và thưởng thức nó rồi phải không? Hãy xách balo lên và đi và tận hưởng thôi nào. Chúc các du khách có một hành trình trải nghiệm đầy tuyệt vời!

“Thập Đại Danh Trà” của vùng đất Trung Hoa

Trung Quốc được biết đến là vùng đất sản xuất ra nhiều loại trà quý với chất lượng tuyệt hảo làm say đắm biết bao con tim của dân sành trà. Những thức uống như trà Thiết Quan Âm, trà Phổ Nhĩ, trà Long Tỉnh, trà Trinh Nữ,… đã đi vào lịch sử Trung Hoa, trở thành vật phẩm tiến vua “chân ái” và thanh tao nhất.

Trà Thiết Quan Âm

Đâu đó trong các bộ phim Trung Quốc, du khách hay nghe các nhân vật nhắc đến cái tên Thiết Quan Âm như một bảo vật quý giá và chất lượng nhất. Nó được xếp vào hàng “Thập Đại Danh Trà”. Thật vậy, trong đời sống văn hóa của người dân Trung hoa, loại trà này rất tốt cho sức khỏe và được dùng để làm quà biếu trong các dịp lễ tết. Trà Thiết Quan Âm có từ thế kỷ 19 được sản xuất nhiều tại vùng An Khê, Phúc Kiến.

Ngày nay, có nhiều địa phương sản xuất trà Thiết Quan Âm nhưng An Khê vẫn là nổi tiếng nhất. Tương truyền vào thời vua Càn Long tại một ngôi đền bỏ hoang thuộc trấn Tây Bình, An Khê có thờ cúng một bức tượng Quan Âm Bồ Tát. Một người dân nghèo tên Wei để tỏ lòng thành kính với tượng Phật đã thường xuyên đến đây quét dọn, thắp hương trong nhiều năm liền. Vào một đêm Wei nằm mơ thấy Quan Âm Bồ Tát nói về hang động sau đền thờ đang ẩn chứa kho báu. Theo lời dặn, Wei tìm được một cây trà và đã hái về chế biến. Sau khi cảm nhận được hương vị đậm đà của lá trà, Wei đã mang cây về để trồng và chăm sóc. Ông mời hàng xóm nếm thử và cho giống về gieo trồng. Từ đó, trà Thiết Quan Âm ra đời nổi danh khắp thiên hạ. Trà sau đó được tiến cung để phục vụ cho các triều đại hoàng đế nhà Thanh.

Trà Thiết Quan Âm có sợi cong, tròn đầy đặn xoắn chắc vào nhau trông rất đẹp. Cánh trà có màu xanh lục, nhỏ nhắn được thu hái cẩn thận trước khi bắt tay vào chế biến. Trà pha với nước sôi có mùi thơm nhẹ, nước trà ngả màu vàng tươi đậm, mang mùi thơm tự nhiên của hoa lan. Khi thưởng thức trà có vị dịu ngọt nơi đầu lưỡi tan nhanh trong miệng đậm đà và hấp dẫn vô cùng. 

Trà Đại Hồng Bào

Phúc Kiến không chỉ có Thiết Quan Âm mà còn có Đại Hồng Bào. Đây là một trong “Thập Đại Danh Trà” nổi tiếng với chất lượng tuyệt vời, mang hương hoa ngào ngạt, dai dẳng, vị trà dịu ngọt đượm hương lan. 

Trà Đại Hồng Bào xuất hiện vào thế kỷ 18 tại Vũ Di Sơn – thành phố với truyền thống sản xuất trà, là nơi sản sinh ra các loại trà ngon nhất. Theo dân gian xưa kể lại, triều nhà Đường ở Trung Quốc, Đại Hồng Bào được dùng làm quà tặng. Đến thời nhà Nguyên, trà được chọn là một trong những cống phẩm thượng hạng để tiến vua. Trải qua nhiều triều đại khác nhau đến đời Vũ Nguyên Tông, xưởng sản xuất và chế biến Đại Hồng Bào dành cho hoàng tộc được xây dựng nhằm đem đến các sản phẩm chất lượng nhất. Đến đời vua Khang Hy, loại trà này trở nên phổ biến, được xuất khẩu sang các nước Đông Nam Á, Bắc Mỹ và Tây Âu.

Đại Hồng Bào được chế biến từ búp của những cây cổ thụ. Trà Đại Hồng Bào hiện tại có thể thu hoạch quanh năm nhưng chủ yếu vẫn là ba mùa xuân, hạ và thu. Mùa đông trà sẽ được thu hái ít hơn do điều kiện thời tiết. Trà khi thu hoạch tại thời điểm khác nhau sẽ cho ra đời chất lượng riêng biệt. Trong đó, trà thu hái vào mùa xuân sẽ có mùi thơm đặc biệt nhất. Lúc này tỷ lệ sâu bệnh trên lá trà được giảm thiểu rõ rệt.

Quy trình sản xuất trà Đại Hồng Bào được thực hiện rất nghiêm ngặt, tỉ mỉ với công nghệ chế biến trà truyền thống từ xưa. Vào những ngày xuân nắng ráo, những người thợ lành nghề sẽ chọn lọc và hái những búp trà ngon, chất lượng nhất để vận chuyển đến khu vực chế biến. Quy trình sản xuất trà Đại Hồng Bào được kết hợp giữa công nghệ sản xuất trà xanh và trà đen. Đây là quá trình sản xuất trà khá phức tạp, nó đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao. Quá trình sản xuất cơ bản bao gồm: làm héo lá trà; lắc, tung lá trà; oxy hóa lá trà từ 50-60%; cán lá trà; sao trà;…

Trà sau khi pha có màu đỏ cam, hương vị thơm ngon ngọt ngào rất tốt cho sức khỏe. Khi thưởng thức, du khách sẽ cảm nhận được cái vị chát nhẹ cuộn sánh, ngọt ngào nơi đầu lưỡi.

Trà Long Tỉnh

Trà Long Tỉnh là một trong những “danh trà” của thành phố Hàng Châu thủ phủ của tỉnh Chiết Giang. Trà được trồng ở vùng núi Long Tỉnh có nghĩa là Giếng Rồng gần Tây Hồ nơi thời tiết mát mẻ, sáng sớm thường có sương phủ do hơi nước từ hồ bốc lên. Hương trà Long Tỉnh thơm dịu, trà đắng nhưng dư vị ngọt ngào trong cổ và người ta cho rằng trị được nhiều chứng bệnh. 

Trước đây loại trà này chỉ dùng cho các các bậc vua chúa. Vào thời Mãn Thanh, Trà Long Tỉnh được Càn Long Đế phong là Hoàng Trà, là trà biểu trưng cho hoàng đế. Tương truyền rằng, khi vua Càn Long vi hành đi đến đền thờ Hồ Công dưới đỉnh núi Sư Tử ở thôn Long Tỉnh vào một trong những ngày lễ nổi tiếng, ông đã được uống một tách trà Long Tỉnh. Thoạt đầu khi thử trà, vua Càn Long chưa ấn tượng… nhưng rồi một lúc sau ngài cảm thấy hậu vị thanh ngọt ngấm trong cổ và rất thích. Khi ông nhìn xuống một giếng nước gần đó và thấy bóng của cây trà lung linh dưới nước, giống hình một con rồng đang bay lượn trong giếng, nên Càn Long đặt tên là Long Tỉnh Trà.

Để chất dịp lục không bị phá huỷ và lá trà vẫn xanh, lá trà Long Tỉnh tươi sau khi chọn được hấp hoặc cho vào chảo sắt rang nóng với nhiệt độ đến nỗi đáy nồi có ám một lớp màu đỏ khoảng gần 200 độ C và đảo thật nhanh tay và sao lên để làm bay hơi nước trong lá trà trước khi chúng hoàn toàn khô để ngăn chặn quá trình oxy hóa tự nhiên, là quá trình do các hành động của các enzyme tự nhiên hiện diện trong mô của lá trà. Như các loại trà xanh hay trà trắng khác của Trung Quốc, lá trà Long Tỉnh không qua quá trình lên men như trà đen hay trà Oolong nên lá trà Long Tỉnh khi ngâm vào nước sinh ra màu vàng xanh lá cây, mùi thơm dịu, vị đậm, có chứa Vitamin C và Axít amin. Quá trình oxy hóa (lên men) là quá trình làm những lá trà tươi sau khi hái dần mất đi mùi vị và chất diệp lục của lá trà bị phá huỷ nên màu xanh của lá trà bị mất đi do sự oxy hóa enzyme của chất axít butyríc lá trà chuyển sang màu đỏ.

Trà Long Tỉnh có thể pha 5 lần mà vẫn còn hương vị, sắc trà có màu vàng tươi, hương trà thanh thoát, vị trà dịu ngọt có thể làm thứ nước giải khác bổ dưỡng, ngừa và chữa một số chứng bệnh. Ngoài ra, xác trà khô chưa pha rất dễ ăn, có vị thơm ngọt và giòn tan, nuốt vào rồi mà hương vị còn đọng ở cổ họng rất lâu. Trà Long Tỉnh được đóng hộp sang trọng, rất đắt tiền, riêng trà ở thôn Mai gia còn được xuất khẩu tại chỗ, trở thành món quà quý cho người thân, lãnh đạo… với hàm ý một món quà tốt cho sức khỏe và rất tịnh tâm.

Trà Ngân Châm

Ngân Châm là loại trà đại diện cho dòng trà trắng rất được ưa chuộng tại Trung Quốc. Loại trà này xuất hiện nhiều tại Đảo Quân Sơn, Nhạc Dương, Hồ Nam. Thời xưa đây vốn là nơi trú ẩn của rất nhiều đạo sĩ, được bao quanh bởi 72 đỉnh núi. Vua Minh Tông trong một hôm thiết triều được thái giám dâng cho chén trà quý với hương thơm dịu nhẹ, bọt nhỏ lăn tăn giống bông hoa tuyết. trà được pha bằng lông hạc để phục vụ vua. Hài lòng trước độ ngon của chén trà, vua Minh Tông đặt tên là trà Quân Sơn Ngân Châm. Chỉ có vua chúa mới được thưởng thức loại trà này.

Là loại trà của vua chúa, chắc chắn rằng Ngân Châm mang một sức hút đặc biệt làm say đắm biết bao con tim đam mê trà nghệ. Theo các nghệ nhân trồng trà chia sẻ, Ngân Châm sẽ nở vào tháng 6. Đây là lúc trà đạt được chất lượng tốt nhất. Thời điểm thu hái cũng phải là buổi sáng sớm mới có thể giữ được hết các chất dinh dưỡng và vị ngon của trà.

Quy trình thu hái được tuyển chọn tỉ mỉ, sau khi hái cách mà các nghệ nhân chế biến trà cũng công phu không kém. Theo đó người dân Phúc Kiến không sử dụng bất kỳ loại dụng cụ hay máy móc nào, toàn bộ quá trình sản xuất, sao và sấy trà được thực hiện bằng hai bàn tay.

Trà Ngân Châm chuẩn được chia thành hai loại chính là trà búp và trà tơ. Thông thường thì những cây trà mọc ở phía đông của đảo Quân Sơn sẽ có chất lượng tốt hơn khi chúng đón được các tia nắng ban mai, sương đọng trên lá sẽ làm giảm lượng tơ trên thân. Trà trồng phía tây sẽ chịu cường độ ánh sáng mạnh hơn và ban đêm sẽ có nhiều sương nên búp sẽ rất nhiều tơ. Trà Ngân Châm không chỉ phổ biến ở Trung Quốc mà còn rất được lòng trà nhân đất Việt. Nước trà trong, hương thơm nhẹ, hơi chát rất phù hợp với những ai có sở thích thưởng trà.

Trà Phổ Nhĩ

Trà Phổ Nhĩ là đặc sản xuất xứ từ Phổ Nhĩ, tỉnh Vân Nam, có mùi vị khá giống với chè đen của Việt Nam nhưng nhờ cách chế biến công phu, nó không giống với bất kỳ loại trà nào khác và vì thế hấp dẫn du khách mỗi khi có dịp ghé ngang vùng đất này.

Loại trà này chỉ ở Vân Nam mới có. Tại Vân Nam, cây trà được trồng trên núi cao hàng chục năm rồi mới bắt đầu thu hoạch để chế biến. Sau khi tuyển những lá trà đủ chất lượng thì gốc trà vẫn được giữ nguyên, tiếp tục chăm sóc cho nhiều mùa sau bởi cây trà càng lâu năm thì sẽ càng cho ra loại trà thượng hạng. Có cây đến hàng trăm năm tuổi vẫn còn được sử dụng tốt. Tuy nhiên, điểm mấu chốt để tạo nên sự khác biệt của trà Phổ Nhĩ không phải ở lá trà ngon hay dở mà nằm ở khâu chế biến thành phẩm. Người Vân Nam có câu: “Trà sống ngon dễ kiếm, trà chín tốt khó tìm”, ý chỉ để tạo ra một bánh trà đủ chất lượng thì phải tốn nhiều công sức, nhiều năm.

Lá trà Phổ Nhĩ được lên men hoàn toàn ở trạng thái rắn và khô, tách hết nước trong lá trà, nhưng giữ lại các vi sinh vật có trong lá trà cổ thụ để chuyển loại bỏ hết chất xấu, giữ lại chất tốt trong lá trà. Quá trình lên men tự nhiên này rất tốn thời gian, có khi mất vài năm, nén lại thật chặt thành đủ hình dạng, phổ biến nhất là hình tròn với một lỗ hõm ở giữa mới tạo nên một bánh trà hoàn hảo. Đặc biệt, trà Phổ Nhĩ sau khi lên men đạt tiêu chuẩn thì càng để lâu, càng ngon, càng đắt tiền.

Trà ngon và đủ chất lượng phải bảo có hương thơm trầm dịu, hậu vị sâu. Chất dinh dưỡng trong lá trà phải phong phú, nước trà đậm, khí trà mạnh mẽ và giữ được hương rất lâu trong miệng.

Có hai loại trà Phổ Nhĩ: giảm cân và thanh lọc cơ thể. Trà Phổ Nhĩ giảm cân có mùi thơm nhẹ, màu hồng trông đẹp mắt. Trà Phổ Nhĩ thanh lọc có màu hơi nâu và mùi hơi giống mùi khai.

Ngày nay, trà Phổ Nhĩ phân bố chủ yếu tại Lâm Thương và Tây Song Bản Nạp của Vân Nam với những hãng trà gia truyền nổi tiếng như Lão Ban Chương, Di Vũ, Băng Đảo, Tích Quy… Thú vui của người Vân Nam là ngồi đàm đạo, thẩm trà cùng khách thập phương. 

Kỳ Môn Hồng Trà

Kỳ Môn Hồng Trà thuộc loại trà đen có tiếng ở Kỳ Môn (An Huy), là cực phẩm trong các loại hồng trà (Điền Hồng), thường được gọi là “Hồng trà Hoàng Hậu”.

Trà được trồng ở nơi có nhiều mây mù, sương trắng bao phủ bốn mùa. Đặc điểm của loại trà này là có lông vàng bao quanh cánh trà, do trà được làm từ búp trà của cây trà cổ thụ. Do búp trà cổ thụ có nhiều lông trắng bao quanh, nên khi chế biến thì những lông trắng này biến thành màu vàng rất đẹp mắt. 

Kỳ Môn Hồng Trà cho nước màu đỏ hồng, phảng phất hương hoa đào, hậu vị thanh ngọt. Đây là loại trà lên men trong quá trình hái, ủ và sấy. Các bước sản xuất trà đều được tính toán rất cẩn thận như phải chọn lá không quá non cũng không quá già, tốt nhất là một mầm nhị, ba mầm lá, rồi còn trải qua giai đoạn héo điêu, xoa vê, bán lên men, sử mầm lá từ xanh biếc sang đỏ đồng, và còn rất nhiều giai đoạn sau nữa.

Kỳ Môn Hồng Trà nổi tiếng trong việc làm đẹp và chăm sóc sức khoẻ: giải khát, giảm nhiệt, lợi tiểu, giải độc, kháng u, giảm nguy cơ huyết áp, giảm căng thẳng, nâng cao tinh thần.

Trà Bích Loa Xuân

Được mệnh danh là đệ nhất trà xanh, trà Bích Loa Xuân (hay còn gọi là “Bạch Trà Phổ Nhĩ”) mang màu xanh ngọc bích, hương thơm của trái cây và hương hoa hoà quyện. Đây cũng là loại trà được các vua chúa thời xưa vô cùng ưa thích.

Trà Bích Loa Xuân sinh trưởng ở núi Động Đình, huyện Ngô, thành phố Tô Châu, tỉnh Giang Tô, do đó còn có tên gọi “Động Đình Bích Loa Xuân”, nghĩa là: Mùi hương khiến người ta phải ngạc nhiên. Đặc điểm của Bích La Xuân là hương thơm nồng, do đó trong thời cổ đại bị dân chúng gọi là “Hách sát nhân hương”. Hoàng đế Càn Long nhà Thanh khi tới Giang Nam, quan phủ ở đó dùng trà này đón tiếp Càn Long, Càn Long nâng cốc lên chưa uống nhưng đã ngửi thấy mùi thơm xộc vào mũi, uống một ngụm liền khen danh bất hư truyền, nhưng Càn Long chê tên trà không hay nên đổi thành “Bích Loa Xuân” cho thơ mộng hơn.

Trà được trồng làm hai vụ, xuân và đông, chỉ hái búp non và làm héo trong nhà. Bích Loa Xuân có chứa nhiều chất dinh dưỡng nhất trong thập đại danh trà. Hàng loạt các chất như axit amin, protein, vitamin E, polyphenol, etc. có tác dụng chống ung thư, lão hoá, chống các bệnh tim mạch, tai biến mạch máu não, đái đường, tăng huyết áp, phòng chống sâu răng, thải độc cơ thể, làm đẹp da (đặc biệt là da mặt) và còn vô vàn những công dụng khác.

Trà Bích Loa Xuân có màu xanh ngọc bích, hình như con ốc biển, bốn phía có nhiều lông mao dày. Uống trà Bích Loa Xuân ngon nhất là dùng cốc thủy tinh, lá trà sau khi ngấm nước sẽ dần dần dãn nở, lúc nổi lúc chìm, lông trắng lộ ra giống như tuyết đang múa trong gió, vừa mang lại cho con người sự thưởng thức về xúc giác và vị giác, lại có cảm giác đẹp về mặt thị giác.

Trà Trinh Nữ

Bên cạnh những “danh trà” đình đám như Long Tỉnh, Thiết Quan Ân, Phổ Nhĩ,… Trà Trinh Nữ cũng nổi tiếng không kém. Có tên gọi khác là “Bỉ Lộ Xuân”, loại trà này không chỉ nổi tiếng bởi vị thơm ngon, thuần khiết mà còn do phương thức chế biến cầu kỳ và độc đáo.

Tương truyền, từ thời các hoàng đế triều đại Trung Quốc, trà Trinh Nữ được hái bởi những cô gái đồng trinh, mặc áo rộng và quần buộc túm lại ở ống. Vào đầu xuân, khi cây chè vừa ra lá non, các trinh nữ dùng miệng nhẹ nhàng hái những lá tươi ngon nhất, sau đó bỏ vào trong quần áo hoặc kẹp vào những chỗ kín (như ngực hoặc nách) và lấy ra vào ngày hôm sau. Người ta cho rằng, lá trà sau khi ngấm nước bọt lại được “ướp” bởi nhiệt độ và mồ hôi trong cơ thể các trinh nữ sẽ có hương vị đặc biệt thơm ngon, thuần khiết. Nó đưa người thưởng trà chạm tới những cung bậc cảm xúc thăng hoa nhất của thú chơi xa xỉ chỉ dành cho giới thượng lưu.

Nước pha trà phải là nước tuyết tan cất giữ lâu năm. Sau khi đun sôi, người ta cho thêm các loại hương liệu như hoa quế, bạch tùng hương, hoa kim tước, bách hợp, oải hương… 

Ngày nay, những cây chè dùng làm trà Trinh Nữ được trồng ở các trang trại trên dãy Động Đình San gần hồ Động Đình. Nơi đây có sương mù bao phủ quanh năm, khí hậu ôn hoà, rất phù hợp với cây chè và các loại hoa trái khác như đào, lê, mơ, táo… Vì vậy, vào mùa xuân là mùa hái trà, hương của các loại hoa quyện lấy lá chè ngay cả sau khi trà được sấy. Thực tế, hương vị đặc biệt của trà Trinh Nữ có được là do yếu tố này.

Trà Hoàng Sơn Mao Phong

Hoàng Sơn Mao Phong là một loại trà xanh trong “Thập Đại Danh Trà” nổi tiếng khắp Trung Quốc, có nguồn gốc từ khu Tân Minh Hương, Hoàng Sơn, An Huy. Sở dĩ Trà có tên là Hoàng Sơn Mao Phong vì được ghép lại từ tên của dãy núi Hoàng Sơn – nơi nó xuất xứ và từ Mao Phong. “Mao” có nghĩa là “lông”, ý chỉ là trà có nhiều tơ trắng. “Phong” trong câu thơ “Bạch hào phi thân, nha tiêm tự phong” ý chỉ đặc điểm hình dạng xanh biếc, mũi nhọn, chỉa lên trời như mũi kiếm của lá trà.

Trà Hoàng Sơn Mao Phong được phát triển từ năm 1998. Nó là một loại trà xanh tinh khiết từ thiên nhiên chất lượng cao, có mùi hương thơm lừng, thoang thoảng hương của vạn hoa, mùi vị thuần ngọt, hương thơm nồng nàng, như hương vị cây cỏ đơm chồi nảy lộc sau cơn mưa xuân, vương vấn nơi khoang miệng, thấm đẫm lạ thường. Nước trà Hoàng Sơn Mao Phong vàng nhạt, hơi trong suốt.

Quá trình thu hái và chế biến trà Hoàng Sơn Mao Phong được kết hợp cả 2 công nghệ sản xuất thủ công truyền thống và công nghệ cao để có được chất lượng trà tuyệt vời. Từ việc thu hái lá tươi, làm héo lá trà, sao trà, hong khô, tạo hình, cất giữ.

Trà sau khi được chế biến xong không chỉ duy trì các chất dinh dưỡng tự nhiên ban đầu, mà còn có đầy đủ màu sắc, mùi thơm, hương vị và hình dạng vô cùng đặc sắc.

Trà Lục An Qua Phiến

Lục An Qua Phiến là một loại trà thuộc dòng trà xanh (lục trà) trong “Thập Đại Danh Trà” nổi tiếng Trung Hoa. Trà được trồng trên đỉnh núi Đại Sơn vùng Lục An, An Huy, Phúc Kiến. Từng được xưng là “Lư Châu Lục An Trà” vào đời Đường, đến thời nhà Minh trà có tên gọi “Lục An Qua Phiến”. Đây là loại trà xanh được xếp trong nhóm thượng phẩm trà, cực phẩm trà dùng tiến cung trong triều đình, trở thành “Ngự Trà” thời cổ đại.

Cái tên Lục An Qua Phiến được ghép từ “Lục An” – địa danh nơi trà sinh trưởng và “Qua Phiến” – “Qua” nghĩa là dưa, “Phiến” theo nghĩa đen là lá cây. Sở dĩ đặt tên là Qua Phiến bởi hình dạng của cánh trà tựa như phiến lá của cây dưa, cây mướp, bề ngoài cánh trà cuốn tròn, xanh mướt, được bao phủ bởi lớp lông trắng mỏng nhẹ.

Được làm từ những lá non tươi mới, qua các giai đoạn chọn lọc và sao chế nghiêm ngặt, được thực hiện bởi những nghệ nhân trà có nhiều năm kinh nghiệm mới tạo thành những mẻ trà thơm lừng, phảng phất hương thơm từ gió và núi ở đỉnh Đại Sơn.

Lục An Qua Phiến có hình dạng khá đặc biệt, tựa như hình hạt dưa hoặc hình cánh quạt (phiến) đơn, bằng phẳng, rộng thoáng. Trà thành phẩm có cánh trà cuốn lại, nhìn rất đẹp và lạ mắt, màu sắc xanh biếc, kích thước đều đặn, không có gân lá cũng như trà ngạch. Khi pha trà mang mùi hương thơm ngát, không đắng chát, dư vị lâu dài. Nước trà trong xanh đẹp mắt, vị trà ngọt ngào mà không ngấy nồng, thuần hương, tư vị ngọt lành, tựa như cam lộ chốn thiên cung.

Nếu du khách là người thích thú với văn hóa đối ẩm và hương vị thơm ngon lưỡi sau mỗi lần nhấp những ngụm nước trà thì hãy book tour Trung Quốc của chúng tôi! Và du khách cũng đừng quên mua nó về làm quà tặng cho những người thân yêu của mình nhé!

Trứng Bắc Thảo – món ngon khó cưỡng của ẩm thực Trung Hoa

Trứng Bắc Thảo còn được biết đến với nhiều tên gọi: trứng Bách Thảo, Bách nhật trứng, Thiên niên bách nhật trứng. Đây là một đặc sản của Trung Quốc với vẻ ngoài đen đúa và khá nặng mùi. Dù vậy vị ngon đặc biệt của món ăn này vẫn điều bí ẩn khiến nhiều vị khách du lịch nước ngoài muốn khám phá.

Trong ẩm thực Trung Quốc, có vô số các món ăn ngon trứ danh có thể làm siêu lòng bất cứ ai. Dù vậy món Trứng Bắc Thảo vẫn được nhiều người biết đến và luôn nằm trong top những món ngon được lòng người dân địa phương cũng như du khách nước ngoài.

Không nhiều tài liệu lịch sử ghi chép về nguồn gốc cũng như chứng minh được sự ra đời của Trứng Bắc Thảo. Nhưng giới khoa học ước tính món ăn đã tồn tại khoảng hơn 500 năm và ban đầu xuất hiện ở các vùng nông thôn Trung Quốc. Tương tuyền, vào thời nhà Minh, một người nông dân vô tình tìm thấy những quả trứng vịt được bảo quản tự nhiên trong hố bùn có nước vôi. Quả trứng đã chuyển màu đen đúa. Tuy nhiên, một phần vì đói, một phần vì tò mò nên ông đã quyết định ăn thử quả trứng. Người nông dân vô cùng ngạc nhiên khi mùi vị trứng không hề đáng sợ mà trái lại còn rất thơm ngon. Sau khi về nhà, ông này đã thử làm nhiều hơn những quả trứng tương tự như vậy để ăn. Ông còn cho hàng xóm ăn thử và rồi dần dần món ăn độc độc đáo này bắt đầu phổ biến khắp Trung Hoa cho đến tận ngày nay.

Nhiều người phương Tây đã đặt tên cho Trứng Bắc Thảo là món “trứng trăm năm” hoặc “trứng ngàn năm”. Nguyên nhân là vì họ không thể lý giải được cách để quả trứng bình thường có thể chuyển thành màu đen và cho rằng vì để thời gian quá lâu mà quả trứng đã bị biến chất. Tuy nhiên, ít ai có thể biết được những công dụng thần kỳ của loại thực phẩm đặc biệt này. Trứng Bắc Thảo giàu vitamin A, bảo vệ hệ hô hấp, thúc đẩy hệ miễn dịch, tăng lượng hồng cầu trong cơ thể, phòng chống các bệnh về phổi và viêm hô hấp. Món trứng này còn có khả năng kích thích hồng cầu sinh trưởng, cầm máu, tốt cho những bệnh nhân có bệnh xuất huyết. Ăn Trứng Bắc Thảo giúp cải thiện các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa, sạch ruột, cầm tiêu chảy, bảo vệ mạch máu, tăng cường trí thông minh và bảo vệ đại não,… Ngoài ra, theo nhiều nghiên cứu cho thấy Trứng Bắc Thảo có chứa nhiều khoáng chất rất tốt cho hệ tiêu hoá, giúp giải nhiệt, giải rượu, cầm máu,…

Trứng Bắc Thảo có thể làm từ trứng vịt, trứng gà và trứng cút. Để chế biến ra món Trứng Bắc Thảo, người dân Trung Quốc ngâm trứng trong hỗn hợp bùn nhão được làm từ đất sét pha kiềm và nước, hoặc có thể dùng tro gỗ, vôi tôi, muối, nhằm duy trì thời gian ủ trứng lâu nhất. Lớp vỏ này có tác dụng ngăn ngừa vi khuẩn xâm nhập. Một cách khác là dùng hỗn hợp gồm 300gr bột trà xanh, 300gr bột vôi tôi, 900gr bột muối biển, 700gr bột tro gỗ (than gỗ sồi) pha với nước đun sôi tạo thành một dạng bùn nhão, phết lên bề mặt của trứng Bách Thảo. Sau đó lăn trứng qua một lớp mỏng bột vỏ trấu để hỗn hợp bện chặt vào nhau rồi cho trứng vào vại hoặc sọt bằng lụa để bảo quản. Trong khoảng 3 tháng, hỗn hợp bùn nhão sẽ tự động khô lại, lúc này trứng đã có thể dùng được. Trứng sau khi bóc bỏ lớp trấu và các nguyên liệu đắp ở ngoài vỏ thì vỏ trứng có màu đen trắng lẫn lộn như muối tiêu, đôi khi tạo những lớp hoa văn trên bề mặt trông rất đặc biệt.

Quả Trứng Bắc Thảo đạt chuẩn thường có lòng đỏ còn lỏng, màu vàng xanh, bao quanh là lớp lòng trắng đã chuyển màu nâu xanh. Lòng đỏ Trứng Bắc Thảo có mùi hăng, sốc, hơi khai, vị the và béo. Lòng trắng ít mùi vị hơn. Món này tương đối khó ăn, nếu ăn không quen sẽ có thể khó chịu. 

Trứng Bắc Thảo sau khi bóc vỏ có thể ăn ngay mà không cần chế biến cầu kỳ. Trứng rất ngậy, mềm mọng, thường được ăn kèm với gừng hồng.

Nó như một món đồ nguội ăn khai vị và được ưa chuộng tại nhiều nơi. Người Quảng Đông thường bọc xung quanh từng lát Trứng Bách Thảo với nhiều lát gừng xắt mảnh. Người Thượng Hải băm trộn Trứng Bách Thảo với đậu phụ. Ở Đài Loan, người ta thái Trứng Bách Thảo thành từng lát, kế đó phủ lên mặt trứng đậu phụ lạnh với nước sốt Katsuobushi và dầu mè, tương tự như món Hiyayakko của người Nhật Bản. Còn ở miền Bắc Trung Quốc, người ta phủ đậu phụ lạnh lên bề mặt trứng, thêm vào một ít gừng non xắt sợi nhuyễn, hành củ băm nhừ và rưới lên trên cùng một hỗn hợp nước sốt đậu nành hoặc dầu mè. Ngoài ra, Trứng Bắc Thảo còn được dùng như nguyên liệu làm bánh, làm điểm tâm và nhiều món khác. 

Du khách có thể ăn Trứng Bắc Thảo vào bất cứ thời điểm nào trong ngày, từ bữa sáng, bữa trưa tới món ăn vặt, khai vị,… Nếu có dịp du lịch Trung Quốc, du khách đừng quên thưởng thức món ăn đặc biệt này nhé!

Du lịch Trung Quốc, thưởng thức món bánh “trăm tuổi” Shibajie Mahua

Ẩm thực Trung Quốc được đánh giá là hấp dẫn và phong phú bậc nhất thế giới. Ngoài Dimsum, sủi cảo, vịt quay,… đã quá nổi tiếng thì các loại bánh đường phố ở đây cũng đã góp phần tô điểm vào bức tranh ẩm thực đầy màu sắc. Trong đó, phải kể đến món bánh độc đáo đã có “số tuổi” hơn mấy trăm năm, mang tên “Shibajie Mahua”.

Shibajie Mahua hay còn được biết đến với các tên gọi như “bánh xoắn chiên”, “bánh dây thừng”, là một trong những đại diện đặc sắc nhất của ẩm thực Thiên Tân, được xếp vào hàng “Thiên Tân tam nguyệt”, xuất hiện từ cuối thế kỷ 19. Mang dấu ấn địa phương, chúng được làm thủ công tại những gian hàng lề đường và bất kì ai đến đây cũng được giới thiệu là nên một lần thử món ăn này.

Món bánh này được rất nhiều người ưa thích không chỉ bởi hương vị hấp dẫn mà còn bởi dáng vẻ cực kỳ độc đáo và lạ mắt. Bề ngoài chiếc bánh trong giống như một sợi dây thừng to tròn. Một phần cũng vì chúng có thành phần là những sợi bột được xoắn đều chứa nhân bên trong, cùng với đó là độ dài đáng kể nên nhiều người đã có sự so sánh thú vị như thế.

Để tạo nên những chiếc bánh Shibajie Mahua, các nghệ nhân đã phải thực hiện những công đoạn vô cùng cầu kỳ. Lớp vỏ bột làm bánh được chế biến từ trứng, đường, nước và dầu mè một cách cực kỳ công phu, người ta sẽ phối trộn bột thành một khối dẻo, mịn sau đó kéo thành rất nhiều sợi dài. Nhân bánh cũng được làm rất kỳ công với các thành phần gồm hạt dưa, hồ đào, vừng, quả óc chó hay mận khô… Cuối cùng là sử dụng lực hợp lý, khéo léo xoắn phần bánh lại thật chắc.

Bánh sau khi đã được tạo hình sẽ mang đi chiên ngập trong dầu nóng đến khi lớp vỏ bánh chuyển sang màu vàng nâu bắt mắt thì mới vớt ra. Những “sợi dây thừng” to tròn sẽ khiến du khách phải kích thích và muốn được nếm thử ngay khi được nhìn thấy. Đặc biệt, không chỉ có bánh mà khi đã chiên xong người ta còn cho thêm hàng loạt các loại topping hấp dẫn để ăn kèm bánh như đậu phộng, kẹo đá, mứt, trái cây sấy… giúp ngoại hình món bánh thêm bắt mắt và tạo hương vị đa dạng.

Đặc trưng hương vị mà người ta cảm nhận về món bánh hấp dẫn này chính là độ giòn thơm rất khác lạ. Phần bột hài hòa trong nhiều nguyên liệu, béo từ trứng, bùi bùi từ hạt mè nhưng lại có độ mằn mặn dễ ăn. Đến khi kết hợp với nhân, chút ẩm mịn, dẻo ngọt bên trong sẽ hài hòa, cân bằng lại vị giác. Tuy là bánh ăn chơi nhưng món đủ đầy hương vị và có thể khiến du khách no nê.

Mặc dù có tuổi đời đã hàng trăm năm nhưng bánh xoắn Shibajie Mahua vẫn luôn là đặc sản được nhiều người yêu thích. Ngày nay, với sự phát triển của ngành du lịch, bánh Shibajie Mahua đã có mặt ở nhiều nơi tại Trung Quốc, tuy nhiên để được thưởng thức được món bánh chuẩn vị thì quê hương của món ăn, Thiên Tân vẫn là điểm đến mà du khách nên ghé thăm.

Nếu có du lịch Trung Quốc, du khách đừng bỏ qua cơ hội thưởng thức món bánh xoắn chiên thơm ngon hấp dẫn này nhé! Và du khách cũng đừng quên mua chúng về làm quà!

Vịt quay Bắc Kinh – Món ăn quý tộc, biểu tượng của ẩm thực Trung Quốc

Bắc Kinh là một địa điểm nổi tiếng tại Trung Quốc. Nhắc tới Bắc Kinh, người ta sẽ nghĩ ngay tới Vạn Lý Trường Thành, Tử Cấm Thành,…. Và đặc biệt có một món ăn gắn liền với tên địa danh, nổi tiếng trong nền ẩm thực Trung Hoa từ trước đến nay, đó là vịt quay Bắc Kinh trứ danh. Món ăn nổi tiếng với lớp da vịt giòn tan nơi đầu lưỡi, thịt vịt thấm đẫm gia vị và nước chấm đậm đà hương vị.

Vịt quay Bắc Kinh có lịch sử lâu đời khoảng 600 năm và được công nhận là di sản ẩm thực. Theo các tài liệu ghi lại, món vịt quay có nguồn gốc xuất xừ từ thời Nam – Bắc Triều (420-589) của Trung Quốc. Tuy nhiên, mãi tới thời nhà Nguyên (1271-1368), món ăn này mới được triều đình và nhà vua công nhận lần đầu, được giới thiệu trong cuốn sách có 1330 món ăn do chuyên gia ẩm thực Hu Sihui biên soạn. Công thức làm món vịt quay của ông Hu lúc đó rất phức tạp vì vịt phải được bỏ trong dạ dày một con cừu để quay.

Điều thú vị là vịt quay đặt theo tên Bắc Kinh (Peking duck trong tiếng Anh, với từ Peking là cách phát âm cũ của tên thành phố này), nhưng nguồn gốc của món ăn này lại là Nam Kinh, kinh đô cũ của Trung Quốc, nằm ở tỉnh Giang Tô. Vào thời nhà Minh, triều đình dời đô ra Bắc Kinh nhờ thế món vịt quay cũng được đem tới kinh đô mới.

Về sau, món ăn này đã trở thành một trong những món ăn chính của nhà Vua. Vào triều đại nhà Thanh, vịt quay Bắc Kinh lan sang giới quý tộc, nơi món ăn được ca ngợi nhiều trong các tác phẩm của các học giả và nhà thơ. Sau đó, vịt quay có mặt trong thực đơn của một nhà hàng nổi tiếng tại Bắc Kinh vào năm 1416 và được nhiều người yêu thích, mong muốn tới nhà hàng để thưởng thức đặc sản thơm ngon này. Từ đó, vịt quay được xem là đặc trưng cho nền ẩm thực của Bắc Kinh nói riêng, ẩm thực Trung Quốc nói chung.

Ai đã từng ăn vịt quay Bắc Kinh đều rất hài lòng, bởi lớp da vịt giòn tan, thịt vịt bên trong vẫn giữ nguyên độ mềm và ngọt như thịt luộc. Ăn không cảm giác béo, nhai lâu lại thấy thịt dai nhưng không bở, ăn rất vừa miệng. Để có được điều này, trước tiên phụ thuộc vào loại vịt được sử dụng để chế biến. Thường thì người ta sẽ chọn những con vịt được lấy ở Nam Kinh. Vào tháng 9 khi lúa chín vàng cũng là thời điểm vịt ngon nhất mập nhưng lại không nhiều mỡ, da căng và không bị trầy xước, mỗi con vịt nặng từ 3-4kg. Vịt được nuôi trong môi trường tự do trong 45 ngày, sau đó chúng được cho ăn trong 15 đến 20 ngày.

Sau khi lựa chọn được những con vịt ngon nhất, các đầu bếp sẽ làm sạch và bơm không khí dưới da vịt để tách bỏ lớp mỡ béo. Sau đó, vịt được quết lớp đường mạch nha và gia vị giấm đỏ, đường, muối và ngũ vị hương. Công đoạn này được các đầu bếp lặp đi lặp lại nhiều lần cho đến khi gia vị đã ngấm hết vào da vịt. Công đoạn này được các đầu bếp lặp đi lặp lại nhiều lần cho đến khi gia vị đã ngấm hết vào da vịt.

Không chỉ cầu kỳ trong quá trình tẩm ướp mà quá trình quay vịt cũng là một phần mang tầm quan trọng. Loại củi dùng để nướng món vịt này thường là loại gỗ lấy từ cây long não hoặc cây ăn trái. Mùi thơm của gỗ sẽ làm tăng thêm hương vị cho món thịt này. Khi nướng món ăn này, các đầu bếp phải xoay vịt theo bốn phía để ức, lưng và hai cánh được chín vàng đều. Để thịt bên trong được chín mềm người ta sẽ cho một ít nước vào bên trong bụng vịt, nước sôi sẽ giúp hầm bên trong của vịt, giúp cho vịt mau chín hơn. Một con vịt quay ngon sẽ có lớp da giòn màu nâu bánh mật, giòn giòn, béo béo nhưng lại không quá ngán, nhưng bên trong thịt lại mềm thơm dễ chịu.

Vịt quay Bắc Kinh nếu muốn ngon không thể thiếu nước chấm. Thực khách sẽ được trải nghiệm 2 loại nước chấm hoàn toàn khác nhau và mang đến những hương vị khác nhau nhưng sự thơm ngon, hấp dẫn thì vẫn không thay đổi. Một là nước chấm cổ truyền với đậu xị (đỗ tương hay đậu nành đã ủ lên men nghiền ra trộn với tỏi). Loại thứ hai là nước chấm hiện đại được chế biến bằng cách pha tỏi nghiền, chút dầu mè và chút nước tương xì dầu lỏng. Loại nước chấm nào cũng ngon và hợp với khẩu vị đa số thực khách. 

Vịt quay Bắc Kinh được các nhà khoa học đánh giá là có lợi cho sức khỏe bởi vịt được nuôi bằng thức ăn thiên nhiên và cách chế biến rất khoa học, được quay cách xa ngọn lửa nên không bị ám khói. Đặc biệt nguyên liệu mang lại màu đỏ tươi cho món vịt quay được chiết xuất từ gạo lên men giúp cải thiện sức khỏe, giảm nguy cơ đau tim và bởi thế được coi như một thảo dược.

Khi đặt chân đến Bắc Kinh, du khách có thể bắt gặp món ăn này ở rất nhiều nơi từ nhà hàng cao cấp đến bình dân. Tại những nơi đây, du khách sẽ được thưởng thức món ăn này một cách đúng điệu với nhiều cách ăn khác nhau. Món vịt ăn đúng cách phải được đầu bếp cắt thành những lát mỏng, một số nhà hàng sẽ phục vụ món vịt với phần da và thịt riêng biệt, còn phần xương thì dùng để nấu súp.

Cách phổ biến nhất là ăn với một loại bánh bột mì gọi là “bạc bỉnh”. Đầu tiên, trải miếng bánh bạc bỉnh này lên đĩa rồi quệt lên một chút nước tương trên mặt bánh, sau đó ta để vào đó một miếng da vịt rồi cuốn lại chung với một cọng hành hương sống ngắn chẻ hơi toe hai đầu. Về loại bánh ăn kèm thì ngoài thứ bạc bỉnh thì tùy nơi có thể thay bằng loại bánh mè, hay bánh màn thầu.

Một số thực khách có thể ăn kèm với hành tây, tỏi, dưa chuột hoặc cà rốt. Ăn vịt quay với những loại rau củ như vậy không những làm tăng hương vị của món ăn mà còn có tác dụng làm tăng hàm lượng vitamin C được hấp thụ vào cơ thể, giúp tiêu hoá rất tốt.

Có một số vị khách thì lại thích ăn những miếng da vịt được quay giòn vừa thơm vừa ngậy, và chấm với những viên đường nhỏ. Đây là cách ăn yêu thích của những cô gái hoặc các trẻ em.

Dư vị của món vịt Bắc Kinh sẽ đọng lại mãi sau mỗi lần ăn, vì vậy nếu có cơ hội du lịch Trung Quốc, du khách hãy một lần đến những nhà hàng vịt quay Bắc Kinh chuyên nghiệp để thưởng thức món ăn nức tiếng này nhé! 

Đậu phụ Mapo – món ăn nổi tiếng của Tứ Xuyên, Trung Quốc

Nói về các món ngon của nền ẩm thực Trung Hoa, có lẽ không bao giờ thiếu được các món ăn chế biến từ đậu hũ, trong đó có món đậu phụ Mapo. Món ăn này độc đáo từ cách chế biến, cho đến tên gọi và tồn tại hàng thế kỷ vẫn giữ nguyên độ cay nồng cùng màu đỏ đặc trưng không phai nhạt.

Đậu phụ Mapo là một trong những món ăn nổi tiếng có nguồn gốc từ Tứ Xuyên được lưu truyền cách đây hàng trăm năm. 

Theo chuyện kể trong quyển sách “Phù dung thoại cựu lục” thì món ăn này xuất hiện vào thời vua Đồng Trị nhà Thanh, cụ thể là vào năm 1874. Tương truyền vào thời đó, một người đàn bà tên là Trần Lưu Thị, còn được gọi thân mật là Trần Ma Bà (người đàn bà họ Trần – Chen với khuôn mặt có nhiều mụn rỗ). Sở dĩ có cái tên “Ma Bà” thế này là vì Bà Trần từ nhỏ đã bị bệnh tật tai ương mà để lại sẹo rỗ trên mặt. Sau này người ta gọi mãi thành quen. Bà có một quán cơm với bảng hiệu “Trần Hưng Thịnh phạn phô” ở Thành Đô. Và món đậu phụ Mapo là do bà sáng tạo ra. 

Sách xưa kể lại rằng lúc đầu, bà Trần mở một quán ăn nhỏ ở Thành Đô để buôn bán kiếm sống. Tuy nhiên, có nhiều ngày, lượng đậu hũ còn dư lại khá nhiều vì hương vị món ăn này có phần đơn giản và nhạt nên cũng chẳng mấy ai gọi. Mà Tứ Xuyên lại vốn khu vực dồi dào nguyên liệu và sở hữu thực phẩm cay nóng thuộc loại tươi ngon bậc nhất cả nước. Chính vì vậy, để xử lý số lượng đậu dư thừa nhiều trong kho thực phẩm, bà nhanh trí nghĩ ra cách kết hợp nó với các nguyên liệu và gia vị có sẵn nhằm đổi mới món ăn. Từ đó làm ra một công thức chế biến đậu hoàn toàn khác biệt với các kiểu nấu đơn giản có sẵn.

Với công thức và cách chế biến độc đáo đó đã mau chóng đem lại tiếng tăm cho nhà hàng nhỏ của bà Trần. Món đậu hũ của bà không chỉ nổi danh khắp trong vùng lúc bấy giờ mà còn chinh phục cả những thực khách khắp nơi đến từ vùng miền khác của Trung Quốc. Đâu đâu cũng vậy, hễ nhắc đến Tứ Xuyên, Thành Đô là người ta lại gọi tên món đậu phụ Mapo (“ma” trong tiếng Trung có nghĩa là mụn rỗ, “po” có nghĩa là người đàn bà, Mapo có nghĩa là: “Món đậu của người đàn bà mặt rỗ”). 

Danh tiếng của món đậu phụ Mapo vang dội tới mức đi vào thơ ca, được nhắc đến trong thi tập “Cẩm Thành Trúc Chi Từ Bách Vịnh” như sau: “Ma bà đậu hũ thượng truyện danh / Đậu hũ hồng lai vị tối tinh / Vạn phúc kiều biên liêm ảnh động / Hợp cô xuân tửu túy tiên sinh”.

Vì đâu mà món Mapo lại trở nên cuốn hút đến vậy? Có lẽ bí quyết lớn nhất nằm ở sự kết hợp hài hòa các nguyên liệu tươi ngon và thấm đẫm hương vị đậm đà của vùng đất Tứ Xuyên.

Nguyên liệu chính làm nên món đậu phụ Mapo không thể bỏ qua đậu phụ non Tứ Xuyên. Miếng đậu phụ trắng sau khi qua nhiều công đoạn chế biến từ đậu nành nên rất mềm mịn và thơm. Đậu phụ trắng được cắt ra thành từng miếng vuông nhỏ rồi xào chung với thịt băm nhỏ (thịt heo hay bò).

Ngoài ra, một gia vị không thể thiếu là tương đậu Tứ Xuyên, một loại tương được ủ lên men trong thời gian dài. Chính loại tương này đã khiến cho món đậu phụ Tứ Xuyên có hương vị đặc trưng riêng và rất khác biệt.

Mapo cũng không thể thiếu đi các gia vị cay đặc trưng. Để làm nên món đậu phụ Mapo đúng cách, người ta phải sử dụng rất nhiều ớt và tiêu nên món ăn sau khi chế biến xong thì dậy mùi cay nồng rất hấp dẫn. Đặc biệt, đậu phụ trắng lại được cho nhiều ớt đỏ, hai màu sắc tương phản nhau càng khiến cho món đậu phụ Mapo thêm nổi bật và đẹp mắt hơn.

Một nét tinh túy của món ăn này là đậu phụ tuy mềm dễ vỡ nhưng người nấu phải khéo léo làm sao để đậu không bị nát. Do đó, khi chế biến phải rất cẩn thận từ công đoạn cắt nhỏ và đảo các nguyên liệu. Đặc biệt nhất là phải dùng loại chảo to và rộng thì mới đủ không gian đảo thức ăn để đậu phụ vẫn còn nguyên vẹn sau khi hoàn thành.

Mặc dù được làm từ đậu phụ trắng khá nhạt nhẽo nhưng do món ăn này kết hợp hài hòa các nguyên liệu khác như thịt băm và nhiều loại gia vị cay nồng nên không chỉ vô cùng hấp dẫn mà hương vị món ăn còn rất tinh tế. Đậu phụ mềm và có vị hơi beo béo kết hợp với vị ngọt của thịt, vị cay của ớt tiêu lại thêm vị chua, hăng của đậu tương khiến món Mapo rất dễ đi vào lòng người và làm hài lòng mọi thực khách mới nếm qua lần đầu tiên.

Món đậu phụ Mapo đậm đà, cay nóng thoảng chút chua và mặn rất thích hợp khi ăn kèm với cơm trắng. Chỉ cần xúc vào thìa hay muỗng một ít đậu phụ mới xào xong còn nóng hổi rồi cho lên bát cơm trắng, du khách sẽ cảm nhận được trọn vẹn vị ngon của món ăn. Có thể nói cơm trắng là sự kết hợp hoàn hảo nhất với món đậu phụ cay này, nhất là nếu du khách thưởng thức vào những ngày đông lạnh lẽo nghe gió rít ngoài cửa thì càng thêm ấm lòng đấy!

Du lịch Trung Quốc, chắn hẳn ai đã đặt chân đến Thành Đô nói riêng và Tứ Xuyên nói chung cũng đều muốn được thưởng thức món ăn vô cùng hấp dẫn và kích thích vị giác đến từng cái chạm đũa này. Chắc chắc hương vị cay nồng, thấm đẫm từ ớt và hoa tiêu của món đậu phụ Mapo trứ danh sẽ giúp du khách có được một chuyến trải nghiệm ẩm thực trọn vẹn với đủ các cung bậc từ cay xè, cay nồng đến mặn mà đậm đà thoảng chút chua ngọt vô cùng hài hòa.

Gà Kung Pao – món ăn cay nồng đặc trưng của ẩm thực Tứ Xuyên, Trung Quốc

Gà Kung Pao (宫保鸡丁) có nguồn gốc từ tỉnh Tứ Xuyên của đất nước Trung Quốc. Không chỉ được yêu thích bởi mùi vị thơm ngon khó cưỡng, gà Kung Pao còn nổi tiếng với vị cay nồng và thơm béo đặc trưng của ẩm thực Tứ Xuyên.

Gà Kung Pao hiểu đơn giản là thịt gà cắt nhỏ xào cùng ớt, đậu phộng, rưới nước sốt. Trông có vẻ đơn giản, thế nhưng khi dọn ra đĩa, món ăn này lại có màu sắc vô cùng hấp dẫn khiến nhiều người “ứa nước miếng” ngay. 

Món ăn này được người dân Trung Quốc chế biến rất công phu. Các nguyên liệu cần có gồm: thịt gà (thông thường người ta sẽ sử dụng phần đùi gà để không quá nhiều mỡ nhưng cũng không bị khô sau khi xào); dầu chiên; Đậu phộng rang; ớt đỏ khô; tỏi băm nhỏ; gừng tươi băm nhỏ; hành lá thái nhỏ; nguyên liệu cho gia vị ướp (nước tương, rượu gạo, bột bắp); nguyên liệu cho phần nước sốt (giấm đen Trung Quốc, nước tương, dầu mè, đường trắng, tương đen, bột bắp).

Sau khi có đầy đủ nguyên liệu thì bắt đầu vào công đoạn chế biến. Trước hết, thịt gà đùi sau khi được lọc bỏ xương và da thì sẽ được thái thành những miếng vuông vừa ăn. Sau đó cho các thành phần gia vị ướp đã chuẩn bị vào một cái bát (tô) rồi cho thịt gà vào. Để nguyên cho thịt gà ngấm gia vị. Trong thời gian chờ thịt ngấm thì làm tiếp những thành phần còn lại của món ăn.

Tiếp đó cho tất cả các nguyên liệu đã chuẩn bị cho phần nước sốt vào một cái bát khác và khuấy đều cho đến khi bột bắp và đường tan. Để hỗn hợp sang một bên.

Bước tiếp theo là đun nóng dầu trong chảo ở nhiệt độ cao rồi cho ớt vào một vài giây cho ớt chuyển màu đỏ sậm hơn một chút, rồi cho thịt gà và gia vị ướp đã chuẩn bị vào xào cho đến khi thịt gà chín. Trong lúc này thêm tỏi, gừng và phần trắng của hành lá vào xào khoảng 2 phút, tiếp đó rưới nước sốt vào và khuấy cho đến khi sốt sánh lại. Giảm bớt nhiệt nấu và cho đậu phộng vào khuấy cùng. Chờ cho món gà hơi sôi một chút thì có thể tắt bếp và rắc hành lá đã thái nhỏ vào.

Vậy là đã có một đĩa gà Kung Pao hấp dẫn. Món ăn khi còn nóng có mùi thơm khó cưỡng, khi được dọn ra đĩa trông rất hấp dẫn với nhiều màu sắc bắt mắt. Nhưng trên hết, hương vị đậm đà trong từng thớ thịt được ướp kỹ, cùng món nước sốt cay xé lưỡi đặc trưng mới là điểm cộng của món ăn. Nó khiến thực khách “mê ly” và nhanh chóng bị nghiện cái cảm giác toát mồ hôi, khi thưởng thức món gà Kung Pao huyền thoại.

Hiện nay, ngoài thịt gà, một số nhà hàng đã có thêm biến tấu món ăn này với thịt heo, thịt bò hoặc các loại hải sản, nhưng theo đánh giá chung thì thịt gà là sự kết hợp hài hoà và ngon hơn cả.

Là món ăn nổi tiếng, món gà Kung Pao hiện đã được phục vụ tại nhiều nhà hàng món Hoa tại các quốc gia khác trên thế giới và được nhiều thực khách khắp nơi ưa chuộng.

Món gà Kung Pao được ca ngợi như một tinh hoa của ẩm thực của người Trung Quốc. Món ăn độc đáo này cũng là một trong những yếu tố đầy thú vị, góp phần lôi cuốn du khách trong hành trình khám phá ẩm thực đa dạng của đất nước này. Vậy nên, du khách đừng bỏ lở cơ hội “thử thách” vị giác với món gà Kung Pao nổi tiếng này nếu có dịp du lịch Trung Quốc nhé!