Đôn Di Hoàng Quý phi – vị phi tử cả đời không có con nhưng được cả 3 hoàng đế sủng ái

Thời xưa, không con cái được coi là một trong những tội đại bất hiếu và không được coi trọng. Thế nhưng, với Đôn Di Hoàng Quý phi trong thời nhà Thanh thì lại là một trường hợp ngoại lệ. Cả đời bà không có nổi mụn con nhưng vẫn được cả ba vị hoàng đế là Khang Hi, Ung Chính, Càn Long yêu mến, chăm sóc chu đáo. 

Theo sử sách ghi chép, Đôn Di Hoàng Quý phi là một phi tần của Thanh Thánh Tổ Khang Hi Đế. Bà sinh vào ngày 16 tháng 10 (âm lịch) năm Khang Hi thứ 22, họ Qua Nhĩ Giai thị, thuộc Hoàng kỳ Mãn Châu. Họ này giàu có, phú quý, đứng đầu trong bát đại gia tộc thời nhà Thanh. Cha là Tam phẩm Hiệp lĩnh Dụ Mãn. 

Khi Qua Nhĩ Giai thị 17 tuổi, liền nhập cung tham gia tuyển tú. Nhờ gia thế hiển hách, dung mạo xuất chúng lại trổ hết tài năng, Qua Nhĩ Giai thị thuận lợi trở thành phi tử (Thứ phi) của Khang Hi Đế. 

Một số bản thoại có chép, Qua Nhĩ Giai thị rất xinh đẹp, vẻ đẹp của nàng không lộng lẫy kiêu sa nhưng vô cùng mềm mại, ngọt ngào, nhìn một lần là nhớ mãi. Cùng với xuất thân rất cao, nàng được Khang Hi rất coi trọng. Năm Khang Hi thứ 39 (1700), tháng 12, Qua Nhĩ Giai thị được sách phong Hòa tần, cùng lúc với Lương tần Vệ thị. Vừa vào cung đã được phong làm Hòa tần. Phong vị như vậy, đối với một phi tử mới nhập cung, thực sự khiến nhiều người ghen tị đỏ mắt. Xét về điểm này thì so với Vệ thị sinh được Bát a ca Dận Tự mới phong Tần, quả là có khác biệt.

Vậy nguyên nhân do đâu mà Qua Nhĩ Giai thị lại đắc sủng khi tuổi còn rất trẻ như vậy? Tương truyền Khang Hi đế có lần nằm mộng trông thấy một thiếu nữ ôm phượng cưỡi rồng ở Ninh Cổ Tháp. Thiếu nữ trong mộng có nụ cười duyên dáng, đôi mắt long lanh, xinh đẹp động lòng người. Sau giấc mộng Khang Hi vội sai người đi khắp nơi để tìm thì trông thấy Qua Nhĩ Giai thị ôm một con gà trống, nở nụ cười đẹp tựa hoa hồng bên sông Mẫu Đơn. Thế nên ngay khi nhập cung Qua Nhĩ Giai thị đã được Khang Hi sủng ái hết lòng. Tuy truyền thuyết này vẫn chưa rõ thực hư, nhưng sự sủng ái Khang Hi dành cho Qua Nhĩ Giai thị là điều không thể nghi ngờ.

Một năm sau khi phong Tần, Qua Nhĩ Giai thị sinh càng được sủng ái, liền nhanh chóng có thai và hạ sinh Hoàng thập bát nữ vào ngày 18 tháng 10 (âm lịch) năm 1701. Đáng tiếc, công chúa sau sinh còn chưa kịp đặt tên đã mệnh yểu qua đời. Bất hạnh hơn, vì quá đau thương, hơn nữa sinh con thân thể bị hao tổn, đời này Hòa tần không thể có con nữa.

Khang Hi Đế thấy nàng trẻ tuổi như vậy đã bị tổn thương nặng nề cả về thể chất lẫn tinh thần, vì vậy lại càng cực kỳ thương yêu, chiều chuộng nàng. Mặc dù sau Hòa tần vẫn không thể sinh con, Khang Hi vẫn không lạnh nhạt, quan tâm đầy đủ, thậm chí còn tấn phong nàng làm Hòa phi (tháng 4 năm 1718).

Từ khi nhập cung cho đến khi trở thành Hoà Phi, cuộc sống bà của không có tranh đấu, rất an nhàn. Thực tế, lúc đó, các hoàng tử tranh quyền đoạt vị, rất dễ liên lụy đến mẫu thân của mình. Hòa phi địa vị khá cao nhưng không con cái, cho nên đối với các phi tần khác, nàng không có uy hiếp, đối với các hoàng tử lại càng không có bất kỳ cản trở nào, cuộc sống ở nơi hậu cung của Hòa phi cực kỳ an nhàn. 

Năm Khang Hi thứ 61 (1722), Khang Hi Đế băng hà, thời điểm này, Hòa phi vừa 40 tuổi. Đến khi Ung Chính kế vị, đối với Hòa phi cũng cực kỳ tôn kính, tôn phong bà làm Hoàng khảo Quý phi. Kỳ lạ ở chỗ, Ung Chính đối với mẹ đẻ quan hệ không quá thân thiết, trái lại đối với Hoàng khảo Quý phi lại vô cùng yêu thương, tình như mẹ con ruột thịt.

Tính cách của Hoàng khảo Quý phi ôn hòa lại sảng khoái, hoàng đế Ung Chính có tâm sự trong lòng đều có thể tìm nàng để giải tỏa. Nói cách khác, Ung Chính rất tín nhiệm bà.

Sau, Ung Chính lại hạ lệnh, đưa hoàng tử Hoằng Lịch (hoàng đế Càn Long sau này) đến cho Hoàng khảo Quý phi nuôi dưỡng. Cũng nhờ vậy mà tình cảm của Càn Long và Hoàng khảo Quý phi cũng vô cùng gắn bó, thân thiết.

Thời điểm Càn Long lên ngôi, vì nhớ ơn dưỡng dục thời ấu thơ nên ông cũng quý trọng, hiếu thuận với Hoàng khảo Quý phi chẳng khác nào bà nội thực sự của mình. Cho rằng thế là không đủ, Càn Long phong tôn bà làm Ôn Huệ Quý Thái phi, và sau đó là Ôn Huệ Hoàng Quý Thái phi. Lúc này, trong hậu cung, bà có bối phận cao không ai sánh nổi.

Cứ như thế, Ôn Huệ Hoàng Quý Thái phi sống an nhàn sung túc cho đến lúc qua đời vào năm Càn Long thứ 33, thọ 86 tuổi. Mệnh tận, bà ở trong tẩm cung An Tường mà rời khỏi nhân thế. Kim quan của bà tạm quàn tại Cát An sở, Càn Long Đế đích thân đến tưới rượu. Cùng năm, hoàng đế làm lễ dâng thụy hiệu cho Ôn Huệ Hoàng Quý Thái phi là Đôn Di Hoàng Quý phi, tiến hành an táng vào Hoàng Quý phi viên tẩm trong Cảnh lăng.

Các sử gia cho rằng, mặc dù Đôn Di Hoàng Quý phi không con không cái, nhưng nhờ xinh đẹp lại tài đức, nhận được sự yêu thương, kính trọng của cả 3 vị hoàng đế nổi tiếng. Nàng cũng trở thành một trong những phi tần sống thọ nhất, sung sướng nhất, suốt đời bình an, trôi chảy, thực sự làm cho người khác ước ao.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất kỳ khách du lịch nước ngoài nào. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn thì hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc nhé!

Bạc Cơ – Thái hoàng Thái hậu đầu tiên của Trung Hoa với cuộc đời “an phận”

Mặc dù là Thái hoàng Thái hậu đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa, Bạc Cơ lại hầu như bị xem nhẹ cả đời, cho dù được tiên đoán là có thể sinh Thiên tử thì cũng không được người khác để tâm. Ngay cả khi đã trở thành thiếp của Hoàng đế, bà vẫn gần như bị bỏ quên. 

Bạc Cơ (? – 155 TCN), còn được gọi là Bạc phu nhân, là một phi tần của Hán Cao Tổ Lưu Bang, Hoàng đế sáng lập ra nhà Hán. Trước khi trở thành tần phi của Lưu Bang, bà là một thiếp thất của Ngụy Vương Báo. Sau khi con trai Hán Văn Đế lên ngôi, bà trở thành Hoàng Thái hậu. Sau khi cháu nội Hán Cảnh Đế lên ngôi, bà trở thành Thái hoàng Thái hậu, là Thái hoàng Thái hậu đầu tiên của nhà Hán và trong lịch sử Trung Quốc.

Theo sử sách ghi lại, cha của Bạc Cơ là người đất Ngô huyện, quận Cối Kê, mẹ là Ngụy Ổn, họ hàng tông thất Ngụy vương. Cha bà Bạc Công mất sớm, mai táng ở Sơn Âm.

Khi Trần Thắng khởi nghĩa chống nhà Tần, các chư hầu tự lập để hưởng ứng, trong đó có nước Ngụy. Bạc Cơ được mẹ đưa vào cung hầu hạ Ngụy Vương Báo. Trong số thê thiếp của Ngụy Vương Báo, Bạc Cơ xinh đẹp nhất nên nhanh chóng trở thành ái thiếp của ông. Sau, Ngụy Vương Báo chết, bà được Hán vương Lưu Bang đưa về hậu cung.

Về sau khi Hán vương xưng Hoàng đế, tức Hán Cao Tổ, bà ở lại Trường An cùng Hán Cao Tổ. Tuy có nhan sắc nhưng suốt một năm trời, Bạc Cơ không hề được sủng hạnh. Cùng nhập cung với bà có Quản phu nhân và Triệu Tử Nhi, từng ước hẹn ai có sủng hạnh thì sẽ không quên những người còn lại. Thế nhưng, cả Quản thị và Triệu thị đều được sủng hạnh trước, bỏ mặc Bạc Cơ.

Hán Cao Tổ năm thứ 4 (203 TCN), Hán Cao Tổ ngồi ở Cao Linh đài tại Hà Nam thành cung, có Quản phu nhân cùng Triệu thị bầu bạn. Đương khi đó cả hai đang gièm giễu việc ước hẹn với Bạc Cơ năm xưa, Hán Cao Tổ nghe thế bèn hỏi, cảm thấy thương xót Bạc Cơ nên tối đó cho triệu hạnh bà. Đêm đó, Bạc Cơ nhỏ to với Hán Cao Tổ rằng: “Đêm trước, thiếp thân mơ thấy có một con thương long (苍龙; rồng xanh) ở trên bụng”. Hán Cao Tổ cao hứng nói: “Đây là điềm lành!”. Đêm đó sau khi lâm hạnh, Bạc Cơ mang thai và sinh ra Lưu Hằng, hoàng tử thứ 4 trong số các hoàng tử của Hán Cao Tổ. Năm Hán Cao Tổ thứ 11 (196 TCN), khi Lưu Hằng được 8 tuổi, Hán Cao Tổ phong làm Đại vương. Nhưng cũng từ đó trở đi, Lưu Bang lại lạnh nhạt với bà, hai người rất ít có dịp gặp mặt nhau. 

Tuy rằng sinh hạ được Hoàng tử, nhưng Bạc Cơ không vì thế mà đòi hỏi Hoàng đế sủng hạnh, hết thảy đều để thuận theo tự nhiên. Bà lặng lẽ nuôi dưỡng con trai, đối xử lương thiện với mọi người. Cho dù là với những người có địa vị thấp nhất trong cung, bà cũng vô cùng lễ nhượng.

Lúc ấy, người được sủng ái nhất trong cung là Thích phu nhân, một người giỏi về múa. Người này nhận được nhiều ân sủng nhất nên ỷ sủng sinh kiêu, những người thị thiếp khác cũng a dua hùa theo phe bà, khiến Lữ hoàng hậu gai mắt. Sau khi Hán Cao Tổ băng hà, Thái tử Lưu Doanh con trai của Lữ hậu lên ngôi, hiệu là Hán Huệ đế.

Lữ thị trở thành Hoàng Thái hậu bắt đầu chèn ép những phi tần từng được tiên đế sủng ái, cấm họ ra ngoài cung cũng như cấm họ về đất phong của con trai họ, đặc biệt là Thích phu nhân người mà Lữ Thái hậu ghét nhất. Năm 194 TCN, Thích phu nhân bị Lữ Thái hậu ra lệnh giết rất tàn bạo: bị chặt tứ chi, bị khoét hai mắt, bị cắt mũi và tai, bị cạo hết tóc, bị chuốc thuốc câm khiến bà không nói được, bị chết trong đau đớn. Sau đó Lữ Thái hậu còn bức hại nhiều Hoàng tử con của Cao Tổ như Lưu Như Ý, Lưu Hiển, Lưu Khôi.

Còn Bạc Cơ vốn không được sủng, địa vị không cao. Thậm chí cho đến tận lúc Lưu Bang mất, Bạc Cơ cũng không được phong làm Phu nhân, chỉ làm thiếp. Hơn nữa, Bạc Cơ cũng không có tâm tranh đấu giành giật, không uy hiếp bất kỳ ai cho nên không bị Lữ Thái Hậu ganh ghét, đố kỵ. Bạc Cơ vì muốn né tránh mọi mâu thuẫn nên đã cầu xin được ra khỏi cung và về đất phong của con trai Lưu Hằng, được Thái hậu chấp thuận cho xuất cung, nhờ thế mà bình an yên ổn. Ở đất phong của con trai, tức Đại quốc, Bạc Cơ trở thành Đại Vương Thái hậu, sống hưởng phước con cháu đầy đàn.

Sau khi Hán Huệ đế và Lữ Thái hậu lần lượt qua đời, các quan trong triều lật đổ sự thống trị của gia tộc họ Lữ, bàn bạc xem nên đưa người con trai nào của Hán Cao Tổ lên ngôi, và cân nhắc đến cả vấn đề mẫu tộc của Tân đế không nên quá quyền lực để tránh tình trạng ngoại thích tiếm quyền tiếp tục tái diễn như thời Lữ Thái hậu, suy xét một hồi thì họ thấy Đại vương Lưu Hằng, con trai của Bạc Cơ là người phù hợp nhất.

Lưu Hằng lên ngôi, lấy hiệu Hán Văn đế, tôn phong mẫu thân làm Hoàng Thái hậu. Bạc Thái hậu chọn một đứa cháu trong gia tộc gả làm chính thất cho đứa cháu nội của bà, tức Thái tử Lưu Khải. Hán Văn đế băng hà, Thái tử Lưu Khải lên ngôi, lấy hiệu Hán Cảnh đế, tôn phong tổ mẫu làm Thái Hoàng Thái hậu. Bạc Cơ là người đầu tiên được phong làm Thái Hoàng Thái hậu trong lịch sử Trung Quốc.

Năm 155 TCN, Bạc Cơ qua đời. Thời nhà Hán chỉ có chính thất Hoàng hậu mới được phép hợp táng cùng Hoàng đế, còn phi tần thì không được và dù vị phi tần đó có là sinh mẫu của Hoàng đế thì sau khi qua đời cũng không được truy phong làm Hoàng hậu. Thế nên Bạc Cơ chỉ được gọi là Bạc Thái hậu hoặc Văn đế Thái hậu, được an táng ở Bạc lăng, thuộc Bá lăng – nơi chôn cất của người con trai bà là Hán Văn đế. Đến thời Hán Quang Vũ đế Lưu Tú, Bạc Cơ được truy tôn làm Cao Hoàng hậu, được hợp táng cùng Hán Cao Tổ trong Trường lăng, còn mộ của Lữ Thái hậu bị dời khỏi Trường lăng.

Hậu cung Trung Hoa xưa luôn có những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện ấy lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về vùng đất “đặc biệt” này. Hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc để tự mình khám phá được nhiều điều thú vị hơn nhé!

Người Choang – dân tộc thiểu số đông nhất ở Trung Quốc

Dân tộc Choang là một nhóm dân tộc sống chủ yếu ở khu tự trị Quảng Tây phía nam Trung Quốc. Ngoài ra, một số sống ở các tỉnh Vân Nam, Quảng Đông, Quý Châu và Hồ Nam. Họ được xếp vào một trong số 55 dân tộc thiểu số được Cộng hòa nhân dân Trung Hoa chính thức công nhận.

Dân tộc Choang còn có hơn 20 tên gọi khác nhau như: Bố Tráng, Bố Nùng, Bố Liêu, Bố Thổ, Bố Việt, Bố Mạn, Bố Tày,… Dân tộc thiểu số này đã có lịch sử phát triển lâu đời với nguồn gốc từ cộng đồng dân cư Bách Việt thời cổ đại.

Theo số liệu thống kê năm 2006, dân số Choang ước tính khoảng 18.000.000 người, xếp thứ hai sau người Hán. 94% dân số Choang sống tại tỉnh Quảng Tây, tập trung ở phía tây và tây nam tỉnh. Theo Cục thống kê Quảng Tây 61,5% dân số toàn tỉnh là người Hán, người Tráng chiếm 32,6%, 6% còn lại là các sắc tộc thiểu số khác. 

Theo phát hiện của các nhà khảo cổ học, cách đây mấy chục vạn năm, trên khắp vùng Quảng Tây đã có những hoạt động của người cổ đại. Lưu vực thung lũng sông Hữu nơi dân tộc Choang sinh sống đã phát hiện nhiều di chỉ thời đại đồ đá cũ cách đây 6-7 vạn năm của người cổ đại, trong đó có không ít di vật văn hóa. Đặc trưng thể chất của người cổ đại là đầu to, lưỡng quyền nhô cao, xương mũi thấp, sống mũi hơi lõm, hàm răng trên hình lưỡi cày… Những đặc trưng này thuộc về chủng người Mongoloit, giống với đặc trưng thể chất người Choang hiện nay.

Tổ tiên của người Choang đã sống ở Quảng Tây trải qua các triều đại Thương, Chu, thời kỳ Xuân Thu, Chiến Quốc, các triều đại Tần, Hán, Đường, Tống, với nhiều tên gọi khác nhau như Tây Âu, Lạc Việt, Ô Hử, Lý, Liêu, Lương, Thổ… Thời kỳ này, ảnh hưởng của người Hán còn rất hạn chế. Thời Nam Tống (1127-1279), mới bắt đầu có tên gọi Choang. Về sau, Choang dần trở thành danh xưng dân tộc thống nhất, cùng với những cư dân người Hán từ Trung nguyên đến sinh sống ở Quảng Tây ngày một nhiều.

Dân tộc Choang sử dụng ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Hán Tạng, nhóm ngôn ngữ Choang Động, chi tiếng Choang Thái, rất giống với tiếng dân tộc Tày, Nùng ở vùng núi phía Bắc Việt Nam, tiếng Thái Lan, tiếng Lào và tiếng Shan ở Myanmar. Dân tộc Choang có chữ viết riêng của mình. Từ thời Nam Tống đã xuất hiện một loại chữ được cấu thành trên cơ sở chữ Hán, gọi là “Thổ tục”, nhưng được sử dụng phố biến. Năm 1955, dân tộc Choang tạo ra chữ viết phiên âm dùng chữ cái Latinh là cơ sở, đến tháng 11/1957 được Quốc vụ viện Trung Quốc phê chuẩn và lưu hành rộng rãi cho đến ngày nay.

Hình thức nhà ở của người Choang đa dạng với 3 loại: nhà sàn, nhà trệt và nửa nhà sàn, nửa nhà trệt. Hình thức an táng của người Choang là chôn, thiêu hay để quan tài ngoài trời.

Trang phục truyền thống của người Choang cách đây 100 năm về trước: nam giới mặc áo ngắn không cổ, cài khuy giữa, quần ống rộng, đầu quấn khăn; còn nữ giới thì mặc váy gấp nếp, áo ngắn không cổ có viền hoa, đầu quấn khăn hoa. Ngày nay, họ mặc áo dài hoặc ngắn có cổ, may bằng vải tự dệt màu xanh dương đậm, đen hoặc đỏ, hay mặc trang phục hiện đại.

Người Choang thực hiện chế độ hôn nhân một vợ một chồng, lưu truyền tập tục phụ nữ không về nhà chồng, vẫn ở nhà cha mẹ đẻ, chỉ những ngày lễ tết hay ngày mùa mới về nhà chồng ở một thời gian. Ngày xưa chồng phải theo họ vợ, ngày này có thể không cần đổi nữa nhưng vẫn phải theo tập tục ở rể. Đây được xem là tàn tích của chế độ mẫu hệ trong lịch sử dân tộc.

Người Choang chủ yếu sinh sống bằng nông nghiệp trồng lúa nước. Nền nông nghiệp của họ đã có từ lâu đời và ngày càng phát triển. Thủ công nghiệp của họ cũng rất phát triển, thông qua các nghề dệt, nhuộm vải; làm đồ gốm sứ, đúc trống đồng. Kỹ thuật đóng thuyền của họ cũng được đánh giá cao.

Chợ (tiếng Choang gọi là “khư”) là hình thức giao thương buôn bán phổ biến nhất của người Choang. Người Choang trao đổi, mua bán vật dụng, hàng hóa ở chợ và thậm chí chợ còn biến thành nơi giao lưu văn hóa nghệ thuật thông qua các hình thức sinh hoạt ca hát.

Người Choang có một nền văn hóa nghệ thuật phong phú, nhiều màu sắc. Văn học dân gian, hội họa, âm nhạc,… đều có những thành tựu to lớn. Người Choang nổi tiếng thích ca hát nhảy múa, dùng lời ca tiếng hát miêu tả cuộc sống và biểu đạt tư tưởng, tình cảm của mình.

Mỹ thuật của người Choang có những biểu hiện đa dạng. Tranh vẽ trên vách ở Hoa Sơn, lưu vực sông Tả là di sản văn hóa quý báu do tổ tiên người Choang sáng tạo ra cách đây hơn 2.000 năm. Phạm vi tranh vẽ cao 40m, dài hơn 220 mét, có 1.800 hình vẽ khác nhau.

Trống đồng là vật phẩm nghệ thuật quý báu của dân tộc Choang, vừa là nhạc cụ, vừa là vật tượng trưng cho quyền lực và sự giàu có. Những hoa văn đúc trên mặt trống đồng thể hiện trình độ nghệ thuật cao của người Choang từ mấy ngàn năm trước. Ở Bảo tàng Dân tộc Quảng Tây hiện đang bảo quản hơn 500 trống đồng.

Văn học dân gian của dân tộc Choang rất phong phú, đa dạng, đặc biệt là có những truyện kể dân gian được lưu truyền sâu rộng như câu chuyện thần thoại “Muliujia”, “Buluotuo” kể về các vị thần sáng thế tạo ra trời đất, vạn vật, sắp đặt lại trận tự của giới tự nhiên…; truyện anh hùng “Mạc Nhất đại vương”…

Người Choang có hình thức sinh hoạt chợ phiên. Năm 1983, khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây định hội hát chợ phiên vào ngày 3 tháng 3 âm lịch hàng năm, từ đó còn gọi là “Tết 3 tháng 3”. Trong chợ phiên, thường có ca hát đối đáp và các cuộc vui dân gian như ném tú cầu, bắn pháo bông, múa lân, thi kéo co, bắn nỏ,… Đặc biệt, dân ca của dân tộc Choang có nội dung phong phú, được đánh giá là viên ngọc quý trong kho tàng văn nghệ dân gian của người Choang.

Hình thức nghệ thuật sân khấu dân tộc của người Choang là kịch Choang, bắt nguồn từ hình thức ca múa dân gian, ngày nay phát triển rất mạnh mẽ với nhiều đoàn kịch chuyên nghiệp.

Vải gấm Choang là sản phẩm thủ công mỹ nghệ nổi tiếng của người Choang, chất liệu bền chắc, hoa văn tinh xảo, sinh động, nhiều màu sắc, được người Choang tự hào và khách du lịch ưa chuộng.

Người Choang là dân tộc có phong vị ẩm thực phong phú. Những món ăn nổi tiếng là cơm nếp năm màu, cơm nếp bí đỏ, cơm nếp khoai lang, bánh tét, bánh dày, đậu hũ viên nhồi thịt, thịt heo quay,… Nhìn chung, những món ăn của người Choang thường chế biến theo kiểu chiên xào. Hương vị đặc trưng là vị ngọt, các món xào hơi nhiều mỡ một chút để tạo độ béo ngậy. 

Những lễ hội quan trọng nhất của người Choang là “Tết 3 tháng 3”, “Trung nguyên”, “Hồn trâu bò”. Người Choang theo tín ngưỡng đa thần, họ thờ quỷ thần và tổ tiên. Hầu hết người Choang theo một tín ngưỡng vật linh truyền thống gọi là Sư Công giáo hay Mo Giáo, bao gồm nghi thức thờ cúng tổ tiên. Mo Giáo có các bài tế riêng và các thầy tế được gọi là Bu Mo. Trong các nghi thức Mo truyền thống, thầy Mo dùng xương gà để xem quẻ. Trong Mo Giáo, đấng tạo hóa là Bu Luotuo và vũ trụ gồm ba yếu tố với tất cả mọi vật được hình thành từ ba yếu tố này, gồm: trời, đất và nước. Người Choang cũng có một số theo Phật Giáo, Đạo Giáo và Thiên Chúa Giáo.

Người Choang có quan niệm đạo đức thuần hậu. Hiếu kính cha mẹ, kính già yêu trẻ là quan niệm đạo đức cơ bản của người Choang. Họ trọng danh dự, đề cao tình đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, nhiệt tình hiếu khách. Họ cũng rất xem trọng tinh thần lao động cần cù, chăm chỉ. Đối với họ, trộm cắp là đáng căm giận, lười biếng là đáng sỉ nhục.

Và khi nhắc tới dân tộc Choang, không thể không nói đến trình độ võ thuật của họ. Tranh vẽ trên vách đá Hoa Sơn là tư liệu vô cùng quý báu về nguồn gốc võ thuật người Choang. Tranh vẽ trên vách đá Hoa Sơn vẽ người với đường nét đơn giản, chắc khỏe, động tác chiêu thức rõ ràng, phát lực mạnh mẽ, thần thái oai phong. Phần lớn các hình người đứng tấn kiểu mã bộ và nửa mã bộ, linh hoạt ẩn hiện, sinh động phong phú.

Vật phẩm trong tranh vẽ trên vách Hoa Sơn cũng được tạo hình sống động, có trống đồng, đao, trường thương, thủ phiêu (phiêu ném), kiếm, mã tấu, nỏ núi (sơn nỗ), tên tre… đủ nói lên sự phát triển đa dạng trong văn hóa cũng như vũ khí của dân tộc Choang đã được hình thành với khí thế hừng hực từ ngàn năm trước.

Ngoài những thứ kể trên, trong nhóm tượng ở Ninh Minh Hoa Sơn có con vật 4 chân, tướng mạo như chó sói, một tay cầm phi đà (quả cân ném – một biến thể của chùy lưu tinh), lưng đeo bảo kiếm, hai chân gập gối dạng ra khuỵu xuống, ưỡn ngực, đè hông thành tấn mã bộ vững vàng trầm chắc. Đây được coi là vật tổ của dân tộc Choang có võ công phi phàm.

Trong lịch sử, võ thuật dân tộc Choang đã phát huy uy lực cực lớn trong các cuộc chiến chống lại giặc lùn (Nụy khấu – cách gọi miệt thị người Nhật Bản) vượt biển sang cướp phá vùng Lưỡng Quảng. Theo sách “Quy thuận châu chí” viết: Năm Minh Gia Tĩnh thứ 34 (năm 1555), có một phụ nữ người Choang quen sử dụng song đao tên là Ngõa Thị phu nhân chỉ huy trai tráng người Choang dùng mộc chắn và mã tấu, trường thương phát huy tác dụng che chắn và sức tấn công dài của thương đã đại phá đội quân chủ lực dùng súng hỏa mai của Nụy khấu, chặt đầu thủ lĩnh và tiêu diệt hơn 300 kẻ địch.

Đời Thanh, năm 1851 Hồng Tú Toàn, Dương Tú Thanh thống lĩnh giáo dân làm cuộc khởi nghĩa từ thôn Kim Điền, huyện Quế Bì, tỉnh Quảng Tây nổi danh với tên gọi Thái Bình Thiên Quốc, thế lực lan ra 17/18 tỉnh của Trung Quốc, sau đó thành lập Thiên Quốc, đóng đô ở Thiên Kinh (tức Nam Kinh), đến năm 1854 bị nhà Thanh dựa vào các thế lực đế quốc dẹp tan. Trong các tướng sĩ Thái Bình Thiên Quốc có rất nhiều cao thủ người dân tộc Choang tham gia vào các cuộc chinh chiến như Tiêu Triều Quý, Đàm Thiệu Quang đã mang hết tài ba võ nghệ để cống hiến cho cuộc khởi nghĩa. Sau khi thất bại, hầu hết các cao thủ võ thuật người Choang lánh nạn vào những nơi hẻo lánh, hoang vu, tiếp tục truyền lại võ công ngàn đời cho hậu thế.

Còn rất nhiều điều thú vị về dân tộc Choang mà với giới hạn ở bài viết này không thể trình bày hết được. Du khách hãy thực hiện một chuyến du lịch Trung Quốc để tự mình khám phá nhiều hơn nhé! Chúc các du khách có một chuyến đi với nhiều trải nghiệm thú vị!

Nét tinh tế trong văn hoá trà đạo của người Trung Hoa

Trà vốn có ảnh hưởng lớn trong lịch sử văn hóa Trung Hoa, và nhiều người cũng nhận định Trung Quốc là một trong những cố hương của trà. Nơi này có một nền văn hóa trà đạo cực kỳ đặc sắc.

Trung Quốc là cái nôi của trà đạo, bởi đây là quốc gia đầu tiên phát hiện ra trà và sử dụng trà như một đồ uống. Trà không chỉ là thức uống thanh nhiệt mà còn chữa được bệnh. Đối với người Trung Hoa, thưởng trà đã trở thành nét văn hóa ngàn năm lịch sử. Việc thưởng trà cũng là một nghệ thuật. Nghệ thuật ấy bao gồm hai mặt: một mặt là nghi lễ gồm các khâu chuẩn bị để thưởng thức trà cũng như phương pháp thưởng thức; mặt khác là tư tưởng tu dưỡng, tức là phải thông qua uống trà tu thân, nuôi dưỡng tinh thần, nâng cao tư tưởng cá nhân lên trình độ hiểu biết triết lý.

Thưởng trà là một thói quen có từ ngàn đời

Người Trung Quốc uống trà đã có hơn 4.000 năm lịch sử. Trong sinh hoạt hằng ngày của người Trung Quốc không thể thiếu một loại nước giải khát đó là trà, tục ngữ có câu: “Củi đóm, gạo dầu, muối, tương, dấm và trà”. Trà được liệt vào một trong 7 thứ quan trọng trong cuộc sống, có thể thấy được uống trà là điều rất quan trọng. Dùng trà để tiếp khách là thói quen của người Trung Quốc. Khi có khách đến nhà, chủ nhà liền bưng một chén trà thơm ngào ngạt cho khách, vừa uống vừa chuyện trò, bầu không khí rất thoải mái.

Tương truyền, trước năm 280, ở miền Nam Trung Quốc có một nước nhỏ gọi là nước Ngô, mỗi khi nhà vua thết tiệc các đại thần, thường ép các đại thần uống rượu cho say mềm. Trong số các đại thần có một đại thần tên là Vĩ Siêu không uống được nhiều rượu, nhà vua cho phép ông ta uống trà thay rượu. Từ đó về sau, các quan văn bắt đầu dùng trà để tiếp khách. Đến đời nhà Đường, uống trà đã trở thành thói quen của mọi người.

Cũng có ghi chép rằng, thói quen này còn có liên quan đến Phật giáo. Vào khoảng năm 713 đến năm 741, lúc đó các sư sãi và các tín đồ trong nhà chùa do ngồi tụng kinh trong thời gian dài, thường hay ngủ ngật và ăn vặt, nhà sư liền nghĩ ra cách cho họ uống trà cho tỉnh táo, từ đó, biện pháp này được lưu truyền đi khắp nơi.

Trong khi đó, những gia đình giàu có của nhà Đường, còn mở phòng chuyên pha trà, thưởng thức trà và đọc sách, gọi là phòng trà. Năm 780, ông Lục Vũ chuyên gia về trà của nhà Đường đã tổng kết kinh nghiệp trồng trà, làm trà và uống trà, viết cuốn sách về trà đầu tiên của Trung Quốc với tựa đề: “Kinh nghiệm về trà”. Ông được người đời tôn là Thánh trà.

Trong đời nhà Tống, nhà vua Tống Huy Tôn dùng tiệc trà để thết các đại thần, tự tay pha trà. Trong Hoàng cung đời nhà Thanh, không những uống trà, mà còn dùng trà tiếp khách nước ngoài.

Ngày nay, hàng năm vào những ngày tết quan trọng như: tết dương lịch hoặc tết xuân…, có một số cơ quan, đoàn thể thường tổ chức liên hoan tiệc trà.

Nghệ thuật pha và rót trà

Không chỉ đơn giản là một thói quen, thưởng trà còn được nâng lên thành một nét nghệ thuật từ cách pha trà cho đến uống trà. Có nhiều cách để pha một ấm trà. Đơn giản thì cho trà vào tách sau đó đổ nước sôi vào chờ vài giây rồi có thể mang ra thưởng thức.

Để có một ấm trà ngon, thì việc chuẩn bị nguyên liệu trà, nước, ấm pha trà, và chén dùng trà cũng phải tuân theo một yêu cầu nhất định.

Trước tiên, lá trà phải lựa để phơi khô phải là lá trà khỏe, tươi không bị dập nát, trải qua quá trình sơ chế, sao khô hạ thổ. Theo lý giải của người Trung Hoa xưa thì ngọn trà khi được hái xuống đã tiếp nhận dương khí của trời, để cân bằng âm dương, thì trà xao khô phải được hạ thổ để nhận tinh khí từ đất. Đồng nghĩa đất trời giao hòa, âm dương cân bằng.

Nước pha trà có thể là là nước giếng, nước mưa hay nước suối… Người xưa thường dùng một mạch nước nhỏ từ trong lòng núi chảy ra, hay nước từ băng tuyết tan từ những cành hoa, ngọn cây nên trà pha lên có hương vị đặc biệt khác lạ.

Ấm và chén dùng để pha trà thường được dùng là gốm sứ, có tính giữ nhiệt và đảm bảo vị tươi ngon và lưu giữ tốt nhất hương thơm của trà.Chén uống trà nên để chén loại nhỏ, chỉ vừa đủ 1-2 ngụm trà, uống trà nhâm nhi để cảm nhận hương vị của nó từ đầu lưỡi đồng thời chén trà nhỏ đủ uống để người uống được uống trà nóng.

Điều cần lưu ý, trước khi pha trà, nhất định phải rửa sạch sẽ dụng cụ pha trà, đặc biệt với những món đã lâu không dùng, bám đầy bụi bẩn thì càng phải dùng nước sạch rửa kỹ càng. Khi pha trà, trước khi rót trà tốt nhất nên dùng nước nóng tráng ấm và chén trà, để hương thơm của trà tỏa ra ngào ngạt. Làm như vậy vừa đảm bảo vệ sinh, lại vừa đúng lễ nghĩa. Ngoài ra, trước khi rót trà phải chuẩn bị lót chén, tránh phỏng tay và cũng tránh việc khiến khách nhất thời không thể bưng lên uống.

Lá trà không được bỏ quá nhiều, cũng không được bỏ quá ít. Nếu quá nhiều, vị trà sẽ rất đậm; nếu quá ít, trà pha ra cũng không có vị gì. Giả dụ khách chủ động giới thiệu thói quen bản thân thích uống trà đậm hay nhạt, vậy thì gia chủ sẽ dựa trên khẩu vị của khách mà pha. Lúc rót trà, dù là ly lớn hay nhỏ, đều không được đổ quá đầy, nếu đầy quá sẽ khiến nước tràn ra làm ướt cả bàn, ghế và sàn. Nếu bất cẩn còn có thể gây bỏng bản thân hay khách, khiến đôi bên đều khó xử. Đương nhiên, cũng không được rót quá ít.

Khi đã rót trà vào ly, gia chủ sẽ bưng ly trà mời khách. Dựa theo thói quen truyền thống của người dân Trung Hoa, gia chủ sẽ dùng hai tay bưng trà cho khách. 

Lễ nghi cơ bản trước và trong khi thưởng trà

Chỗ ngồi: Khi thưởng trà, việc khách ngồi ở đâu thường tùy theo ý gia chủ, nhưng vẫn nên tuân theo nguyên tắc: lấy gia chủ làm tâm, bên tay trái gia chủ là chỗ ngồi dành cho những vị khách có thứ bậc cao, thứ bậc càng cao thì ngồi càng gần chủ. Theo chiều kim đồng hồ từ trái qua phải, các chỗ ngồi lần lượt chia cho những người có thứ bậc từ cao đến thấp. Bất luận hình thức bàn trà thế nào thì đây cũng là quy tắc bất di bất dịch.

Về phương diện chỗ ngồi cũng cần tuân thủ theo tôn ti thứ bậc lần lượt: Người già, người trung niên, người lớn tuổi hơn gia chủ. Trong đó những ai là thầy, là trưởng thì sẽ xếp cao hơn. Nếu như tuổi tác cách nhau không quá lớn, nữ giới sẽ được ưu tiên ngồi ở những vị trí thứ bậc cao.

Còn có một quy định đặc biệt: kiêng kị ngồi đối diện nhau, chính là mặt đối mặt, ngồi trực diện với gia chủ. Dù cho chỉ có một vị khách và gia chủ thì cũng không thể ngồi đối diện nhau. Những vị khách hiểu lễ nghi nên ngồi ở chỗ thứ bậc thấp bên tay phải của gia chủ. Và khi số lượng khách quá nhiều, không tránh được chuyện phải có người ngồi đối diện gia chủ, thì nên để trẻ em ngồi vào vị trí này.

Đạo lễ tiết thứ nhất: Lễ tiết quan trọng nhất của khách là đáp lễ, còn gọi là hồi lễ. Cái gọi là đạo lễ tiết thứ nhất chính là chỉ việc gia chủ pha bình trà đầu tiên, đồng thời mời khách thưởng trà, xem như đây lần hồi lễ đầu đầu tiên của khách.

Lần hồi lễ đầu tiên một cách chính quy, chính thức của khách sẽ như sau: đứng dậy, nếu là nam thì chắp hai tay lại, tay cuộn tay thẳng; nếu là nữ thì hai tay chữ thập, cúi người, ngồi xuống, hai tay nhận (hoặc bưng) ly trà qua. Trước tiên là ngửi, sau đó nếm một ngụm nhỏ trà, đặt ly trà xuống, gửi lời khen gia chủ. Lưu ý: đối với nam nhân, tay cuộn là tay phải, tay trái bao bên ngoài, khi cúi người thì phải hành lễ, cúi càng thấp, thể hiện càng tôn kính gia chủ, nếu gia chủ là bề trên, khách là bề dưới, thì cúi người nên cúi ít nhất góc 45 độ.

Khấu chỉ lễ: Trong quá trình uống trà, lễ tiết hồi lễ quan trọng nhất của khách là “khấu chỉ lễ” (nắm tay lại để hồi lễ, dù thuận tay trái cũng phải dùng tay phải, đầu ngón cái hướng về đốt thứ 2 ngón trỏ, quặp thẳng vào ngón trỏ và ngón giữa, dùng mặt ngoài đốt thứ 2 của ngón trỏ và ngón giữa, gõ nhẹ 3 cái xuống mặt bàn trà; nhìn từ bên hông, sẽ thấy ngón trỏ và ngón giữa khi làm hành động này giống như đôi chân con người đang quỳ).

Ngoài ra, trên bàn trà còn kiêng kỵ nói chuyện tình dục, nếu cứ nói thì khi thưởng trà sẽ cảm nhận được vị chua trong đó. Thưởng trà còn kỵ một hơi uống cạn.

Thưởng trà còn cấm kỵ hút thuốc. Nếu thực sự nhịn không được, thì sau khi mọi người đã thưởng qua 5 bình trà, hãy hỏi ý kiến gia chủ. Sau khi nhận được sự đồng ý thì có thể hút. Nếu mới ngồi xuống đã hút thuốc sẽ bị xem là vô lễ.

Tuyệt đối không được đối mặt với gia chủ phun ngụm trà đầu tiên của bình trà đầu tiên. Hành động này bị xem là cực kỳ vô lễ, thậm chí bị xem là bắt đầu gây hấn. 

Không gian thưởng trà

Theo người Trung Hoa cổ xưa, không gian thưởng trà thường là phòng kín hoặc hoa viên.

Nếu là phòng kín thì trong phòng thường được treo tranh, thơ, câu đối, những bức họa thư pháp, hay những lời dạy của cổ nhân, và thường không thể thiếu là một bức họa phong cảnh lớn. Phòng trà này thường được trang trí rất tinh tế và trang nhã. Mang lại cảm giác hòa mình vào thiên nhiên nhưng không kém phần ấm cúng. Đặc biệt hơn trong phòng thường được bày một lư trầm, hương thơm lan tỏa khắp phòng, cùng với phong thái thưởng một chén trà ngon, giúp cho con người cân bằng thân thể, thư thái và buông bỏ phần mệt nhọc.

Nhưng nếu không gian thưởng trà là hoa viên, hay còn gọi là viên trà, thì lại hoàn toàn khác, người thưởng trà được ngồi giữa một hoa viên có nước có hoa, phong cảnh hữu tình, trà lúc này không thể dịu nhẹ như trà dùng nơi thư phòng, ấm trà ở đây thường là đặc hơn, giữ nhiệt tốt hơn.

Tâm tĩnh lặng là nét đẹp trong trà đạo

Để pha được ấm trà ngon, người pha trà phải để tâm vào từng việc làm nhỏ, người xưa thường nói: dụng tâm chế trà. Hàm ý nhắc nhở từ việc nhỏ nhất cũng cần dùng tâm ý để làm. Khi người ta tâm huyết làm nên một điều gì đó, người thưởng ngoạn cũng cảm nhận được sự tinh tế và khéo léo của người làm ra nó. Bởi vậy mà người xưa thường dùng tâm mà làm mọi việc. Tâm càng tĩnh thì làm việc hiệu quả càng tốt đẹp. 

Trà đạo nghiên cứu “Hòa tĩnh di chân”, tức tâm tĩnh lặng không suy tư, toan tính, nghĩ suy, đạt trạng thái tĩnh như mặt hồ, gột sạch những kiến giải sai lầm, sáng tỏ con đường phải đi để đạt Đạo.

Nói đến cái “Tĩnh Hư”, một số thiền sư cho rằng, đó là trạng thái nhập tĩnh tới mức coi thảy mọi việc đều là hư không. Trong nghệ thuật trà đạo Trung Hoa thực chất là nói về sự tĩnh lặng của thế giới tâm hồn, đến mức tĩnh lặng với mọi hoàn cảnh bên ngoài. Lấy tĩnh chế động. Chỉ cần tâm hồn của bản thân không mất đi “Hư tĩnh”, thì uống trà cũng được, nói cười cũng được, nghe nhạc cũng được, xem kịch cũng được, không có gì là không thể được.

Trước khi nếm trà, cần buông bỏ những phiền muộn, những điều cố chấp trong lòng, tĩnh tâm lại, bắt đầu tiến vào cảnh giới thẩm mỹ nếm trà, lặng lẽ lĩnh hội sắc của trà, hương của trà, vị của trà, hình tượng của trà… từ đó mà tĩnh lặng quan sát, nghĩ lại về cuộc sống nhân sinh, bồi dưỡng tâm tính, đạt tới cảnh giới “Tĩnh Không động” trong tâm hồn, nhận thức được cái đẹp của “Tĩnh Hư”.

Trà đạo là một nét văn hóa truyền thống được lưu truyền bao đời của người dân Trung Hoa. Chính vì vậy, khi đi du lịch Trung Quốc, du khách đừng bỏ lỡ cơ hội trải nghiệm tinh hoa nghệ thuật trà đạo độc đáo này nhé! Chúc du khách có một hành trình vui vẻ và đầy thú vị!

Những chi tiết kỳ lạ trước khi an táng phi tần đã chết trong lịch sử Trung Hoa cổ đại

Trung Hoa thời xưa, trong triều đình rất chú trọng đến chuyện mai táng, và dân thường cũng tùy theo hoàn cảnh của gia đình mà làm theo. Những phi tần khi qua đời lưỡi của họ phải tụt xuống và miệng phải ngậm, đặc biệt là họ dùng cái nút bằng ngọc để bịt hậu môn. 

Theo tập tục của người Trung Quốc thời xưa, di thể của người đã khuất rất được coi trọng, vì thế trước khi an táng, di thể thường được trang điểm đẹp, chôn cùng nhiều vật bồi táng và được tìm cách bảo quản tốt.

Trong phong tục truyền thống của Trung Quốc, di thể của người đã khuất rất được coi trọng, chính vì vậy người xưa luôn cố gắng nghiên cứu phương pháp để bảo đảm sự hoàn chỉnh, vẹn nguyên của hài cốt người đã khuất, đồng thời giúp hài cốt không phải chịu sự tàn phá của các yếu tố bên ngoài.

Để giữ cho thân thể của người đã khuất được nguyên vẹn, khi mai táng, người xưa thường dùng ngọc bích để phong bế 9 khiếu (hai mắt, hai tai, hai lỗ mũi, miệng, lỗ sinh thực khí và hậu môn) của người mất. Đồng thời, bằng cách này, sẽ có thể lưu lại ba hồn sáu phách của người ta trong thân thể, họ sẽ không chết hoặc luân hồi theo những phương thức khác.

Đối với người hiện đại, đây có lẽ sẽ bị coi là quan niệm mê tín thời phong kiến ngu muội, song thực tế đây là phương pháp được đúc kết từ mấy trăm năm kinh nghiệm của người xưa, bản thân nó cũng có căn cứ khoa học nhất định. Sau khi một người chết, cho dù được đặt trong một môi trường hoàn toàn kín thì cũng không có gì đảm bảo 100% rằng chất trong cơ thể không bị thối rữa. Nước trong cơ thể sẽ tích tụ lại rồi chảy ra ngoài theo các khiếu huyệt trên cơ thể. Như vậy các vi khuẩn sinh ra sẽ đẩy nhanh quá trình phân hủy thi thể. Nếu đóng kín các khiếu huyệt thì tốc độ phân hủy của tử thi có thể bị chậm lại ở một mức độ nhất định, để người chết giữ được vẻ đẹp ở một mức độ nhất định.

Thời xưa, chu sa thủy ngân được dùng để tẩm vào thi thể. Tương truyền rằng thủy ngân sẽ nhanh chóng ngưng tụ khi gặp vật bằng ngọc bích để ngăn thủy ngân chảy vào cơ thể người khi chôn cất. Vì thế nên người xưa dùng ngọc bích để bịt 9 khiếu, và tác dụng chính của nó là “màng ngăn cách”.

Trong cuộc sống đời thường, chúng ta cũng biết những vật phẩm tiếp xúc với không khí lâu ngày sẽ nhanh bị thối rữa. Vì thế, khi an táng thi thể, không chỉ đơn giản phủ quan tài lên mà còn bịt kín quan tài bằng nhựa thông và những thứ khác có thể cản khí. Điều này nhằm đảm bảo tính toàn vẹn của thi thể.

Cũng theo các truyền thuyết có liên quan, những phi tần khi qua đời lưỡi của họ phải tụt xuống và miệng phải ngậm. Người xưa cho rằng, sau khi chết con người sẽ xuống cõi âm, vai trò của ngậm lưỡi chính là ngăn họ nói những điều vô nghĩa, tránh không gây rắc rối, nếu gặp phiền phức. 

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất kỳ khách du lịch nước ngoài nào. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn thì hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc nhé!

Tuẫn táng – Hủ tục tàn độc khi Hoàng đế băng hà trong lịch sử Trung Hoa cổ đại

Các hoàng đế Trung Hoa thời cổ đại luôn coi trọng quyền lực, mà tượng trưng cho quyền lực chính là con người và tiền bạc. Các hoàng đế thường quan niệm rằng sau khi chết, họ đến sống ở một thế giới khác nên muốn đem theo mọi thứ mà họ sở hữu trước khi chết, kể cả con người. Do đó hình thành nên một tập tục gọi là “tuẫn táng”.

Hủ tục tuẫn táng thịnh hành vào thời kỳ nô lệ. Tuy nhiên, tới thời kỳ phong kiến các vị quân chủ vẫn lạm dụng nó, không chỉ có nô tỳ mà thậm chí còn bắt cả thê thiếp tuẫn táng cùng mình khi qua đời. Ngoài các phi tần hay Hoàng hậu được phong làm Hoàng Thái hậu, những phi tần may mắn sinh được con trai sẽ có thể không bị tuẫn táng. Còn những phi tần không có địa vị hoặc thậm chí được vua quá yêu mến cũng có thể phải chịu cảnh chôn cất đáng sợ này.

Theo quan điểm của người xưa, tuẫn táng là cách để đảm bảo người chết dù sang đến thế giới bên kia vẫn luôn được hầu hạ và sống sung sướng như lúc sinh thời. Ngoài việc chôn các vật dụng hàng ngày hay đồ trang sức đắt tiền thì những người giàu có, quyền lực còn chôn súc vật hay người sống theo cùng để bảo vệ lăng mộ của mình không bị người đời sau quấy phá.

Tục tuẫn táng xuất hiện từ thời nhà Chu và cực kỳ thịnh hành vào thời nhà Thương. Tới triều đại nhà Hán và nhà Nguyên thì tục này được giảm dần. Tuy nhiên đến khi vua Chu Nguyên Chương lập ra nhà Minh thì tuẫn táng được khôi phục và trở thành thông tục tang lễ trong Hoàng tộc. Và đến thời đại của Tần Thủy Hoàng thì tục tuẫn táng lên đến đỉnh điểm, số hài cốt được chôn cùng ông trong lăng mộ cho tới bây giờ vẫn chưa được thống kê chính xác, có thể nói là không thể đếm xuể. Hủ tục này được kéo dài cho tới đầu thời kỳ nhà Thanh mới chính thức biến mất trong dòng chảy của lịch sử Trung Hoa.

Theo sử sách, có rất nhiều cách để ép cung tần tuẫn táng cùng Đế vương. Vào thời nhà Minh, phương pháp treo cổ được áp dụng nhiều nhất, ngoài ra phương pháp còn có phương thức ban chết trước khi chôn. Phi tần, cung nữ sẽ được ban rượu độc, dải lụa trắng hoặc dao để tự kết liễu trước khi bị chôn cùng vua. Tuy cuối cùng vẫn là chết, nhưng có lẽ cái chết này bớt đau đớn hơn.

Bên cạnh đó, đổ thủy ngân cũng rất thông dụng trong tuẫn táng. Theo dân gian, người nhiễm độc thủy ngân mà chết thân thể không bị mục rữa, dù qua trăm ngàn năm hình dáng vẫn trẻ trung hệt như còn sống. Những người được lựa chọn sẽ bị đưa vào một căn phòng, cho uống nước trà có thuốc mê. Chờ những cung tần này đã ngủ say, thái giám sẽ cắt da trên đỉnh đầu thành hình chữ thập. Người thi hành tay cầm thìa đồng, rót từng thìa thủy ngân vào vết cắt. Sau khi rót vào số lượng thủy ngân nhất định sẽ dùng kim chỉ khâu chỗ cắt lại. Công việc hoàn thành cũng là lúc những phi tần này bị nhiễm độc thủy ngân mà chết.

Cũng có một loạt cách tuẫn táng đặc biệt khác là chuốc thuốc mê rồi trói tay chân người bị lựa chọn, bẻ thành những tư thế nhất định, sau đó chôn sống. Trong nhiều lăng mộ, các nhà khảo cổ đã phát hiện những thi thể nữ tay chân có dấu vết bị trói, cơ thể bị bẻ cong, đầu quay sang một phía cực kỳ quái dị. Không ít lần người ta còn phát hiện cả hài cốt trẻ con. Các chuyên gia khẳng định đây cũng là một hình thức tuẫn táng với mục đích canh giữ lăng mộ.

Dù đa số những người được lựa chọn trong hủ tục tuẫn táng đều là cưỡng ép nhưng trong nhiều tình huống vẫn có nhiều cung tần chủ động chết để theo hầu Hoàng đế. Điển hình, cuối thời nhà Minh, khi Nỗ Nhĩ Cáp Xích thủ lĩnh của bộ tộc Nữ Chân, ngoại trừ đại phi A Ba Hợi bị ép phải tuẫn táng thì 4 cung nữ của ông đều xin tự sát để theo hầu. Bởi họ cho rằng việc được chết theo Đại hãn là quyền lợi và vinh dự không phải ai cũng có được.

Tuẫn táng thời cổ đại là hủ tục tàn nhẫn, độc ác và không đúng với thuần phong mỹ tục nên đã dần bị loại trừ khỏi dòng chảy lịch sử. Sau khi hủ tục này đã bị xóa bỏ, đa số những phi tử không có địa vị hay con cái sẽ không được xuất cung mà được sắp xếp ở chung một chỗ và được triều đình cung cấp cơm ăn áo mặc. Mặc dù không còn được hưởng cung điện riêng và kẻ hầu người hạ nhiều như trước kia, thế nhưng cuộc sống của họ cũng không còn cảnh tranh đấu khốc liệt như trước. Nhìn chung chỉ cần có thể bảo toàn tính mạng cho tới sau khi Hoàng đế qua đời, số phận của các phi tử trong hậu cung nhà Thanh đều sẽ có kết cục không quá bi thảm, hoặc có đôi khi cuộc sống về sau của họ sẽ còn thoải mái, tự tại hơn nhiều so với khi Tiên đế còn tại thế.

Trung Hoa nổi tiếng với chiều dài lịch sử nhiều biến cố cùng những triều đại thay phiên nhau và những câu chuyện thâm cung bí sử ít người biết đến. Chính những câu chuyện về lịch sử lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất kỳ khách du lịch nước ngoài nào. Nếu du khách yêu thích lịch sử Trung Hoa và muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn thì hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Trung Quốc nhé!

Khám phá 6 linh vật quan trọng trong văn hoá Trung Hoa

Trong nền văn hóa của mỗi quốc gia đều có cho mình những linh vật riêng. Và với văn hoá Trung Quốc cũng không ngoại lệ. Hôm nay, chúng ta sẽ cùng nói về 6 linh vật quan trọng trong văn hóa Trung Hoa.

1. Long (Rồng)

Rồng là một loài vật xuất hiện trong thần thoại phương Đông và phương Tây. Trong kinh Phật, Rồng là một trong tám bộ Thiên Long, cả phương Đông và phương Tây, hình ảnh loài rồng đều được biểu thị cho loài linh vật huyền thoại có sức mạnh phi thường. 

Tại một số quốc gia Châu Á, rồng được mô tả có mình rắn, vảy cá, bờm sư tử, sừng hươu, không có cánh nhưng biết bay, trong khi rồng ở Châu Âu được mô tả giống như một con thằn lằn khổng lồ, có cánh như dơi và biết phun lửa. Đa số các nước Châu Á coi rồng là con vật linh thiêng trong khi các nước Châu Âu lại coi rồng là biểu tượng của cái ác và sự hung dữ. Tại Trung Quốc và các nước lân cận khác, rồng là một trong bốn linh vật mà Lễ Ký 禮記 (thiên Lễ Vận 禮運) chép: “Long, Lân, Quy, Phụng vị chi tứ linh”. Bốn linh vật này chỉ có rùa là có thực.

Vì đứng đầu trong tứ linh nên rồng có ảnh hưởng không nhỏ trong đời sống tâm linh của người dân Trung Hoa. Cuối năm 1987 tại huyện Bộc Dương, tỉnh Hà Nam, người ta khai quật được một con rồng bằng gốm, giám định là có 6.000 năm tuổi. Điều này càng chứng minh thêm sự sùng bái rồng trong xã hội nguyên thủy chiếm địa vị trọng yếu trong tín ngưỡng linh vật hay “vật tổ” (totemism: Đồ đằng sùng bái) và liên quan mật thiết đến chính trị, kinh tế, văn học nghệ thuật, phong tục dân gian từ đời Hạ, đời Thương và ảnh hưởng này kéo dài mấy ngàn năm không suy giảm. Rồng luôn hiện hữu trong các truyện thần thoại Trung Quốc, trong các cổ vật, tranh vẽ, lời bói trên mai rùa xương thú khai quật được, và trong các thư tịch cổ như Chu Dịch, Sơn Hải Kinh, Tả Truyện.

Có thể thấy rồng có mặt trong ở nhiều khía cạnh trong văn hóa Trung Hoa. Rồng chủ quản việc kéo mây, tạo mưa, tạo ra gió bão. Rồng có thể bay, phun nước hoặc phun lửa. Rồng có sức mạnh vô song nên được tôn làm vua của các loài thú.

Rồng được coi là biểu tượng hoàng đế Trung Quốc thời xưa, thể hiện uy quyền tối thượng của nhà vua. Hẳn du khách đã quá quen thuộc hình ảnh những con rồng trong các bộ phim lịch sử Trung Quốc với hình ảnh vua chúa trong bộ Long bào, ngai vàng khắc hình rồng quyền lực và sang trọng.

Rồng cũng được xem là một trong những con vật phi thường đại diện cho rất nhiều thứ bao gồm: Sự vĩ đại, phước lành, phú quý, sức mạnh và sự tốt lành. Theo hoàng đạo, Rồng còn là 1 trong 12 con giáp. Dù chỉ được biết đến là con vật tưởng tượng nhưng hình ảnh và giá trị của chúng luôn có ý nghĩa với người dân Trung Quốc. Điển hình, trong những năm rồng, tỷ lệ sinh con có sự gia tăng hơn rất nhiều so với các con giáp còn lại.

2. Kỳ Lân

Kỳ Lân là một trong bốn linh vật cao quý: “Long, Lân, Quy, Phụng”. Lân là con cái, còn con đực gọi là Kỳ, gọi chung là Kỳ Lân.

Kỳ Lân được xem là linh vật có quyền lực và sức ảnh hưởng phong thủy rất lớn. Thuộc thần thoại Trung Quốc, Kỳ Lân có đầu của rồng, thân của một con ngựa, móng ngựa, đuôi bò, trán sói, và mình phủ toàn vẩy với nhiều màu sắc. Trên giữa trán cho một chiếc sừng, và vì chỉ có một nên không bao giờ húc ai. Và chiếc sừng này được xem là hiện thân của Từ Tâm.

Truyền thuyết kể rằng ở bất cứ đâu mà Kỳ Lân đến thì sẽ mang lại nhiều may mắn. Do đó, nó là một biểu tượng may mắn, người ta nói rằng “Kỳ Lân xuất hiện vào thời hưng thịnh”. Mọi người tin rằng Kỳ Lân được coi như một linh vật có thể loại bỏ điều xấu, trừ tà, giữ nhà, và giúp nhanh chóng giàu sang, thăng tiến. Kỳ Lân được sử dụng trong nhiều dịp để tượng trưng cho sự cảm kích, tình bằng hữu, sự chúc tụng, đức hạnh cao và sự sung túc.

3. Quy (Rùa)

Người Trung Quốc tin tưởng sâu sắc rằng rất nhiều bí mật của trời đất ẩn chứa trong con Rùa vì những hình thù và các đường phức tạp trên mai của nó. Do đó, rùa trở thành một sinh vật bí hiểm và mang ý nghĩa văn hóa phong phú.

Nó cũng tượng trưng cho sự trường thọ, do tuổi thọ rất cao của chúng. Thông thường người ta hay sử dụng sự ẩn dụ “tuổi rùa” hay “tuổi sếu” nhằm biểu thị mong muốn một người sẽ sống lâu như rùa hay sếu.

Từ xa xưa, người ta đã tin rằng rùa có thể mang đến điềm lành, nên nó trở thành một loài vật linh thiêng giống như một sinh vật tiên tri và thần thánh. Một con rùa làm bằng ngọc bích được đặt trong nhà có thể điều hòa âm dương, điều chỉnh từ trường tự nhiên, và giúp cho gia đình thêm thịnh vượng. Một con rùa làm bằng ngọc bích cũng cũng có thể được dùng để giữ nhà, đảm bảo sự an toàn và giàu có cho ngôi nhà đó.

4. Phượng (Phượng Hoàng)

Phượng Hoàng là “vua của các loài chim” và cũng là loài chim thiêng liêng nổi tiếng nhất trong thời Trung Quốc cổ đại. Trong thần thoại Trung Quốc, Phượng Hoàng là biểu tượng của ân sủng, là linh vật thứ hai chỉ sau Rồng. Hình ảnh về Phượng Hoàng đã xuất hiện tại Trung Quốc cách đây trên 7.000 năm, thông thường trong các miếng ngọc và trên các “totemism” (vật tổ may mắn).

Hình ảnh về Phượng Hoàng đã xuất hiện tại Trung Quốc cách đây trên 7.000 năm, thông thường trong các miếng ngọc và trên các “totemism”. Nó là vật tổ may mắn của các bộ lạc miền Đông thời cổ đại ở Trung Quốc. Các thuyết ngày nay cho rằng nó có thể là hình ảnh đại diện cho một loài chim lớn thời tiền sử, tương tự như đà điểu, khá phổ biến ở Trung Hoa tiền sử. Có người cho rằng, Phượng Hoàng là hiện thân của loài chim thuỷ tổ (khủng long dạng chim).

Phượng Hoàng nguyên ban đầu, còn được biết đến là Chim Lửa hay Phượng Hoàng Lửa, gắn với người đàn ông, trong khi Rồng gắn với người đàn bà, đại diện cho các thủy sinh vật. Tuy nhiên, vào triều Hán, Hoàng Đế Lưu Bang đã tuyên bố rằng ông đã được sinh ra như một sự chuyển sinh của một con rồng trắng. Bởi vì Hoàng Đế là Thiên Tử (con trời), nên Rồng đã hoán đổi vai trò với Phượng Hoàng, từ sự liện hệ với phụ nữ đổi thành sự liên hệ với đàn ông. Phượng Hoàng khi đó đã chấp nhận các đặc tính của phụ nữ và trở thành biểu tượng của Hoàng hậu. Như vậy, Phượng Hoàng đại diện cho quyền lực mà Thượng đế ban cho Hoàng hậu. 

Chim Phượng Hoàng thường được mô tả có đầu gà, hàm én, cổ rắn, lưng rùa, đuôi cá với năm màu và cao sáu thước. Nó tượng trưng cho sáu vật: đầu là bầu trời, mắt là mặt trời, lưng là mặt trăng, cánh là gió, chân là đất và đuôi là các hành tinh. Lông của nó đại diện cho màu sắc của ngũ hành (đen, trắng, đỏ, xanh và vàng).

Trong hàng nghìn năm, Phượng Hoàng biểu trưng cho cái đẹp, may mắn, lòng tốt, sự thanh bình, đức hạnh, duyên dáng, thanh tao, tự nhiên, cũng như hướng đến Thiên Ý và ủng hộ sự tu luyện của con người, mang đến hòa bình và tươi sáng.

Phượng Hoàng còn là biểu thị cho sự hòa hợp âm dương. Tại Trung Hoa thời cổ đại, có thể tìm thấy hình ảnh của Phượng Hoàng trong các trang trí của đám cưới hay của hoàng tộc cùng với con rồng. Điều này là do người Trung Quốc coi Rồng và Phượng (hoàng) là biểu tượng cho quan hệ hạnh phúc giữa chồng và vợ, một kiểu ẩn dụ khác của âm và dương.

5. Tỳ Hưu

Tỳ Hưu còn còn được gọi là Tịch Tà (Pi Xie), có nghĩa là “trừ tà”, nằm ở phương Bắc của Trung Quốc. Trong văn hoá Trung Hoa, nó là một trong những linh vật rất quan trọng.

Theo truyền thuyết của Trung Quốc, Tỳ Hưu là con thứ chín của Rồng, đầu hình Rồng, thân giống như sư tử. Khi sinh ra Tỳ Hưu không có bộ phận bài tiết, thế nên bị trả lên Thiên Đình, Thượng Đế Ngọc Hoàng thấy vậy vô cùng thương xót, trách mình đã tạo ra Tỳ Hưu không hoàn chỉnh nên cho Tỳ Hưu trở lại trần gian hiển linh thành thần. 

Giống vật này có hai loài khác nhau. Loài có dáng vẻ uy phong, bụng và mông to, miệng rất rộng trên đầu có 2 sừng được gọi là “Thiên Lộc”. Thức ăn chính của Tỳ Hưu Thiên Lộc là Vàng, Bạc và Châu Báu. Loài có miệng luôn há rộng vẻ ngoài luôn toát sự dữ tợn trên đầu có duy nhất một sừng trên đầu được biết đến với cái tên “Tịch Tà”. Nó có cánh ngắn, đuôi quăn, có bờm và một chòm râu. Tỳ Hưu Tịch Tà thường dùng sừng của mình để tấn công các loại yêu ma, thức ăn của Tịch Tà chính là các sinh khí của yêu ma. 

Tỳ Hưu được coi như một linh vật bởi vì mồm của nó mở càng rộng thì tiền kiếm được càng nhiều. Bụng của nó càng phệ thì nó càng chứa được nhiều tiền. Người ta thích Tỳ Hưu vì nó có một đặc điểm khác thường là nó có mồm nhưng lại không có bộ phận bài tiết. Điều này tượng trưng cho sự dành dụm, chứ không tiêu tiền. Người mong muốn được giống như Tỳ Hưu, là không phải chi tiêu nhiều tiền, hay mãi mãi có được sự may mắn và giàu sang.

Tỳ Hưu nói chung được dùng làm biểu tượng cho tỉ giá hối đoái, chứng khoán, tài chính, đua ngựa, thương nghiệp và các kênh kiếm tiền khác mà chủ yếu dựa vào may mắn. Do đó, những ngành thương mại này sẽ đặt tượng Tỳ Hưu trong công ty hay sở làm nơi tiến hành công việc kinh doanh. Tuy nhiên, Tỳ Hưu sẽ không linh đối với những ai vi phạm luật pháp hoặc phạm tội, vì đó là một con vật linh thiêng.

6. Hổ

Hổ là biểu tượng của uy quyền và thanh thế, những sản phẩm xa xỉ làm từ da hổ hay rượu ngâm xương hổ là món đồ hiếm và được ưa chuộng. Nó còn biểu tượng của sự dũng mãnh và võ công. Các vị tướng có sức mạnh, thiện chiến được tôn xưng danh hiệu là hổ tướng, nhiều tước hiệu của các vị tướng quân thường gắn liền với tên gọi của loài hổ như: Hổ bôn trung lang tướng, hổ uy (oai) tướng quân,… các vật dụng quân sự cũng ít nhiều gắn tên loài hổ như hổ trướng (dùng để chỉ về doanh trại của quân đội, hổ phù: vật hiệu lệnh của quân đội, Hình mặt hổ được dùng phổ biến để trang trí giáp, trụ của các quan văn, võ Hổ còn là một trong những con vật biểu tượng cho võ thuật Trung Hoa mà tiêu biểu là các võ phái Thiếu lâm Hình ý quyền, hệ phái Ngũ hình quyền, môn võ Hổ hình quyền sau này được phát triển và hoàn thiện bởi phái Hồng gia quyền.

Con hổ cũng là một con vật đặc biệt trong văn hóa Trung Quốc. Người Trung Quốc ngưỡng mộ con hổ vì nhiều lý do. Trong cuốn sách viết về các nghi lễ có từ 2.000 năm trước có viết Hổ là loài vật có ích cho con người vì chúng ăn thịt những con lợn lòi đến phá hoại mùa màng, trong cổ sử đề cao sức mạnh và dũng mãnh của hổ, nó có thể bắt lợn lòi dễ như mèo bắt chuột. Dũng mãnh, có ích và rất đẹp – những con hổ gần như đã rất hoàn hảo. Trong thời nhà Hán việc tôn thờ loài hổ trở thành một quan niệm ổn định về “Tứ Linh thú” thể hiện trên gương và các đồ đồng lễ nghi khác: Rồng, Hổ, Quy, Tước (mà sau này quen gọi là Long Ly Quy Phụng). Hổ (bạch hổ) đại diện cho quyền lực và thần linh ở phía Tây. Trong văn hóa Trung Hoa, Bạch hổ là một trong tứ linh của Trung Hoa và được biết đến với tên gọi Bạch hổ Tây phương đại diện cho hướng Tây và mùa Thu Con hổ cũng là biểu tượng thứ 3 trong cung hoàng đạo bao gồm 12 con vật.

Trong khoa địa lý cũng như trong thuật luyện đan Trung Quốc, hổ đối lập với rồng (Thanh long/ Bạch hổ). Năm con hổ (năm Dần) được cọi là biểu tượng của sức mạnh che chở, là những kẻ canh giữ bốn phương trời và tâm điểm, trong sử sách và trong các truyền thuyết Trung Hoa, người ta nhiều lần gọi là ngũ hổ những toán chiến binh dũng cảm bảo vệ vương quốc. Hổ trắng xuất hiện là một dấu hiệu của đức độ nhà vua. Hổ đặc biệt là một động vật của phương Bắc, của đông chí, ở đấy và vào thời điểm ấy triệt tiêu các ảnh hưởng độc hại. Nếu đôi khi nó là vật cưỡi của một tiên ông, thì đó là do bản thân nó vốn sống lâu. Ở Trung Quốc cũng có điển tích: Tam nhân thành hổ chỉ về sức mạnh của dư luận xã hội tạo thành một áp lực ghê gớm.

Đặc biệt, hình tượng con hổ trong truyền thống văn hóa Trung Quốc chiếm một vị trí quan trọng, nó chỉ đứng sau con rồng. Trong Chu dịch Càn quái văn ghi chép rằng Mây từ rồng, gió từ hổ. Rồng bay trên trời, hổ đi dưới đất, rồng hổ kết hợp thành biểu tượng của sự cát tường thịnh vượng và quyền uy, là nét đặc sắc của văn hóa phong tục dân tộc mang sức sống mãnh liệt. Từ xưa con người hay dùng Long đằng hổ dược hoặc Sinh long hoạt hổ để thể hiện tinh thần và khí thế hào hùng của dân tộc Trung Hoa. Văn hoá Long Hổ đã thấm sâu vào các mặt chính trị, quân sự, y học, nghệ thuật của Trung Quốc. Cũng theo Chu dịch thì Long Hổ là càn khôn, thiên địa, âm dương, nam nữ. Đời Hán có bài Thái Sơn kính minh viết: Cưỡi Giao long, bay theo mây, bạch hổ dẫn đường thẳng lên trời xanh, được hưởng trường thọ sống lâu mãi mãi. Trong tranh khắc đá đời Hán ở Sơn Đông có khắc: Thượng hữu long hổ hàm lợi lai, bách điểu cộng trì chí tiền tài tức rồng hổ ở đây lại trở thành thần tài,…

Nhìn chung, có khá nhiều khía cạnh cả trong tâm linh lẫn đời sống để người ta giải thích về các biểu tượng may mắn trong cuộc sống. Ý thức của con người quyết định đến các vấn đề xung quanh. Vì mong ước được sống với cuộc sống mình mong muốn mà con người đã tìm ra, lý giải các hiện tượng được tiếp diễn từ hiện tại đến tương lai. Tất cả màu sắc, sự vật, con số đều mang ý nghĩa hướng đến suy nghĩ tích cực, niềm tin yêu vào một cuộc sống thịnh vượng, hạnh phúc, nhiều may mắn. Và qua đó, các biểu tượng may mắn còn góp phần làm phong phú, đa dạng hơn nền văn hóa ở Trung Quốc rộng lớn đầy quyến rũ níu chân người đến.

Đất nước Trung Hoa rộng lớn với 5000 năm lịch sử còn nhiều điều hấp dẫn và những biểu tượng văn hóa đặc sắc khác đang chờ các du khách đến khám phá. Còn do dự gì nữa mà các du khách không đặt ngay cho mình một tour Trung Quốc của chúng tôi?

“Hành khúc nghĩa dũng quân” – Quốc ca của đất nước Trung Quốc

“Hành khúc nghĩa dũng quân” (義勇軍進行曲) là Quốc ca của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được nhà thơ và soạn giả ca kịch Điền Hán viết lời và Niếp Nhĩ phổ nhạc vào khoảng giữa giai đoạn Chiến tranh Trung – Nhật (1937-1945). Bài này thuộc thể loại hành khúc.

Điền Hán viết “Hành khúc nghĩa dũng quân” vào năm 1934 cho một vở kịch ông soạn cũng vào năm đó. Theo dân gian thì ông viết lời bài này trên một mẩu giấy thuốc lá sau khi bị bắt tại Thượng Hải và bị đưa vào nhà lao Quốc Dân Đảng năm 1935. Bài hát này sau khi được sửa lại đôi chút đã trở thành bài hát chủ đề trong bộ phim Phong vân nhi nữ do Công ty Điện ảnh Điện Thông Thượng Hải dàn dựng vào năm 1935. Bộ phim này thuật lại câu chuyện một nhà thơ tên là Tân Bạch Hoa đại diện cho tầng lớp trí thức của nước Trung Hoa cũ, đã gác lại ngòi bút sáng tác của mình, cầm súng xung phong ra mặt trận chống Nhật, xông pha trước quân thù. “Hành khúc nghĩa dũng quân” xuất hiện ở phần đầu và phần cuối của bộ phim này đã để lại ấn tượng sâu sắc cho đông đảo khán giả hồi đó. Không bao lâu nó liền trở thành chiến ca nổi tiếng của Trung Quốc trong thời kỳ kháng chiến chống Nhật. Bài hát này cũng được Pathé thuộc tập đoàn EMI phát hành trong một đĩa hát vào năm 1935.

Bài này lần đầu tiên được dùng làm Quốc ca là trong một hội thảo quốc tế tổ chức tại Praha, Tiệp Khắc tháng 2/1949. Vào thời gian đó Bắc Kinh vừa lọt vào tầm kiểm soát của những người cộng sản Trung Quốc. Lúc đó nổ ra một tranh luận xung quanh câu: “Đất nước Trung Hoa đã gặp lúc hiểm nguy”. Nhà sử học Quách Mạt Nhược liền đổi câu trên thành: “Dân tộc Trung Quốc đã đến hồi giải phóng”.

Người đầu tiên nêu đề nghị lấy bài “Hành khúc nghĩa dũng quân” làm Quốc ca của nước Trung Hoa mới là Từ Bi Hồng, một họa sĩ nổi tiếng của Trung Quốc. Tháng 6/1949, hội nghị trù bị thành lập nước Trung hoa mới của Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân (gọi tắt là Chính Hiệp) Trung Quốc thảo luận việc quyết định quốc ca, nhiều đại biểu đưa ra ý kiến của mình, một số đại biểu bày tỏ nên kết nạp đề nghị của họa sĩ Từ Bi Hồng lấy bài “Hành khúc nghĩa dũng quân” làm Quốc ca, nhưng hội nghị chưa đưa ra quyết định cuối cùng. Ngày 2/9/1949, Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai,… đã đến nghe ý kiến của các đại biểu, ngày 25/9/1949, tại Trung Nam Hải, Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai lại tổ chức buổi tọa đàm hiệp thương về vấn đề quyết định Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, cách tính năm và thủ đô của nước Trung Hoa mới, mời nhân sĩ các đảng phái và nhân sĩ giới văn hóa tham gia. Tổ 6 của hội nghị trù bị Chính Hiệp quyết định đề án lấy “Hành khúc nghĩa dũng quân” làm Quốc ca và chính thức trình lên Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc xét duyệt.

Ngày 27/9/1949, toàn thể đại biểu của hội nghị Chính Hiệp nhất trí thông qua, trước khi xét định Quốc ca của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, lấy bài “Hành khúc nghĩa dũng quân” làm Quốc ca. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều ý kiến không đồng ý đối với câu thứ ba. Khi đó Chu Ân Lai đưa ra đánh giá cuối cùng: “Trước mắt chúng ta vẫn còn kẻ thù đế quốc. Chúng ta càng tiến, kẻ thù sẽ càng tìm cách tấn công và phá hoại chúng ta. Liệu có thể nói là chúng ta sẽ không còn nguy hiểm không?”. Quan điểm này được Mao Trạch Đông tán thành và vào ngày 27/9/1949, bài này trở thành Quốc ca tạm thời, chỉ vài ngày trước khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập. Đến kỳ họp thứ nhất Quốc hội Trung Quốc khóa 5 vào năm 1978, lại thông qua việc chính thức lấy bài “Hành khúc nghĩa dũng quân” làm Quốc ca.

Trong thời kỳ Cách mạng văn hóa, Điền Hán bị bắt giam, và cũng vì thế mà bài “Hành khúc nghĩa dũng quân” cũng bị cấm hát. Thế là trong giai đoạn đó, bài “Đông phương hồng” được chọn làm Quốc ca không chính thức.

“Hành khúc nghĩa dũng quân” được Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc Trung Quốc khôi phục lại vào năm 1978, nhưng với lời khác hẳn; tuy vậy, lời ca mới không được thông dụng lắm và thậm chí gây nhầm lẫn. Vào ngày 4/12/1982, Đại hội Đại biểu Nhân dân Trung Quốc thống nhất chọn lại bản gốc năm 1935 của Điền Hán làm Quốc ca chính thức. Điểm nổi bật trong lời hiện nay là không đề cập đến Đảng Cộng sản Trung Quốc lẫn Mao Trạch Đông và việc quay lại lời ca cũ đánh dấu sự đi xuống của Hoa Quốc Phong và tệ sùng bái cá nhân đối với Mao cũng như uy thế đi lên của Đặng Tiểu Bình.

Đại hội Đại biểu Nhân dân Trung Quốc công nhận bài này là Quốc ca chính thức của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trong bản sửa đổi năm 2004 của Hiến pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Phần Quốc ca được đề cập ngay sau phần nói về Quốc kỳ.

Vậy là du khách đã biết được thêm về Quốc ca của Trung Quốc. Hãy đăng ký tham gia tour du lịch Trung Quốc để có cơ hội khám phá nhiều hơn về những nét đặc trưng trong văn hóa của đất nước xinh đẹp này nhé!

Những điều thú vị về Quốc kỳ Trung Quốc

Trung Quốc là một quốc gia có nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Mỗi khi nhắc tới đất nước này, người ta có thể dễ dàng nhắc tới những biểu tượng đặc trưng, chẳng hạn như Quốc kỳ – “Ngũ Tinh Hồng Kỳ”. 

Lịch sử Quốc kỳ Trung Hoa

Cũng như Quốc ca, lịch sử Quốc kỳ của Trung Quốc cũng không dài. Cho mãi đến cuối thời Mãn Thanh mới bắt đầu công bố lá Quốc kỳ chính thức và mang ý nghĩa thực tế lúc bấy giờ. Tài liệu ghi lại rằng, lá Quốc kỳ đầu tiên được chính thức xác định của Trung Quốc cũng có liên quan đến vị trọng thần triều đình nhà Thanh Lý Hồng Chương.

Sau cuộc chiến tranh Nha Phiến năm 1840, các nước Phương Tây xâm lược Trung Quốc, trong các hoạt động ngoại giao đàm phán, ký điều ước, thông thương, cử quan chức ngoại giao,… với các nước phương Tây, Lý Hồng Chương thấy phía các nước đó đều treo quốc kỳ trang nghiêm của nước họ, vậy mà phía Trung Quốc lại không có quốc kỳ để treo, ông ta cảm thấy mất đi vẻ “Uy nghi của triều đình”. Thế là ông ta liền tâu lên Từ Hy Thái hậu. Bà Từ Hy liền lệnh cho Lý Hồng Chương bố trí cho người thiết kế đồ án Quốc kỳ. Sau đó Lý Hồng Chương dâng lên phương án các đồ án của Quốc kỳ gồm: cờ Bát quái, cờ Hoàng long, cờ Kỳ lân và cờ Hổ báo để Từ Hy Thái hậu lựa chọn. Năm 1862, Từ Hy Thái hậu quyết định sử dụng cờ mang đồ án Hoàng Long làm Quốc kỳ của triều đình nhà Thanh. Hình con rồng màu vàng chính là tượng trưng cho Hoàng đế nhà Thanh, lấy hình con rồng vàng làm Quốc kỳ mang ý nghĩa là “Trẫm chính là quốc gia”.

Ngày 10/01/1912, triều đình nhà Thanh bị lật đổ, cờ Hoàng Long cũng đã bị Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc đổi thành cờ Thanh Thiên Bạch Nhật (do Lục Hạo Đông thiết kế vào năm 1895). Cờ Thanh Thiên Bạch Nhật có một mặt trời với 12 tia sáng trên nền màu xanh lam. 12 tia sáng ấy đại diện cho 12 tháng và 12 canh giờ, mỗi canh giờ tương ứng với 2 giờ hiện đại và tượng trưng cho tinh thần phát triển. Về sau, Tôn Trung Sơn còn thêm nền đỏ trên lá cờ để nhắc nhớ đời sau về sự hi sinh của các chiến sĩ cách mạng. Và sau đó, lá cờ nền đỏ với hình chữ nhật xanh lam có hình mặt trời màu trắng ở góc trái trên cùng được chọn làm quốc kỳ Trung Hoa Dân Quốc (từ ngày 17/12/1928).

Trong thời kỳ Xô Viết năm 1931, lá cờ là một đế màu đỏ với một quả địa cầu ở trung tâm. Quả địa cầu có một cái liềm và một cái búa đen nằm bên trong. Trên đỉnh địa cầu có một ngôi sao vàng và vòng nguyệt quế xuất hiện ở hai bên trái và phải.

Quốc kỳ Trung Quốc sau đó đã được thay đổi vào năm 1934 để bao gồm lưỡi liềm và búa xuất hiện ở bên trái của lá cờ màu đỏ. Ở phía bên phải của lá cờ có một biểu tượng nói rằng “Cộng sản Trung Quốc”. Quốc kỳ Đài Loan từng được Quốc dân Đảng Quốc dân đảng (KMT) treo ở Trung Quốc. Sau năm 1949, lá cờ của Đảng Cộng sản dưới thời Mao Trạch Đông đã trở thành lá cờ tồn tại lâu hơn tất cả.

Hiện nay, Quốc kỳ chính thức của Trung Quốc là một lá cờ màu đỏ với 5 ngôi sao vàng, trong đó một ngôi sao lớn hơn được bao quanh bởi 4 ngôi sao nhỏ.

Đôi khi Quốc kỳ này được gọi là “Ngũ Tinh Hồng Kỳ”. Người thiết kế lá cờ đỏ năm sao là Zeng Liansong. Trước khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Hội nghị Trù bị của Hội nghị Chính trị Hiệp thương Mới đã yêu cầu toàn quốc dự thảo quốc kỳ. Trong số vài ngàn bản dự thảo đã lựa chọn ra được đồ án Quốc kỳ là lá cờ đỏ năm sao do Zeng Liansong thiết kế. Ngày 27/9/1949, Hội nghị Toàn thể lần Thứ Nhất của Hội nghị Chính trị Hiệp thương Toàn quốc đã thông qua quyết nghị: Quốc kỳ của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là lá cờ năm sao nền đỏ. Lá cờ này chính thức được kéo lên lần đầu tiên tại Quảng trường Thiên An Môn Bắc Kinh trong buổi lễ tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Hình dạng Quốc kỳ Trung Hoa

Không quá đơn giản như các Quốc kỳ chỉ bao gồm những sọc màu như Quốc kỳ Đức hay quốc kỳ Ba Lan, nhưng cũng không quá cầu kỳ như Quốc kỳ Hàn Quốc và Quốc kỳ Mỹ, Quốc kỳ của Trung Quốc được thiệt kế một các phức tạp vừa phải.

Quốc kỳ của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là lá cờ đỏ có năm ngôi sao. Lá cờ đỏ năm ngôi sao nom trang nghiêm mà giản dị. Nền cờ màu đỏ, hình chữ nhật, tỷ lệ giữa chiều dài và chiều cao là 3:2, năm ngôi sao năm cánh màu vàng được đặt ở góc trên bên trái, trong đó có một ngôi sao to hơn, bốn ngôi sao nhỏ hơn được trải thành vòng cung ở bên phải ngôi sao lớn, ngôi sao nào cũng có một góc chiếu thẳng vào trung tâm điểm của ngôi sao lớn.

Nền màu đỏ tượng trưng cho máu của các chiến sĩ cách mạng đã hi sinh tính mạng vì độc lập của dân tộc. Màu đỏ cũng là màu đại diện cho chủ nghĩa cộng sản, cho cách mạng.

Ngôi sao có màu vàng tượng trưng cho chiến thắng, cho ánh sáng. Tuy nhiên, việc không công bố chính thức ý nghĩa của 5 ngôi sao nên điều này vẫn là điều bí ẩn và khiến mọi người hoài nghi, đồn đoán các giả thuyết.

– 5 ngôi sao tượng trưng cho sự đoàn kết của nhân dân cách mạng đại đoàn kết dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Hoa. Trong đó, 4 ngôi sao nhỏ tượng trưng cho lực lượng của cách mạng bao gồm: giai cấp công nhân, nông dân, tiểu tư sản thành thị và tư sản dân tộc đứng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Hoa là ngôi sao lớn.

– Ngôi sao lớn tượng trưng cho Trung Quốc, 4 ngôi sao nhỏ tượng trưng cho Đông di, Tây Nhung, Nam Man, Bắc Địch.

– 5 ngôi sao tượng trưng cho 5 dân tộc lớn ở Trung Quốc, ngôi sao lớn là Hán, 4 ngôi sao nhỏ là Hồi, Mông, Tạng, Mãn.

– 5 ngôi sao lớn tượng trưng cho đại lục, 4 ngôi sao nhỏ tượng trưng cho 4 khu tự trị.

Toàn bộ lá cờ thể hiện sự vững lòng vượt qua mọi kẻ thù của nhân dân Trung quốc, đương nhiên là dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản.

Quốc kỳ Trung Quốc tượng trưng cho uy quyền và sự tôn nghiêm, thể hiện truyền thống và ý tưởng của quốc gia qua màu sắc và hình dáng đặc trưng riêng. Thông qua sự tìm hiểu về Quốc Kỳ của đất nước xinh đẹp này, du khách hãy đăng ký tham gia tour Trung Quốc để có cơ hội tìm hiểu nhiều hơn về nền văn hóa này nhé!

Lễ Vu Lan – nét văn hoá đặc sắc của Trung Hoa

Cứ đến ngày Rằm tháng 7 âm lịch hàng năm, người dân ở Trung Quốc lại đón Lễ Vu Lan với các tục lệ khác nhau nhằm bày tỏ sự tôn kính với người đã mất. Lễ Vu Lan được gọi là “Lễ ma quỷ”, dân gian tương truyền rằng ngày này là ngày quỷ môn quan mở cửa. Theo Đạo giáo, đây là ngày “Lễ Trung Nguyên”, là ngày địa quan xá tội. 

Lễ hội Vu Lan được dựa trên một câu chuyện kinh điển của Phật giáo. Ngày lễ này xuất phát từ sự tích về Bồ Tát Mục Kiền Liên đại hiếu đã cứu mẹ của mình ra khỏi kiếp ngạ quỷ. Vu Lan là ngày lễ hằng năm để tưởng nhớ công ơn cha mẹ – cha mẹ của kiếp này và của các kiếp trước.

Theo Kinh Vu Lan, ngày xưa, Mục Kiền Liên đã tu luyện thành công nhiều phép thần thông. Mẹ ông là bà Thanh Đề đã qua đời, ông tưởng nhớ và muốn biết bây giờ mẹ như thế nào nên dùng mắt phép nhìn khắp trời đất để tìm. Thấy mẹ mình, vì gây nhiều nghiệp ác nên phải sanh làm ngạ quỷ, bị đói khát hành hạ khổ sở, ông đã đem cơm xuống tận cõi quỷ để dâng mẹ. Tuy nhiên, do đói ăn lâu ngày nên mẹ của ông khi ăn đã dùng một tay che bát cơm của mình đi không cho các cô hồn khác đến tranh cướp, vì vậy khi thức ăn đưa lên miệng đã hóa thành lửa đỏ.

Đau đơn vô cùng khi thấy mẹ như vậy, Ngài liền về bạch Thế Tôn, Đức Phật nói với Ngài rằng: “Dù có Thần Thông Quảng Đại đến đâu cũng không đủ sức cứu mẹ của ông đâu. Điều duy nhất lúc này là dùng thần lực của chúng Tăng khắp mười phương tinh tấn tu hành thanh tịnh tập trung cầu nguyện, may ra mới thoát kiếp khổ cực của mẹ ngươi được”.

Nghe vậy, Tôn Giả Mục Kiền Liên nghĩ hy vọng đã mở ra liền khẩn cầu với Thế Tôn: “Vậy làm sao con có thể mời được chư Tăng mười phương cúng dường một lúc được?”. Đức Phật dạy: “Ngày Tự tứ của chư Tăng, ngươi nên sắm các thứ cúng dường, ngày đó dù các vị ở trong thiền định, hay thọ hạ kinh hành, hay hóa độ nhân gian, cũng tập trung lại để Tự tứ và cầu nguyện cho mẹ ngươi, thì mẹ ngươi sẽ thoát được cảnh khổ”.

Tôn Giả Mục Kiền Liên đã thực hành theo lời dạy của Thế Tôn và chính trong ngày lễ Vu Lan năm đó, mẹ của Ngài đã thoát được cảnh ngạ quỷ. Niềm vui không thể kể siết và Tôn Giả thỉnh cầu: “Nếu sau này chúng sanh nào muốn phát tâm hiếu để cầu nguyện cho cha mẹ thoát cảnh khổ thì làm như con có được không?”.  Thế Tôn nói rằng: “Đương nhiên là được, cứ làm như người vào ngày Tự tứ không chỉ giúp cha mẹ đời này và nhiều nhiều đời được siêu độ giải thoát”. Từ đó, ngày Lễ Vu Lan ra đời. Đây là một trong những nét văn hóa độc đáo của Trung Quốc.

Vào ngày này, người dân Trung Quốc thường sắm sửa mâm cỗ thịnh soạn để dâng lên tổ tiên, 3 lần mỗi ngày, buổi lễ chính vào lúc hoàng hôn. Họ tới những ngôi chùa lớn và phát gạo cho người nghèo. Cùng với đó là các nghi lễ cúng tế diễn ra ngay trên đường, bao gồm đốt nến, nhang, vàng mã cho những linh hồn lang bạt. Các ngôi nhà, khu dân cư, văn phòng đều treo đèn lồng đỏ có viết tên người đã khuất.

Bên cạnh đó, đến mùa Vu Lan, người ta đi thăm viếng phần mộ của người thân đã quá cố và sửa sang, quét dọn lăng mộ. Họ cúng thực phẩm và giấy tiền, vàng mã cho những người đã khuất. Việc làm này được xuất phát bởi niềm tin, khi đốt những đồ hàng mã ấy thì linh hồn người mất sẽ nhận được, nhờ vậy mà các vong linh ấy đỡ khổ, đỡ vất vả, đồng thời không quấy rầy đến các công việc làm ăn, sinh sống của người còn sống, ngược lại còn phù hộ cho người sống được ăn nên làm ra, gặp nhiều điều may mắn hơn.

Trong bữa cơm ngày rằm ở Trung Quốc sẽ có thịt gà luộc và lợn quay. Họ luôn để một chiếc ghế trống cạnh bàn ăn và có niềm tin mãnh liệt rằng linh hồn người đã khuất sẽ ngồi đó.

Tùy từng địa phương mà Lễ Vu Lan cũng diễn ra với những điểm khác biệt. Có nhiều nơi, đến tháng 7 mưa ngâu lất phất, sẽ tổ chức “lễ hội thả hoa đăng” cầu chúc cho ba mẹ một cuộc sống an bình ấm to khỏe mạnh để sống đời với các con. Tại Giang Tô, người ta thả 4 chiếc thuyền trên sông, chở theo Kinh Phật, những đồng tiền làm bằng giấy thiếc, đèn lồng và đồ ăn cúng lễ cho cô hồn. Ở Phúc Kiến, tất cả những phụ nữ đã lấy chồng dù ở nơi nào cũng phải về tặng quà cho cha mẹ, món quà đó được đặt trong chiếc hòm hoặc rương, gồm quần áo mũ mão. Ở Hồng Kông, trong suốt tháng 7 âm lịch, người ta sử dụng mọi không gian công cộng để cúng tổ tiên cũng như những linh hồn lang thang, thắp hương, vàng mã, phát gạo miễn phí. Nhiều nơi dựng những đài tế tạm thời và sẽ hạ xuống khi kết thúc mùa Vu Lan. Ở Quảng Tây, người dân thường giết vịt để cúng bái vì cho rằng các linh hồn thường đứng trên mình vịt, nhờ vịt cõng mà có thể tự do đi lại giữa âm thế và dương gian. 

Trong ngày lễ Vu lan, các vị chư Tăng thường tổ chức các buổi lễ cầu nguyện cho người đã quá cố. Những khóa lễ đặc biệt được tổ chức ở các chùa suốt cả ngày lẫn đêm trong mùa Vu Lan để cầu nguyện cho các vong linh đã khuất, cho những vong hồn đang bị đói khát dày vò nơi cảnh giới địa ngục, ngạ quỷ được ấm no, an lành.

Thường thì người Phật tử ở Trung Hoa tổ chức Lễ Vu Lan từ ngày 15/7 cho đến ngày 30/7 âm lịch. Và người ta còn quan niệm rằng, trong những ngày ấy, cửa địa ngục sẽ mở ra cho các vong linh hồn về thăm người thân của họ, cho đến ngày 30/7 thì cửa ngục đóng lại. Đồng thời cũng trong dịp này, tín đồ Phật tử ở Trung Hoa còn làm các việc phước thiện như: Bố thí, phóng sinh,… để hồi hướng công đức cho cha mẹ và người thân của mình.

Lễ Vu Lan được người dân Trung Hoa xem rất quan trọng trong các ngày lễ của năm. Du lịch Trung Quốc vào dịp Lễ Vu Lan, du khách có cơ hội chiêm ngưỡng, trải nghiệm và tận hưởng những điều khác biệt tạo nên nét văn hóa đặc trưng cho miền đất này.